Đó là hiện tượng suy thoái đạođức, đặc biệt là nạn hối lộ, buôn lậu, gian lận thương mại trước sự tấn côngcủa thói ích kỷ, chủ nghĩa cá nhân, lối sống tiêu dùng, sức mạnh đồng tiền vàchủ
Trang 1LỜI CẢM ƠNChúng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc, lời tri ân chân thành tới các thầy giáo, côgiáo trong khoa Giáo dục chính trị- trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã dạy dỗ,chỉ bảo và truyền đạt kiến thức cho chúng em trong suốt thời gian vừa qua, đặc
biệt là các thầy, cô giáo trong chuyên ban Chủ nghĩa xã hội
Chúng em xin chân thành cảm ơn Ts Nguyễn Văn Long đã tận tình giúp đỡ, chỉbảo để chúng em hoàn thành được đề tài nghiên cứu khoa học của mình
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 14 tháng 3 năm 2011 SINH VIÊN
Nguyễn Ngân Hà Nguyễn Thị Hoa Nguyễn Thị Ngân
Trang 2NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP KHOA
(Ghi theo các tiêu chuẩn chấm điểm công trình)
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Điểm số:
Xếp loại: (Nhất, Nhì, Ba…)
Chủ tịch Hội đồng khoa học Khoa Giáo dục chính trị
(Ký tên)
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU Trang
1. Lý do chọn đề tài……… 5
2. Tình hình nghiên cứu……… 6
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 8
4. Nhiệm vụ nghiên cứu……… 8
5. Phương pháp nghiên cứu……… 9
6. Đóng góp của đề tài……… 9
7. Kết cấu của đề tài……… 9
NỘI DUNG……….10
Chương 1: Quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế ở nước ta và sự
tác động của nó đối với đời sống xã hội……… 10
1. Sự chuyển đổi mô hình kinh tế trong nhóm tập trung sang kinh
tế thị trường……….10
1.1. Mô hình kinh tế trước đổi mới……… 10
1.2. Mô hình kinh tế thời kì đổi mới……… 11
2. ảnh hưởng của kinh tế thị trường đối với đời sống xã hội………14
2.1. Ảnh hưởng tích cực……… 15
2.2. Ảnh hưởng tiêu cực……… 16
Chương 2: Thực trạng lối sống sinh viên dưới ảnh hưởng của nền
kinh tế thị trường trong giai đoạn hiện nay……… 18
1 Lối sống và quan niệm về lối sống……… 18
2 Sinh viên và lối sống sinh viên……… 20
2.1 Khái niệm sinh viên và một số đặc điểm tâm lý sinh viên… 20 2.1.1 Khái niệm sinh viên ……… 20
2.1.2 Một số đặc điểm tâm lý cơ bản của sinh viên……… 20
2.1.3 Khái niệm lối sống sinh viên……… 22
2.2 Thực trạng lối sống sinh viên dưới ảnh hưởng của sự phát
triển kinh tế thị trường……… 22
2.2.1 Khái quát lối sống sinh viên hiện nay……… 22
Trang 42.2.2 Thực trang lối sống sinh viên……… 24Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực và khắc phục những hạn chế tiêu cực của nền kinh tế thị trường tới lối sống sinh viên……… 42
1 Phát huy những ảnh hưởng tích cực của lối sống sinh viên…… 43
2 Khắc phục những biểu hiện tiêu cực của lối sống sinh viên…… 43
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 48
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay đất nước ta đang tiến hành đổi mới toàn diện trên mọi lĩnhvực của đời sống xã hội, trong đó đổi mới kinh tế là trọng tâm Thực chất củađổi mới kinh tế là chuyển từ cơ chế bao cấp của nhà nước sang nền kinh tế thịtrường theo định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự quản lý của nhà nước, đã
mở ra một giai đoạn phát triển mới cho đất nước
Cơ chế thị trường kích thích sự phát triển kinh tế, nâng cao tổng lợi xãhội, tạo điều kiện cho sự phát triển con người về mọi mặt, trong đó có đạođức Con người tham gia vào hoạt động kinh tế thị trường về nhân cách đượcđộc lập, tự do có quyền bình đẳng trong cạnh tranh, giữ chữ tín trong trao đổi
và tăng cường quan tâm phát triển lợi ích chung của xã hội Trong giai đoạnphát triển này thì không thể kể đến vai trò của lớp trẻ mà cụ thể là sinh viên-thế hệ sẽ kế tiếp những truyền thống tốt đẹp của cha ông trong sự nghiệp xâydựng đất nước giàu mạnh, công bằng và văn minh Tuy nhiên, cùng với sựthay đổi sang cơ chế thị trường như hiện nay thì lối sống, cách nghĩ của sinhviên cũng biến chuyển theo: Có rất nhiều sinh viên đã trưởng thành và pháthuy mọi khả năng của mình để góp một phần sức lực trong việc đổi mới đấtnước; cũng có nhiều sinh viên nghèo đã biết vượt qua khó khăn của chínhmình để học tập
Nền kinh tế thị trường đã làm sống động nền kinh tế và các hoạt động
xã hội đã có tác động trực tiếp đến đời sống văn hóa xã hội Bên cạnh ảnhhưởng tích cực thì mặt trái của kinh tế thị trường và “mở cửa” tác động khôngnhỏ đến đạo đức lối sống xã hội, đặc biệt là lối sống của sinh viên Hạn chếcủa sinh viên thường nhận thấy: vốn sống còn ít, thiếu sự từng trải nên cáchnhìn nhận vấn đề, giải quyết sự việc, lựa chọn giá trị…ở họ thường mang tínhchủ quan, phiến diện… lại chịu ảnh hưởng tiêu cực của cơ chế thị trường và
sự hội nhập quốc tế; Trong khi đó việc hướng dẫn đối tượng này lựa chọnnhững giá trị văn hóa, lối sống văn hóa lại chưa được chú trọng đầy đủ nên họ
Trang 6dễ bị lôi kéo, bị ảnh hưởng lối sống không văn hóa, phản văn hóa, không cósức đề kháng chống lại những phản văn hóa Đó là hiện tượng suy thoái đạođức, đặc biệt là nạn hối lộ, buôn lậu, gian lận thương mại trước sự tấn côngcủa thói ích kỷ, chủ nghĩa cá nhân, lối sống tiêu dùng, sức mạnh đồng tiền vàchủ nghĩa thực dụng; hay như: lối sống gấp, kích động bạo lực, sống thử trướchôn nhân, thèm khát vật chất, coi nhẹ giá trị tinh thần, quay lưng lại với vănhóa truyền thống của dân tộc đang là vấn đề nổi cộm trong lối sống của sinhviên hiện nay.
Qua một thời gian nghiên cứu, tìm hiểu và bản thân mình cũng là một
sinh viên, chúng tôi đã chọn “Ảnh hưởng của kinh tế thị trường tới lối sống của sinh viên Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài nghiên cứu nhằm
làm rõ hơn vai trò của sinh viên cũng như có những kiến nghị, giải pháp đề
xuất để xây dựng những con người “vừa hồng, vừa chuyên” như Bác đã nói.
2 Tình hình nghiên cứu
Trước hết phải kể đến công trình của tập thể tác giả Xô Viết: “lối sống
xã hội chủ nghĩa” trong đó nhiều vấn đề như khái niệm lối sống, nội dung và
bản chất lối sống xã hội chủ nghĩa, cơ sở kinh tế chính trị của lối sống đãđược đề cập
Ở nước ta từ những năm 80 đã xuất hiện những công trình trình bày
những vấn đề có tính lý luận về lối sống như tác giả Vũ Khiêu với “Lối sống
là gì?”(11), tác giả Hà Xuân Trường với bài báo: “Từng bước xây dựng nền
văn hóa mới”, trong đó đề cập đến nếp sông văn hóa và các mặt biểu hiện của
nó Phong Châu và Nguyễn Trọng Thu: “Về lối sống của chúng ta” và những vấn đề về lối sống được tác giả Lê Như Hoa trình bày trong “Bàn về lối sống
và nếp sống xã hội chủ nghĩa”(7) Đây là công trình nghiên cứu lý luận, trình
bày khá hệ thống các khái niệm và các mặt cần nghiên cứu lối sống ở ViệtNam theo mô hình chủ nghĩa xã hội bao cấp (trước 1986) Từ bình diện nhâncách và nhân tố văn hóa trong lối sống, tác giả Đỗ Huy đã nêu: Lối sống cũngnhư văn hóa có một điểm gặp gỡ chung, đó là trình độ phát triển các quan hệnhân tính Một lối sống có văn hóa trước hết phải là lối sống thể hiện được cáiđúng, cái đẹp trong các quan hệ giữa con người với con người tức là hướngtới cái chân, cái thiện, cái mỹ Mỗi một lối sống đều có một hệ chuẩn mực chi
Trang 7phối nó; mỗi dân tộc, mỗi thời đại, mỗi xã hội đều có những chuẩn mực giá trịkhác nhau thể hiện ở các quan hệ đạo đức, pháp luật, thẩm mỹ, lối sống riêngcủa chúng, mà biểu hiện tập trung nhất là nhân cách Tác giả cho rằng việc
thẩm định chuẩn mực lối sống trên hướng nhân cách, hướng lựa chọn hành
vi của con người có một ý nghĩa quan trọng Tác giả Tương Lai đã đề cập tới
mối quan hệ giữa đạo đức và lối sống của con người… Tác giả nhấn mạnh:
“chỉ qua lối sống người ta mới “nhìn thấy” đạo đức…” và “đạo đức mới của
chúng ta phải được biểu hiện ra trong lối sống của những người lao động”
Những công trình này các tác giả đề cập đến vấn đề cơ sở lý luậnnghiên cứu lối sống theo những quan điểm khác nhau và mới trên bình diện lýthuyết, phương pháp luận nghiên cứu lối sống, xây dựng lối sống mới Xã hộichủ nghĩa và đấu tranh chống lối sống Tư bản chủ nghĩa…
Vào những năm 90 của thế kỉ XX, từ khi công cuộc đổi mới được triểnkhai những thay đổi sâu sắc về kinh tế, xã hội diễn ra trên đất nước đã cónhiều công trình nghiên cứu lối sống về thế hệ trẻ với nhiều khía cạnh khácnhau, từ đó bước đầu đã mô tả được bức tranh sinh động về thực trạng lốisống mới cho thế hệ trẻ Chẳng hạn tác giả Đỗ Long đã đề cập vấn đề mốiquan hệ giữa lối sống và việc hình thành nhân cách cho thanh niên với công
trình : “ Lối sống và nhân cách của thanh niên”(15) Tác giả Trần Thị Tố
Oanh đã đề cập tới vấn đề xây dựng nội dung chương trình giáo dục lối sống,
hình thức và phương thức giáo dục lối sống ở tiểu học với công trình “ Công
nghệ giáo dục lối sống trong trường tiểu học” Đây là một công trình trình
bày những nội dung, phương pháp tổ chức những hoạt động sống trong cuộcsống của học sinh ở trường để qua đó và bằng hoạt động đó, hình thành nênhành vi, nếp sống của học sinh tiểu học Tác giả Đặng Thúy An với công trình
“ Giáo dục lối sống lành mạnh trong quan hệ giới tính cho học sinh trung học qua môn Giáo dục công dân đã khai thác nội dung môn Giáo dục công dân để thông qua đó giáo dục cho học sinh ý thức tuân thủ những quy định, chuẩn mực trong quan hệ giới tính” Tác giả Trần Thị Minh Đức với công
trình “Ảnh hưởng của môi trường kí túc xá sinh viên với lối sống sinh viên nội
trú”( đã phân tích thực trạng của lối sống sinh viên cả mặt tích cực và tiêu cực
trong môi trường kí túc xá, từ đó nêu lên những kiến nghị cải tạo điều kiệnsống ở kí túc xá cho sinh viên và việc giáo dục lối sống văn hóa cho sinh viên
Trang 8nội trú Tác giả Văn Hùng đã phản ánh tình hình lối sống của thanh niên chịu
sự ảnh hưởng không nhỏ của môi trường xã hội trong thời kì mở cửa với bài
viết: “Thanh niên với lối sống thời mở cửa”(9) Bài viết cũng đặt ra những
vấn đề cần nghiên cứu về lối sống thanh niên trong điều kiện mới Tác giả Lê
Đức Phúc trong “ Văn hóa học tập” đã nhấn mạnh tính văn hóa trong hoạt
động chủ đạo của sinh viên Văn hóa học tập cũng là sự thể hiện lối sống cóvăn hóa phù hợp với sự phát triển của nền văn minh đương đại Tác giảNguyễn Quang Uẩn và các cộng sự đã nêu lên những biểu hiện về lối sống vàđạo đức của sinh viên Sư phạm khá cụ thể và sinh động, qua đó đề xuấtnhững phương hướng, biện pháp nhằm giáo dục lối sống đạo đức lành mạnh
cho sinh viên qua đề tài “Xây dựng lối sống và đạo đức mới cho sinh viên Đại
học Sư phạm phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.
Trân trọng và kế thừa thành tựu của những công trình đi trước, songchúng tôi cố gắng tìm một hướng sâu hơn, làm rõ hơn thực trạng lối sống sinhviên dưới ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường trong giai đoạn hiện nay Với
sự lựa chọn trên, đây là một hướng nghiên cứu mới về lối sống sinh viên và hivọng có nhiều đóng góp mới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Nền kinh tế thị trường và ảnh hưởng của
nó tới lối sống sinh viên
3.2 Khách thể nghiên cứu: Sinh viên các trường đại học, cao đẳng 3.3 Phạm vi nghiên cứu: Thành phố Hà Nội trong những năm gần
là chủ nhân tương lai của đất nước, nhằm xây dựng đất nước ngày một giàumạnh, tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận nhằm xác định rõ khái niệm “kinh tế thị
trường”, “lối sống”, “lối sống sinh viên”.
Trang 9- Tìm hiểu thực trạng sự phát triển của nền kinh tế thị trường tronggiai đoạn hiện nay, những biểu hiện của lối sống sinh viên dưới tác động củanền kinh tế thị trường.
- Đề xuất định hướng và giải pháp nhằm phát huy những ảnhhưởng tích cực và điều chỉnh những hạn chế của nền kinh tế thị trường tới lốisống sinh viên
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp điều tra bảng hỏi
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, mục lục đề tài đượcchia làm 3 chương và 6 tiết
Trang 10NỘI DUNG CHƯƠNG 1: Quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế ở nước ta và sự tác động của nó đối với đời sống xã hội
1 Sự chuyển đổi mô hình kinh tế trong nhóm tập trung sang kinh tế thị trường
1.1 Mô hình kinh tế trước đổi mới
Sau khi đất nước được giải phóng nước ta bắt tay và công cuộc khôi phụckinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh Đảng đã đề ra đường lối, chính sách
nhằm phát triển kinh tế tại đại hội Đảng IV: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa xã
hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vât chất chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển công nghiệp nhẹ và nông nghiệp…”
Trên cở sở đường lối đó đại hội đã đề ra kế hoạch 5 năm lần 2(1976- 1980)với những mục tiêu sau:
- Tập trung cao độ lực lượng của cả nước để tạo bước phát triển vượt bậctrong nông nghiệp, đẩy mạnh lâm- ngư nghiệp, phát triển công nghiệp nhẹ,cải thiện đời sống tinh thần cho nhân dân, tăng tích lũy cho công nghiệp hóa
- Xây dựng thêm nhiều cơ sở mới vè công nghiệp nặng, mở mang giaothông vận tải
- Sử dụng hết lực lượng lao động, bước đầu hình thành cơ cấu nông nghiệp
công Hoàn thành cơ bản cải tạo xã hội chủ nghã ở Miền Nam, củng cố quan
hệ sản xuất ở Miền Bắc
Tại Đại hội Đảng lần V (tháng 3-1982) Đảng tiếp tục đề ra những mục tiêunhằm phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân, xây dựng cơ sở vật chất
kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội
Dưới sự chỉ đạo của Đảng nhân dân ta đã quyết tâm thực hiện và đạt đượcnhững thành tựu nhất định Tuy nhiên vẫn còn một số những tồn tại như:
- Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa chưa thực sự được củng cố và hoànthiện, vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh, hợp tác xã nông nghiệp ở nhiềunơi chỉ còn là hình thức
Trang 11- Cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có của nền kinh tế quốc dân còn yếu kém,thiếu đồng bộ, cũ nát, lạc hậu, công nghiệp nặng chưa đáp ứng được nhu cầutối thiểu của nhân dân, công nghiệp nhẹ phụ thuộc chủ yếu vào nguyên liệunhập khẩu Do đó, đại bộ phận lao động xã hội là lao động thủ công Nền kinh
tế vẫn là sản xuất nhỏ
- Nền kinh tế bị mất cân đối nghiêm trọng, sản xuất không đủ tiêu dùng,hầu như không có tích lũy trong nội bộ nền kinh tế, phân công lao động kémphát triển, năng suất lao động xã hội thấp
- Phân phối lưu thông rối ren Thị trường tài chính, tiền tệ không ổn định.Lạm phát nghiêm trọng, giá cả tăng nhanh, đời sống nhân dân khó khăn Tiêucực xã hội tăng lên, trật tự xã hội giảm sút
Như vậy nền kinh tế nước ta thời kỳ trước đổi mới về cơ bản vẫn là mộtnước có nền kinh tế lạc hậu, nhỏ lẻ, manh mún, chậm phát triển Với đặctrưng cơ bản: kinh tế hàng hóa tập trung, quan liêu, bao cấp, khép kín, đóngcửa Với mục đích đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, xây dựngđời sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân và đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa
xã hội, Đảng ta đã tiến hành công cuộc đổi mới được đánh dấu trong Đại hộiĐảng lần VI (tháng 12- 1986)
1.2 Mô hình kinh tế thời kì đổi mới
Quan điểm đổi mới về kinh tế: Ngày nay đổi mới về kinh tế được nhànước Việt Nam định nghĩa là quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạchhóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần,hoạt động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước, theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa
Đặc điểm của đổi mới kinh tế: Nhà nước chấp nhận sự tồn tại bìnhđẳng và hợp pháp của nhiều thành phần kinh tế ( Đại hội đại biểu toàn quốccủa Đảng Cộng sản Việt Nam lần IX quy định có 6 thành phần kinh tế: kinh
tế nhà nước; kinh tế tập thể; kinh tế cá thể tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân;kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài), nhiều hình thức sở hữu (sở hữu toàn dân;
sở hữu tập thể; sở hữu tư nhân; sở hữu hỗn hợp) tuy nhiên nền kinh tế nhànước vẫn giữ vai trò chủ đạo
Quá trình đổi mới
Trang 12Giai đoạn đầu thập niên 1980, khủng hoảng kinh tế, lạm phát tăng lênmức phi mã đặc biệt sau hai cuộc tổng điều chỉnh: giá- lương- tiền Thực tếcủa cuộc sống và sự vận động khách quan của các quy luật kinh tế đòi hỏiĐảng ta phải tiến hành đổi mới Những đổi mới cục bộ trong kế hoạch 5 năm1981- 1985 không đủ để cải thiện tình hình Do đó vấn đề đặt ra là phải đổimới căn bản, từ nhận thức lý luận một cách khách quan , khoa học về mô hìnhchủ nghĩa xã hội đến tổ chức thực hiện mô hình đó Có như vậy mới đưa đấtnước thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế- xã hội.
Năm 1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần VI của Đảng Cộng sản ViệtNam chính thức thực hiện công cuộc đổi mới Đại hội VI đã đi vào lịch sử
như một Đại hội mở đầu cho thời kì đổi mới ở Việt Nam Đại hội đã chỉ ra
những nguyên nhân căn bản dẫn đến khủng hoảng kinh tế xã hội và trên cơ sở
đó đề xướng chủ trương đổi mới đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước
ta phải trải qua nhiều chặng đường Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quátcủa chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế xã hội , tiếp tụcxây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hộichủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo
Nội dung đổi mới về kinh tế:
- Chuyển sang cơ chế giá thị trường, đẩy lùi lạm phát.
Năm 1986, 1987, 1988 là những năm lạm phát liên tục ở mức 3 con số Đểchống lạm phát và quản lý nền kinh tế theo cơ chế thị trường, nhà nước đã chỉđạo chuyển từ cơ chế 2 giá sang cơ chế thị trường, thực hiện chính sách tự dohóa lưu thông Cơ chế này có tác dụng xóa bỏ sự phân biệt 2 thị trường, tạo rathị trường thống nhất, thông suốt, góp phần điều hòa cung cầu Việc lợi dụngchênh lệch giá và các nhu cầu giả tạo bị loại trừ Về cơ bản, ngân sách chấmdứt chi bù giá từ năm 1989
Ngoài ra nhà nước còn áp dụng một số biện pháp khác nhằm khống chế tốc
độ lạm phát: gjảm bù lỗ cho khu vực kinh tế quốc doanh, giảm chi đầu tư xâydựng cơ bản, nâng lãi suất tiền gửi tiết kiệm cao hơn chỉ số lạm phát, nới lỏngviệc nhâp khẩu hàng hóa Tác động tổng hợp của những biện pháp trên đã gópphần giảm mức độ lạm phát
Trang 13- Thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần đồng thời với đổi
mới cơ chế quản lý trong các ngành kinh tế quốc dân
Từ sau năm 1986 trở đi đã có sự tồn tại và phát triển của các thành phần kinh
tế khác: kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bảnnhà nước Các thành phần kinh tế này đều vận động theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trong công nghiệp, mở rộng quyền tự chủ kinh doanh cho các xí nghiệp quốcdoanh Đây là giải pháp nhằm đổi mới cơ chế quản lý, phát huy quyền tự chủ,năng động trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như củangười lao động
Trong thương nghiệp, chính sách tự do hóa lưu thông và cơ chế thị trường đãlàm thay đổi căn bản phương thức kinh doanh của các cơ sở thương nghiệp từkiểu bao cấp sang cơ chế thị trường
Lĩnh vực tài chính tiền tệ cũng tiến hành một số biện pháp đổi mới mhất định
Từ cuối năm 1988, ngân sách bắt đầu không cấp phát vốn cho các đơn vị kinh
tế quốc doanh mà thực hiện tín dụng cho vay Để thích ứng với cơ chế thịtrường, cơ cấu tổ chức của hệ thống ngân hàng bước đầu được sắp xếp lạitheo mô hình 2 cấp: Hệ thống ngân hàng nhà nước và hệ thống ngân hàngthương mại
Đối với kinh tế nông nghiệp, đặc biệt sau khi có nghị quyết 10 của bộ chínhtrị tháng 4 – 1988, cơ chế quản lí nông nghiệp có sự thay đổi căn bản Đồngthời với sự đổi mới của hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô là sự đổi mới mang
ý nghĩa cải cách trong cơ chế quản lí của các đơn vị kinh tế cơ sở Trước hết
hộ gia đình xã viên được xác định là đơn vị kinh tế địa chủ Sự thay đổi cănbản về vị trí vai trò của kinh tế hộ đã giải phóng kinh tế hộ khỏi những ràngbuộc của cơ chế cũ, khơi dậy tiềm năng to lớn trong từng hộ nông dân Việcxác định rõ vai trò kinh tế hộ địa chủ đã làm thay đổi kết cấu mô hình hợp táccủa nông thôn
- Bước phát triển mới về kinh tế đối ngoại
Từ năm 1989, Việt Nam thực hiện chính sách tự do hóa thương mại,
mở rộng tìm kiếm bạn hàng Nhờ vậy, kim ngạch xuất khẩu tăng lên Cán cân
thương mại dần dần được cân bằng Tháng 12- 1987, Quốc hội thông qua luật
Trang 14đầu tư nước ngoài, thể hiện chính sách khuyến khích rộng rãi đối với các nhà
kinh doanh nước ngoài đầu tư vào Việt Nam
Việt Nam đang xây dựng và vận hành nền kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa
2 Ảnh hưởng của kinh tế thị trường tới đời sống xã hội
Nền kinh tế thị trường phát triển đã đem lại một nguồn tài sản dồi dàocho xã hội Các kết quả tích cực của kinh tế cả nứoc 11 tháng 2010 chứngminh cho nhận định trên
Theo báo cáo của Tổng Cục Thống Kê Việt Nam (GSO), nhình chungkinh tế- xã hội 11 tháng đạt được những kết quả tích cực
Về nông nghiệp, tính đến ngày 15/11/2010, cả nước đã thu hoạch được1453,4 nghìn ha lúa mùa, bằng 98,6% cùng kỳ năm trước, trong đó các địaphương phía Bắc thu hoạch 1137,5 nghìn ha, chiếm 95,7% diện tích gieo cấy
và bằng 98,7% cùng kỳ năm trước; các địa phương phía Nam thu hoạch 315,9nghìn ha, bằng 98,5%
Sản lượng thủy sản tháng 11/2010 ước tính đạt 442 nghìn tấn, tăng 6%
so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá 328 nghìn tấn, tăng 6,8%; tôm 56,5nghìn tấn, tăng 4,8%
Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 11/2010 theo giá so sánh 1994 ước
tính tăng 14,3% so với cùng kỳ năm trước Tính chung 11 tháng, giá trị sảnxuất công nghiệp theo giá so sánh 1994 ước tính đạt 717,1 nghìn tỷ đồng, tăng13,8% so với cùng kỳ năm 2009, bao gồm khu vực kinh tế Nhà nước tăng7,5%; khu vực kinh tế ngoài Nhà nước tăng 14,5%; khu vực có vốn đầu tưnước ngoài tăng 16,9% (dầu mỏ và khí đốt giảm 2,7%, các ngành khác tăng19,4%)
Trong 11 tháng, nhiều sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp có tốc
độ tăng cao hơn mức tăng chung của toàn ngành như: Khí hóa lỏng tăng93,6%; sơn hóa học tăng 28,5%; sữa bột tăng 22,7%; bia tăng 20,7%; giày thểthao tăng 20,2%; tủ lạnh, tủ đá tăng 18,8%; quần áo người lớn tăng 18,7%;kính thủy tinh tăng 18,3%; khí đốt thiên nhiên dạng khí tăng 18%; xi măngtăng14,9%,xemáytăng14,8%
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 11 thángnăm 2010 ước tính đạt 1425,2 nghìn tỷ đồng, tăng 25% so với cùng kỳ năm
Trang 15Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo hút vốn FDI mạnh
Thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) từ đầu năm đến 20/11/2010 đạt13,3 tỷ USD, bằng 60% cùng kỳ năm 2009, bao gồm: Vốn đăng ký của 833
dự án được cấp phép mới đạt 12,1 tỷ USD (giảm 20,4% về số dự án và giảm26,3% về số vốn so với cùng kỳ năm trước); vốn đăng ký bổ sung của 210lượt dự án được cấp phép từ các năm trước với 1,2 tỷ USD Vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài thực hiện mười một tháng ước tính đạt gần 10 tỷ USD, tăng9,9%sovớicùngkỳnăm2009
Trong 11 tháng năm nay, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn làthế mạnh thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam với số vốn đăng kýđạt 4,4 tỷ USD, trong đó 3,5 tỷ USD của 334 dự án cấp phép mới và 907,1triệuUSDvốntăngthêm
Lĩnh vực sản xuất, phân phối điện, khí và nước có 6 dự án cấp phépmới với số vốn đăng ký đạt 2,9 tỷ USD Vốn đăng ký vào lĩnh vực kinh doanhbất động sản đạt 2,8 tỷ USD, trong đó 2,7 tỷ USD của 20 dự án cấp phép mới
và 132,1 triệu USD vốn tăng thêm Hà Lan tiếp tục là nhà đầu tư lớn nhất với2.308,8 triệu USD, chiếm 19,1% tổng vốn đăng ký cấp mới Việc chuyển sang phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa đã và đang tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nóvừa có tính tích cực, vừa có tính tiêu cực đối với lối sống xã hội
2.1 Ảnh hưởng tích cực.
Kinh tế thị trường là điều kiện kích thích tăng năng suất lao độngkhông ngừng Sự tìm tòi, sáng tạo của cá nhân luôn được khuyến khích.Chính điều này đòi hỏi mỗi người phải học tập, rèn luyện tay nghề, rèn luyệnbản thân Kinh tế thị trường cũng rất nghiêm khắc đào thải những trì trệ, sựlạc hậu, lỗi thời của con người và các sản phẩm yếu kém về nội dung cũngnhư hình thức
Kinh tế thị trường thúc đẩy hoạt động văn hóa theo hướng xã hội hóa
Ý thức dân chủ, vai trò cá nhân, sự tự ý thức về bản thân sẽ có điều kiện và cơhội để phát triển Quá trình sáng tạo, phổ biến các giá trị văn hóa sẽ thu hút sựtham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân
Trang 16Kinh tế thị trướng đã đề cao trách nhiệm cá nhân, gắn liền động cơ vàhiệu quả như là một chuẩn mực giá trị trong hoạt động của con người, trongnhân cách mỗi người Nó buộc người ta phải khắc phục lối tư duy cảm tính,phương thức tư duy kiểu “ngoại suy”, chủ quan và phải rèn luyện, nâng caophương thức tư duy lý tính, lành mạnh Mục đích, động cơ phải dựa trên cơ sởhiện thực và phải đi đôi với biện pháp, những phương tiện hữu hiệu để hiệnthực hóa trong thực tế.
Về phương diện đạo đức, lối sống, sự ảnh hưởng tích cực của kinh tếthị trường là từng bước hình thành nhân cách tự chủ, tự lập trong con người,rèn luyện con người ý thức lao động, bản lĩnh Năng động, thích nghi và sángtạo Đây là những phẩm chất đạo đức về ý chí, lòng dũng cảm, nghĩa vụ, tínhnguyên tắc và tự trọng ở mỗi con người cũng như cả cộng đồng
2.2 Ảnh hưởng tiêu cực
Trong kinh tế thị trường phải đề phòng khuynh hướng, lối sống chạytheo đồng tiền Kinh tế thị trường có khuynh hướng mở rộng các nguyên tắctrao đổi thị trường ra tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đời sống cánhân, đời sống cộng đồng, có khuynh hướng làm cho người ta coi giá trị thịtrường là giá trị chân thực duy nhất dùng để đo các giá trị khác Họ định giátrị của con người căn cứ vào của cải của người đó, từ đó tìm các quan hệtrong sự đem lại lợi ích gì cho mình, cho cá nhân mình Từ đây mà các quan
hệ tình cảm cao đẹp, ấm áp tình người có nguy cơ bị băng giá trong sự tínhtoán vị kỷ
Kinh tế thị trường cũng cần đề phòng khuynh hướng chạy theo lợinhuận đơn thuần, dẫn đến nguy cơ "thương mại hóa" (cái gì có tiền mới làm,cái gì không có tiền, dù cần cũng không làm) Hơn thế nữa, khi chạy theođồng tiền có thể sẽ bất chấp đạo lý, những hủ tục mê tín có thể tăng nhanh,các sản phẩm phản văn hóa, làm băng hoại con người có thể tràn lan, các bậcgiá trị có thể bị nhận thức sai lệch
Kinh tế thị trường cũng đã kéo theo lối sống "tiền trao cháo múc", lạnhlùng, tàn nhẫn làm băng hoại đạo đức truyền thống, thuần phong mỹ tục, tấncông vào từng gia đình, từng người Đã có không ít hiện tượng: từ chỗ coitrọng các giá trị chính trị, xã hội sang tuyệt đối hóa các giá trị vật chất kinh tế
Từ chỗ lấy con người tập thể, con người xã hội làm mẫu mực (hy sinh vì tập
Trang 17thể, vì cộng đồng) là đạo đức cao nhất, sang tuyệt đối hóa con người cá nhân,thậm chí là cá nhân ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa Từ chỗ lấy lý tưởng, đạo đứclàm mẫu mực chuyển sang coi thường đạo đức, phẩm giá; tuyệt đối giá trịthực dụng, tôn sùng tiện nghi vật chất, tôn sùng đồng tiền, coi tiền là trên hết,lấy đồng tiền làm thước đo giá trị của con người.
Tiền xâm nhập vào nhiều mối quan hệ đạo đức xã hội, thậm chí thànhnguyên tắc xử thế và tiêu chuẩn hành vi của không ít người Chính vì vậy mànhững hiện tượng tham ô, hối lộ, móc ngoặc, buôn lậu, lừa đảo, làm hàng giả,mua quan bán chức, chạy chức chạy quyền bằng tiền chúng ta đấu tranh,ngăn ngừa nhiều năm nay nhưng hiện vẫn đang diễn ra phức tạp và là nỗi lolắng của xã hội
Những quan niệm và hành vi của đạo đức truyền thống như tinh thầngiúp đỡ nhau, kính già, yêu trẻ, tôn sư trọng đạo, vợ chồng thủy chung sẽ bịbiến động và suy giảm do toan tính của đồng tiền
Như vậy, nền kinh tế thị trường đang ảnh hưởng tới nước ta một cáchsâu rộng, nó không chỉ tác động tới sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế mà còntác động mạnh mẽ tới đời sống xã hội Nó làm tăng năng suất lao động mộtcách không ngừng, nó thúc đẩy hoạt đọng văn hoa theo hướng xã hội hóa, đềcao trách nhiệm cá nhân, gắn liền động cơ và hiệu quả như một chuẩn mựcgiá trị trong hoạt động con người, trong nhân cách con người Không chidừng lại ở mặt tích cực mà nền kinh tế thị trường còn đem lại nhiều tiêu cực,
nó làm nảy sinh các tệ nạn xã hội, làm con người tha hóa về bản chất, mất dầnbản sắc dân tộc và những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta Đó chính là vấn
đề dặt ra đối với tất cả các nước khi bước vào nền kinh tế thị trường trong đó
có Việt Nam
Trang 18Chương 2: Thực trạng lối sống sinh viên dưới ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường trong giai đoạn hiện nay
1 Lối sống và quan niệm về lối sống
* Khái niệm lối sống
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mac-Lênin: Lối sống là một phạm trùcủa chủ nghĩa duy vật lịch sử có liên quan chặt chẽ với phạm trù sản xuất củacải vật chất Trong một chừng mực nhất định, thuật ngữ lối sống được xemnhư tương đồng với các thuật ngữ cách sống, nếp sống Khái niệm lối sốngthường bao gồm các nội hàm sau:
- Lối sống là phương thức, là hoạt động của con người, được thểhiện bằng hành vi và cách ứng xử của con người với cộng đồng và với xã hội.Lối sống được hình thành trên cơ sở những điều kiện và các mối quan hệ kinh
tế - xã hội của phương thức nhất định
- Lối sống không chỉ giới hạn trong lĩnh vứcản xuất của cải vậtchất, nó thể hiện cả trong hành động phi sản xuất của con người như đời sốnghàng ngày, trong lĩnh vực văn hóa, chính trị và cả trong chuẩn mực đạo đức
mà con người phải tuân thủ trong cách cư xử của mình
- Lối sống mang tính giai cấp trong xã hội có giai cấp, không cólối sống chung cho mọi người Lối sống của giai cấp thống trị sẽ chi phối lốisống của các giai cấp khác trong xã hội
Về mặt ngữ nghĩa, “lối sống” trong tiếng Pháp là “mode de vie”, trong tiến Anh là “mode of lifer”, trong tiếng Đức là “lebensweise” Trong tiếng Việt, lối sống là một danh từ ghép gồm “lối” và “sống” “Lối” là lề lối, thể thức, kiểu cách, phương thức “Sống” là sinh hoạt, là quát trình hoạt động của
mỗi con người và xã hội loài người Cho đến nay thuật ngữ đó đã được kháiniệm hóa dưới nhiều cách thức tiếp cận khác nhau
Theo từ điển tiếng Việt (NXB Đà Nẵng, 1998) thì lối sống là hình thứcdiễn ra của hoạt động đã trở thành ổn định mang đạo đức riêng, như lối sốngchâm biếm, lối sống tiểu tư sản
Trang 19Lối sống có thể xem như điều kiện sống và các hình thức hoạt độngsống của con người Lối sống được coi như một phạm trù bên trong của cácchủ thể riêng biệt như nếp nghĩ, thói quen, quan hệ giao tiếp, hành vi ứng xử.
Quan niệm về lối sống như là sự thống nhất các hoạt động sống và cácđiều kiện sống của con người, của xã hội được nhiều người tán đồng hơn cả.Trong một số công trình nghiên cứu gần đây, một số tác giả đã có những địnhnghĩa khác nhau về lối sống Theo Trần Công Thanh (Trần Công Thanh:Thực trạng và các biện pháp quản lý giáo dục nếp sống cho sinh viên nội trúĐại học sư phạm- Đại học quốc gia Hà Nội, Luận văn thạc sĩ khoa học giáodục, Trường đại học sư phạm Hà Nội, 1999) Lối sống là tổ hợp các phươngthức hoạt động sống điển hình của con người đối với xã hội nhất định mà nóđược xét thống nhất với các điều kiện hoạt động Lối sống bao gồm nhiều hệthống hành vi ứng xử của con người trong cuộc sống Theo Nguyễn QuangUẩn (Nguyễn Quang Uẩn, Xây dựng lối sống và đạo đức mới cho sinh viênđại học sư phạm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.Báo cáo khoa học trường đại học sư phạm Hà Nội, 1998) lối sống là một kháiniệm đặc trưng cho hoạt động và mối quan hệ của con người trong ngữngđiều kiện xã hội, lịch sử nhất định
Lối sống có những đặc trưng cơ bản sau:
- Những định hướng giá trị, nhu cầu được thực hiên trong đời sốngvừa là động cơ vừa là bộ điều chỉnh hành vi
- Trình độ văn hóa của con người, thế giới quan, đạo đức và những
xu hướng thẩm mĩ của con người được hình thành trong giao tiếp hàng ngàytrong hành vi, trong đời sống, trong những tập quán và trong tiêu chuẩn vềphẩm hạnh của họ
- Những thói quen là những tiêu chuẩn điển hình có tính chất xãhội của những mối quan hệ giữa với nhau, được hình thành trong hoạt động
cơ bản
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, tác giả đề tài đã thống nhất quanniệm và vận dụng những nội dung của các định nghĩa trên trong nghiên cứucủa mình bời vì lối sống của sinh viên bao gồm nhiều mặt, nhiều mối quan hệ
Trang 20của sinh viên với nhà trường, với cộng đồng và xã hội trong những hoàn cảnhsống cụ thể.
2 Sinh viên và lối sống sinh viên
2.1 Khái niệm sinh viên và một số đặc điểm tâm lý sinh viên
2.1.1 Khái niệm sinh viên
Sinh viên là một bộ phận của thanh niên đang theo học ở các trường đạihọc, cao đẳng Họ là một nhóm xã hội đặc thù, đang trong gai đoạn phát triể
và hoàn thiện nhân cách, tích cực học tập, rèn luyện chuẩn bị gia nhập đội ngũtri thức, lao động kĩ thuật cao của đất nước Trong bất cứ giai đoạn lịch sửnào, thanh niên, sinh viên luôn là lực lượng năng động, sáng tạo và là nguồnnhân lực được đào tạo với trình độ cao của xã hội Mỗi thế hệ thanh niên nóichung, sinh viên nói riêng đều thuộc về một nền văn hóa xã hội lịch sử nhấtđịnh Lịch sử tạo cơ sở và điều kiện cho họ thực hiện vị thế, vai trò xã hội mà
họ đảm nhiệm Đồng thời, họ cũng là lớp người đóng góp những sáng tạomới, phát triển lịch sử
Sinh viên là lực lượng kế tiếp, bổ sung cho đội ngũ tri thức tương lai
Họ là lớp người có văn hóa cao và có nhiều điều kỉện đón nhận những thôngtin về tư tưởng, koa học kĩ thuật, văn hóa và được tập trung ở những trungtâm kinh tế, văn hóa xã hội của địa phương V.I.Lênin đã đánh giá sinh viênlà: bộ phận nhạy cảm nhất của giới tri thức, là tầng lớp có trìn độ tiên tiếnnhất trong hàng ngũ thanh niên Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế- xãhội hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ và đa dạng của giáo dục đạihọc, đội ngũ sinh viên có nhiều biến đổi về định hướng giá trị, lối sống, nhucầu, nguyện vọng
Sinh viên đại học chủ yếu ở lứa tuổi 17-18 đến 25-26, là lứa tuổi đangtrưởng thành về xã hội, chín muồi về thể lực, định hình về nhân cách
2.1.2 Một số đặc điểm tâm lý cơ bản của sinh viên
Hoạt động nhận thức và sự phát triển trí tuệ
Nét đặc trưng cho hoạt đông nhận thức của sinh viên là họ có thể hoạtđộng trí tuệ tập trung, căng thẳng, có thể tiến hành hoạt động tư duy với sựphối hợp của nhiều thao tác, tư duy như phân tích, so sánh, tổng hợp… Hoạt
Trang 21động nhận thức gắn liền với học tập chuẩn bị nghề nghiệp cho suốt quát trìnhhọc tập, rèn luyện của sinh viên.
Sự phát triển trí tuệ ở lứa tuổi sinh viên được đặc trưng bởi sự nâng caonăng lực trí tuệ thể hiện ở tính nhạy bén cao độ, khái niệm giá trị và gán ýnghĩa cho những ấn tượng cảm tính nhờ vào kinh nghiệm đã có và những trithức khoa học tiếp thu trong quá trình học tập ở đại học Hình thành năng lực
tư duy logic, tư duy khoa học và phương pháp là việc trí óc, lao động sáng tạotrí tuệ
Đặc điểm về tình cảm của sinh viên
Tuổi sinh viên là thời kỳ phát triển tích cực nhất về tình cảm cao cấpnhư tình cảm trí tuệ, tình cảm đạo đức,tình cảm thẩm mĩ, tình cảm nghĩa vụ
và trách nhiệm công dân… Những tình cảm này biểu hiện rất phong phú tronghoạt động và trong đời sống của sinh viên
Tình cảm cùng giới và đặc biệt là tình cảm khác giới ở lứa tuổi sinhviên tiếp tục phát triển theo chiều sâu Tình bạn đã làm phong phú thêm tâmhồn, nhân cách của sinh viên, nó không chỉ gắn kết trong học tập, vui chơi,giải trí mà còn trong chia sẻ kinh nghiệm học tập, những trải nghiệm trongcuộc sống
Tình bạn khác giới, tình yêu nam nữ ở tuổi sinh viên là một lĩnh vực rấtđặc trưng Loại tình cảm này có mầm mống ở giai đoạn dậy thì, có sự thểnghiệm ở giai đoạn đầu tuổi thanh niên và đến thời kỳ này phát triển với sắcthái mới
Một số phẩm chất, nhân cách đặc trưng của sinh viên
Xu hướng của sinh viên có nhứng nết nổi bật: đó là nghề nghiệp tươnglai trở thành niềm mong ước, sự kỳ vọng, lý tưởng, động cơ, mục đích cơ bảnnhất, quan trọng nhất trong cuộc sống và mọi hành động của sinh viên
Tự đánh giá là một trong những phẩm chất quan trọng, một trình độphát triển cao của nhân cách Tự đánh giá có ý nghĩa định hướng, điều chỉnhhành động, hành vi của chủ thể nhằm đạt mục đích, lý tưởng sống một cách tựgiác Biểu hiện cụ thể của nó là sinh viên không chỉ đánh giá hình ảnh bảnthân mình có tình cảm bên ngoài, hình thức mà còn đi sâu vào các phẩm chất,
Trang 22các giá trị nhân cách Do vậy tự ý thức, tự đánh giá có vai trò quan trọng đốivới tự nhận thức, tự phê phán và điều chỉnh lối sống của sinh viên.
2.1.3 Khái niệm lối sống sinh viên.
Khái niệm lối sống sinh viên không vượt ra ngoài nội hàm của kháiniệm lối sống đã được đề cập ở các phần trên Lối sống sinh viên được đề cậptong phần này cũng xác định tiếp cận trên bình diện tâm lý học mác xít
Dựa trên định nghĩa lối sống đã được trình bày ở phần trên, có thể địnhnghĩa lối sống sinh viên như sau:
“ Lối sống sinh viên là phương thức hoạt động đặc trưng của giới sinh viên, thể hiện ở sự lựa chọn các hoạt động và cách thức thực hiện các hoạt động đó trong những điều kiện chủ quan và khách quan nhất định.”
2.2 Thực trạng lối sống sinh viên dưới ảnh hưởng của sự phát triển
kinh tế thị trường 2.2.1 Khái quát lối sống sinh viên hiện nay
Hiện nay Việt Nam chúng ta đã và đang tiến hành xây dựng đất nướctheo công cuộc công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước Đây là một quá trìnhkhó khăn, đầy thử thách, mặc dù trong những năm vừa qua chúng ta đã đạtđược một số thành tựu khả quan: tỉ lệ tăng trưởng GDP năm 2003 đạt mứccao nhất so với những năm trước 7,24%; nạn thất nghiệp giảm bớt, đời sốngcủa nhân dân ngày càng được nâng cao cả về mặt chất cũng ngư mặt lượng
Và trong giai đoạn phát triển này thì không thể không kể đến vai trò của lớptrẻ mà cụ thể là sinh viên- thế hệ sẽ tiếp nối những truyền thống tốt đẹp củacha ông trong sự nghiệp xây dựng đất nước giàu mạng, công bằng và vănminh Tuy nhiên cùng với sự thay đổi sang cơ chế thị trường như hiện nay thìlối sống, cách nghĩ của sinh viên cũng biến chuyển theo: có rất nhiều sinhviên đã trưởng thành nhưng đồng thời cũng không ít sinh viên xa ngã vào các
tệ nạn xã hội Trên hết, chúng ta cần phải quan tâm tới lực lượng chủ chốt nayphải làm sao cho sinh viên Việt Nam có lối sống đúng đắn thực sự nhận thức
rõ vai trò quan trọng của mình đối với sự nghiệp phát triển đất nước
Sinh viên Việt Nam trước hết mang đầy đủ những đặc điểm chung của
con người, mà theo C.Mac là: “ Tổng hòa các quan hệ xã hội” Nhưng họ
còn mang đặc điểm riêng: tuổi đời còn rất trẻ, thường từ 18-25, dễ thay đổi,
Trang 23chưa định hình rõ rệt về nhân cách, ưu cách hoạt động giao tiếp, có tri thứcđang được đào tạo chuyên sâu.
Sinh viên vì thế đã tiếp thu cái mới, thích cái mới, thích sự tìm tòi vàsáng tạo Đây cũng là tầng lớp xưa nay vẫn khá nhạy cảm với các vấn đềchính trị- xã hội đôi khi cực đoan nếu không được định hướng tốt
Một đặc điểm rất đáng chú ý đang xuất hiện trong những người trẻ hiệnnay, liên quan đến sự phát triển của công nghệ thông tin với tư cách là mộtcuộc cách mang, đó là sự hình thành một môi trường ảo, một lối sống ảo Đặcđiểm chỉ biểu hiện trong giới trẻ đặc biệt là những người có tri thức như sinhviên Hình thành một phương pháp tư duy của thời đại công nghệ thông tin:ngôn ngữ ngắn gọn, viết bằng bàn phím thay bằng cây bút, có tính lắp ghépchính xác, hệ thống, hạn chế sự bay bổng về mặt hình tượng trực quan Conngười vì thế sống trong môi trường ảo và cái hiện thực ở đây là cái hiện thực
ảo, giao tiếp ảo
Về môi trường sống, sinh viên thường học tập trung tại các trường đạihọc, cao đẳng (thường ở các đô thị) sinh hoạt trong một cộng đồng ( trườnglớp) gồm chủ yếu là các thành viên tương đối đồng nhất về trí thức, lứa tuổi,với những quan hệ có tính chất bạn bè khá gần gũi
Đối với sinh viên trên địa bàn Hà Nội một thực tế là trong số họ hiệnnay đang diễn ra quá trình phân hóa với 2 nguyên nhân cơ bản: tác động của
cơ chế thị trường dẫn đến khác biệt giàu nghèo, sự mở rộng quy mô đào tạokhiến trình độ sinh viên chênh lệch Dù vậy, vẫn có thể nhìn thấy trong đónhững đặc điểm tương đồng tới đây
+ Tính thực tế: thể hiện ở việc chọn ngành chọn nghề, ở việc hướngđến lựa chọn những kiến thức để học sao cho đáp ứng nhu cầu thực tế, chuẩn
bị kinh nghiệm làm việc cho tương lai,định hướng công việc sau khi ratrường, thích những công việc thu nhập cao…Nói chung là tính mục đíchtrong hành động và suy nghĩ rất rõ
+ Tính năng động: nhiều sinh viên vừa đi học vừa đi làm (làm thêm bánthời gian hoặc có thể là thành viên chính thức của một công ty) Hình thành tưduy kinh tế trong thế hệ mới (thích kinh doanh muốn tự mình lập công ty khicòn là sinh viên) thể hiện sự tích cực chủ động (tham gia phong trào tìnhnguyện), nhiều sinh viên cùng một lúc học hai trường
Trang 24+ Tính cụ thể trong lý tưởng: đang có một sự thay đổi trong lý tưởngsống gắn liền với sự định hướng cụ thể, câu hỏi vẫn thường đặt ra là: sinhviên hôm nay sống có lý tưởng không? Lý tưởng ấy là gì? Có sự phù hợpgiữa lý tưởng cá nhân với lý tưởng của dân tộc, của nhân loại hay không? Cóthể khẳng định là có, nhưng đang xuất hiện những lý tưởng có tính thế hệ, lýtưởng gắn liền với bối cảnh đất nước và quốc tế rất cụ thể Lý tưởng hôm naykhông phải là sự lựa chọn những mục đích xa xôi mà hướng đến những mụctiêu cụ thể gắn liền với lợi ích cá nhân.
+ Tính liên kết (tính nhóm): những người trẻ luôn có xu hướng mởrộng các mối quan hệ, đặc biệt là những quan hệ đồng đẳng, cùng nhóm.Tính nhóm phụ thuộc vào môi trường xã hội xung quanh chúng ta đang sống
Sự thay đổi của đời sống tinh thần trong sinh viên trước xu hướng toàn cầuhóa đang hướng mạnh đến tính cộng đồng
+ Tính cá nhân: trào lưu dân chủ hóa, làn sóng công nghệ thông tin, vàviệc nâng cao dân trí đã làm ý thức cá nhân ngày càng rõ Sinh viên tự ý thứccao về bản thân mình và muốn thể hiện vai trò cá nhân Dường như có sự đềcao lợi ích hên nghĩa vụ cá nhân xuất hiện thái độ bàng quan với xung quanh
Sự phân tích các đặc điểm trên chỉ có tính tương đối để phục vụ côngtác nghiên cứu, còn trên thực tế các đặc điểm ấy đan xen và có tác động qualại với nhau Tính cá nhân không tách rời tính liên kết, tính năng động gắnliền với tính thực tế Mỗi đặc điểm, qua những biểu hiện cụ thể của nó luônbộc lộ tính 2 mặt vừa có những tác động tích cực vừa có những tác động tiêucực
2.2.2 Thực trạng lối sống sinh viên.