1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHÁT VỌNG NỮ QUYỀN TRONG THƠ VI THÙY LINH

68 2,3K 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 418,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đọc thơ Vi Thùy Linh, người đọc trở về với những gìchân thật nhất, đời thường nhất: đó là tình yêu trần thế, bản chất giới tính, sự tồntại mang giá trị nhân văn và con người… Bằng cá tín

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Ngành: Sư phạm Ngữ văn

Trang 2

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đối với các thầy côcủa trường Đại học Hùng Vương, đặc biệt là các thầy cô giáo kho KHXH&NVcủa trường đã tạo điều kiện cho em để có nhiều kiến thức và thời gian cho khoáluận tốt nghiệp.

Em cũng xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Thị Thuý Hằng, người đã

tận tình hướng dẫn em hoàn thành tốt khoá luận tốt nghiệp

Trong quá trình làm khoá luận, khó tránh khỏi sai sót, em rất mong cácThầy, Cô bỏ qua Đồng thời do trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễncòn hạn chế nên khoá luận không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mongnhận được ý kiến chỉ dẫn của quý Thầy, Cô Đó là hành trang quý giá giúp em

tự hoàn thiện bản thân mình sau này

Xin cảm ơn gia đình và bạn bè luôn đồng hành, tạo điều kiện giúp đỡ emhoàn thành tốt khoá luận

Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên

Nguyễn Mỹ Linh

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Trước đây, khi làm thơ người ta hay bị bó buộc vào những khuôn khổnhất định của Đường luật, sonnet luật, hay lục bát luật… và luôn cố dồn nén câu

từ một cách hàm súc, cô đọng nhất, đa tầng ý nghĩa “ý tại ngôn ngoại”, “họa vânhiển nguyệt”…Nhưng với sự vận động không ngừng nghỉ trong dòng chảy củamình, thơ ngày càng đa dạng hơn về diện mạo cũng như nội dung Đặc biệt từsau 1975, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đã thúc đẩy tinh thần dân chủ

và sự phát triển mạnh mẽ ý thức cá nhân trong văn học Thơ thời kỳ này thể hiệnkhát vọng đào sâu vào bản ngã, vào con người bên trong con người để rồi nhiều

xu hướng thơ được nảy nở, nhiều thể nghiệm mạnh bạo được ra mắt côngchúng Quan niệm thơ có nhiều biến đổi và ý thức cách tân thơ ngày càng mạnh

mẽ, từ bóng dáng siêu thực đến thứ "thơ vụt hiện", thơ như trò chơi của ngôntừ Với “gương mặt” mới này, thơ Việt Nam sau 1975 ngày càng gần gũi hơnvới xu hướng thơ thế giới đương đại

1.2 Một thế hệ thơ trẻ xuất hiện từ sau 1975, nhất là từ đầu những năm 90của thế kỉ XX đã đem đến nhiều tiếng nói mới, cách nhìn mới, xúc cảm mớitrong thơ Ít bị ràng buộc với truyền thống, họ mạnh dạn và tự do hơn trong sựtìm tòi, thể nghiệm, với nhu cầu được bộc lộ hết mình của con người cá nhân.Trong số họ, tuy chưa có những phong cách khẳng định được vị trí của mìnhtrong lòng công chúng rộng rãi, nhưng đã có nhiều tên tuổi gây được sự chú ý:Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Quốc Chánh, Đồng Đức Bốn và gần đây là PhanHuyền Thư, Vi Thùy Linh, Nguyễn Hữu Hồng Minh Các nhà thơ dân tộc thiểu

số cũng góp những tiếng thơ đặc sắc mang bản sắc dân tộc: Y Phương, LâmQuý, Lò Ngân Sủn, Inrasara…

1.3 Vi Thùy Linh là một những cây bút trẻ thuộc thế hệ 7X, 8X, chịu ảnhhưởng của nhiều luồng văn học trên thế giới, có những nét phá cách và có nhiềuthể nghiệm mới mẻ Cùng với hành trình tìm cho mình phong cách thơ mới địnhhình, thơ của tác giả đang có những bứt phá mới Nữ thi sĩ họ Vi đã trở thành

Trang 4

"một hiện tượng của thơ ca Việt Nam hiện đại" ( Nhà thơ Thanh Thảo) với sức

sáng tạo khá sung mãn Đọc thơ Vi Thùy Linh, người đọc trở về với những gìchân thật nhất, đời thường nhất: đó là tình yêu trần thế, bản chất giới tính, sự tồntại mang giá trị nhân văn và con người… Bằng cá tính thơ của mình, cây bút trẻnày đã bộc lộ cái tôi, thổi vào văn đàn một luồng gió mới về khát vọng tình yêu,khát vọng "nữ quyền" thật độc đáo Cũng từ đó, một phong cách thơ nữ hìnhthành với những đặc trưng rất riêng biệt, không trộn lẫn trong thế giới nghệthuật Nhờ sự sáng tạo trong nội dung và thi pháp, Vi Thùy Linh được coi là mộttrong những nhà thơ trẻ góp phần tạo ra diện mạo mới của thơ đương đại

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu một vấn đề

khá nổi trội trong thế giới nghệ thuật nhà thơ nữ trẻ: Khát vọng nữ quyền trong thơ Vi Thùy Linh Tiếp cận thế giới nghệ thuật thơ chị theo hướng này, chúng

tôi hi vọng có cái nhìn sâu sắc hơn đối với thế giới nghệ thuật của một nhà thơ,đồng thời, nhận thức rõ hơn về những đổi thay trong quan niệm nghệ thuật cũngnhư xu hướng cách tân của thơ trẻ Việt Nam đương đại Đề tài cũng là một tưliệu hữu ích, đáp ứng ham muốn tìm hiểu thơ của sinh viên Văn và những aiquan tâm đến thơ nữ trẻ Việt Nam thời kỳ đổi mới

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

2.1 Những đánh giá chung về khát vọng nữ quyền trong sáng tác của các cây bút nữ trước và sau 1975

Con người là sinh thể mang trong mình nhiều sự bí ẩn, phức tạp sâu kín.Mỗi người sẽ chọn cho mình một phương thức để giải toả những điều đó Đặcbiệt, các nhà thơ nữ chọn cho mình cách gửi gắm vào trang viết những ướcmong, những thông điệp về tình yêu, hạnh phúc Tuy nhiên, để có một cái tôibản thể trỗi dậy mạnh mẽ và dữ dội, thì đến thơ nữ trẻ đương đại mới bắt đầu trổnhững nụ hoa đầu tiên Trên trang giấy, họ được thể hiện những phá cách củamình về quan điểm nghệ thuật, họ tự trang bị và bồi đắp cho đời sống thi canhững suy nghĩ, ý tưởng, sự sắp đặt và trình diễn để nhằm mục đích duy nhất,tạo cho thơ tránh khỏi lối mòn, tránh khỏi khuôn khổ chật hẹp xưa nay Như thếđồng nghĩa với việc họ đang có đủ tự tin để trở thành người xung kích mở

Trang 5

đường giải phóng cho cái tôi phụ nữ nhỏ bé lắm phiền muộn nhưng cũng đầy tựtin, cao ngạo của thơ nữ trẻ đương đại Việt Nam trong thời buổi hội nhập toàncầu.

Năm 2007, luận văn Thạc sĩ của Cao Hạnh Thủy trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn TP.HCM với đề tài Hồ Xuân Hương - tiếp cận quan điểm giới tính đã vận dụng lý thuyết về giới để nghiên cứu bà chúa Hồ Xuân Hương

từ cuộc đời đến thơ ca Đi theo hướng tiếp cận này, tác giả đã động chạm đếnmột số vấn đề liên quan đến nữ quyền nhưng chủ yếu là trên quan điểm giới

Năm 2006, đề tài khoa học Sự thức tỉnh của người phụ nữ trong văn học Nam Bộ đầu thế kỉ XX của Lê Ngọc Phương - Đại học Khoa học Xã hội và

Nhân văn TP.HCM đã lý giải sự ra đời của ý thức nữ giới nước ta theo bối cảnhlịch sử - xã hội cụ thể và phân tích những cây bút nữ nổi bật trong thời kỳ này cả

về phương diện nội dung tư tưởng cũng như nghệ thuật thể hiện

Trong bài viết Ý thức nữ quyền và sự phát triển bước đầu của văn học nữ Nam Bộ trong tiến trình hiện đại hóa văn hóa dân tộc đầu thế kỷ XX, tác giả Hồ

Khánh Vân có đưa ra quan điểm của nhà phê bình văn học Phan Khôi về vấn đềnày: "Phụ nữ nên tham gia vào sáng tác văn học và có thể tạo nên một nền vănhọc vững chãi, dày dặn, có giá trị cho giới của mình Từ sự tương đồng giữa phụ

nữ và tính chất mỹ cảm của văn chương, ông cho rằng phụ nữ thích hợp với vănchương hơn so với nam giới khi dùng ngòi bút bộc lộ đời sống tình cảm bêntrong con người, đặc biệt là khi hướng đến đối tượng là chính bản thân họ"[34].Nguyễn Thị Kiêm cũng là một nhà báo sắc sảo trên văn đàn đương thời.Trong bài diễn thuyết nhằm khẳng định vai trò của người phụ nữ đối với vănchương và tri thức của nhân loại, nữ sĩ đưa ra những dẫn chứng khẳng định vaitrò "nội tướng" của nữ giới trong sự nghiệp văn học so với nam giới các nước,phong trào học thuật của phụ nữ ở các quốc gia tiên tiến: "( ) cái địa vị của đàn

bà ở trong văn học cũng không phải là thấp thỏi gì, theo như nhiều người đãtưởng Và cái ảnh hưởng của đàn bà đối với những bậc văn nhân tạo sĩ cũng rất

là nặng nề thảm thiết, nhờ đó mà văn học phát đạt vô cùng".[32]

Trang 6

Trong khi đó, Hoàng Thụy Anh lại đưa ra nhận định khá sâu sắc: "từ thế kỉXIX đến đầu thế kỉ XX, phương tây đã rầm rộ với làn sóng chủ nghĩa nữ quyền:đấu tranh chống lại mọi áp bức, thống trị của nam giới và của xã hội để thiêt lập

sự bình đẳng giới và "phục hồi" cái tôi của mình Ở Việt Nam, những năm đầuthế kỉ XX, vấn đề bình đảng nam nữ cũng được bàn đến Trong đó, quan trọngnhất, là sự ra đời của tờ báo Nữ giới chung (1918) do Sương Nguyệt Ánh làmchủ bút, tuy còn nhiều hạn chế nhưng có thể nói lần đầu tiên, người phụ nữ đượccất lên tiếng nói trực tiếp của mình" [2]

Tuy nhiên, mãi đến khi công cuộc đổi mới và cải cách diễn ra toàn diện,chủ nghĩa nữ quyền mới bắt nhịp với đời sống văn học Việt Nam Và sau năm

1986, thời kì "âm thịnh dương suy" trong văn học thực sự bùng phát'' Năm

2006, trong bài viết tham dự Hội thảo Quốc tế về văn học tại Viện Văn học có

nhan đề Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp đã giới thiệu khái quát về vấn đề phái

tính trong văn học ở từng giai đoạn và đưa ra những bình luận ban đầu về vấn đềtính nữ trong văn học Việt Nam: “Sự xuất hiện và mở rộng âm hưởng nữ quyềntrong văn học Việt Nam đương đại, theo ý tôi, xuất phát  từ ba nguyên nhân cơbản: Thứ nhất, sự thay đổi tư duy và sự mở rộng của tinh thần dân chủ xã hộikhiến cho nữ giới có điều kiện tự do cất cao tiếng nói của mình với tư cách làchủ thể độc lập; Thứ hai, bản thân nữ giới đã có những thay đổi lớn về nhậnthức, học vấn, điều kiện tự chủ kinh tế, khả năng am hiểu luật pháp…; Thứ ba,cấu trúc sinh học cũng như sự nhạy cảm và  mối quan tâm của nữ giới có nhiềuđiểm gặp gỡ với nhịp sống thời hiện đại” [8] Tác giả đã chỉ ra những khoảngtrống trong phê bình nữ quyền ở Việt Nam hiện nay: “ Vấn đề phái tính và vănhọc nữ tính đến nay vẫn chưa được giới học thuật nước ta quan tâm nhiều mặc

dù trong ý thức, chúng ta đều hiểu đây là một vấn đề quan trọng của đời sốnghiện đại ( ) Trong quá trình khẳng định bản ngã của nữ giới, nhà văn có thểmiêu tả những khoái cảm tình dục nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc coigiải phóng tình dục là con đường duy nhất để giải phóng cá nhân Cần phải nhìntình dục vừa như một hoạt động bản năng vừa có ý nghĩa văn hoá Bởi thế, trong

Trang 7

văn học, sex phải hiện lên như một yếu tố văn hoá và nhà văn có thể thông quasex để biểu đạt những vấn đề nhân sinh một cách có nghệ thuật.” [8].

Năm 2008, luận văn Thạc sĩ khoa học Ngữ văn của Bùi Thị Thủy - trường

Đại học Sư phạm Hà Nội với đề tài "Dấu hiệu ý thức nữ quyền trong văn nữ Việt Nam đương đại" đã cung cấp một số khái niệm công cụ về "nữ quyền", ảnh

hưởng của nó trong văn học cũng như những biểu hiện, nghệ thuật thể hiện của

"nữ quyền" trong sáng tác của các tác giả nữ đương đại

Những nhận định, nghiên cứu về khát vọng nữ quyền trong văn học nữtrước và sau 1975 tuy có nhưng vẫn còn lẻ tẻ, nhiều mặt còn chưa đi đến tậncùng và vẫn thiên về yếu tố lý luận phê bình là nhiều, khát vọng nữ quyền là gì?

và được thể hiện rõ ràng ra sao qua từng tác phẩm chưa được xem là tâm điểmcủa nghiên cứu và đánh giá

2.2 Những nghiên cứu về thơ Vi Thùy Linh và khát vọng nữ quyền trong thơ của nữ sĩ

Vi Thuỳ Linh sinh năm 1980, sinh ra và lớn lên tại Hà Nội, đã tốt nghiệpPhân viện báo chí và tuyên truyền Hiện nay cô đang là nhà báo nhưng đồng thờicũng là một nhà thơ Ngay từ khi còn ngồi trên giảng đường Đại học, Linh đã

xuất bản hai tập thơ Khát và Linh Đây được xem như là sự khởi đầu cho sự

nghiệp sáng tạo nghệ thuật của Vi Thuỳ Linh Là một nhà thơ trẻ, nhưng ViThuỳ Linh đã sớm được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam (2007) Cô là tác giả

trẻ nhất trong Tuyển tập thơ nữ từ xưa đến nay (Nxb phụ nữ, được in song ngữ Việt- Anh) Linh cũng là một trong những tác giả đạt giải Bông hồng vàng của

Đài truyền hình kỹ thuật số VTC do khán giả bình chọn (2006) cùng với Kỷniệm chương của Hội liên hiệp phụ nữ Hà Nội (7 03 2008) Vi Thuỳ Linh là tácgiả trẻ Việt Nam dự liên hoan thơ quốc tế tại cộng hoà Pháp (11 2003) Nhưvậy, với hơn 10 năm sáng tác, Vi Thuỳ Linh đã đạt được những thành quả đángghi nhận

Thơ Vi Thuỳ Linh đã trải qua một hành trình khá dài từ Khát (1999), Linh (2000), đến Đồng tử (2005), và tập thơ thứ tư với cái tên rất ấn tượng Vili in love

(2008) Tình yêu đối với thơ luôn được đặt song hành trong cuộc đời cũng như

Trang 8

sự nghiệp của chị Bằng một lối thơ cuộn chảy phăng phăng được khơi nguồn từcảm xúc nồng nhiệt đắm say đối với cuộc đời, Vi Thuỳ Linh đã dâng cho đờinhững vần thơ mang vẻ đẹp bản năng và đầy sức hấp dẫn Trên con đường nghệthuật khổ ải ấy, cô luôn nỗ lực tự làm mới thơ ca, tự hoàn thiện mình qua nhữngvần thơ nóng bỏng, thiết tha Sự sáng tạo nghệ thuật đó của cô nhận được sự ủng

hộ của nhiều bạn đọc yêu thơ chị và một số nhà nghiên cứu, nhà thơ của thế hệ

đi trước như: Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Huy Thiệp, Thanh Thảo, ThuỵKhuê, Nguyễn Trọng Tạo… Đây là những người tích cực cổ vũ cho giọng thơnày Họ đều thấy ở Vi Thuỳ Linh những trăn trở, những khát vọng được yêu,được sống thành thực, và nỗ lực phá bỏ mọi thói quen, mọi quan niệm cũ mòn,cứng nhắc

Xuất hiện trên thi đàn, ngay từ tập thơ đầu tiên Vi Thùy Linh đã tạo nên sựchú ý Có rất nhiều ý kiến, khen nhiều mà chê cũng không ít Vi Thùy Linh trở

thành “một hiện tượng của thơ ca Việt Nam hiện đại” (Nhà thơ Thanh Thảo)

[25]

Khi đọc “Khát” của Vi Thùy Linh, nhà thơ - nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo đã cảm nhận ở cô “cái tôi” đầy cá tính và sống động: “Một thiếu nữ đa tình? Một

phận kiếp đa đoan? Một tâm hồn dám sống? Là tất cả mà không là gì cả Mạnh

mẽ, thành thật và tận hiến cho tình yêu, nghệ thuật Thơ phóng sinh ý tưởng rangoài gông cùm của thành kiến truyền kiếp, đập cánh quyết liệt vào hiện đại Thơphá tung cánh cửa vờ vĩnh che chắn trái tim trụy lạc, trưng cầu ánh sáng Đó là ViThùy Linh với tuyên ngôn “Không bao giờ hóa trang để nhập vai kẻ khác!”.(Tháng 12, 1998) [24]

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã thấy một “Hiện tượng Vi Thùy Linh” (in trong báo Sinh viên Việt Nam, 9 2003, rút trong tập Phê bình, tiểu luận Giăng lưới bắt chim, Nxb Hội nhà văn, 2005 - Giải thưởng Phê bình Hội nhà văn Hà

Nội 2006) “Nhiều người nói với tôi rằng Vi Thùy Linh là biểu tượng sex trongthơ Tôi không thấy thế Vi Thùy Linh là một biểu tượng trong trắng đấy chứ

Vi Thùy Linh là một hiện tượng trong thơ Việt Nam Một tiếng thơ lạ" [26]

Trang 9

Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên khi đọc tập “Đồng tử” thấyLinh là “Người “tận lực tham ô tuổi trẻ” để sống thơ” (Tạp chí Văn học số 9,2005) “Vẫn một niềm khao khát của Linh như ngày nào, khao khát vừa ngây thơvừa đau đớn mà hạnh phúc Tôi (và ta) gặp lại ở đây những khát vọng cháy bỏng

và thăng hoa trong thơ Linh về tình yêu “Chân lý” bị khước từ ở đây là nhữngcon mắt đạo đức giả, những rao giảng tới điều nhàm chán cũ rích, những sự bấtlực, những chân lý lỗi thời Mặc tất! - vì tình yêu mạnh hơn và sinh tạo ra nhữngchân lý đẹp nhất, đó là phát minh vĩ đại nhất của mọi thời đại… Thế là đủ cho

Linh hát ca và hoan lạc Một niềm hoan lạc sống đời thơ” [18].

Còn Nguyễn Việt Chiến khi đọc tập thơ này đã viết bài “Thơ Vi Thùy Linhcơn cuồng lưu từ những mê - lộ - chữ” và nhận thấy “Vi Thùy Linh có một đờisống nồng cháy đam mê và nhiều nỗi đau mờ, nhiều nỗi đau Trong những bài thơđịnh mệnh của mình, Vi Thùy Linh như một người dệt tầm gai nhẫn nại đan dệtnhững cảm xúc của mình với nỗi đau vô hình trong tay - ngôn - ngữ luôn bị trầyxước, rớm máu bởi những nỗi đau vô hình trong thi ca và hữu hình trong tình yêu,

đời sống con người" [6].

Nhà thơ, dịch giả Dương Tường tỏ ra bênh vực Vi Thuỳ Linh trước dưluận, đồng thời khẳng định thơ cô nêu cao biểu tượng cho khát vọng được thayđổi, vượt thoát ra ngoài khuôn khổ cũ: “Vi Thùy Linh là một cơn lốc - lốc ýtưởng, lốc chữ (chứa chất nổ), lốc tình (đôi khi là khoái cảm) Cơn lốc khôngkiềm chế đó đương nhiên gây sốc, khiến nhiều người ngộ nhận những cố gắngtrong thơ cô và lầm lẫn cho sự bất chấp những ước lệ và kiêng kị và phạm húy

Với tôi, Vi Thùy Linh là một biểu tượng giải phóng phụ nữ trong thơ” [33] Trần Đăng Khoa trong bài viết “Đọc lại thơ Vi Thùy Linh” (1.1.2007) đã

đưa ra một cái nhìn tổng thể, khẳng định cá tính, sức sống của thơ Vi Thuỳ Linh

dù theo ông, vẫn còn nhiều thứ cần trau chuốt: “Thơ Vi Thùy Linh là thế Ngổnngang và rậm rạp trong những suy nghĩ trăn trở của ngày hôm nay… Phải nói ViThùy Linh là người dũng cảm, tự tin Thơ chị có nội lực Chị vin vào nội lực ấy

mà đứng dậy trên hai chân của mình và sáng bằng nước mắt Đọc chị, ta luôn cócảm giác rợn ngợp như đang đứng trước một ngọn núi lửa mới tuôn trào với một

Trang 10

sức mạnh không thể ngăn cản nổi Lẫn trong ngổn ngang đất đỏ, nham thạch là

không ít những thỏi quặng quý” [4].

Đài AFI, chương trình tết Đinh Hợi (2007) có nhận xét: “Vi Thùy Linh lànhà thơ trẻ Việt Nam có nội lực mạnh nhất hiện nay Cô sở trường nhất trong đềtài tình yêu Nói đến Vi Thùy Linh, là nói đến những bài thơ tình yêu không thểtrộn lẫn của cô”[15]

Có thể thấy rằng “hiện tượng” Vi Thùy Linh đã gây được nhiều sự chú ývới những thiện cảm, xét cả ở góc độ độc giả lẫn các nhà phê bình có kinhnghiệm Tuy nhiên các bài viết mới chỉ gợi hoặc nêu ra được một vài phương

diện nào đó khát vọng nữ quyền trong thơ Vi Thùy Linh chứ chưa có bài viết,

công trình nào tập trung nghiên cứu về vấn đề này Đây là những gợi dẫn quýbáu để chúng tôi thực hiện đề tài

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi mong muốn làm rõ khát vọng nữ quyềntrong thơ của Vi Thùy Linh Từ đó hướng tới nhận diện vấn đề nữ quyền đượcđặt ra trong sáng tác thơ sau 1975

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xác định khái niệm công cụ: nữ quyền và các tiền đề nảy sinh tư tưởng nữ

quyền trong thơ Việt Nam sau 1975

- Xác định những biểu hiện của tư tưởng nữ quyền trong thơ Vi Thùy Linh

- Xác định nghệ thuật thể hiện khát vọng nữ quyền trong thơ Vi Thùy Linh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là khát vọng nữ quyền trong thơ ViThùy Linh

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Thực hiện khóa luận, chúng tôi khảo sát sáng tác thơ của Vi Thùy Linh,

chủ yếu là hai tập: Khát (NXB Hội nhà văn, 1999) và Linh (NXB Thanh Niên,

2000) Ngoài ra, trong trường hợp cần thiết, khóa luận sẽ khảo sát thêm để mở

Trang 11

rộng so sánh trong các tập: Thơ trẻ chọn lọc 1994 – 1998 (NXB Văn hóa – TT, 1998); Thơ sáng tác trẻ (NXB Hội nhà văn, 2000); Tuyển tập thơ Việt Nam

1975 – 2000 (NXB Hội nhà văn, 2000)

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp tiếp cận thi pháp học

Phương pháp này giúp chúng tôi tiếp cận với quan niệm, tư tưởng của nhàthơ, là chìa khóa để chúng tôi đi sâu vào các bình diện thế giới nghệ thuật củatác phẩm

5.2 Phương pháp phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại

Chúng tôi sẽ vận dụng phương pháp này để tiếp cận các sáng tác thơ nhằmlàm sáng rõ các biểu hiện của khát vọng nữ quyền Từ đó, rút ra được các thủpháp nghệ thuật được nhà thơ lựa chọn và sử dụng làm rõ tư tưởng về nữ quyền

5.3 Phương pháp so sánh - đối chiếu

Sử dụng phương pháp này, chúng tôi mong muốn làm rõ sự giống và khácnhau, sự kế thừa và phát triển tư tưởng nữ quyền trong sáng tác thơ sau 1975 vớicác thời kì trước đó, cũng như của tác giả Vi Thùy Linh với các tác giả kháctrong cùng một giai thời

5.4 Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại

Khi nghiên cứu khóa luận này, chúng tôi sẽ khảo sát, thống kê và phân loạicác biểu hiện của khát vọng nữ quyền và thủ pháp xây dựng vấn đề này trongcác tập thơ của Vi Thùy Linh

Những phương pháp trên được sử dụng có khi là tách biệt, nhưng đa phần

là đan xen, kết hợp trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành khóa luận này

6 Đóng góp mới của đề tài

Từ những nhiệm vụ, mục tiêu đã đặt ra ở mục 3, đề tài nghiên cứu củachúng tôi xin đưa ra một số đóng góp mới sau:

- Thấy được sự vận động, tìm tòi, sáng tạo độc đáo của Vi Thùy Linh

- Đưa ra cái nhìn tổng quát về khát vọng nữ quyền trong các tập thơ của ViThùy Linh Từ đó, khẳng định những thủ pháp nghệ thuật đặc sắc trong xâydựng hình ảnh người phụ nữ với khát vọng nữ quyền này

Trang 12

- Cung cấp thêm một số tài liệu tham khảo cho người học, người dạy, vànhững độc giả quan tâm đến văn học Việt Nam sau 1975 nói chung và Vi ThùyLinh nói riêng.

7 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung khóaluận của chúng tôi dự kiến triển khai trong 3 chương:

Chương 1: Dấu ấn nữ quyền trong thơ Việt Nam sau 1975

Chương 2: Biểu hiện của khát vọng nữ quyền trong thơ Vi Thùy Linh Chương 3: Nghệ thuật thể hiện khát vọng nữ quyền trong thơ Vi Thùy Linh

Trang 13

NỘI DUNG Chương 1 DẤU ẤN NỮ QUYỀN TRONG THƠ VIỆT NAM SAU 1975

Từ sau 1975, dù không có vị thế nổi trội và vai trò tiên phong trong đờisống văn học như các thể loại văn xuôi, nhưng thơ vẫn rất phong phú, đa dạng,

có nhiều tìm tòi cách tân mạnh mẽ, đem đến một gương mặt mới trong tiến trìnhthơ hiện đại Việt Nam Không chỉ phát triển nhanh về số lượng mà chất lượngthơ ca sau đổi mới cũng có những tiến bộ vượt bậc Sự xuất hiện của các cây bút

nữ không chỉ cân bằng về lực lượng sáng tác mà còn thổi một luồng gió mới vàovăn chương nghệ thuật Với nội lực mạnh mẽ và sức sáng tạo bền bỉ, các nữ văn

sĩ đã có nhiều tác phẩm mang dấu ấn “nữ quyền”, thể hiện tư duy mới mẻ củaphái nữ về giới của mình

1.1 Nhìn chung về sự vận động và những đổi mới cơ bản của thơ Việt Nam sau 1975

1.1.1 Tiền đề lịch sử, văn hóa, xã hội

Với thắng lợi mùa xuân năm 1975, đất nước ta đã khép lại trang sử chiếntranh, bước sang một thời kỳ mới - bảo vệ xây dựng non sông, đất nước trongbối cảnh hoà bình Từ đây, đời sống kinh tế, chính trị xã hội đã có những bướcđổi thay rất lớn Đặc biệt, tháng 12-1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đãphát động công cuộc Đổi mới Sự kiện này tác động sâu rộng tới hầu khắp mọilĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế, khoa học, văn hoá, giáo dục, văn học nghệthuật Nền kinh tế chuyển từ chế độ bao cấp sang mô hình kinh tế thị trường.Công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá được đẩy mạnh kéo theo nó là sự pháttriến của quá trình đô thị hoá Toàn cầu hoá đang là xu thế khách quan của đờisống xã hội Thời kỳ này ở nước ta đã có sự bùng nổ về thông tin truyền thôngđại chúng, tinh thần dân chủ được phát huy mạnh mẽ Việc chủ động mở cửa hộinhập với thế giới đã tạo điều kiện cho các hoạt động giao lưu tiếp xúc văn hoáphát triển

Trang 14

Người Việt Nam đang dần thích nghi với lối sống “Tây hoá”, sử dụng cácphương tiện được nhập từ nước ngoài, vô tuyến truyền hình, computer, internet,ngày càng được dùng phổ biến Kinh tế thị trường và lối sống tiêu thụ vừa kíchthích sản xuất vừa tạo nên bộ mặt mới lạ, sôi động trên đất nước ta Đây chính làmôi trường cho sáng tạo, cạnh tranh tích cực, giải phóng tài năng cá nhân Sựbùng nổ của công nghệ thông tin cùng với nền kinh tế thị trường đã ảnh hưởngtới mọi gia đình trên khắp đất nước, làm thay đổi nếp sống, nếp nghĩ có tính chấttruyền thống, đưa con người vào cuộc sống hiện đại Tuy nhiên, mặt trái của nềnkinh tế thị trường đã làm nảy sinh và phát triển lối sống thực dụng, cá nhân ích

kỷ, chạy theo đồng tiền, hưởng thụ tức thời Bộ máy quản lý cồng kềnh, trì trệ,chậm được cải cách và nhất là tệ nạn tham nhũng lan tràn và nặng nề mà chưa

có giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn và thanh toán được Những điều đó đã tácđộng sâu sắc tới tâm thức con người thời kỳ này cũng như ảnh hưởng không nhỏđến sự vận động của văn học

Sự chuyển biến về hoàn cảnh xã hội, ý thức xã hội đã dẫn đến sự thay đổi

về thị hiếu thẩm mĩ tương ứng với sự thay đổi các thang chuẩn giá trị của cuộcsống Những thước đo giá trị cũ, những chuẩn mực cũ, giờ đây khi cọ sát với đờisống xô bồ, nhộn nhạo của thời hiện đại đang mất dần đi tính tuyệt đối của nó.Trước đây con người nhìn cuộc sống bằng ánh sáng của lí tưởng, bằng nhãnquan sử thi, nay cuộc sống không còn vẻ hào quang nữa mà tồn tại bao nghịch lí,phi lí buộc con người phải đối mặt Văn học bao giờ cũng mẫn cảm với khôngkhí tinh thần và nhu cầu thời đại Trạng thái tâm lí xã hội đã được các nhà vănthể hiện qua những ý tưởng mới, cách nói mới Sự trăn trở, đổi mới ấy bắt đầu từ

ý thức của cá nhân, dần dần chuyển dịch vào ý thức nghệ thuật

1.1.2 Thơ Việt Nam sau 1975 – sự vận động và những đổi mới cơ bản

1.1.2.1 Sự vận động của thơ Việt Nam sau 1975

Sau đại thắng mùa xuân 1975, cuộc kháng chiến chống Mĩ vẫn tiếp tục lànguồn cảm hứng lớn của nhà thơ, nhất là ở nửa cuối thập kỉ 70 và đầu nhữngnăm 80 Đứng ở vị thế người chiến thắng, các nhà thơ thuộc thế hệ thơ trẻ thời

kì kháng chiến có nhu cầu nhìn lại con đường mà thế hệ mình cùng với cả dân

Trang 15

tộc vừa đi qua, chiêm nghiệm về lịch sử qua những trải nghiệm của chính mình

và thế hệ mình Thể loại trường ca với khả năng tổng hợp trong nó cả trữ tình, tự

sự, chính luận đã đáp ứng tối đa nhu cầu nói trên Vì thế đã có một giai đoạn nở

rộ của trường ca trong khoảng từ 1976 đến 1985 Cảm hứng sử thi vẫ là nền tảngcủa các trường ca và nhiều bài thơ về đề tài chiến tranh chống Mĩ, nhưng nhữngtrải nghiệm cá nhân của mỗi người làm thơ đã làm cho sự khái quát lịch sử cóđược cái nhìn cụ thể, xác thực và thấm thía hơn Chân dung tinh thần của thế hệtrẻ đi qua cuộc kháng chiến được tô đậm ở sự lựa chọn dấn thân tự nguyện đầytỉnh táo chứ không còn là niềm say mê, háo hức đầy chất lãng mạn như hồi đầubước vào cuộc chiến tranh Thơ cũng phản ánh các quan hệ thế sự trong cuộcsống thường nhật nhiều bộn bề, lo toan, với những khát vọng về hạnh phúc và cả

nhưng trăn trở, lựa chọn về cách sống: Ánh trăng (Nguyễn Duy), Hoa trên đá

(Chế Lan Viên) Các nhà thơ nữ (Xuân Quỳnh, Ý Nhi, Lâm Thị Mĩ Dạ, ) lànhững người nhạy cảm hơn cả với khát vọng hạnh phúc bình dị đời thường, với

cả những lo âu, cô đơn trên hành trình dài dặc kiếm tìm hạnh phúc

Vào những năm 80 của thế kỉ XX, đất nước rơi vào cuộc khủng hoảng kinh

tế - xã hội ngày càng nặng nề, thực trạng xã hội bộc lộ nhiều mặt trái, nhiều vấn

đề bức xúc Bằng cái nhìn tỉnh táo và ý thức trách nhiệm, thơ đã không né tránhnhững sự thật đau lòng, bất công ngang trái Sự tự vấn, tự thú, thức tỉnh trở

thành một xu hướng ở nhiều bài thơ (Cờ lau Đinh Bộ Lĩnh - Chế Lan Viên, Tạ lỗi cánh đồng - Trương Nam Hương, Đò lèn - Nguyễn Duy) Cảm hứng hào

hùng và bi tráng khi nói về đất nước, nhân dân, về thế hệ trẻ trong chiến tranh đãnhường chỗ dần cho những cảm xúc đượm nỗi buồn, nỗi xót xa hay sự hoàinghi Thơ nói nhiều đến nỗi buồn - buồn nhân thế - buồn thân thế và cả nỗi buồntrước sự bất lực của thơ ca và vị thế mới của nó Công cuộc đổi mới toàn diệnđất nước đã thúc đẩy tinh thần dân chủ và sự phát triển mạnh mẽ ý thức cá nhântrong văn học Thơ thời kì này thể hiện khát vọng đào sâu vào bản ngã, vào conngười bên trong con người, đặc biệt là thế giới tâm linh, những vùng mờ củatiềm thức, vô thức Quan niệm thơ có nhiều biến đổi và ý thức cách tân ngày

càng mạnh mẽ: Về Kinh Bắc, Mưa Thuận Thành - Hoàng Cầm; Bóng chữ - Lê

Trang 16

Đạt; Mùa sạch, Cổng tỉnh - Trần Dần, mang đến cho thơ từ bóng dáng siêu

thực đến thứ "thơ vụt hiện", thơ như trò chơi của ngôn từ

Từ giữa những năm 90 đến nay, đổi mới thơ đã trở thành một đòi hỏi cấpthiết và xu hưỡng cách tân ngày càng trở nên mạnh mẽ, đặc biệt là trong thế hệnhà thơ xuất hiện từ thời kì đổi mới Nhiều quan niệm mới lạ về thơ, nhiều thểnghiệm mạnh bạo được thực hiện Thơ trở lại vị trí thực của nó giữa cuộc đời vànhu cầu tự biểu hiện của con người, đặc biệt nhấn mạnh bản chất nghệ thuậtngôn từ của thơ, xem việc làm thơ là "làm chữ" Nhiều nhà thơ trẻ ở cuối thập kỉ

90 xuất hiện đem đến nhiều tiếng nói mới, cách nhìn mới, xúc cảm mới trongthơ mà ít bị ràng buộc với truyền thống: Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn QuốcChánh, Đồng Đức Bốn và gần đây là Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh, NguyễnHữu Hồng Minh, Các nhà thơ dân tộc thiểu số góp những tiếng thơ đặc sắcmang bản sắc dân tộc: Y Phương, Lâm Quý, Inrasara, Lò Ngân Sủn

1.1.2.2 Những đổi mới cơ bản của thơ Việt Nam sau 1975

Nằm ở chiều sâu và giữ vai trò động lực cho sự đổi mới thơ chính là sự đổimới về quan niệm thơ, bao gồm quan niệm về bản chất, chức năng của thơ., vềnhà thơ, quan hệ thơ với công chúng Thơ thời kì đổi mới, đã có sự nhận thứclại, ngày càng mạnh mẽ và triệt để Thơ là nhu cầu tự biểu hiện của cá nhân, đểkhám phá bản ngã của mình, cả ở khoảng mù mờ, lộn xộn của tiềm thức, vôthức Điểm nổi bật trong quan niệm thơ giai đoạn này là đề cao bản chất nghệthuật ngôn từ của thơ, mà biểu hiện rõ nhất ở: thơ là một trò chơi, làm thơ là làmchữ, "chữ bầu lên nhà thơ" Quan niệm về nhà thơ cũng có sự thay đổi Từ vị trí

là người truyền lệnh, nhà thơ thiên sứ, phán truyền những chân lý của thời đại,phát ngôn cho ý chí, tiếng nói cộng đồng, nay nhà thơ trở về với vị trí khiêm tốn

là chính mình Quan hệ giữa thơ và công chúng cũng thay đổi rõ rệt, theo hướngdân chủ Người đọc đến với thơ trong tâm thế tiếp nhận tự do hơn và phải tựmình giải mã văn bản bài thơ

Trong kháng chiến chống Mĩ nổi lên hai dạng thức chính của cái tôi trữtình: cái tôi sử thi và cái tôi thế hệ trẻ của lớp nhà thơ trẻ Nhưng trong nhữngnăm 80, cái tôi sử thi trong thơ mờ dần, thay vào đó là cái tôi thế sự với những

Trang 17

cảm xúc khác, những nỗi buồn, sự lo âu, tâm trạng xót xa, day dứt trước hiệntrạng xã hội, nhân thế Cái tôi cá nhân được khai thác ở mọi bình diện, tầng bậc,trong mọi mối quan hệ, hướng vào bản thể, với sự biểu hiện trực tiếp của thếgiới tiềm thức, vô thức, trong một cái tôi "đa ngã", "đa bội", chứa đựng nhiềumâu thuẫn và luôn biến đổi.

Quan niệm truyền thống ở Việt Nam cũng như trên thế giới, thơ vẫn đượccoi là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc Phải đến giai đoạn từ sau 1975, xu hướngđưa thơ về gần với chất văn xuôi, với đời thường mới trở thành xu hướng có tính

tự giác rõ rệt Chất liệu của thơ vì thế đã được mở rộng đáng kể bao gồm cảnhững cái tầm thường, trần trụi thô tục của đời sống Thơ cũng được gia tăngchất suy tưởng triết lí Sự suy tưởng, triết lí không hướng vào những vấn đề củađời sống tư tưởng - chính trị mà nhằm vào những vấn đề triết học nhân sinh, vềbản thể, về thơ Ở xu hướng đi sâu vào những miền u uẩn của tiềm thức, tâmlinh, vô thức, thơ lại gần với phân tâm học Không ít trường hợp cái tôi trong thơchỉ còn hiện diện ở phần bản năng vô thức, nó không mấy quan tâm đến đờisống ý thức, tư tưởng, tình cảm, xem đó chỉ là phần nổi của tảng băng, không cómấy ý nghĩa với sự khám phá con người

Tự do hóa hình thức thơ là xu hướng đã xuất hiện từ giai đoạn trước, nhưngđến giai đoạn sau 1975 nó được đẩy mạnh và trở thành một đặc điểm chủ đạo

Tự do hóa được thể hiện trên nhiều cấp độ, từ thể thơ, kết cấu bài thơ, dòng thơđến ngôn ngữ và cách trình bày văn bản bài thơ Hầu hết các nhà thơ trẻ thuộcthế hệ sau 1975 không muốn làm thơ theo những thể cách luật Họ muốn giảiphóng thực sự cho ý tưởng cảm xúc khỏi những khuôn mẫu thể loại có sẵn Kếtcấu đa dạng và nhiều trường hợp vượt ra khỏi những kết cấu, lập tứ quen thuộc:lối thơ "vụt hiện", hay ở những thể nghiệm của Trần Dần, Lê Đạt, để cho cácchữ "tự hành" - tự tạo sinh ý nghĩa; thử nghiệm lối thơ rất ngắn, bài thơ chỉ gồm

hai câu (Ngó lời - Lê Đạt) Tổ chức câu thơ, dòng thơ cũng được giãn nở hoặc

co lại một cách rất tự do; trường từ ngữ trong thơ đã được mở rộng đến gần nhưkhông có giới hạn nào Về hình ảnh, phổ biến là xu hướng biểu tượng hóa Cácloại biểu tượng cũng hết sức đa dạng, từ những hình ảnh có sẵn trong thiên

Trang 18

nhiên, những "mẫu gốc" trong tâm thức văn hóa dân tộc, các bộ phận của conngười đến các hình ảnh kì ảo là sản phẩm của trí tưởng tượng hoặc đột hiện từtâm linh, vô thức Bên cạnh xu hướng mĩ hóa hình ảnh thơ lại có xu hướng "trầntrụi hóa".

Thơ Việt Nam từ sau 1975 đã có sự vận động và biến đổi hòa nhập vớinhững chuyển biến của đời sống xã hội và công cuộc đổi mới nền văn học Tuykhông giữ vai trò mở đường và trụ cột trong đời sống văn học thời kì đổi mớinhư các thể loại văn xuôi, nhưng thơ lại thể hiện rõ nhất nhu cầu đổi mới nghệthuật với những thể nghiệm, cách tân rất mạnh mẽ Những đổi mới thơ từ đầunhững năm 90 của thế kỉ XX theo hướng hiện đại, chủ yếu là tượng trưng, siêuthực đã tạo nên biến đổi quan trọng trong tư duy nghệ thuật, quan niệm thơ vàngôn ngữ thơ, đồng thời ảnh hưởng ngày càng mạnh mẽ và rộng rãi đến giớisáng tác và công chúng thơ hiện nay

1.2 Khái quát về dấu ấn tư tưởng nữ quyền trong thơ Việt Nam sau 1975

1.2.1 “Nữ quyền” và một số khái niệm liên quan

Trong thời đại mới hiện nay, vấn đề bình đẳng giới, nữ quyền xuất hiệnnhư một làn sóng mạnh mẽ ở mọi lĩnh vực trong đời sống, từ chính trị, xã hội,kinh tế đến văn hoá nghệ thuật, Chỉ bằng một thao tác nhỏ tìm kiếm vớiGoogle, chúng ta sẽ nhận được rất nhiều kết quả có liên quan đến từ khoá “nữquyền” nhưng để hiểu cho đúng và đầy đủ về nó thì không phải ai cũng làmđược

Theo từ điển Tiếng Việt, “nữ quyền” là: “ Quyền lợi về chính trị và xã hộicủa phụ nữ (nói khái quát): tranh đấu cho phụ nữ quyền” [35;744] Trong khi đó,nhà nghiên cứu xã hội học Hoàng Bá Thịnh lại đưa ra những cấp độ hiểu khácnhau của nữ quyền: “1 Trên phương diện lý luận, nữ quyền là một thuật ngữ chỉ

“ học thuyết đấu tranh cho sự bình đẳng của phụ nữ so với nam giới” 2 Trênphương diện hoạt động thực tiễn, có phong trào nữ quyền với mục tiêu ban đầu

là đấu tranh giành quyền cho phụ nữ về các phương diện chính trị, kinh tế 3 Từgóc độ nghề nghiệp, nhà nữ quyền là những người đấu tranh cho mục tiêu bìnhđẳng nam và nữ” [28] Cuộc sống thường nhật cũng có rất nhiều người đàn ông

Trang 19

hay chính bản thân nữ giới hiểu đơn thuần “nữ quyền” chính là: hôm nay anhnấu cơm, quét nhà, rửa bát; ngày mai em rửa bát, quét nhà, nấu cơm; việc chămsóc con cái là của cả hai nhưng người mẹ vẫn là chủ yếu Như vậy, dù có hiểunông, sâu thế nào đi nữa thì thực chất cũng là một vấn đề, một ý tưởng: ý thứcđòi hỏi về quyền bình đẳng của người phụ nữ trên mọi lĩnh vực.

Vấn đề nữ quyền, cụ thể hơn là làn sóng nữ quyền được xây dựng và pháttriển rầm rộ ở các nước phương Tây như: lý thuyết nữ quyền tự do, thuyết nữquyền Marxist, thuyết nữ quyền cấp tiến, lý thuyết nữ quyền phân tâm học, lýthuyết nữ quyền hiện sinh đang ngày càng lan toả ra các châu lục khác trên thếgiới và tác động hình thành nên thuyết nữ quyền xã hội chủ nghĩa, cao hơn nữa

là thuyết nữ quyền hậu hiện đại Tuy nhiên, các nước thuộc khu vực Á Đông,nhất là các nước đang phát triển thì vấn đề nữ quyền cũng chưa thực sự đượcchú trọng để đẩy lên thành một phong trào, làn sóng trên mọi bình diện, nó chỉmới manh nha xuất hiện và chỉ bắt đầu từ việc thay đổi nhận thức và suy nghĩcủa con người, xã hội đối với người phụ nữ mà thôi

Tựu chung lại, “nữ quyền” là “sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặcđiểm giống và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới ( ) Ý thức nữ quyền là sựkhao khát được đối xử công bằng, được tự do trong tình yêu, hôn nhân củangười phụ nữ, hơn thế còn là mong ước được hưởng hạnh phúc, những thànhtựu phát triển của xã hội và đặc biệt là cống hiến tài năng, phẩm chất, vẻ đẹphình thể và phẩm chất của mình Khát vọng này gắn liền với hiện thực xã hội,bao gồm một tầng lớp, một giai cấp Những vấn đề ý thức nữ quyền đề cập lànhững sự kì thị giới tính, sự đàn áp giới tính, so sánh và xem nhẹ vai trò cũngnhư khả năng của phụ nữ đối với nam giới.” [23;15] Như vậy có thể thấy vấn đề

ý thức nữ quyền có ảnh hưởng nhưng chưa triệt để, thực chất mới chỉ dừng lạidưới các cấp độ làm thay đổi nhận thức: ý thức, tự ý thức, tiềm thức và vô thức

1.2.2 Tư duy về "nữ quyền" trong văn học trước 1975

Theo các nhà nghiên cứu văn hóa, Việt Nam thuộc loại hình văn hóa gốcnông nghiệp Đặc trưng của loại hình văn hóa này về mặt tổ chức cộng đồng "ưasống theo nguyên tắc trọng tình" và tất nhiên lối sống trọng tình cảm tất yếu dẫ

Trang 20

đến thái độ "trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ" Trong truyền thống văn hóa,người Việt rất coi trọng nếp nhà, cái bếp bởi thế việc đề cao người phụ nữ làhoàn toàn nhất quán Người phụ nữ Việt được đảm đương, quán xuyến việc giađình - là người nắm tay hòm chìa khóa và vì thế họ được đề cao: "nhất vợ, nhìtrời", "lệnh ông không bằng cồng bà" Trong dân gian cũng rất coi trọng con gáiđầu lòng: "ruộng sâu, trâu nái, không bằng con gái đầu lòng" Ngay trong dấu ấnngôn ngữ của dân tộc Việt, vì tầm quan trọng của người mẹ nên hay có từ "cái"với nội hàm là "chính, quan trọng" ví như: sông cái, đường cái, ngón cái, máycái, Và không phải ngẫu nhiên mà nhiều học giả phương Tây gọi vùng nôngnghiệp Đông Nam Á là "xứ sở mẫu hệ" bởi chất âm tính của văn hóa nôngnghiệp dẫn đến hệ quả tất yếu là lối sống thiên về tình cảm, trọng nữ và dễ thấy

là trong các tín ngưỡng dân gian, nữ thần chiếm ưu thế Tục thờ Mẫu đã trởthành điển hình với bộ ba tam phủ: Mẫu Thượng Thiên - Mẫu Thượng Ngàn -Mẫu Thoải (Trời - Đất - Nước) Và ngay cả bây giờ, một số dân tộc ít chịu ảnhhưởng của văn hóa Trung Hoa như Chăm hay các dân tộc ở Tây Nguyên (Êđê,Giarai, ) vai trò của người phụ nữ vẫn rất lớn: phụ nữ có quyền chủ động tronghôn nhân, chồng về ở rể nhà vợ, con cái đặt theo họ mẹ Tóm lại, trong văn hóagốc người Việt thì vai trò của người phụ nữ được coi trọng

Tuy nhiên, cơ tầng này đã bị mờ hóa khi nền văn hóa dân tộc chịu ảnhhưởng, chi phối của nhiều nền văn hóa khác đặc biệt là văn hóa Trung Hoa.Trong suốt hơn một nghìn năm Bắc thuộc, cùng với các cuộc bành trướng củaphong kiến phương Bắc xuống phía Nam là việc thực thi chính sách đồng hóavăn hóa, truyền bá các học thuyết vào Việt Nam Theo đó, Nho giáo đã thâmnhập vào nước ta Văn hóa Nho giáo được tổ chức theo thứ bậc để nhằm mụcđích thiết lập một chế độ xã hội ngăn nắp, có tôn ty rõ ràng Ở đây, vai trò củanam giới được đề cao, vị thế của người phụ nữ bị hạ bệ trong những vòng tróibuộc của các quan niệm như "nam tôn nữ ty", "tam tòng tứ đức", "trinh tiết",

"nhất nam viết hữu thập nữ viết vô" Điều đó cũng chi phối trong sáng tác vănhọc Viết văn trở thành một trong ba tiêu chí của người quân tử và từ đó xác lập

Trang 21

vị thế của họ trong xã hội Như vậy, trong văn chương cổ, nam giới luôn chiếm

vị trí "độc tôn"

Nền văn học Việt Nam là một yếu tố không tách rời tổng thể văn hóa dântộc, dấu ấn văn hóa được phản ánh rõ nét trong văn học Nền văn học được cấuthành bởi hai bộ phận có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ: văn học dân gian và vănhọc viết Vì thế, khi tìm hiểu tư duy về "nữ quyền" trong văn học trước 1975,chúng tôi phải xét theo tiến trình văn học từ văn học dân gian đến văn học viết

1.2.1.1 Văn học dân gian

Trong văn học dân gian, tiếng nói của người phụ nữ chủ yếu là tiếng nói tỏbày cảnh ngộ và tiếng nói than thân Họ cảm thấy thân phận mình bé nhỏ, mỏngmanh, vô định Ca dao có nhiều bài mở đầu bằng hai tiếng "Thân em":

- Thân em như hạt mưa saHạt vào đài các, hạt ra ruộng cày

- Thân em như cọc bờ ràoMọt thì anh đổi, cớ sao anh phiền

- Thân em như giếng giữa đàngNgười khôn rửa mặt, người phàm rửa chân

Nhưng cũng có bài ca dao thể hiện sự phản kháng, ngao ngán của nữ giớiđối với những đấng mày râu trong xã hội cũ:

"Ba đồng một mớ đàn ôngĐem bỏ vào lồng cho kiến nó tha

Ba trăm một mụ đàn bàMua về mà trải chiếu hoa cho ngồi”

Cái ám ảnh, gông cùm ngặt nghèo về phẩm giá, trinh tiết chèn ép ngườiphụ nữ không chỉ trong đời sống tinh thần mà cả về bản năng, đời sống riêng tư.Người phụ nữ nào lỡ có tư tưởng “vượt” ranh giới đó thì bị coi là thiếu đoanchính, là dâm đãng Phải thật sự can đảm, mạnh bạo người phụ nữ mới dám nóilên cái khao khát cháy bỏng ấy:

"Bao giờ lão móm chầu trờiThì em lại kiếm một người trai tơ”

Trang 22

Trong kho tàng truyện cổ dân gian, không ít những câu chuyện nói lên nỗithống khổ của người phụ nữ bị trói buộc trong vòng vây của trinh tiết, phẩm giá

và nếp nhà Họ luôn bị rẻ rúng, đè nén và sống phụ thuộc Nhưng cũng cótrường hợp người phụ nữ vượt qua sợi dây của "tam tòng tứ đức” để tự chọn bạnđời cho mình: công chúa Tiên Dung lấy cái duyên trời định chọn Chử Đồng Tửkhi nàng đang khoả thân tắm bên bến sông làng Chử Xá trong vòng quây trướng

rủ

Song rốt cuộc vị thế của người phụ nữ luôn thấp kém, lép vế trong cácmối quan hệ xã hội Do đó, phần lớn tiếng nói của họ là than thân, hãn hữu cóphản kháng nhưng vẫn còn lẻ tẻ, yếu ớt

1.2.1.2 Văn học viết

"Nhờ có chữ viết, văn học cũng có cơ hội làm nên những thành tựu nổi bật

và xuất sắc đáng ghi nhận Đó là khả năng ghi lại tâm tư, tình cảm con người vànhững khía cạnh trong hiện thực cuộc sống một cách chân thực, cụ thể và xácđáng Cùng với đó là sự thay đổi mới mẻ như phương thức sáng tác, đội ngũsáng tác, Tác giả được định danh rõ ràng, cụ thể, từ đó có cái nhìn và cáchđánh giá sâu sắc hơn” [23;18,19]

Thời kì văn học Trung đại, giai cấp phong kiến thống trị về mọi mặt Pháinam được xếp ở tầng trên còn đàn bà, nữ giới chỉ thuộc loại hèn kém Nhữngquy định, lề lối khuôn mẫu, mực thước đi cả vào trong văn chương - một lĩnhvực cần sự sáng tạo và tự do chi phối cả tư duy, cảm hứng sáng tác của các namvăn gia Bởi vậy, đề tài chủ yếu là nói lên cái danh nghĩa, chữ trung, đối tượngmiêu tả chỉ là tùng, cúc trúc, mai, phong, hoa, tuyết, nguyệt, Tuy thế, văn họcgiai đoạn này đã có những tín hiệu đáng chú ý cho vấn đề "nữ quyền" Nhiều tácgiả mang cái nhìn vượt trước thời đại đã lên tiếng bênh vực, nói lên tiếng nói và

cuộc đời của người phụ nữ dù chỉ là gián tiếp, sâu xa Tiêu biểu là Truyện Kiều của Nguyễn Du, Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm, Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều - những bậc nam gia thấm nhuần tư

tưởng Nho giáo Tiếng nói của các nữ văn sĩ vẫn xuất hiện mặc dù còn ít ỏi Sựxuất hiện của " Bà chúa thơ Nôm” - Hồ Xuân Hương đã mang đến một thanh âmphá cách, đem sự căm hờn, châm biếm sâu cay của người phụ nữ lên trang giấy

Trang 23

nhằm trực diện vào xã hội phong kiến, vào chế độ nam quyền nơi mà thân phậnphụ nữ chỉ như con ong, cái kiến hèn mọn Thơ của Hồ Xuân Hương khẳng định

vị thế mới của người phụ nữ Đề tài trong thơ nữ sĩ thường xoáy sâu vào cảnhngộ chồng chung, làm lẽ không công, chính chuyên trong khi đàn ông được chophép năm thê bảy thiếp Bà đã lên tiếng chửi mắng quyết liệt:

"Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng Chém cha cái kiếp lấy chồng chung Năm thì mười họa chăng hay chớ Một tháng đôi lần có cũng không"

Trang 24

Cho đến những năm đầu của thế kỷ XX và phong trào Thơ Mới 1932

-1945, nhiều nữ sĩ xuất hiện, sáng tác cả thơ lẫn văn xuôi Tuy nhiên, tiếng nóicho nữ quyền chưa hẳn được chú ý Giai đoạn 1945 – 1975 là giai đoạn chiếntranh vệ quốc, thơ phục vụ cho mục tiêu cao cả: tất cả vì nhân dân, vì sự nghiệp

to lớn của dân tộc “ giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước” bởi vậy tiếng thơdành cho cá nhân dường như chìm lắng Thế nhưng phải từ năm 1975 cho tớinay thì những cây bút nữ mới thực sự nổi trội trên văn đàn Không tính văn xuôi,chỉ riêng về thơ cũng đã có thể kể ra hàng loạt các cây bút như: Vi Thùy Linh,

Ly Hoàng Ly, Phan Huyền Thư, Bình Nguyên Trang, Dạ Thảo Phương, ĐườngHải Yến, Nguyễn Thúy Hằng, Trương Quế Chi, Phạm Vân Anh, Ngô ThịHạnh, Ngô Thị Thanh Vân, Lynh Bacardy, Nguyệt Phạm, Thanh Xuân, PhươngLan, Khương Hà, Lê Mỹ Ý, Trần Lê Sơn Ý, Trương Gia Hòa, Tú Trinh Chínhkhông khí cởi mở của những năm sau Đổi mới 1986 đã thúc đẩy các cây bút nữcầm bút sáng tác không ngần ngại Họ đi sâu vào đời sống hiện thực sau giảiphóng, khám phá chiều sâu của cuộc sống, con người Bên cạnh những tác phẩmvăn chương mang nhiều giá trị, được bạn đọc ủng hộ, đồng tình thì cũng cónhững tác phẩm gây xôn xao dư luận theo chiều hướng phức tạp với nhiều khen,chê trái ngược Đó là điều tất yếu của bất cứ một nền văn học nào trên thế giới.Điều quan trọng là chúng ta biết nhìn nhận và đánh giá đúng đắn, khẳng định giátrị đồng thời phê phán mặt hạn chế của những tác phẩm đó

1.2.2 Một vài nét về sự thể hiện tư tưởng nữ quyền trong thơ sau 1975

Thơ của các cây bút nữ trẻ xuất hiện từ khoảng 10 năm trở lại đây chịu sựảnh hưởng của những mạch nguồn thơ nữ trước đó, từ thế hệ các tác giả trưởngthành trong chiến tranh như Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Đoàn Thị LamLuyến, Nguyễn Thị Hồng Ngát, Lâm Thị Mỹ Dạ, cho đến Thu Nguyệt, TuyếtNga, Nguyễn Thị Thúy Quỳnh, Đoàn Ngọc Thu, Đặng Thị Thanh Hương Cùng với việc tiếp tục khai thác hướng đề tài cũ nói về thân phận người đàn bà,

về tình yêu về lòng thủy chung son sắt, tình mẹ con, bầu bạn, những tác giả thơ

nữ trẻ đi sâu khai phá những đề tài mới đầy những biến động của đời sống,những va đập của đời thường, niềm khát khao mãnh liệt hướng tới những cái

Trang 25

mới, những chân trời lạ lẫm Thơ của thế hệ mới bên cạnh những đề tài cũ, thểloại cũ, họ đi sâu khai thác bản thể, khám phá những chuyển động của bản thểcăng phồng sự sống, khám phá tình yêu, nhục cảm, cái tôi cá nhân bí ẩn và đầybất trắc Tiếng thơ của họ bên cạnh những khát khao yêu thương, sẻ chia, bùđắp, những khát khao chồng vợ, tổ ấm gia đình hạnh phúc, còn xuất hiện mộtcảm hứng mới rất hiện đại mang đầy bản năng trong ngôn từ, cảm xúc: tínhnhục cảm

Thơ nữ trẻ, với trào lưu “phê bình nữ quyền” (Feminist Criticism) ngàycàng mạnh mẽ đang có những thay đổi để phù hợp với trào lưu chung của khuvực và thế giới Họ khẳng định bản thể bằng cách đối thoại sòng phẳng với độcgiả, với bạn văn khác giới, nỗ lực để lớp đàn anh, đàn chị công nhận cái mới củamình, hòa vào dòng chảy văn học đang ồ ạt những thử nghiệm, cách tân thơ.Thơ của họ, bên cạnh cái “tôi” mang những nét chung vốn có như lòng yêunước, tự hào dân tộc, ngợi ca dân tộc thì còn có một cái “tôi” bản thể khẳng địnhvai trò của cá nhân mình trong đời sống xã hội, trong thi ca Trong thơ nữ trẻđương đại, hơn bất cứ điều gì, họ ý thức về cái tôi ngay từ cái tên gọi của chínhmình Không còn những tựa đề bàng bạc, bảng lảng, không còn cách ví von sáomòn của những tu từ mỹ lệ ngân nga nỗi lòng chất chứa Thơ nữ chọn những tựa

đề tập thơ, bài thơ dội thẳng vào lòng độc giả sự mạnh mẽ của sức sống trẻ, sựcăng tròn của bản ngã, khơi gợi những nhận diện về vẻ đẹp hình thể và tâm hồncủa người đàn bà đương tuổi thanh xuân Những tựa đề tập thơ mang đầy dấu

hiệu tôn vinh bản ngã: Linh, Khát, Đồng Tử, Rỗng Ngực, Nằm nghiêng, Tôi đang lớn, Thời hôm nay, khoái cảm và điên rồi hợp lý, đến những tên bài thơ mang đậm dấu ấn cá nhân: Tôi, Hai miền hoa Thùy Linh, Sinh ngày 4 tháng 4, Đồng giao CHI 18, Dã thú 16, Viết cho ngày sinh nhật 10.10.2003, Thất vọng tạm thời, Giấc mơ của lưỡi, Lãng mạn giải lao,  Mhz, Ngủ.Đi đâu đó giữa trưa, Chơi game với chủ thể, Khóa trái – 6225, Đêm là của chúng mình, Performance ham bơ gơ, Performance photo, Hành xác và thử nghiệm, Sinh năm 1980, Hãy phủ thơ khắp thế giới của em, Nơi tận cùng sự ngưng đọng Bên cạnh đó, yếu

tố quan trọng hơn cả, là chính bản thân các tác giả là người song hành cùng đời

Trang 26

sống bao biến động Họ đã trải qua, đã thử nghiệm, đã cho và nhận, đã được vàmất rất nhiều Thơ như nhật ký được viết nên bằng chính những cảm xúc thănghoa tột đỉnh, có vui buồn, có sung sướng, khổ đau có cả những nỗi cô đơn lẻ loitrong chặng đường đến với thi ca nghệ thuật: “Tôi sâm sấp mặt vũng/ Ngôn ngữ

đang chết trên cánh đồng/ Gieo vần”(Giấc mơ của lưỡi – Phan Huyền Thư) Họ

phải thừa nhận sự bế tắc của ngôn ngữ: “Có lúc/ Chữ nghĩa/ tôi nhai nát trong

miệng/ cùng với nước miếng/ rịt vào vết thương người làm tôi đau” (Ký hiệu –

Phan Huyền Thư) Và, khi chấp nhận không yên ổn con chữ với những giấc mơ

cũ, hình bóng cũ, ý tưởng cũ, nỗi buồn cũ, thơ nữ chối bỏ quá khứ của ngày hômqua để lại dấn thân, lại hăng hái trên con đường mới chọn: “Đoạn tuyệt ngàyhôm qua/  đầu giường sằng sặc giấc mơ mới/  đông cứng nỗi buồn/  ngọ nguậy

trong đầu con mọt nghiến răng/  thèm ý mới”(Mưa – Phan Huyền Thư) Họ

không lệ thuộc vào những khuôn hình đã có sẵn mà luôn luôn thường trực ýnghĩ, phải làm mới mình Họ thấy ngày cũ “bặt vô âm tín” trong sự hoan ca củatình yêu: “Những đôi môi cuống quýt vội vã nồng nàn đau đớn/ Những đôi môingậm tiếng thở gấp gáp, dặt dìu mộng du trong đêm/ Những đôi môi hàm chứagiấc mơ mãn nguyện ngậm chặt  nhau khi thiếp ngủ/ Ngày cũ bặt vô âm tín”

(Song mã - Vi Thùy Linh)

Nhắc đến thơ nữ mà lỡ quên Ly Hoàng Ly thì thật là thiếu sót Thơ của chị

mê hoặc bạn đọc bởi sự ám ảnh của đêm Đêm trong thơ chị không còn là thời

gian vật lý mà đã biến thành một miền tâm tư Đêm tình yêu trong thơ tác giảnhư một bản nhạc ấn tượng với nhiều cung bậc thanh âm khác nhau Đó là đêmcủa sự gắn bó ái ân nồng nàn đến cuồng nhiệt của người phụ nữ với một ý thứcrất cao về nữ quyền:

“Đêm là của chúng mìnhTình yêu thắp sáng đêmĐêm là của chúng mình Sao nỡ ngủ

hở anh.”

(Đêm là của chúng mình)

Trang 27

  "Đêm là của chúng mình / sao nỡ ngủ hở anh" Câu thơ như một tuyên

ngôn hiện sinh cháy bỏng khao khát yêu đương của người phụ nữ Chạy dài vớinhững bộn bề lo toan của cuộc sống, chỉ có đêm mới là khoảng không gianhuyền ảo nhất dành cho “chúng mình” Đó là thời gian để đôi ta giao hoà, đanbện, khao khát nhau Nó có thể bản năng, trần trụi, ngại ngùng với những ngườiphụ nữ vốn quen sự ý nhị, nhẹ nhàng nhưng cái đó mới là sự thăng hoa nhất màngười phụ mong muốn có được Ta cũng bắt gặp điều đó với cảm thức trong thơĐoàn Ngọc Thu:

“Thôi,

Em sẽ làm tình cùng trăng, cùng gió và cả mặt trời Đêm cong mình lên và trăng mềm phủ sáng”

(Yêu II - Quá Giang)

Dạ Thảo Phương so sánh sự thức tỉnh trong người đàn bà như hoa sen nởmuộn, như cánh bướm tung ra khỏi buồng kén, trút bỏ hết những “hồi tưởng”…chưa có tên:

“Đã hồng, hồng đến tê tái

Đã ngát, ngát đến tức tưởi

Lại thức dậy, thức dậy những hồi tưởng đau đớn

Giã từ thiên đường giấc ngủ

tươi” (Người đàn bà trên toa tàu trễ giờ) hay đôi mắt lặng im của người mẹ Tây

Nguyên, Bình Nguyên Trang đều có một cảm nhận rất riêng về thân phận đàn

Trang 28

bà Bài thơ  Trong triển lãm có tên Hạnh Phúc thể hiện một tâm thức nổi loạn

trong sự lặng im mà rất khốc liệt và cũng rất đàn bà trong cá tính thơ BìnhNguyên Trang: “Chị đập vỡ chiếc khung/ trượt khỏi giấc- mơ –treo- tường/ cănphòng lã chã/vết bàn chân lội qua giông gió” Nỗi đau được nhìn nghiêng rồiđược thả lên trời: “Ôi khuôn mặt nhìn nghiêng/như không ngừng dấu hỏi/ Ngườiđàn bà đứng trong triển lãm/ Phơi bày một niềm vui/ mà nỗi buồn đã bảo tàng/vĩnh viễn”

 Ẩn sau những câu thơ của các nhà thơ nữ đương đại là một nội lực, mộttinh thần sáng tạo đầy nhiệt huyết và phá cách Ở đó, cá nhân được thoả sứcsáng tạo, xây dựng những cung bậc, sắc thái trẻ trung, khao khát, chiếm lĩnh vàlan tỏa đến độc giả không khí của đời sống, của tiếp nhận Họ đang từng bướchoàn thiện bản ngã cũng như bồi đắp cho nội lực tri thức Như thế đồng nghĩavới việc họ đang có đủ tự tin để xung phong mở đường giải phóng cho cái tôiphụ nữ chật hẹp, lắm phiền muộn nhưng cũng đầy tự tin, cao ngạo của thơ nữ trẻđương đại Việt Nam trong thời buổi hội nhập toàn cầu

Trang 29

Chương 2 BIỂU HIỆN CỦA KHÁT VỌNG NỮ QUYỀN

TRONG THƠ VI THÙY LINH

Ý thức nữ quyền thể hiện trên rất nhiều phương diện khác nhau và cũngkhông hề giống nhau với mỗi cá thể Riêng Vi Thuỳ Linh, ý thức nữ quyền đượcchị thể hiện đậm nét trong các khía cạnh: tuyên ngôn về nữ quyền trong thơ,khát vọng khẳng định cá tính, cái tôi và khát vọng khẳng định thiên tính nữ

2.1 Tuyên ngôn về nữ quyền trong thơ Vi Thùy Linh

Khi nhận diện thơ Vi Thùy Linh, chúng ta nhận thấy rõ nổi lên là ý thứcphái tính, lời tuyên ngôn về nữ quyền được thể hiện trực tiếp hoặc gián tiếp,xuất hiện khá nhiều trong những tập thơ của chị Đúng như nhà thơ, dịch giảDương Tường từng nhận xét: "Vi Thuỳ Linh là một cơn lốc - lốc ý tưởng, lốcchữ (chứa chất nổ), lốc tình (đôi khi là khoái cảm)" Tác giả cho rằng: "Vi ThuỳLinh là biểu tượng giải phóng phụ nữ trong thơ ca" Và đây là tuyên ngôn trựctiếp, thể hiện sự bạo liệt của Vi Thuỳ Linh về quyền, về giá trị bản thân đúngnhư một "cơn lốc":

“Miêu tả mình kỹ càng trong những bài thơ không có chữ Hết

Thơ cho những người phụ nữ thoát ảo ảnh cam chịu buông xuôi

Cự tuyệt vai trò thứ yếuChẳng chịu lượng sức mình

Vì trái tim đa tình bẩm sinhChối bỏ kiểu yêu vụng trộmKhông thoả hiệp sống tẻ nhạtKhăng khăng cực đoan sống cho hết sốngTình yêu - Phát minh vĩ đại nhất mọi thời

Cứ ôm hôn nhau giữa đường phố, quảng trường

Ta sinh ra thế giới”

(Hồng hồng tuyết tuyết)

Trang 30

Vi Thuỳ Linh trân trọng, nâng niu và tự tin với những giá trị của chínhbản thân mình Cô thấy mình như “bài thơ không có chữ Hết” Cô biết rằngtrong cuộc sống vẫn còn hiện tượng người phụ nữ sống cam chịu, chấp nhậnmình là “vai trò thứ yếu”, mang trái tim dạt dào đa sầu đa cảm bẩm sinh Nhữngngười phụ nữ không dám yêu, không dám sống cho chính mình mà mãi quẩnquanh, bó mình trong hai chữ “tam tòng” Bởi vậy, Vi Thuỳ Linh đã mạnh bạolên tiếng cho chính phái mình cần phải “sống cho hết sống”, yêu cho hết yêu

Vi Thuỳ Linh đã gửi mình vào những câu thơ dữ dội, cái dữ dội khác xavới hình ảnh quen thuộc của người con gái Việt Nam vốn dịu dàng, e ấp Cô làngười bao giờ cũng muốn khẳng định, trực tiếp bày tỏ tình yêu, trực tiếp nhìnnhận, trực tiếp đối diện với cuộc sống Có lúc chị mãnh liệt kêu gọi giải phóngphụ nữ:

“Hãy vĩnh biệt cuộc sống tĩnh mịch đơn điệuChịu đựng nô lệ giới tính bằng bị độngHãy yêu nhau, đừng chần chừ nữaĐừng giam đời trong hèn yếu, sợ đàm tiếu điều tiếng lên án

từ những kẻ vô hồn bạc nhượcNào cùng đi”

(Bản đồ tình yêu)

Và Vi Thuỳ Linh cũng kêu gọi tự giải phóng cá tính:

“Em giải phóng em trong thế giới tâm hồnHỡi những người phụ nữ hãy yêu và sống hết mìnhĐừng mặc cảm giấu che! Nín đi! Bắt đầu cuộc sống khôngcần chịu đựng, chờ chiếu cố”

(Yêu cùng George Sand)

ViLi (bút danh mà Vi Thuỳ Linh tự đặt cho mình) là đại diện cho ngườicon gái hiện đại, mang suy nghĩ của thời hiện đại Hơn nữa là một cô gái có cátính mạnh mẽ, chị không chịu chấp nhận, không chịu ngồi yên thụ động đợi chờ.Chị cố sức giành giật với cuộc đời, sẵn sàng yêu và đón nhận tình yêu Thi sĩmạnh mẽ trong cách yêu lẫn cách thể hiện tình yêu của mình Chị khẳng định:

Trang 31

“Yêu là liều, bất chấp ngặt nghèo ngăn cấm

Chẳng có gì trói buộc, hoãn, sợ run”

(Tình tự ca)

Nữ sĩ viết nhiều về tình yêu, tình dục với những cách nói táo bạo, mãnhliệt Đọc thơ chị, ta bắt gặp ở đó bản năng phụ nữ của người làm thơ bùng nổqua những câu chữ ào ạt, say sưa giãi bày, không tiết chế cảm xúc, muốn nóithật lớn, thật to những đam mê, khao khát của mình, yêu hết mình và sẵn sằngchết khi không được yêu:

“Em sẵn sàng chết vì Anh, nhưng không phải là cái chết đau đớn

Nếu Anh không của em

Em sẽ vắt mình đến giọt sống cuối cùng, làm nghiêng ngả mọi

ổn định Thế giới không bao giờ yên ổn”

“Anh ơi! Hãy ghì chặt emHôn đi! Môi Anh ủ lửa ( )

Chỉ Anh

Hừng lên

Từng mạch máu Hoang vào loang vào em”

(Ở lại)

Trang 32

“Ngón mềm trườn trên thân thểTất cả tan vào thao thiết nguồn yêu”

(Một mình tháng Tư)

Đây chính là những tuyên ngôn gián tiếp của ViLi về “nữ quyền” của giới

nữ Không cần phải thể hiện rõ ràng qua những lời khẳng định hùng hồn: tôiphải thế này, tôi phải thế kia, chị dùng hình ảnh chân thực đầy chất nghệ thuật

để bật ra quyền thể hiện, quyền đòi hỏi của phụ nữ

Vi Thùy Linh là một cá tính vô cùng táo bạo và thành thật Linh khôngngần ngại phô bày bản ngã, thể hiện khao khát mãnh liệt – tự do được sống vàđược yêu Thơ chị cũng như con người chị, là một cái tôi mạnh mẽ, quyết liệtnhưng cũng rất đỗi chín chắn với những chiêm nghiệm suy tư về thời gian, về lẽsống, về cuộc đời Cho nên, như một tất yếu, coi thơ chị là lời tuyên ngôn về nữquyền, khẳng định giá trị của phái nữ thật là chính xác!

2.2 Khát vọng khẳng định cá tính, cái tôi

2.2.1 Cái tôi tự thân "không bao giờ hóa trang để nhập vai kẻ khác"

Vi Thùy Linh đã lấy thơ để thể hiện chính mình Cô đã viết rất nhiều bài

thơ về mình: Tôi, Những người sinh tháng Tư, Một mình tháng Tư, Chân dung, Sinh ngày 4 tháng 4, Hai miền hoa Thùy Linh, Linh… Có thể thấy rằng trong

những bài thơ đó cái tôi tự hiện rất mạnh mẽ, quyết liệt và cũng hiếm thấy trên

thi đàn Rất nhiều lần cô trực tiếp xưng tên mình ra: Linh (Linh), Thùy Linh (Thánh giá), nàng Vi (Lá thư và ổ khóa), họ Vi, Linh thị (Song mã)… Đôi lúc

Vi Thùy Linh cũng trăn trở, nhưng hầu như những câu thơ cô viết về mình đều

là những lời khẳng định, khẳng định một cái tôi bản thể:

“Là mùa đầu cánh đồng Mẹ tôi sinh nở

Là cơn gió của đại ngàn Cha…

Khi bị gọi nhầm tên,

Tôi không nói gì ( ) Cha mẹ định quàng dây cương vào tôi

“Hãy để con tự đi”

Trang 33

Độc mãQuyết làm những gì mình muốn

………

Tôi là tôiMột bản thể đầy mâu thuẫn!

Tôi đã nhìn mình trong gương cả khi khóc khi cườiBất cứ khi nào, trên sân khấu cuộc đời

Tôi vẫn là diễn viên tồiBởi tôi không bao giờ hóa trang để nhập vai kẻ khác”

(Tôi)

Cái tôi của Vi Thùy Linh khi đọc lên khiến người ta dễ nhầm tưởng cô tự

ti, khép kín Cô như một con ngựa bất kham phản ứng một cách yên lặng nhưngquyết liệt trước sự nhầm lẫn của người đời: “không nói gì”, “bỏ đi”, “âm thầmkhóc”… Thực chất chị là một cô gái đầy cá tính, bản lĩnh và độc lập Cô sinh ra

đã có khuôn mặt riêng, tiếng nói riêng Cô sống đúng như những gì mình có.Nghĩ theo cách của riêng mình, rồi cất lên tiếng nói cũng của chính mình Tất cảđều hồn nhiên và giản dị “không bao giờ hóa trang để nhập vai kẻ khác”

Cá tính và tài năng trong thơ của Vi Thùy Linh rất khó tách bạch ranhgiới Nói Vi Thùy Linh ngông thì cũng chưa đến mức, bởi cái tôi của cô mạnh

mẽ, quyết liệt thật đấy nhưng không hề thách thức Quyết sống theo ý mìnhnhưng đó không phải là cái tôi trụy lạc, tiêu cực mà là cái tôi cá tính, cái tôi bảnlĩnh vững vàng Cô khác người chỉ vì cô muốn khẳng định mình, muốn mình làmình mà thôi Với Linh đã sống là phải ra sống, không làng nhàng, không nhợtnhạt, không nửa vời, không uể oải, không chán chường, không cầm chừng:

“Đập nát sự đơn điệu, khuôn khổ cũ kĩ, nhàm chán và cam chịu

Em tự làm mất đối xứng bằng em”

Tự ý thức về mình, cô đã tạo cho mình một lối sống riêng Trong khônggian ấy chỉ có cô với sự tồn tại của một cái tôi rất độc lập Cái tôi Vi Thùy Linhdám bày tỏ một cách trực tiếp, thẳng thắn những tâm tư, tình cảm của mình:

“Em

Trang 34

Sống hết mình từ tế bào nhỏ nhất

Yêu dữ dội bằng sức mạnh phái yếu

Lại khóc vì sắp khô nước mắt”

(Những câu thơ mang vị mặn)

Điều đó thật quan trọng, nó xóa sổ những thương vay khóc mướn, nhữngvui buồn giả tạo, dễ dãi trong thơ trước đây Chị đã bộc lộ một cái tôi thườngnhật và giản dị của chính mình, do mình

Có lẽ, chỉ có Thuỳ Linh mới lớn tiếng phê phán những phát minh khoahọc nhân bản vô tính, công nghệ tin học, bởi cô luôn hướng về các giá trị nhânvăn, con người:

“Tôi căm ghét ngày 15 tháng 7 năm 1996, cả loài người kinh ngạc khicừu Dolly ra đời

Gã Wilmut người Scotland chẳng có gì phải tự hào vì công trình củamình đến thế

Không ai ngăn cản ý đồ nhân rộng kiểu sinh sản phản nhân văn?

Thật nực cười những kẻ ngộ nhận sinh sản vô tính là thành tựu của

tiến hóa(!)”

(Thế giới hiện hữu)

Đối với toàn thế giới sự kiện ngày 15 tháng 7 năm 1966 được coi là cộtmốc phát triển thần thánh khi điều tưởng chừng không thể “nhân bản vô tính” đãthành sự thực Giới khoa học biểu dương, tán tụng coi đó là thành quả vĩ đạinhất trong việc nghiên cứu, thử nghiệm tiến bộ khoa học kĩ thuật vào trước hết

là động vật, sau đó có thể nhân rộng ra cả loài người Việc một sinh linh bé nhỏchào đời với họ dường như không còn thiêng liêng nữa mà họ nuôi mộng sinh ranhững cỗ máy “người” Và Vi Thuỳ Linh cực lực phản đối hành động mà cô cho

là “kiểu sinh sản phản nhân văn” đó Cô không chạy theo số đông mà tách mình

ra, giữ cho mình suy nghĩ, nhận thức về những cái đậm chất “người” Với cô:

“Không gì đẹp bằng con người

Khi tình yêu giúp họ vượt qua mọi ngăn trở

Ngày đăng: 12/06/2015, 06:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Nguyệt Anh, "Những cây bút nữ đam mê và khát vọng", www.nhanvantphcm.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cây bút nữ đam mê và khát vọng
2. Hoàng Thụy Anh, "Sự xác lập phái tính trong văn học mới", www.baomoi.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự xác lập phái tính trong văn học mới
3. Nguyễn Ngọc Thùy Anh (2007), Phái tính trong thơ nữ sau 1975, luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phái tính trong thơ nữ sau 1975
Tác giả: Nguyễn Ngọc Thùy Anh
Năm: 2007
4. Phạm Quốc Ca (2003), Mấy vấn đề về thơ Việt Nam 1975-2000, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về thơ Việt Nam 1975-2000
Tác giả: Phạm Quốc Ca
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2003
5. Dương Cầm (2009), “Thế giới của thơ Vi Thuỳ Linh”, www.evan.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới của thơ Vi Thuỳ Linh
Tác giả: Dương Cầm
Năm: 2009
6. Nguyễn Việt Chiến (2006), "Thơ Vi Thùy Linh cơn cuồng lưu từ những mê - lộ - chữ", Tạp chí văn học số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Vi Thùy Linh cơn cuồng lưu từ những mê - lộ - chữ
Tác giả: Nguyễn Việt Chiến
Năm: 2006
7. Thái Thị Diện (2009), Chủ đề tình yêu trong thơ Vi Thuỳ Linh, khoá luận tốt nghiệp Ngữ văn, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ đề tình yêu trong thơ Vi Thuỳ Linh
Tác giả: Thái Thị Diện
Năm: 2009
8. Nguyễn Đăng Điệp (2006), "Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại", www.tienve.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Năm: 2006
9. Trần Ngọc Hiếu (2003), Những tìm tòi cách tân hình thức trong thơ Việt Nam thời kỳ đổi mới, Luận văn tốt nghiệp Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tìm tòi cách tân hình thức trong thơ Việt Nam thời kỳ đổi mới
Tác giả: Trần Ngọc Hiếu
Năm: 2003
10. Inrasara (2008), Song thoại với cái mới, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Song thoại với cái mới
Tác giả: Inrasara
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2008
11.Trần Thiện Khanh, “Vi Thuỳ Linh và một kiểu tư duy về lời”, www.hoinhavanvietnam.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi Thuỳ Linh và một kiểu tư duy về lời
12. Trần Hoàng Thiên Kim (2008), “Nỗi cô đơn trong thơ nữ trẻ đương đại”, tuoitre.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nỗi cô đơn trong thơ nữ trẻ đương đại
Tác giả: Trần Hoàng Thiên Kim
Năm: 2008
13. Trần Hoàng Thiên Kim, "Thơ nữ trẻ đương đại: khẳng định một cái tôi mới", www.phongdiep.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ nữ trẻ đương đại: khẳng định một cái tôi mới
14. Trần Đăng Khoa (2007), "Đọc lại Vi Thùy Linh", Tạp chí Văn học số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc lại Vi Thùy Linh
Tác giả: Trần Đăng Khoa
Năm: 2007
15. Đài AFI, chương trình tết Đinh Hợi (2007), Gặp mặt những nhà thơ trẻ tiêu biểu, www.tienve.org Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w