1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

kinh nghiệm góp phần giúp học sinh tiểu học khắc phục một số lỗi chính tả thường gặp ở địa phương

31 882 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 147 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ thực tiễn vấn đề trên, tôi mạnh dạn nêu ra một vài kinh nghiệm nhỏ góp phần giúp học sinh tiểu học khắc phục một số lỗi chính tả thờng gặp trên địa phơng mình.Mong rằng qua đây đợc Hộ

Trang 1

Kinh nghiệm: Góp phần giúp học sinh tiểu học khắc phục một số

lỗi chính tả thờng gặp ở địa phơng.

a Đặt vấn đề

1 Cơ sở lý luận:

Để chuẩn hoá ngôn ngữ một dân tộc, cần phải chuẩn hoá hai mặt: chính

âm và chính tả Chính âm giúp cho việc thống nhất cách đọc, chính tả giúp cho việc thống nhất cách viết Chính tả có tính chất xã hội, nó là những quy ớc của xã hội trong ngôn ngữ khi dùng mã chữ viết làm phơng tiện giao tiếp Vì vậy, để bảo đảm cho ngời phát và ngời nhận đều hiểu nội dung của văn bản một cách thống nhất, ngời ta phải đa ra hệ thống quy tắc về cách viết cho các

từ của một ngôn ngữ

Trong nhà trờng tiểu học, chính tả đợc dạy với t cách là một phân môn của tiếng Việt Nh vậy, chính tả có một vị trí quan trọng là hình thành năng lực , thói quen viết đúng chính tả, tức là hình thành một trong những năng lực giao tiếp bằng ngôn ngữ cho học sinh

Chỉ có trong nhà trờng tiểu học Chính tả mới đợc dạy và học với một t cách là một môn học Vì vậy, nó có một vị trí đặc biệt Nếu ở tiểu học, học sinh đã mắc phải những lỗi chính tả thì sau này rất khó chữa

Từ vị trí ở trên, phân môn chính tả có nhiệm vụ là cung cấp cho học sinh các quy tắc viết chính tả và hình thành kỹ năng viết chính tả Ngoài ra chính tả còn rèn luyện cho học sinh các phẩm chất nh: cẩn thận, tính thẩm mĩ, tình yêu

đối với tiếng Việt

Trang 2

Để hình thành cho học sinh thói quen và năng lực viết chính tả, trong thực tế dạy học cũng đã đi theo hai con đờng, đó là: dạy học chính tả đi theo con đờng máy móc, cơ giới tức là trong quá trình dạy học không cần biết đến

sự tồn tại của các quy tắc chính tả Con đờng thứ hai là dạy học chính tả từ việc cung cấp các kiến thức chính tả cần thiết cho học sinh nh các quy tắc chính tả, các mẹo luật, các cách ghi nhớ có ý thức Tuy nhiên trong thực tế, do nhiều nguyên nhân mà chữ viết tiếng Việt không tuân thủ theo nguyên tắc

“một – một” Có nhiều âm đợc biểu thị bằng nhiều ký hiệu Ví dụ: âm |k| đợc biểu thị bằng ba kí hiệu: c, k, q; âm |z| biểu thị bằng hai kí hiệu: d, gi; âm |w| biểu thị bằng hai kí hiệu : “u”, “o” Ngợc lại có những kí hiệu lại đợc biểu thị bằng nhiều âm Mặt khác, do tiếng Việt có nhiều phơng ngữ, thổ ngữ nên bên cạnh tính thống nhất là chủ đạo nó còn có những nét dị biệt khá rõ ràng trong cách phát âm, cách dùng từ giữa các vùng và tạo ra ấn tợng mạnh mẽ về sự tồn tại trong thực tế ba “giọng” nói khác nhau tơng ứng với ba vùng phơng ngữ Mỗi một phơng ngữ có những đặc điểm phát âm tiếng Việt khác nhau và khác với phát âm chuẩn nên dẫn đến tình trạng học sinh “nói nh thế nào viết nh thế

đấy” Ví dụ: Các em đọc thanh hỏi viết dấu hỏi, đọc thanh nặng viết dấu nặng Nên dẫn đến trong khi viết chính tả, học sinh còn dễ mắc sai lầm

2 Cơ sở thực tiễn.

Q ua dự giờ thăm lớp của các đồng chí giáo viên và qua các đợt kiểm tra

“Viết chữ đẹp”, qua chấm bài khảo sát chất lợng của học sinh, tôi thấy hiện ợng viết sai chính tả ở học sinh do những nguyên nhân trên còn khá phổ biến Giáo viên còn rất băn khoăn và lúng túng khi gặp những trờng hợp chính tả học sinh dễ nhầm lẫn, cha tìm ra các giải pháp tối u để khẳng định giúp học

Trang 3

t-sinh nh thế nào là viết đúng, nh thế nào là viết sai Còn học t-sinh thì chủ yếu viết theo cách viết máy móc không tuân thủ một quy tắc, quy luật nào của chính tả Bởi thế mà ở bậc Tiểu học, học sinh còn mắc phải nhiều lỗi chính tả trong khi viết Cụ thể có hai lỗi chính tả cơ bản mà học sinh thờng gặp đó là viết sai về nguyên tắc chính tả hiện hành và sai so với cách phát âm chuẩn Từ thực tiễn vấn đề trên, tôi mạnh dạn nêu ra một vài kinh nghiệm nhỏ góp phần giúp học sinh tiểu học khắc phục một số lỗi chính tả thờng gặp trên địa phơng mình.

Mong rằng qua đây đợc Hội đồng khoa học của ngành và bạn đọc gần

xa góp ý bổ sung để tôi đúc rút đợc nhiều kinh nghiệm hơn, góp phần chỉ đạo dạy tốt phân môn chính tả trong trờng Tiểu học

B Nội dung nghiên cứu.

I Lỗi chính tả do sai về nguyên tắc chính tả hiện hành.

1 Lỗi sai do không nắm đợc sự thể hiện chữ viết cùng thể hiện một

âm.

a) Viết sai giữa i và y ; iê và yê ; ia và ya“ ” “ ” “ ” “ ” “ ” “ ”

Qua thực tế kiểm tra ở lớp hai tôi thấy học sinh còn nhầm lẫn

Ví dụ:

yên ổnyêu quý

ý nghĩchiến sĩ

kĩ s

iên ổniêu quý

í nghĩchiến sỹ

kỹ s

Trang 4

địa lí

kĩ thuậtyêu quýquý hiếmluyện tập

đêm khuya

địa lý

kỹ thuậtyêu quíquí hiếmluiện tập

đêm khuiaNguyên nhân dẫn đến học sinh viết sai nh trên là do các em cha nắm đ-

ợc nguyên tắc phân bố kí hiệu cùng biểu thị âm |i| Bởi vậy giáo viên cần giúp học sinh rõ: Trong trờng hợp “i” và “y” làm âm chính (hoặc một kí hiệu của nguyên âm đôi làm âm chính) thì :

+ Ta viết “i” khi nó đứng sau các âm đầu: m, k,ph, ch, kh, l, th, đ, s, r

Ví dụ: Sĩ, đi, phi, lí, kĩ, mĩ, thì, lì, chì,

+ Ta viết “i” khi nó đứng đầu tiếng mà sau có âm cuối:

Ví dụ: im ỉm, in ít, inh ỏi, ỉu xìu,

+ Ta viết “y” khi nó đứng sau âm đệm “u”

Ví dụ: quý, luyện, tuyên, quyên, chuyên, quýnh,

+ Ta viết “iê” khi đằng trớc nó không có âm đệm, đằng sau có âm cuối

Ví dụ: Tiên tiến, thiêng liêng, nhiệt liệt, chiến dịch,

+ Ta viết “yê” khi mở đầu âm tiết, hoặc viết sau âm đệm trớc âm cuối:

Ví dụ: yêu, yên, yếm, yểng, tuyên truyền, truyền thuyết,

+ Ta viết “ia” khi đứng sau âm đầu không có âm cuối:

Ví dụ: Chia, phía, lìa,

+ Ta viết “ya” khi đứng sau âm đệm không có âm cuối:

Trang 5

Ví dụ: Khuya, luya,

Đối với giáo viên cần nắm thêm:

+ Khi | i | đứng một mình và nếu là từ thuần Việt thì viết “i”

Ví dụ: ì ạch, ỉ eo, í ới, í a í ới, ì ầm,

+ Khi | i | đứng một mình và nếu là từ Hán Việt thì viết “y”

Ví dụ: y tá, y sĩ, ý nghĩ, y khoa, ý thức,

Nhng đối với học sinh tiểu học giáo viên ch thể đa khái niệm từ Hán Việt, thuần Việt để áp đặt cho học sinh Bởi vậy để giúp các em nhận biết cách viết đúng những chữ dạng nh trên, giáo viên cần đa ra phơng pháp so sánh để giúp học sinh chọn cách viết đúng

Chúng ta thấy rằng trên thực tế, cũng nh trên sách vở, báo chí, việc viết “i” hay “y” còn khá tuỳ tiện, tạo nên hiện tợng “song tồn” trong cách viết

Trang 6

chính tả âm | i | Nhng đối với bậc tiểu học là bậc học nền tảng, là giai đoạn học sinh bắt đầu làm quen với âm vần và tập viết, nên giáo viên cần nắm vững quy tắc viết chính tả đối với âm | i | để giúp học sinh nắm vững cách viết trong khi viết, tránh dẫn đến những sai lầm nh trên

b) Lỗi viết sai giữa g và gh ; ng và ngh ; k, c, q“ ” “ ” “ ” “ ” “ ”

Hiện tợng viết sai âm đầu “g” và “gh”; “ng” và “ngh”; “k, c, q” chủ yếu xẩy ra đối với các em học sinh lớp 1 Cụ thể khi giáo viên đọc:

Từ Học sinh viết

con ghẹghim áobàn ghế

gà máighế gỗnghe nhạcnghiêm túcngày mớithơm ngát

cổ kínhcân lờngcủa quý

kệ sách

con gẹgim áobàn gếghà mái

gế gỗnge nhạcngiêm túcnghày mớithơm nghát

cổ cínhkân lờngcủa cuý

cệ sáchLỗi sai trên là do học sinh cha nắm vững nguyên tắc kết hợp của các âm

và sự thể hiện chữ viết cùng biểu thị âm “gờ”, “ngờ”, “cờ” Để tránh đợc những sai lầm trên, giáo viên lớp 1 khi dạy bài âm “g” và “gh”; “ng” và

Trang 7

“ngh”; “k, c, q”, ngoài giúp học sinh nhận biết và đọc tốt các âm trên cần phải giúp các em nắm vững nguyên tắc kết hợp của nó.

Cụ thể: + Âm “g, ng, c” kết hợp đợc với các âm: “a, ă, â, o, ô, ơ, u, ” Nên khi viết, ta viết con chữ “g”, “ng”, “c” trớc các kí hiệu ghi nguyên âm (hoặc bộ phận nguyên âm đôi) : “a, ă, â, o, ô, ơ, u, ”

Ví dụ: Nga, ngăn, gò, gô, ngơ, ngng, nguội, ngớc, ca, căn, cân, cô, c,

+ Âm “gh, ngh, k” kết hợp đợc với các nguyên âm: “e, ê, i” Bởi vậy ta viết “gh, ngh, k” trớc các kí hiệu ghi nguyên âm (hoặc bộ phận nguyên

âm đôi): “ e, ê, i”

Ví dụ: ghe, nghe, nghề, nghĩ, ghim, ghép, ghế, kính, kiến, kẹo, kiện,

(Riêng trờng hợp “ka ki” vẫn viết theo thói quen: “k” viết trớc “a”

+ Âm “q” nó chỉ xuất hiện trong các trờng hợp: “quy, quả, quang, quăng ”

vậy giáo viên lu ý học sinh khi viết trớc âm đệm “u” thì ta viết “q”

Đối với học sinh lớp 1, nếu giáo viên chỉ nói mà học sinh không đợc thực hành nhiều thì các em rất dễ quên Bởi vậy trong những giờ luyện tập buổi chiều giáo viên cần chú ý cho học sinh đợc luyện viết nhiều những tiếng,

từ có chứa âm “g, gh, ng, ngh, k, c, q” và tổ chức cho học sinh chơi trò chơi tìm tiếng, từ chứa các âm đó và nên thể hiện cách viết của mình trên bảng

c) Lỗi sai do không nắm đợc sự thể hiện chữ viết của âm đêm: o, u “ ”Qua khảo sát ở học sinh lớp 1, ngoài những lỗi viết sai các phụ âm đầu

nh đã nêu trên; nhiều học sinh trong khi viết còn nhầm lẫn giữa âm đệm “o”

và “u” Cụ thể nh sau:

Giáo viên đọc Học sinh viết

Trang 8

băn khoănngoằn ngoèoquét nhà

băn khuănnguằn ngèoquyét nhà + Nguyên nhân dẫn đến viết sai: quả qoả là do học sinh không nắm đợc sự thể hiện bằng chữ viết của âm đệm trong tiếng Việt

- Trong trờng hợp phụ âm đầu “cờ” đợc viết “q” thì bất cứ âm chính viết sau âm đệm là âm gì, thì âm đệm vẫn đợc viết là “u” Vì vậy viết đúng là

“quả”

+ Học sinh viết sai : khoăn khuăn vì học sinh cha nắm đợc quy tắc : Khi đứng trớc các nguyên âm rộng (ví dụ: a, ă) hoặc hơi rộng (ví dụ: e)

âm đệm đợc viết là “o” ví dụ (oa oăn oe, ) vì vậy viết đúng là: băn khoăn

+ Học sinh viết: “ngoằn nguằn” nguyên nhân mắc lỗi nh trờng hợp “khuăn” nói trên còn ở chữ “ngèo” do học sinh vừa không nắm đợc cấu tạo của “vần khó” này, lại vừa không nắm đợc sự thể hiện bằng chữ viết của

âm đệm Vậy viết đúng là “ngoằn ngoèo”

+ Học sinh viết “quyét nhà”: vì so các em không nắm đợc cấu tạo của phần vần trong tiếng này Phần vần của tiếng “quét” gồm âm đệm: ( viết là:

“u”), âm chính (viết là: “e”), âm cuối (viết là : “t”) Vì vậy viết “quyét” là thừa chữ “y” Bởi vậy viết đúng là: “quét nhà”

Nh vậy, để học sinh không mắc những lỗi chính tả nh trên, giáo viên cần lu ý hớng dẫn các em nắm đợc cấu tạo của một số vần khó ( đa số là vần

có âm đệm) và nắm đợc sự thể hiện bằng chữ viết của âm đệm trong tiếng Việt

Ví dụ: Đứng sau “q” âm đệm viết là “u” ( quả quyết, quanh quẩn)

Đứng trớc “a, ă, e ” âm đệm viết là “o” (loà xoà, loăn xoăn, loè loẹt)

Trang 9

Đứng trớc “y, ê, ơ, â, ” âm đệm viết là “u” (tuý luý, hoa huệ, huơ tay, mùa xuân).

2 Lỗi sai do không nắm vững quy tắc viết hoa:

Qua kiểm tra ở học sinh lớp 3, 4, 5, tôi thấy nhiều em đang viết hoa tuỳ tiện trong chính tả tiếng Việt cũng nh tiếng nớc ngoài Cụ thể:

a) Lỗi sai khi viết địa danh Việt Nam.

Ví dụ: + Giáo viên đọc: Quê tôi ở xã Lĩnh Nam, huyện Thanh Trì,

Học sinh viết: Hà Tĩnh quê ta có Núi Hồng, Sông La đẹp tuyệt vời

Nguyên nhân dẫn đến học sinh viết sai nh trên là do các em cha phân biệt đợc đâu là danh từ riêng chỉ tên xã, huyện, thành phố ; đâu là danh từ chung chỉ các đơn vị hành chính Bởi vậy, giáo viên cần giúp học sinh phân tích: xã, huyện, thành phố, là danh từ chung, còn Lĩnh Nam, Thanh Trì, Hà Nội, là danh từ riêng Nên viết đúng là: xã Lĩnh Nam, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội

Tơng tự nh vậy thì học sinh sẽ xác định đợc: núi, sông, là danh từ chung; còn Hồng Lĩnh, La, là danh từ riêng nên ta viết đúng là: núi Hồng Lĩnh, dòng sông La

Trang 10

+ Giáo viên đọc: Tam Đảo là khu du lịch nổi tiếng thuộc tỉnh Vĩnh Phúc.

Hà Nội là quê hơng thứ hai của tôi

Học sinh viết: Tam đảo là khu du lịch nổi tiếng thuộc tỉnh Vĩnh phúc

Hà - nội là quê hơng thứ hai của tôi

Nguyên nhân dẫn đến học sinh viết sai nh trên do các em cha nắm vững quy tắc viết hoa tên địa lí Việt Nam Cụ thể là khi viết tên địa lí Việt Nam ta phải viết hoa chữ cái đầu mỗi tiếng tạo thành tên đó và không dùng gạch nối giữa các tiếng Vì vậy viết đúng là: Tam Đảo Vĩnh Phúc

Hà Nội

b) Lỗi viết sai tên riêng chỉ ngời Việt Nam.

Giáo viên đọc Học sinh viết

Nguyễn Thị AnhTrần Lê Anh Dũng

Nguyễn thị AnhTrần lê anh DũngNguyên nhân dẫn đến lỗi viết sai cơ bản nh trên là do học sinh cha nắm

đợc quy tắc: Viết hoa tên ngời Việt Nam phải viết hoa tất cả các chữ cái đầu của mỗi tiếng tạo thành tên đó Vì vậy viết đúng là: Nguyễn Thị Anh, Trần Lê Anh Dũng

c) Lỗi viết sai tên tổ chức, cơ quan

Giáo viên đọc Học sinh viết

Trờng Đại học Bách khoa

Hà Nội

Nhà hát Tuổi trẻ

Nhà xuất bản Giáo dục

Trờng đại học bách khoa Hà Nội

Nhà hát tuổi trẻ

Nhà xuất bản giáo dục

Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em

Trang 11

Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc

trẻ em Việt Nam

Trờng Mầm non Sao Mai

Việt Nam

Trờng mầm non Sao Mai

Đối với cách viết hoa tên tổ chức cơ quan, còn là một vấn đề hết sức khó đối với giáo viên và học sinh Bởi vì cùng một tên tổ chức, cơ quan còn tồn tại nhiều cách viết khác nhau (khác giữa chơng trình cũ và chơng trình mới) Bởi vậy theo tôi giáo viên cần yêu cầu học sinh phải tuân thủ một cách chuẩn lúc viết đó là: Viết hoa chữ cái đầu của mỗi bộ phận tạo thành tên đó,

bộ phận thứ ba là danh từ riêng nên viết hoa theo quy tắc viết hoa tên ngời, tên

địa lí Việt Nam

Hà Huy TậpViệt Nam

d) Lỗi viết sai khi viết tên ngời, tên địa lí nớc ngoài

Giáo viên đọc Học sinh viết

ời, tên địa lí nớc ngoài ta chỉ viết hoa chữ cái đầu của mỗi bộ phận tạo thành

Trang 12

tên đó Nếu bộ phận tạo thành tên gồm nhiều tiếng thì giữa các tiếng cần có gạch nối

Ví dụ: Mát – téc – lích; Tô - mát Ê - đi – xơn; Lốt Ăng – giơ - lét;

Niu Di – lân

Ngoài ra cón có một số tên ngời, tên địa lí nớc ngoài là những tên riêng

đợc phiên âm theo âm Hán Việt thì ta viết nh viết tên riêng Việt Nam

Ví dụ: Khổng Tử, Bạch C Dị; Luân Đôn; Bắc Kinh; Thuỵ Điển,

Nh vậy để giúp học sinh biết cách viết hoa đúng thì trớc hết giáo viên phải giúp học sinh nắm đợc: Chữ hoa trong tiếng Việt có các chức năng cơ bản đó là:

- Đánh dấu sự bắt đầu một câu

- Ghi tên riêng của ngời, địa danh, tên cơ quan, tổ chức,

- Biểu thị sự tôn kính: Bác Hồ, Ngời,

Với mỗi chức năng trên có quy tắc viết hoa riêng, đòi hỏi giáo viên và học sinh phải tuân thủ một cách tuyệt đối

3 Lỗi do đánh sai vị trí dấu thanh:

Qua kiểm tra chữ viết ở lớp 1 – 2 tôi thấy các em cha có ý thức viết

đúng vị trí dấu thanh trong chữ và giáo viên cũng cha coi trọng lỗi chính tả này nên trong khi chấm bài còn ít giáo viên chú ý sửa lỗi đánh dấu thanh cho học sinh Bởi vậy học sinh còn mắc lỗi chính tả này khá phổ biến (đặc biệt là học sinh lớp 1)

Trang 13

họaqúyýênlọanHọc sinh mắc sai nh trên bởi vì trong quá trình dạy giáo viên cha chú ý hớng dẫn các em cách đánh dấu thanh, nên khi viết các em còn viết một cách máy móc ,theo thói quen Bởi vậy giáo viên cần hớng dẫn học sinh một cách

cụ thể nh sau:

Để ghi dấu thanh đúng trong chữ ta phải xác định kí hiệu ghi âm chính trong chữ đó rồi ghi dấu thanh điệu lên trên (hoặc dới )kí hiệu đó

Ví dụ : Tiếng “bàn”, “toàn”, “hoá ”, “hoạ ”có âm chính là “a ”thì dấu

thanh đợc đặt trên hoặc dới chữ “a”.Vậy viết đúng là: bàn, toàn, hoá, hoạ,

+ Trong trờng hợp có hai kí hiệu biểu thị âm chính (âm chính là nguyên

âm đôi) có ba cách ghi dấu thanh:

- Đối với các chữ có một kí hiệu ghi âm chính có dấu phụ nh: (tiến, chiến, quyển, yến, suối, suốt, chứa, ) thì ghi dấu thanh điệu lên kí hiệu có dấu phụ (ví dụ: ê, ô, ơ, , ) Vậy viết đúng là: chiến, quyển, yến, suối, suốt, chứa,

- Đối với các chữ cả hai kí hiệu ghi âm chính không có dấu phụ nh: ( phía, của, múa, tía, ) thì ghi dấu thanh điệu lên kí hiệu đầu tiên Vậy viết

đúng là: phía, của, múa, tía,

- Đối với các chữ cả hai kí hiệu ghi âm chính đều có dấu phụ nh:

(n-ớc, bởi, tới, kh(n-ớc, khớt, ) thì ta lại ghi dấu thanh điệu lên kí hiệu thứ hai Bởi vậy viết đúng là: nớc, bởi, tới, khớc, khớt,

Trang 14

Để tránh xẩy ra những sai lầm trên, trong quá trình giảng dạy, giáo viên phải giúp học sinh nắm rõ nguyên tắc chính tả trên và đặc biệt là trong quá trình chấm bài, giáo viên phải chú ý phát hiện lỗi và hớng dẫn học sinh sửa lỗi kịp thời, giúp các em ghi nhớ, tránh để các em có thói quen sai trở thành “cố tật” lên các lớp trên khó sửa.

II Lỗi chính tả do viết sai với âm chuẩn.

1 Lỗi do không phân biệt d và gi“ ” “ ”

Đây là hiện tợng chính tả còn sai khá phổ biến trong học sinh tiểu học

Đặc biệt qua khảo sát ở học sinh lớp 3 khi gặp những trờng hợp có chứa chữ

“d” hoặc “gi” học sinh còn rất lúng túng không biết viết nh thế nào cho đúng

Ví dụ:

Giáo viên đọc Học sinh viết

doạ nạtdoanh trạigiả định

đơn giảngiặc giã

lò dòdữ dộigiỗ tổ

gioạ nạtgioanh trạidả định

đơn dảngiặc dã

lò giògiữ dội

dỗ tổNguyên nhân dẫn đến sai lầm nh trên là do hiện tợng chính tả này không gắn với một quy luật, quy tắc nào mà còn chủ yếu là viết theo thói quen, theo truyền thống lịch sử Bởi vậy mà nó rất khó với giáo viên và học sinh khi dạy học dạng chính tả này Để giúp khắc phục những sai lầm trên ta

có thể tuân thủ theo một số “mẹo nhỏ” nh sau:

Trang 15

+ “gi” không kết hợp với những vần bắt đầu bằng: “oa oă, uâ, uê, uy” (hay nói cách khác “gi ” không đứng trớc các âm đệm “u”, “o”) vậy viết đúng phải là: doạ nạt, doanh trại, duyên nợ,

+ Trong từ láy âm đầu “d” không láy với “gi”

Ví dụ: Viết “giữ dội” là sai, phải viết “dữ dội”; “giỗ dành” là sai mà

phải viết là “dỗ dành”,

+ Trong từ láy vần “gi” không láy với “l”; “d” láy “l”

Ví dụ: lò dò, lim dim, liu diu,

+ Nếu một từ có hai hình thức viết, một trong hai hình thức đó viết bằng

“tr” thì từ đó viết bằng “gi”

Ví dụ: “giăng – trăng”; “giầu – trầu”; “giai - trai”

+ Phải nhớ nghĩa, nhớ âm và cách viết quen thuộc từng từ để viết đúng chính tả

Ví dụ: âm “dao” ( dùng để cắt, chặt, ) viết : dao (con dao, mài dao, )

Âm “dao” (chỉ mối quan hệ tơng tác) viết : “giao” (giao tranh, giao nhiệm vụ, )

Âm “dục” (chỉ sự dạy dỗ) viết : “dục” ( giáo dục, thể dục, )

Âm “dỗ” (chỉ việc làm của con cháu nhớ về ngời đã khuất) viết: “giỗ” (giỗ tổ, )

Âm “dận” (chỉ thái độ không bằng lòng) viết : “giận” ( giận dữ, )

Âm “dận” (chỉ …… để tiễn đa ngời đã mất) viết : “dận” ( nhà dận, )+ Giáo viên cũng cần nắm và cung cấp thêm cho học sinh hiện tợng các

từ Hán Việt: “d” đi với dấu “ngã” và dấu “nặng”

Ví dụ: diện tích, diễn biến, diệu kì.

Ngày đăng: 11/06/2015, 23:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w