Vốn đầu tư được hình thành từ các nguồn tiết kiệm, tích lũy và nó là cơ sở cho vốn sản xuất, tạo ra vốn sản xuất
Trang 1Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau gần 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nền kinh tế của
nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng: Đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân đã được nâng lên rõ rệt, kinh tế ở khu vực nông thôn đã
chuyển hướng sang phát triển sản xuất hàng hoá
Sơn La là một tỉnh miền núi nằm ở vùng Tây Bắc của tổ quốc, kinh tế
của tỉnh trong những năm sau đổi mới tuy có tốc độ tăng trưởng khá cao so
với cả nước, nhưng chưa vững chắc, chất lượng chưa cao, hiệu quả và sức
cạnh tranh thấp Đến nay, kinh tế của Sơn La về cơ bản vẫn trong tình trạng
sản xuất nhỏ, cơ cấu sản xuất và cơ cấu kinh tế còn đơn điệu, lạc hậu, năng
suất lao động thấp Đặc biệt là vùng sâu, vùng xa nền kinh tế còn mang nặng
tính tự nhiên, tự cấp, tự túc hay nói cách khác thị trường “trống” còn rất lớn
Khoảng cách chênh lệch về mức sống, trình độ dân trí, trình độ văn hoá giữa
các vùng đô thị, vùng gần trục giao thông với vùng cao, vùng sâu, vùng xa
không những không thu hẹp mà ngày càng tăng lên
Vì vậy, nghiên cứu về vấn đề phát triển KTHH ở Sơn La - cơ sở để
mở rộng kinh nghiệm sang các tỉnh miền núi khác, đang là yêu cầu bức xúc cả
về lý luận và thực tiễn Xuất phát từ tình hình thực tế đó, tác giả lựa chọn đề
tài: “Phát triển kinh tế hàng hoá ở Sơn La trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá ”, làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Thúc đẩy kinh tế phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá ở tỉnh Sơn La
là một vấn đề lớn, mang tính chiến lược nên được Đảng và Nhà nước ta hết sức
quan tâm Sự quan tâm đó còn được thể hiện qua các chính sách kinh tế, các
công trình đã nghiên cứu thuộc đề tài cấp bộ, các luận án tiến sỹ Các công
trình nghiên cứu đã đóng góp rất lớn cả về lý luận, cũng như luận giải tình
hình thực tế, trên cơ sở đó đã đưa ra các định hướng và giải pháp cho phát triển
kinh tế ở các tỉnh miền núi
Về lý luận và nhận thức, một số tác giả đã tập trung nghiên cứu quá trình
chuyển từ KTTN sang KTHH và chuyển từ KTHH sang KTTT Những lý luận
đó là cơ sở tham khảo và kế thừa quan trọng cho luận án Đặc biệt những tư liệu
và kết quả nghiên cứu về kinh nghiệm phát triển kinh tế của một số nước trên thế
giới được tác giả kế thừa, chọn lọc và phát triển để nhằm đáp ứng mục tiêu
nghiên cứu của luận án, đảm bảo gắn lý luận với thực tiễn
Về phân tích và luận giải tình hình thực tế, tuỳ theo các công trình, với
cách tiếp cận khác nhau, không gian nghiên cứu và hoàn cảnh lịch sử cụ thể, các công trình đã đánh giá một cách tổng quát về thực trạng kinh tế xã hội của miền núi, đặc biệt là các tỉnh đặc biệt khó khăn Nhiều công trình nghiên cứu
về khu vực miền núi cũng đã đề xuất những chính sách và giải pháp xác đáng cho sự phát triển kinh tế của khu vực miền núi Chẳng hạn như các chính sách
ưu đãi về vốn, chính sách phát triển khoa học công nghệ, chính sách phát triển nguồn nhân lực v.v, đối với khu vực miền núi Đó là những ý kiến mà tác giả
có kế thừa, để có thể đề xuất những quan điểm và phương hướng cho phát triển kinh tế hàng hoá ở tỉnh Sơn La trong giai đoạn tới
Tuy nhiên phần nhiều những công trình nói trên chỉ dừng lại ở những
định hướng lớn hoặc chỉ nghiên cứu ở những khía cạnh riêng biệt, hay chỉ nhận định đánh giá chung, chưa có công trình nào và đề tài nào nghiên cứu
cụ thể, trực tiếp về: “Phát triển kinh tế hàng hoá ở Sơn La trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá” một cách đầy đủ toàn diện và có
hệ thống dưới góc độ của chuyên ngành kinh tế chính trị học
3 Mục đích, ý nghĩa của việc nghiên cứu luận án
* Mục đích nghiên cứu của luận án: Hệ thống hoá và làm rõ những
vấn đề lý luận cơ bản và sự cần thiết phải phát triển kinh tế hàng hoá ở Sơn La Trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển kinh tế và kinh tế hàng hoá trong thời gian qua để đề xuất phương hướng và đưa ra những giải pháp cơ bản để góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế hàng hoá ở tỉnh Sơn La trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH
* ý nghĩa nghiên cứu của luận án: 1) Từ những mục tiêu nói trên,
luận án cung cấp một số luận cứ khoa học cho các cơ quan điều hành vĩ mô xây dựng chính sách, luật pháp và xác định các công cụ, giải pháp để thúc đẩy phát triển KTHH ở tỉnh Sơn La nói riêng và khu vực miền núi nói chung 2) Luận án là một tài liệu tham khảo cho các cơ quan hoạch định chính sách của tỉnh Sơn La nói riêng và các nhà nghiên cứu ở tầm vĩ mô
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Luận án nghiên cứu cả ở khía cạnh lý luận, thực tiễn, phương hướng
và giải pháp đối với phát triển KTHH của tỉnh Sơn La Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình phát triển KTHH ở tỉnh Sơn La Về thời gian: Phân tích chủ yếu từ sau khi thực hiện đường lối đổi mới của nước ta đến nay và triển vọng phát triển KTHH đến năm 2010 Nội dung: Vấn đề phát triển KTHH là vấn đề rộng lớn, mỗi khía cạnh của vấn đề cũng có thể trở thành một đề tài nghiên cứu Nhưng tác giả chủ yếu nghiên cứu thực trạng và đưa
ra các giải pháp phát triển KTHH ở tỉnh Sơn La
Trang 25 Phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê
nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng ta về vấn đề
phát triển kinh tế nói chung, phát triển sản xuất hàng hoá và kinh tế thị
trường nói riêng
Luận án sử dụng các phương pháp truyền thống, cơ bản như: duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp phân tích thống kê, phân tích so
sánh, mô hình hoá, phương pháp nghiên cứu thực chứng, tổng hợp hoá và
khái quát hoá, phương pháp đánh giá và phân tích theo mô hình SWOT là
phương pháp đánh giá những mặt thuận lợi và khó khăn để tìm ra triển vọng
trong phát triển v.v
6 Đóng góp của luận án
- Trên cơ sở hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về quá trình
chuyển từ KTTN sang KTHH, bản chất của nền KTHH, luận án phân tích và
làm rõ thêm cơ sở lý luận, cơ sở khoa học của phát triển KTHH ở Sơn La
trong điều kiện đặc thù của một tỉnh miền núi Đồng thời tác giả đưa ra các
tiêu chí phản ánh trình độ phát triển kinh tế hàng hoá của địa phương, vùng
lãnh thổ
- Khảo sát, phân tích và đánh giá đúng thực trạng của phát triển
KTHH ở tỉnh Sơn La Thông qua phương pháp phân tích theo mô hình
SWOT, đánh giá được điểm mạnh, điểm yếu, thời cơ và thách thức của phát
triển kinh tế hàng hoá ở Sơn La
- Nguyên nhân của việc chậm phát triển kinh tế hàng hoá ở Sơn La
- Đề xuất phương hướng và đưa ra tám giải pháp chủ yếu nhằm phát
triển KTHH ở Sơn La trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH
7 Kết cấu của luận án
Luận án có số lượng 180 trang, với 20 bảng số liệu và 4 biểu đồ
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
án gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về kinh tế hàng hoá trong thời kỳ
đẩy mạnh CNH, HĐH
Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế hàng hoá ở Sơn La trong thời
kỳ CNH, HĐH
Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển KTHH ở Sơn La
trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH
Chương 1:
Một số vấn đề lý luận về kinh tế hμng hoá trong thời
kỳ đẩy mạnh CôNG NGHIệP hoá, hiện đại hoá
1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về kinh tế hàng hoá
1.1.1 Bản chất của kinh tế hàng hoá
KTTN là hình thức tổ chức kinh tế xã hội trong đó hình thái phổ biến của sản xuất là sản xuất ra sản phẩm cho chính bản thân người sản xuất, hay trong nội bộ các tổ chức kinh tế Nghiên cứu về nền KTTN, có thể rút ra nhận xét kinh tế tự nhiên là nền “kinh tế sinh tồn”, nền sản xuất hầu như diễn ra theo quy luật của tái sản xuất giản đơn
Cùng với quá trình phát triển của LLSX và sự thay đổi của QHSX, đã tạo tiền đề cho sự chuyển nền KTTN sang KTHH, nó phản ánh tiến trình phát triển từ thấp đến cao của trình độ xã hội hoá nền sản xuất
KTHH là kiểu tổ chức kinh tế xã hội mà ở đó sản phẩm được sản xuất ra nhằm để trao đổi hoặc bán trên thị trường KTHH khác hẳn với nền KTTN, trước hết ở chỗ, trong nền KTHH sản phẩm sản xuất ra không phải
để tự tiêu dùng, mà mục đích của sản xuất là vì giá trị Để đạt mục đích đó,
họ sản xuất ra giá trị sử dụng cho người khác, tức là sản xuất ra giá trị sử dụng để trao đổi, để bán Trong nền KTHH, người sản xuất và người tiêu dùng là hai chủ thể khác nhau, đó là người bán và người mua
Sản xuất hàng hoá ra đời là bước ngoặc quan trọng trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, đưa loài người thoát khỏi tình trạng “mông muội”, góp phần phá vỡ bức tường thành của nền kinh tế đóng cửa, khép kín,
đánh thức giấc ngủ triền miên của những vùng hàng nghìn năm sống dựa vào nền sản xuất tự giới hạn ở việc thoả mãn nhu cầu trực tiếp những nhu cầu sơ
đẳng và giản đơn của con người
KTHH là một kiểu tổ chức kinh tế xã hội phát triển hơn so với KTTN, tạo ra động lực thúc đẩy LLSX phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế
1.1.2 Những tiền đề, điều kiện và các nhân tố thúc đẩy sự hình thành và phát triển kinh tế hàng hoá
Trong lịch sử, mỗi bước phát triển của KTTN cũng là một bước tiến dần tới KTHH, tạo ra những tiền đề cho sự ra đời của KTHH Đồng thời, mỗi bước tiến của KTHH là một bước đẩy lùi KTTN, phủ định dần KTTN và khẳng định mình là một kiểu tổ chức kinh tế xã hội có trình độ phát triển cao hơn
Trang 3Quá trình xuất hiện, vận động và phát triển của KTHH diễn ra khi có
các điều kiện sau: Phân công lao động xã hội; sự xuất hiện hình thức sở hữu
tư nhân về TLSX KTHH chỉ ra đời khi đồng thời có hai điều kiện nói trên,
nếu thiếu một trong hai điều kiện ấy thì không có sản xuất hàng hoá và sản
phẩm của lao động không mang hình thái hàng hoá Bởi vì nếu lao động tư
nhân là yếu tố cần thì phân công lao động xã hội là yếu tố đủ
Với sự ra đời của sản xuất hàng hoá, các quan hệ trao đổi ngày càng
phát triển đã xuất hiện ngành thương nghiệp và nó lại thúc đẩy sản xuất và
lưu thông hàng hoá phát triển nhanh hơn Đồng thời để đảm bảo cho lưu
thông hàng hoá phát triển, đòi hỏi phải có hệ thống kết cấu hạ tầng phát
triển, mà khởi đầu là giao thông vận tải phát triển
Khi nền KTHH đã phát triển đến trình độ cao, mọi quan hệ, mọi yếu
tố của nền kinh tế chịu sự tác động, chi phối mạnh mẽ bởi các quan hệ tiền
tệ, quan hệ thị trường Đó chính là bước chuyển từ KTHH giản đơn sang nền
KTHH ở giai đoạn cao – kinh tế thị trường
1.1.3 Kinh tế thị trường
1.1.3.1 Đặc trưng của kinh tế thị trường
Khi nền kinh tế hàng hoá đã phát triển đến trình độ cao, các quan hệ
hàng hoá - tiền tệ và thị trường ngày càng mở rộng, bao trùm lên mọi hoạt
động của nền kinh tế - đó là nền kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường các chủ thể kinh tế đều được độc lập tự
chủ; mọi hoạt động sản xuất kinh doanh theo yêu cầu của thị trường và kinh
tế thị trường hiện đại cần có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước
1.1.3.2 Thị trường
Về mặt khái niệm, vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về thị trường
Theo nghĩa ban đầu, nguời ta cho rằng thị trường là nơi diễn ra quá trình trao
đổi, mua bán hàng hoá Theo nghĩa đó, thị trường có thể là một địa điểm cụ
thể nào đó, chẳng hạn như một hội chợ hoặc các khu vực tiêu thụ hàng hoá
Cùng với sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá, khái niệm về thị
trường càng ngày càng được mở rộng
Phần lớn các quan niệm cho rằng thị trường là một khâu của quá trình
trao đổi, mà ở đó các chủ thể kinh tế cạnh tranh với nhau để xác định giá cả
và sản lượng hàng hoá
Để đảm bảo cho nền sản xuất hàng hoá phát triển, các thị trường phải
được hình thành và phát triển một cách đồng bộ và thông qua các quy luật
vận động của nó để điều tiết hoạt động của nền kinh tế
1.1.3.3 Cơ chế thị trường
Cơ chế thị trường chính là “bộ máy” điều tiết toàn bộ sự vận động của kinh tế thị trường, điều tiết quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá dưới sự tác động của các quy luật kinh tế của kinh tế thị trường Với cách hiểu đó, theo chúng tôi, có thể đồng tình với ý kiến cho rằng: “Cơ chế thị trường là cơ chế tự điều tiết của nền kinh tế thị trường do sự tác động của các quy luật vốn có của nó Nói một cách cụ thể hơn, cơ chế thị trường là hệ thống hữu cơ của sự thích ứng lẫn nhau, tự điều tiết lẫn nhau của các yếu tố giá cả, cung – cầu, cạnh tranh trực tiếp phát huy tác dụng trên thị trường để điều tiết nền kinh tế thị trường”
Cơ chế thị trường là bộ máy tinh vi để phối hợp một cách tự phát hoạt
động của người sản xuất và người tiêu dùng
Trong nền kinh tế thị trường các quy luật của nó biểu thị sự hoạt động của mình thông qua giá cả thị trường (GCTT), trong đó quy luật giá trị đóng vai trò quan trọng Nhờ sự vận động của GCTT mà diễn ra một sự thích ứng
tự phát giữa tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế
Nhưng cơ chế thị trường không phải là vạn năng, hoàn hảo bởi vì nó
có những hạn chế vốn có của nó như: thất nghiệp; phân hoá giàu nghèo; các chuẩn mực giá trị trong xã hội bị phá vỡ; gây ô nhiễm môi trường, v.v
1.1.4 Chức năng kinh tế của Nhà nước trong nền KTTT
Trong nền KTTT hiện đại, vai trò của Nhà nước ngày càng được coi trọng đúng với vị trí của nó, là yếu tố cơ bản bảo đảm và thúc đẩy cho sự phát triển mạnh mẽ của KTTT Nhà nước tôn trọng những quy luật của KTTT, đồng thời thông qua các công cụ của mình, Nhà nước quản lý nền kinh tế một cách có hiệu quả hơn, giảm thiểu được những tác động mặt trái của cơ chế thị trường Vai trò của Nhà nước được thể hiện ở những khía cạnh
cụ thể sau đây: 1) Tạo dựng môi trường thể chế, chính sách và khuôn khổ pháp luật cho sự phát triển của KTTT, đảm bảo cho mọi chủ thể kinh tế đều
có thể tham gia vào hoạt động của thị trường, được bình đẳng, được tự do cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật 2) Thông qua các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô, Nhà nước có thể định hướng, dẫn dắt sự phát triển của thị trường, đồng thời bảo đảm sự ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể kinh tế phát triển sản xuất kinh doanh 3) Nhà nước tác động để đảm bảo cho việc phân phối các nguồn lực một cách có hiệu quả 4) Nhà nước với tư cách là chủ thể kinh tế, vừa tham gia vào việc cung ứng hàng hoá dịch vụ, nhưng cũng vừa tham gia vào tổng cầu của nền
Trang 4kinh tế; đặc biệt là việc cung ứng các hàng hoá dịch vụ cơ bản mà khu vực tư
nhân chưa thể hoặc không sẵn sàng đáp ứng 5) Thông qua các chính sách
kinh tế, Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thực hiện sự hướng dẫn, giám
sát và điều chỉnh các hoạt động của thị trường, bổ sung cho những thiếu sót
của bản thân nền KTTT, giảm bớt những “thất bại của thị trường” 6) Thực
hiện chính sách phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư 7) Đảm bảo
phát triển kinh tế đối ngoại, gắn thị trường trong nước với thị trường khu vực
và thế giới; tôn trọng những quy tắc và thông lệ trong quan hệ kinh tế quốc tế
1.1.5 Các tiêu chí phản ánh mức độ, trình độ phát triển của kinh tế
hàng hoá
Mức độ phát triển của KTHH trong các giai đoạn phát triển của nền
kinh tế không giống nhau Do đó nhìn vào hiện trạng phát triển kinh tế xã
hội của một vùng lãnh thổ ta phải căn cứ vào những tiêu chí nhất định có thể
phản ánh trình độ phát triển KTHH Với những cách tiếp cận khác nhau có
thể nhìn nhận nền KTHH khác nhau, trong khuôn khổ của luận án, khi xem
xét trình độ phát triển KTHH của một vùng lãnh thổ nào đó có thể nhận
dạng qua các tiêu thức như:
- Sự dồi dào của hàng hoá trên thị trường và tính đa dạng phong phú
của hàng hoá
- Sự đa dạng của các thành phần, lực lượng sản xuất hàng hoá và
tham gia hoạt động trên thị trường
- Tỷ suất hàng hoá của sản phẩm được sản xuất ra, sự hiện diện và
quy mô của các loại hàng hoá
- Mật độ và quy mô các chợ, cửa hàng kinh doanh thương mại
- Quy mô và các hình thức kinh doanh xuất - nhập khẩu
- Mật độ phát triển của hệ thống kết cấu hạ tầng
- Tỷ lệ chi tiêu so với thu nhập của dân cư và tỷ trọng tiêu dùng hàng
hoá thông qua trao đổi
1.2 Kinh nghiệm của một số nước về phát triển sản
xuất hàng hoá
Trong khuôn khổ của một luận án, nội dung nghiên cứu chủ yếu tập
trung vào việc tìm hiểu kinh nghiệm về phát triển sản xuất hàng hoá ở khu
vực nông thôn và các vùng đặc biệt khó khăn của các nước Đây là khu vực
có nhiều điểm tương đồng với Sơn La trong phát triển kinh tế hiện nay Qua
nghiên cứu, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
- Nhà nước đều có chính sách ưu tiên cho phát triển nông nghiệp, nông thôn, ưu tiên phát triển công nghiệp có quy mô vừa và nhỏ gắn với phát triển nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn
- Khuyến khích phát triển các HTX dịch vụ đầu vào và đầu ra cho phát triển nông nghiệp
- Khuyến khích hình thức tiêu thụ sản phẩm theo hợp đồng giữa các doanh nghiệp chế biến nông sản phẩm với nông dân
- Nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ tạo tiền đề cho khu vực này phát triển kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá như: hỗ trợ về vốn cho sản xuất, hỗ trợ về phát triển kết cấu hạ tầng, hỗ trợ về chuyển giao khoa học công nghệ, hỗ trợ về giáo dục đào tạo v.v
Tóm lại: Chuyển từ nền KTTN sang KTHH là tất yếu khách quan
Để nhận dạng mức độ phát triển của nền KTHH cần đưa ra các tiêu chí cụ thể để đánh giá.Đối với Sơn La, nền kinh tế đang còn mang nặng tính tự nhiên chuyển sang KTHH là một tất yếu khách quan, mang tính quy luật và
xu thế của nền kinh tế trong nước và thế giới
Chương 2:
Thực trạng phát triển kinh tế hμng hoá ở Sơn La trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
2.1 các nhân tố ảnh hưởng vμ Sự cần thiết phát triển kinh
tế hμng hoá ở tỉnh Sơn La
2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Sơn La
Sơn La là một tỉnh miền núi cao thuộc phía Tây Bắc Việt Nam Diện tích tự nhiên là 14.055 km2
, chiếm 4,27% diện tích tự nhiên toàn quốc Phía Bắc giáp các tỉnh Yên Bái, Lào Cai; phía Đông giáp các tỉnh Phú Thọ, Hoà Bình; Phía Tây giáp tỉnh Lai Châu; phía Nam giáp tỉnh Thanh Hoá và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào Tỉnh Sơn La có đường biên giới giáp Lào
250 km và giáp các tỉnh bạn là 628 km Sơn La nằm trên trục đường quốc lộ
6 nối Hà Nội - Hoà Bình - Sơn La - Điện Biên, cách Hà Nội 320 km đường
bộ Dân số của Sơn La năm 2004 có 974.897 người, mật độ dân số bình quân
69 người/km2
, với 12 dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó các dân tộc Thái chiếm 54%, Kinh chiếm18%, H,
Mông chiếm12%, Mường chiếm 8,4%, Dao chiếm 2,5%, dân tộc khác chiếm 5,1%
Điều kiện tự nhiên của Sơn La khá khắc nghiệt, địa hình cao, dốc, bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi xen kẽ với hệ thống sông suối dày đặc
Trang 5Kết cấu hạ tầng còn kém phát triển, trình độ dân trí thấp ảnh
hưởng không nhỏ tới việc phát triển sản xuất hàng hoá
2.1.2 Thuận lợi, khó khăn và sự cần thiết phát triển kinh tế hàng
hoá ở tỉnh Sơn La
2.1.2.1 Thuận lợi và khó khăn
* Thuận lợi:1) Sơn La có lợi thế về tiềm năng thuỷ điện, đặc biệt
công trình thuỷ điện Sơn La lớn nhất cả nước đã được khởi công xây dựng
vào cuối năm 2005 Đây là cơ hội rất tốt để Sơn La đẩy mạnh tốc độ chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, sắp xếp lại dân cư, tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng,
thúc đẩy kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển, tạo sự đột biến về tốc độ tăng
trưởng 2) Đất đai khai thác còn chưa nhiều, độ phì tự nhiên khá, khí hậu ôn
hoà khả năng sinh thảm thực vật lớn 3) Nguồn tài nguyên khoáng sản tuy có
trữ lượng nhỏ, phân bố rải rác song rất phong phú, đa dạng, chưa khai thác
được bao nhiêu, có triển vọng phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây
dựng, công nghiệp chế biến,.v.v 4) Sơn La luôn nhận được sự quan tâm, hỗ
trợ của Nhà nước, các tổ chức kinh tế - xã hội trong và ngoài nước
* Khó khăn: 1) Cơ sở hạ tầng không đồng bộ và còn nhiều yếu kém, hệ
thống đường giao thông chưa phát triển; 2) Địa hình phức tạp, chia cắt mạnh
gây nhiều trở ngại cho sản xuất; 3) Nguồn lao động chất lượng lao động
thấp, trình độ chuyên môn kỹ thuật còn yếu kém, trình độ dân trí còn thấp,
đại bộ phận dân cư còn nghèo, sức mua hạn chế, thị trường nhỏ hẹp đặt trong
sự cạnh tranh gay gắt của cơ chế thị trường là những hạn chế rất lớn của tỉnh
2.1.2.2 Tính tất yếu khách quan phải phát triển kinh tế hàng hoá
Sơn La là một tỉnh có nền kinh tế còn mang nặng tính tự cấp, tự túc,
cơ cấu kinh tế còn lạc hậu, đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn, theo quy
luật chung của phát triển tất yếu phải chuyển sang KTHH
Chuyển sang sản xuất hàng hoá sẽ tạo điều kiện phá vỡ nền kinh tế
mang tính chất khép kín, nó tạo điều kiện cho kinh tế Sơn La chuyển sang
trạng thái động, tạo nhu cầu bên trong cho sự phát triển
Trong bối cảnh nước ta chuyển sang phát triển nền KTTT, hội nhập
kinh tế với khu vực và thế giới, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và thu
hẹp khoảng cách phát triển với các địa phương, vùng miền của cả nước và
tham gia hội nhập quốc tế, cải thiện đời sống nhân dân
Sản xuất hàng hoá ở Sơn La có vai trò cơ bản sau:1) khai thác một
cách có hiệu quả tiềm năng thế mạnh của tỉnh 2) góp phần xây dựng một cơ
cấu kinh tế hợp lý phù hợp với xu thế chung của toàn bộ nền kinh tế nước ta
3) tạo việc làm cho người dân của tỉnh, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển
dịch cơ cấu lao động trong nội bộ tỉnh, cũng như quá trình phân công lao
động xã hội cho phù hợp với tính chất của nền kinh tế trong xu thế hội nhập 4) góp phần bảo vệ môi trường sinh thái của nước ta 5) gắn phát triển kinh
tế với vấn đề phát triển văn hoá, đảm bảo an ninh quốc phòng
2.2 Khái quát về tình hình phát triển kinh tế ở Sơn La trước thời kỳ đổi mới
Bức tranh kinh tế của tỉnh trước giai đoạn đổi mới có thể khái quát như sau: kinh tế Sơn La là một nền kinh tế sản xuất theo kiểu tự cấp, tự túc, đang còn thiếu những điều kiện cơ bản của sản xuất hàng hoá; cơ chế quản lý theo kiểu tập trung quan liêu bao cấp với những chính sách không phù hợp đã làm cho sản xuất hàng hoá không phát triển, thui chột tiềm năng thế mạnh của tỉnh, sản xuất bị đình đốn, đời sống của nhân dân vô cùng khó khăn
2.3 Thực trạng phát triển kinh tế hμng hoá của tỉnh Sơn La trong thời kỳ đổi mới vμ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
2.3.1 Sự hình thành và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường – tiền đề cho phát triển kinh tế hàng hoá
Nền kinh tế Sơn La còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau, nên còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế Thành phần kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng quan trọng trong phát triển kinh tế của tỉnh, nhưng hoạt động với hiệu quả thấp Kinh tế tập thể có vai trò nhỏ bé và mờ nhạt đối với phát triển kinh tế Kinh tế tư nhân có tiềm lực kinh tế yếu ớt (năm 2004 mới chiếm 4,04% GDP của tỉnh), chưa có vai trò tích cực trong phát triển kinh tế của tỉnh Kinh tế cá thể, tiểu chủ đang có vai trò quan trọng, chiếm tỷ trọng cao trong GDP (năm 2004 chiếm 66,94%), đồng thời
đang phát triển nhanh chóng trong các lĩnh vực của nền kinh tế
Bảng 2.2: Cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế (theo giá hiện hành)
Đơn vị: % Tổng
số
Kinh tế Nhà nước
Kinh tế tập thể
Kinh tế tư nhân
Kinh tế cá thể
Nguồn: Tính toán của tác giả từ niên giám thống kê Sơn La năm 2004
Trang 62.3.2 Thực trạng phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng phát triển kinh tế hàng hoá
2.3.2.1 Tăng trưởng kinh tế và phát triển sản xuất hàng hoá
* Trong gần 20 năm đổi mới, nền kinh tế tỉnh Sơn La tăng trưởng khá
cao và ổn định, giai đoạn 1999 - 2003 đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân
9,05%/năm và năm 2004 đạt tới 14,21% (Yên Bái là 9,71%; Điện Biên là
9,56%; Lạng Sơn là 9,71%), nhưng do xuất phát điểm thấp và tốc độ tăng dân
số cao, nên năm 2004 mới đạt 223 USD/người, bằng 43,24% so với mức bình
quân chung của cả nước Bên cạnh đó chất lượng tăng trưởng kinh tế còn thấp,
chưa phát huy được các nhân tố chiều sâu, chưa tương xứng với tiềm năng thế
mạnh của tỉnh (Xu hướng tăng trưởng kinh tế của Sơn La qua biểu đồ 2.1)
4.77
11.16
8.08 5.81
8.15 5.76
6.79 6.89
7.08 7.26 7.69 6.39
10.11
12.31
6.98
12.4 10.08 11.15
8.06 8.6
7.91 7.98
9.19 14.21
0
5
10
15
Nguồn: Tác giả tính toán dựa trên số liệu của niên giám thống kê
Sơn La năm 2004 [14]
Biểu đồ 2.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Sơn La và cả nước
Trình độ phát triển kinh tế của Sơn La còn thấp kém, mang tính tự
cấp, tự túc cao hơn so với cả nước, nên mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế khá
cao (bình quân trên 9%/năm, cao hơn so với bình quân chung cả nước, trên
7%/năm), cơ cấu các ngành có xu hướng chuyển dịch khá, nhất là nông nghiệp
và dịch vụ Đến nay hiện trạng cơ cấu kinh tế của Sơn La vẫn đang trong tình
trạng lạc hậu, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, hiệu quả và
hiện đại; việc chuyển sang nền kinh tế hàng hoá mới chỉ là tiến bộ bước đầu,
còn in đậm sắc thái của nền kinh tế tự cấp, tự túc
* Mức sống của nhân dân còn thấp và mang đậm nét của nền kinh tế tự
cấp, tự túc: Theo kết quả điều tra mức sống hộ gia đình năm 2002 của Tổng
cục thống kê, chi tiêu cho ăn uống, hút của người dân Sơn La vẫn tự túc tới hơn 50% còn lại thông qua mua đổi vẫn chưa đến 50% Trong khi đó tỷ lệ tự túc trong ăn uống, hút của vùng Đông Bắc chỉ là 37% và đồng bằng sông hồng
là 26% Năm 2003, trong tổng số 172.000 hộ mới có gần 20% số hộ đi vào sản xuất kinh doanh hàng hoá, trong nông nghiệp, tỷ lệ đó chỉ đạt khoảng 5%, chủ yếu tập trung ở thị xã, thị trấn, vùng dọc quốc lộ số 6
* Cơ cấu kinh tế có nhiều tiến bộ, nhưng mới chỉ là bước đầu Trong những năm đầu của thập kỷ 90 khi tỷ trọng nông nghiệp vẫn chiếm tới 77,8
% thì đến năm 2004 đã giảm xuống còn 48%, tương ứng với nó ngành công nghiệp tăng từ 7,27% năm 1990 lên 17,5% năm 2004 và dịch vụ là 14,95% năm 1990 lên 34,5% (Năm 2004 cơ cấu công nghiệp – nông nghiệp và dịch
vụ của Yên Bái là: 40% - 27% - 33%; Phú Thọ: 28,20% - 38,1% - 33,70%) Tuy tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp khá cao, nhưng do xuất phát
điểm quá thấp, làm cho tỷ trọng của ngành này trong GDP còn quá nhỏ bé
* Cơ cấu lao động chưa hợp lý: Trong công nghiệp, mặc dù đã có những đầu tư lớn vào vào khu vực công nghiệp của Nhà nước, nhưng số việc làm trong công nghiệp hầu như tăng rất chậm, từ 2,42% năm 2000 lên 3,10
% năm 2004 Cùng với việc tỷ trọng lao động trong nông nghiệp giảm không
đáng kể, thì tỷ lệ lao động trong các ngành dịch vụ cũng tăng rất chậm, từ 7,96% năm 2000 lên 10,18% năm 2004
Qua phân tích ở trên ta thấy trong ngành công nghiệp và dịch vụ, tốc độ tăng của tỷ trọng lao động tăng chậm hơn so với tốc độ tăng của giá trị sản phẩm công nghiệp trong GDP, đã cho thấy sự tăng trưởng của công nghiệp và dịch vụ gắn liền với việc thâm dụng vốn nhiều hơn là thâm dụng lao động
2.3.2.2 Thực trạng phát triển chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các tiểu vùng
Nhìn từ góc độ phân bố không gian kinh tế và phân công lao động
theo vùng lãnh thổ, Sơn La được chia làm ba tiểu vùng kinh tế: tiểu vùng kinh tế quốc lộ 6, tiểu vùng kinh tế sông Đà và tiểu vùng kinh tế sông Mã Trong đó tiểu vùng kinh tế dọc quốc lộ 6 có điều kiện phát triển kinh tế thuận lợi được coi là “vùng kinh tế động lực của tỉnh” Vùng này đã hình thành các khu vực sản xuất hàng hoá tập trung như: chè, cây ăn quả, ngô, chăn nuôi gia súc… và có nhiều cơ sở công nghiệp tập trung tại đây
Vùng kinh tế Sông Đà và vùng kinh tế Sông Mã còn kém phát triển, là khu vực sinh sống chủ yếu của các dân tộc ít người, trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng chưa phát triển, nền kinh tế còn mang nặng tính tự cung, tự cấp
Trang 72.3.3 Thực trạng phát triển sản xuất hàng hoá trong các ngành và
lĩnh vực của tỉnh
2.3.3.1 Thực trạng phát triển nông nghiệp và sản xuất hàng hoá
trong nông nghiệp
Kể từ khi có chính sách đổi mới của Đảng, kinh tế nông nghiệp Sơn
La đã có những bước phát triển đáng kể, bước đầu đã thực hiện có hiệu quả
việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng sản xuất hàng hoá, đó là sự
chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, xác định cây trồng chủ lực phục vụ
cho xuất khẩu, từng bước hình thành vùng sản xuất hàng hoá tập trung Tỷ
trọng giá trị sản lượng cây lương thực giảm dần trong khi tỷ trọng giá trị sản
lượng cây công nghiệp, cây ăn quả tăng lên Đồng thời đưa nhanh các tiến bộ
kỹ thuật công nghệ gắn với chính sách đầu tư, chính sách khuyến nông, coi
trọng vai trò tự chủ của kinh tế hộ nông dân
Đã có một số cây trồng vật nuôi chủ lực, có tỷ suất hàng hoá cao như:
cây ngô, cây chè, cây cà phê và cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc, v.v, gắn
với phát triển công nghiệp chế biến (xem bản 2.8)
Bảng 2.8: Diện tích và sản lượng một số cây công nghiệp lâu năm
Diện tích (ha) Sản lượng (tấn) Diện tích (ha) Sản lượng (Tấn)
Nguồn: Niên giám thống kê Sơn La năm 2004 và báo cáo của Sở Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Sơn La [14], [70]
Do đó giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân trong 4 năm (2001
- 2004) tăng 9,6%/ năm, trong đó trồng trọt tăng 9,5%/năm; chăn nuôi tăng
9,3%/năm; dịch vụ tăng 21,3%/năm
2.3.3.2 Thực trạng sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
- Giá trị sản xuất công nghiệp không ngừng gia tăng, tốc độ tăng
trưởng giai đoạn 2000-2004 đạt bình quân 25,75%; nhưng giá trị gia tăng
còn quá nhỏ bé, năm 2004 mới chiếm 5% GDP của tỉnh
- Sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phát triển đúng hướng góp phần đẩy mạnh CNH,HĐH nông nghiệp nông thôn Trong phát triển công nghiệp chủ yếu là phát triển các ngành công nghiệp chế biến, năm
2004 tỷ trọng công nghiệp chế biến chiếm 76,53% và chủ yếu là chế biến nông - lâm sản, đảm bảo cho phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hoá
Bảng 2.12: Giá trị sản xuất công nghiệp phân theo ngành kinh tế
của tỉnh Sơn La (Theo giá hiện hành)
Đơn vị: Triệu đồng
Đơn vị 1995 2000 2001 2002 2003 2004
Công nghiệp khai thác
- Giá trị sản lượng
- Tỷ trọng
Tr.VNĐ
%
812 1,26
5140 2,41
6550 2,50
7596 2,50
24031 5,32
37227 6,82
Công nghiệp chế biến
- Giá trị sản lượng
- Tỷ trọng
Tr.VNĐ
%
53691 83,61
178264 83,43
219395 83,76
254948 83,85
371070 82,21
417993 76,53
Công nghiệp sản xuất phân phối điện, khí đốt và nước
- Giá trị sản lượng
- Tỷ trọng
Tr.VNĐ
%
9744 15,13
30264 14,16
35991 13,74
41491 13,65
56246 12,48
90940 16,65
Nguồn: Niên giám thống kê Sơn La năm 2004 [14]
Qua phân tích thực trạng của sản xuất công nghiệp trong thời gian qua, chúng ta có thể đưa ra một số nhận xét sau:
- Những thành tựu đ∙ đạt được: 1) Trong thời gian qua, sản xuất
công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp có bước phát triển tích cực và đúng hướng, góp phần quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần tỷ trọng nông – lâm nghiệp, tăng dần tỷ trọng công nghiệp
và dịch vụ, góp phần đẩy mạnh CNH, HĐH khu vực nông nghiệp, nông thôn 2) Công nghiệp thuộc khu vực Nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo, là đầu tầu lôi kéo các thành phần kinh tế khác tham gia phát triển; kinh tế ngoài quốc doanh có bước phát triển khá với tốc độ tăng trưởng cao nhất trong những năm gần đây 3) Sản xuất công nghiệp chủ yếu tập trung ở ngành công nghiệp chế biến nông – lâm sản, sản xuất vật liệu xây dựng Ngành công nghiệp khai khoáng có một lợi thế quan trọng, nhưng do địa hình phức tạp, điều kiện khai thác khó khăn nên chưa có điều kiện phát triển, sức sản xuất nhỏ bé, bếp bênh 4) Bước đầu đã hình thành các cụm công nghiệp tập
Trang 8trung gắn với các vùng nguyên liệu, làm đầu tầu kéo các khu vực khác phát
triển 5) Sản phẩm của các ngành công nghiệp chủ yếu tăng nhanh, nhiều sản
phẩm có tốc độ tăng trưởng cao như: bia, khai thác đá, xi măng, chè, chế biến
gỗ,.v.v, do các nhà máy chế biến ngày càng nâng cao công suất hoạt động
- Những tồn tại và hạn chế: 1) Hiệu quả sản xuất trong ngành công
nghiệp - đặc biệt là các DNNN còn thấp, nhiều cơ sở vẫn còn thua lỗ, nguyên
nhân chủ yếu do hoạt động của các nhà máy chưa hết công suất 2) Tốc độ
tăng trưởng của ngành công nghiệp khá cao nhưng thiếu vững chắc, do thị
trường tiêu thụ chủ yếu trên địa bàn tỉnh, chất lượng sản phẩm còn thấp, rất
khó khăn trong cạnh tranh 3) Hầu hết các nhà máy vẫn chưa sử dụng hết công
suất thiết kế, đời sống người lao động ở nhiều cơ sở công nghiệp còn khó khăn
do thu nhập thấp và chưa đủ việc làm thường xuyên.4) Giá trị sản xuất của
công nghiệp ngoài quốc doanh tuy có tăng trưởng cao, song vẫn ở tình trạng
chưa ổn định, tự phát, quy mô sản xuất nhỏ bé, hiệu quả sản xuất kinh doanh
chưa cao 5) Các ngành nghề truyền thống của các địa phương trong tỉnh đến
nay vẫn chưa được phát triển, do chưa có chính sách khuyến khích phát triển
làng nghề truyền thống 6) Công tác quản lý Nhà nước về công nghiệp còn bị
buông lỏng, không có định hướng để giúp đỡ cho các doanh nghiệp hoạt động
2.3.3.3 Hoạt động dịch vụ thương mại
- Những thành tựu trong hoạt động dịch vụ thương mại:
1) Đánh giá chung cả giai đoạn, ngành thương mại du lịch Sơn La vẫn
phát triển ổn định và đúng hướng, lưu thông hàng hoá có phát triển làm cho thị
trường được ổn định, đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ
đẩy mạnh CNH, HĐH của địa phương, thúc đẩy kinh tế – xã hội ở địa phương
phát triển 2) Hoạt động thương mại dịch vụ thuộc mọi thành phần kinh tế đã
tạo ra thị trường hàng hoá phong phú về chủng loại và đa dạng về mẫu mã 3)
Hoạt động thương mại – du lịch của tỉnh đã hoàn thành nhiệm vụ quy hoạch
phát triển tổng thể đến năm 2010 Đã tổ chức tốt việc hướng dẫn thực hiện các
văn bản quy định của Nhà nước cho các thành phần kinh tế 4) Đã chú trọng
đến hoạt động thông tin xúc tiến thương mại du lịch với nhiều hình thức như:
tổ chức, tham gia các hội chợ, hội thảo, quảng bá giới thiệu tiềm năng của Sơn
La về con người, tập quán, ẩm thực, văn hoá dân tộc cộng với chính sách
khuyến khích thu hút đầu tư thông qua nhiều kênh khác nhau 5) Các doanh
nghiệp thương mại nhà nước của Sơn La đã thực hiện tốt theo nghị định
64/2004/NĐ-CP ngày 19 - 6 - 2002 của Chính phủ về việc chuyển đổi DNNN
thành công ty cổ phần Đến cuối năm 2004, ngành thương mại và du lịch Sơn
La đã chuyển 3 DNNN thành công ty cổ phần và 3 doanh nghiệp còn lại đang trong giai đoạn hoàn tất thủ tục chuyển đổi
- Những mặt còn hạn chế: 1) Các doanh nghiệp tham gia hoạt động
thương mại dịch vụ thuộc các thành phần kinh tế, đặc biệt là các DNNN chưa chú trọng đến đầu tư cho sản xuất và ký kết các hợp đồng trực tiếp tiêu thụ sản phẩm hàng hoá cho nông dân vùng sâu, vùng xa Do vậy sản phẩm của người nông dân sản xuất ra còn bị ép cấp, ép giá, tiêu thụ không kịp thời, gây thiệt hại cho người sản xuất 2) Các doanh nghiệp chưa có chiến lược khai thác thị trường trong vùng sâu vùng xa, mà chỉ dừng lại ở nhiệm vụ phục
vụ các mặt hàng chính sách, điều đó thể hiện việc tập trung chưa cao trong việc tạo dựng nền móng kinh doanh tại thị trường rộng lớn này 3) Vốn đầu tư cho du lịch còn hạn chế, sản phẩm của ngành du lịch còn nghèo nàn, kém hấp dẫn, dịch vụ du lịch chưa phong phú, thiếu tính chuyên nghiệp trong hoạt
động kinh doanh dịch vụ
Bảng 2.15: Kết quả chủ yếu về hoạt động thương mại
1 Tổng mức bán lẻ hàng hoá-dịch vụ Tr đồng 1249387 1605052 1867397
2 Các mặt hàng chính sách:
- Muối iốt
- Dầu hoả
- Phân bón
Tấn Tấn Tấn
5.000
900
-
5.000
900 1.630
5.300
120 1.700
3 Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu:
- Cà phê nhân
- Chè các loại
- Đường kính
- Ngô hạt
Tấn Tấn Tấn Tấn
-
-
-
-
550 1.050
150
-
1.800 2.300
150 1.800
Nguồn: Báo cáo của sở Thương mại Sơn La năm 2005 [71]
Tóm lại, thực hiện chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, để thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, đặc biệt trong thời gian trước mắt là CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Trong thời gian qua kinh
tế - xã hội của tỉnh Sơn La đã có bước phát triển nhất định, nhưng cũng còn nhiều tồn tại cần khắc phục Chúng ta có thể rút ra nhận xét sau:
- Kinh tế của tỉnh Sơn La đã có những bước chuyển biến tích cực, tăng trưởng cao liên tục, cơ cấu kinh tế bắt đầu chuyển dịch theo hướng tiến
bộ Kinh tế nông nghiệp bắt đầu phá thế độc canh, từ sản xuất theo kiểu tự
Trang 9cấp, tự túc, chuyển sang sản xuất hàng hoá, nhất là ở vùng dọc quốc lộ 6,
kinh tế hàng hoá đã phát triển
- Các vùng sản xuất hàng hoá tập trung được hình thành, có xu hướng
gắn với các cụm công nghiệp chế biến, 3 cụm công nghiệp Mộc Châu, Mai
Sơn và Thị xã Sơn La đã hình thành rõ nét, thúc đẩy kinh tế phát triển theo
hướng sản xuất hàng hoá
- Tuy nhiên sự chuyển biến đó mới chỉ là bước đầu, còn nhiều hạn
chế, nhất là ở vùng lòng hồ sông Đà và vùng cao biên giới ở những vùng
này về cơ bản vẫn là nền kinh tế tiểu nông, nền nông nghiệp sản xuất tự cấp,
tự túc, nền sản xuất phụ thuộc vào tự nhiên là chính
- Các yếu tố thuộc về cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển của Sơn La
còn ở trình độ thấp, nhất là các yếu tố như: giao thông, điện, thuỷ lợi, thị
trường, thông tin, đang là những cản trở khách quan lớn cho chiến lược tăng
trưởng kinh tế nhanh của Sơn La thời gian tới
2.4 Nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém trong phát triển kinh
tế hμng hoá của tỉnh Sơn La
Nền kinh tế còn kém phát triển do nhiều nguyên nhân khác nhau:
Một là, điểm xuất phát của nền kinh tế thấp, lực lượng sản xuất kém
phát triển
Hai là, trình độ phân công lao động thấp, cơ cấu lao động chuyển
dịch chậm
Ba là, các nguồn vốn đầu tư còn thiếu
Bốn là, hệ thống kết cấu hạ tầng chưa phát triển
Năm là, thị trường tiêu thụ sản phẩm còn nhỏ bé
Sáu là, trình độ dân trí và trình độ lao động còn thấp; tập quán sản xuất
và sinh hoạt của dân cư các dân tộc chưa phù hợp với sản xuất hàng hoá
Tóm lại:
Kinh tế Sơn La trong những năm qua đã đạt được tốc độ tăng trưởng
khá cao, chuyển dịch cơ cấu đang hợp với xu hướng phát triển, đời sống của
nhân dân đang từng bước được cải thiện Tuy nhiên cả về quy mô và trình độ
phát triển sản xuất hàng hoá của tỉnh còn nhiều hạn chế, nền kinh tế còn
mang nặng tính chất tự cấp, tự túc
Nền kinh tế còn kém phát triển do nhiều nguyên nhân khác nhau: điểm
xuất phát của nền kinh tế còn thấp, cơ cấu kinh tế lạc hậu; trình độ phân công
lao động còn ở mức thấp; trình độ dân trí còn kem chưa đáp ứng được yêu cầu
của sản xuất hàng hoá; kết cấu hạ tầng còn thiếu và yếu; các loại hình thị
trường hình thành và phát triển chưa đồng bộ, vv
Chương 3:
Phương hướng vμ giải pháp phát triển KTHH ở tỉnh Sơn La trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH 3.1 Bối cảnh quốc tế và trong nước ảnh hưởng đến phát triển KTHH
ở Sơn La
3.1.1 Bối cảnh quốc tế và hội nhập kinh tế của Việt Nam
Xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá nền kinh tế vừa là cơ hội nhưng cũng đưa lại những thách thức lớn đối với Sơn La Xu hướng đó tạo điều kiện cho các quốc gia, địa phương phát huy lợi thế so sánh để phát triển kinh tế và cạnh tranh thắng lợi trên thương trường Những năm qua Sơn La đang tìm kiếm những lợi thế của mình để tham gia vào thị trường trong nước và thế giới, tuy nhiên do trình độ năng lực còn yếu kém, công nghệ lạc hậu, hiệu quả sản xuất kinh doanh còn thấp, khả năng cạnh tranh yếu
3.1.2 Bối cảnh trong nước
Chúng ta đã đạt được những thành tựu sau gần 20 năm đổi mới, duy trì được sự ổn định về kinh tế, chính trị, xã hội, đặc biệt tốc độ tăng trưởng kinh tế khá nhanh trong giai đoạn 2001-2005 đạt bình quân xấp xỉ 7,5% (tính đến tháng 6 năm 2005), thu nhập bình quân đầu người năm
2004 đạt 553 USD Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH; cơ cấu lao động bước đầu có sự thay đổi phù hợp với với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Hoạt động kinh tế đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc
tế được đẩy mạnh
Tuy nhiên nền kinh tế còn nhiều khó khăn, thách thức: tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa đạt được mục tiêu đề ra, chưa tương xứng với mức tăng
đầu tư và tiềm năng của nền kinh tế; hệ thống thị trường chưa hình thành đầy
đủ và phát triển đồng bộ; chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường, kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân; hệ thống pháp luật chưa đầy
đủ và kém hiều lực, các văn bản pháp quy ban hành còn chồng chéo
3.1.3 Bối cảnh trong tỉnh
Sơn La được sự hỗ trợ về nhiều mặt của Nhà nước thông qua các chương trình, dự án nên cơ sở hạ tầng ngày càng phát triển, góp phần thúc
đẩy cho kinh tế Sơn La có tốc độ tăng trưởng khá cao Đặc biệt công trình thuỷ điện Sơn La đã được khởi công xây dựng, ngoài việc cải thiện nguồn
điện năng, tạo điều kiện cho phát triển công nghiệp và dịch vụ, nhu cầu tiêu dùng của 15.000 - 25.000 công nhân sẽ tạo ra thị trường đầy tiềm năng cho phát triển kinh tế
Trang 10Bảng 3.1: Phân tích theo phương pháp ma trận SWOT về phát triển
kinh tế hàng hoá ở tỉnh Sơn La
1) Điều kiện tự nhiên đa dạng, tạo ra
nhiều lợi thế riêng cho từng vùng của
tỉnh 2)Tài nguyên đa dạng và phong
phú chưa được khai thác Tiềm năng đất,
rừng cho phát triển kinh tế về diện tích
và độ phì tự nhiên lớn 3) Sản phẩm của
nông nghiệp: chè, cà phê, nhãn, xoài,
gia súc, lâm sản, những năm tới sẽ tăng
nhanh cả về số lượng và chủng loại
4) Xuất hiện các cụm công nghiệp sản
xuất tập trung gắn với nguồn nguyên
liệu tại chỗ 5) Nguồn lao động tại chỗ,
cần cù, đoàn kết 6) Các doanh nghiệp
kinh doanh công nghiệp, thương mại,
vận tải, chế biến tăng 7) Kết cấu hạ
tầng kinh tế xã hội có bước phát triển;
giao lưu kinh tế với ngoài tỉnh tăng lên
8) Có nhiều di tích lịch sử và danh lam
thắng cảnh 9) Kinh nghiệm phát triển
kinh tế sau 20 năm đổi mới
1) Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt,
địa hình bị chia cắt, sản xuất phân tán và thường bị thiên tai 2) Tập quán canh tác lạc hậu, nặng về khai thác nguồn lợi tự nhiên 3) Hầu hết các sản phẩm có quy mô nhỏ, phân tán, chưa có uy tín, chất lượng không ổn định, sản xuất còn mang nặng tính tự phát 4) Nguồn lao động có trình độ văn hoá và chuyên môn thấp, chưa quen với tác phong công nghiệp và kinh tế thị trường 5) Chưa xuất hiện những nhà kinh doanh có quy mô lớn đủ sức cạnh tranh với bên ngoài 6) Hệ thống thị trường hình thành chưa đồng bộ Quy mô thị trường còn nhỏ bé, chủ yếu là mua gom, Sức mua của thị trường nội tỉnh thấp 7) Kết cấu hạ tầng vẫn vào loại yếu kém
so với các tỉnh, nhất là giao thông 8) Các đơn
vị sản xuất kinh doanh làm ăn còn kém hiệu quả, thiếu vốn, trình độ kỹ thuật thấp, thiếu thông tin thị trường
1) Quy mô của thị trường ngày càng mở
rộng 2) Số người ngoài tỉnh đến lao động
và thăm quan, trong thời gian dài, nhu cầu
thị trường tiêu dùng tăng thêm 5 – 10% 3)
Trình độ phát triển khoa học công nghệ
ngày càng tiến bộ 4) Nhà nước đang và
sắp khởi công nhiều công trình, kết cấu hạ
tầng trong vùng ngày càng tiến bộ 5) Sự
quan tâm hỗ trợ của Nhà nước thông qua
các chương trình đối với các tỉnh miền
núi, đặc biệt là hỗ trợ về vốn và kết cấu hạ
tầng 6) Sự chỉ đạo của tất cả các cấp,
ngành Trung Ương và địa phương
1)Tương tự về chủng loại sản phẩm so với các tỉnh lân cận, dễ rủi ro thị trường 2) Sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá Sơn La yếu (cả về quy mô, chất lượng, địa bàn) 3) Giao thông vận tải trong nội tỉnh và với bên ngoài còn nhiều khó khăn, tăng giá thành sản phẩm 4) Sức ép giảm giá từ phía thị trường bên ngoài 5) Sức hấp dẫn đầu tư
của doanh nghiệp bên ngoài vào tỉnh còn thấp 6) Nền kinh tế nước ta đang từng bước hội nhập với thế giới, sự ưu
đãi trực tiếp của Nhà nước sẽ giảm dần.
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp và phân tích
3.2 Quan điểm và phương hướng phát triển
3.2.1 Quan điểm phát triển: 1) Khai thác và phát huy tối đa lợi thế
so sánh của tỉnh; 2) Xây dựng hệ thống kinh tế mở, gắn thị trường trong nước với thị trường nước ngoài; 3) Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường; 4) Phát triển kinh tế hàng hoá phải đảm bảo gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội; 5) Xây dựng hệ thống đô thị trở thành hạt nhân thúc đẩy các vùng khác phát triển; 6) Phát triển kinh tế hàng hoá gắn với việc bảo vệ và tái tạo môi trường sinh thái; 7) Phát triển kinh tế hàng hoá gắn với bảo vệ an ninh quốc phòng
3.2.2 Phương hướng phát triển
Trong những năm tới Sơn La cần tập trung phát triển các sản phẩm hàng hoá có lợi thế so sánh, các lĩnh vực có tiềm năng, hình thành các vùng sản xuất hàng hoá tập trung Phấn đấu đến năm 2010 đạt các chỉ tiêu sau:
- Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2005-2010 đạt 12-14%, tổng sản phẩm trong tỉnh là 3.480 tỷ đồng (giá cố định năm 1994) để đảm bảo GDP/người đạt 426 USD/người vào năm 2010
- Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH, đến
2010 cơ cấu kinh tế của các ngành nông nghiệp - công nghiệp và dịch vụ tương ứng là 38-40 %, 24-26% và 36-37%
- Ngành nông nghiệp:
+ Nâng cao năng suất lúa ruộng nước để đến năm 2010 sản lượng lương thực đạt 400.000 tấn; hạn chế canh tác lúa trên đất dốc, giảm diện tích lúa nương
+ Phát triển vùng cây công nghiệp chủ lực gắn với phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản xuất khẩu, trong đó cây chè là 7000 ha, cây ăn quả là 35.000 ha và cây cà phê 4000 ha Xây dựng vùng rau quả hoa và cây cảnh chất lượng cao, tập trung tại Thị xã Sơn La, huyện Mai Sơn và Mộc Châu Phát triển vùng sản xuất lương thực, thực phẩm đủ đáp ứng nhu cầu nội tỉnh và của công nhân nhà máy thuỷ điện Sơn La
+ Phát triển chăn nuôi gia súc và gia cầm, tăng số lượng và chất lượng của đàn, trong đó phát triển đàn bò sữa lên 10.000 con
- Ngành công nghiệp:
+ Tập trung đầu tư phát triển công nghiệp chế biến tạo ra sản phẩm hàng hoá có chất lượng cao có thể xuất khẩu Trước mắt cần chú ý nâng cấp các nhà máy chế biến chè, cà phê đảm bảo chế biến hết sản lượng hàng hoá nông sản; nâng cấp nhà máy chế biến sữa tiệt trùng ở Mộc Châu lên 40-50 tấn/ngày với sản phẩm chủ yếu là sữa cô đặc, bơ tươi, kem
+ Đầu tư cải tạo và mở rộng sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác và chế biến khoáng sản có giá trị như: đồng-niken, than các loại, cao lanh, bọt tan