Đánh giá tính dễ bị tổn thương của cộng đồng ven biển với các rủi ro thiên tai: trường hợp nghiên cứu tại xã Giao Phong, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Đây là đề tài nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương của vùng ven biển
Trang 1PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ.
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong 2 thế kỷ qua, thế giới đã phải chứng kiến và hứng chịu những tác độngcủa sự suy giảm chất lượng môi trường Với biểu hiện chính là bão, lũ lụt, hạn hán,động đất,… cùng với sự tàn phá khốc liệt, thiên tai đang là mội trong những vấn đềđược đề cập rất nhiều trong các hội nghị quốc tế và ở mỗi quốc gia trên thế giới Hàngloạt những thiên tai xảy ra gần đây, đã gây những thiệt hại lớn về con người, kinh tế
và môi trường của các nơi thiên tai xảy ra hay những nơi bị quét qua Theo ước tínhcủa Liên Hợp Quốc, thiên tai đã ảnh hưởng tới 4,4 tỷ người trên thế giới, cướp đi sinhmạng của 1,3 triệu người và gây thiệt hại kinh tế đến 2.000 tỷ USD
Là một quốc gia nhiệt đới gió mùa, nằm trọn trong khu vực Châu Á – Thái BìnhDương, nơi sản sinh ra phần lớn các cơn bão trên thế giới và với đường bờ biển (3200km) chạy dài từ bắc xuống nam, Việt Nam thường xuyên phải đối mặt với các thiêntai như bão, lũ lụt, hạn hán, nước biển xâm mặn, sạt lở đất, cháy rừng và đôi khi xảy
ra động đất Theo đánh giá của Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn & Môi trường (BộTài nguyên & Môi trường), thiệt hại do thiên tai ở Việt Nam thuộc loại lớn trên thếgiới Trong 5 năm gần đây (2008-2013), mỗi năm thiên tai làm chết khoảng
500 người, gây thiệt hại 14.500 tỷ đồng, tương đương 1,2% GDP cả nước Trong báocáo Thảm họa thế giới năm 2014, được công bố vào ngày 16/10 mới đây, do Hội chữthập đỏ Việt Nam phối hợp với Hiệp hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tếtại Việt Nam, Việt Nam là 1 trong 10 nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi bão, lũ
và biến đổi khí hậu toàn cầu Mỗi năm, Việt Nam phải hứng chịu từ 10 đến 15 cơnbão, lũ, lụt làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới 50% diện tích đất đai và 70% dân số củaViệt Nam Chỉ tính riêng trong năm 2013 đã có 14 cơn bão và lũ xảy ra tại Việt Nam,với số người bị ảnh hưởng lên đến 4,13 triệu người (cao nhất trong 10 năm trở lạiđây) Điển hình là các cơn bão gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản như bãoXangsane ( 2006), bão Lekima ( 2007), bão nhiệt đới ( 2008), bão Ketsana ( 2009),bão Côn Sơn ( 2010)
Trang 2Với gần 30 triệu người sống ở 125 quận/huyện ven biển của 28 tỉnh duyên hải
và gần 50% các thành phố lớn của cả nước nằm ven biển, chiếm 40 % tổng dân sốquốc gia (theo số liệu của tổng cục Biển và hải đảo, năm 2009), vùng ven biển ViệtNam là một trong những khu vực phát triển năng động nhất cả nước Đây là nơi chịuảnh hưởng trực tiếp và thiệt hại nặng nề nhất mỗi khi xảy ra thiên tai Cộng đồng venbiển là đối tượng dễ bị tổn thương nhất với các rủi ro thiên tai vì năng lực thích ứnghạn chế và sinh kế liên quan trực tiếp đến biển như nuôi trồng thủy sản, nông nghiệp,làm muối…
Xã Giao Phong là một xã nằm ở phía nam huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, cóđường bờ biển dài 3,1km cũng là nơi gánh chịu nhiều thiệt hại của thiên tai: mực nướcbiển xâm nhập mặn, bão, lũ lụt…, gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của cộngđồng cư dân ven biển sinh sống và làm việc tại đây
Xuất phát từ lý do trên, tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá tính dễ bị tổn thương của
cộng đồng ven biển với các rủi ro thiên tai: trường hợp nghiên cứu tại xã Giao Phong, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định” nhằm đánh giá tính dễ bị tổn thương của người dân
ven biển xã Giao Phong, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định từ đó chỉ ra những thuậnlợi và khó khăn trong ứng phó với rủi ro thiên tai và đề xuất giải pháp nâng cao khảnăng ứng phó với thiên tai của cộng đồng ven biển xã Giao Phong
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu chung
Đánh giá tính dễ bị tổn thương của cộng đồng ven biển xã Giao Phong, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định với rủi ro thiên tai
Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội địa bàn xã Giao Phong
- Các rủi ro thiên tai đã xảy ra và tác động của rủi ro thiên tai với cộngđồng ven biển tại xã Giao Phong
- Đánh giá tính dễ bị tổn thương của cộng đồng ven biển với các loại rủi roxảy ra tại địa phương
Trang 3- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao khả năng ứng phó của cộng đồng venbiển xã Giao Phong với thiên tai.
PHẦN 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Tổng quan về rủi ro thiên tai
2.1.1 Khái niệm
- Thiên tai:
Theo Luật phòng, chống thiên tai năm 2013, Thiên tai (Disaster) là hiện tượngthời tiết, khí hậu và tự nhiên bất thường có thể gây thiệt hại về người, tài sản, môitrường, điều kiện sống và các hoạt động kinh tế - xã hội; bao gồm bão, áp thấp nhiệtđới, lốc, sét, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, sụtlún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, nước dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, réthại, mưa đá, sương muối, động đất, sóng thần và các loại thiên tai khác
- Rủi ro thiên tai:
Rủi ro thiên tai (RRTT) là thiệt hại do thiên tai có thể gây ra về người, tài sản,môi trường sống, các hoạt động kinh tế, xã hội tại một số cộng đồng trong một khoảngthời gian nhất định (Luật Phòng chống thiên tai, 2013)
2.1.2 Các loại thiên tai chính ở Việt Nam
Là một quốc gia nhiệt đới gió mùa, nằm trọn trong khu vực Châu Á – Thái BìnhDương, nơi sản sinh ra phần lớn các cơn bão trên thế giới và với đường bờ biển (3200km) chạy dài từ bắc xuống nam cùng địa hình có nhiều đồi núi, Việt Nam thườngxuyên phải đối mặt với các thiên tai như bão, lũ lụt, hạn hán, nước biển xâm mặn, sạt
lở đất, cháy rừng và đôi khi xảy ra động đất
Bảng 2.1: Phân vùng thiên tai ở Việt Nam
1 Vùng núi phía bắc Lũ quét, sạt lở đất, động đất, hạn hán
2 Vùng đồng bằng sông Hồng Lũ lụt theo mùa mưa, bão, sạt lở đất,
nhiễm mặn
Trang 43 Vùng các tỉnh miền Trung Bão, lũ quét, ngập úng, sạt lở đất,
nhiễm mặn
4 Vùng Cao nguyên Lũ quét, sạt lở đất, hạn hán
5 Vùng đồng bằng sông Cửu Long Lũ lụt thượng nguồn, bão, nhiễm mặn,
sạt lở đất
Nguồn: Cục quản lý đê điều và Phòng chống lụt bão, 2011
Áp thấp nhiệt đới và Bão:
Theo số liệu thống kê nhiều năm thì trung bình hàng năm có khoảng 5 - 6 cơnbão và 2 - 3 áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến Việt Nam Mùa bão bắt đầu từ tháng 6
và kết thúc vào cuối tháng 11 và nửa đầu tháng 12 Bão thường tập trung nhiều nhấttrong các tháng 8, 9, và 10 Từ tháng 6 - 8, bão có nhiều khả năng ảnh hưởng đến Bắc
Bộ Từ tháng 9 - 11, bão có nhiều khả năng ảnh hưởng đến Trung Bộ và Nam bộ
Hình 1: Đường đi của một cơn bão trên Biển Đông
Lũ lụt: Mùa lũ trên các sông Bắc Bộ đến Nam Trung Bộ có xu hướng xuất hiện
muộn dần từ Bắc vào Nam
Bảng 2.2: Thời gian xuất hiện mùa lũ tại Việt Nam
Trang 54 Bình Thuận và Tây Nguyên
Lũ quét: Lũ quét thường xảy ra ở vùng núi nước ta, trong thời gian ngắn (
3-6h), vào ban đêm, trong các tháng đầu mùa lũ ( tháng VI, VII ở Bắc Bộ, Tây Nguyên,tháng IX,X ở Trung Bộ)
Rét đậm, rét hại: Rét đậm, rét hại thường xảy ra ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ
nước ta vào các tháng chính đông (tháng 12 năm trước và tháng 1, tháng 2 năm sau)
Sương muối: Ở miền Bắc nước ta sương muối xảy ra nhiều nhất vào khoảng
tháng 12, tháng 1 và những tháng thời tiết lạnh và khô Khu vực có tần xuất sươngmuối cao là vùng núi Đông Bắc và Tây Bắc Ở các vùng này, có những nơi sươngmuối xuất hiện vài đợt trong năm Ngoài ra, một số nơi khác như vùng núi Việt Bắc,Thanh Hóa, Nghệ An cũng có sương muối với tần suất thấp
Hạn hán:
Ở miền Bắc, do tính thất thường của chế độ mưa nên hạn là hiện tượng kháthường xuyên Ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ, hạn hay xảy ra vào vụ Đông Xuân trùngvới mùa mưa ít, lượng mưa trung bình tháng chỉ khoảng 20-30mm, có những giaiđoạn liên tục nhiều ngày không có mưa
Ở các tỉnh duyên hải miền Trung, hạn thường xảy ra vào cuối mùa xuân vàtrong suốt mùa hè, hạn nặng vào tháng VI, VII, thời kỳ bị ảnh hưởng của gió Lào khô
Ở đồng bằng sông Cửu Long thường gặp hạn hán ở vụ đông xuân trong mùakhô từ tháng XI đến tháng IV
Trang 6Ở các tỉnh Tây Nguyên, hạn hán thường xảy ra trong mùa khô, ngay từ thángIII, tháng IV, các ao, hồ, sông, suối và các mạch nước ngầm đều cạn kiệt.
Nắng nóng: Nắng nóng thường xuất hiện ở miền Trung và miền Bắc nước ta do
ảnh hưởng có gió font Lào ( gọi là gió Lào hoặc gió font hoặc Tây Nam khô nóng nhéchứ không nói là font Lào đâu) vào các tháng VI, VII
Mưa đá: Ở nước ta, mưa đá thường hay hình thành trong các tháng chuyển tiếp
giữa mùa lạnh sang mùa nóng (tháng 4, 5 và 6) hoặc giữa mùa nóng sang mùa lạnh(tháng 9, 10 và 11) Nơi thường xảy ra mưa đá nhất là ở vùng núi hay khu vực giápbiển, giáp núi (bán sơn địa), còn vùng đồng bằng ít xảy ra hơn
Sạt lở đất (trượt đất): Sạt lở đất thường xảy ra ở vùng núi nước ta vào mùa
mưa bão hàng năm
Nước biển dâng: Ở Việt Nam, đa số các ảnh hưởng của nước biển dâng tập
trung ở vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long Đồng bằng sôngCửu Long được đánh giá là một trong 3 đồng bằng trên thế giới dễ bị tổn thương nhất
do nước biển dâng ( UNDP, 2008)
Động đất: Việt Nam nằm ở khu vực ít có nguy cơ động đất lớn và tần suất diễn
ra động đất thấp Theo các nghiên cứu, các vùng có nguy cơ xảy ra động đất từ 6,0 –7,0 độ richter ở Việt Nam gồm: đới đứt gãy trên hệ thống sông Hồng, sông Chảy; đớiđứt gãy Lai Châu – Điện Biên; đới sông Mã, Sơn La, sông Đà; đới Cao Bằng, TiênYên; đới Rào Nậy – sông Cả; đới Đakrông – Huế; đới Trường Sơn; đới sông Ba; đớiven biển miền Trung Ngoài những vùng này, trên lãnh thổ Việt Nam còn có khoảng
30 khu vực có nguy cơ động đất với cường độ xấp xỉ 5,0 độ richter
2.1.3 Tác động của rủi ro thiên tai tới cộng đồng ven biển
Việt Nam có đường bờ biển dài 3260km chạy dọc theo chiều dài đất nước.Trung bình khoảng 100km2 đất liền ở Việt Nam có 1km đường bờ biển trong khi trênthế giới khoảng 600km2 đất liền có 1km đường bờ biển
Bảng 2.3:Diện tích,dân số và mật độ dân số vùng ven biển Việt Nam năm 2010
(km 2 )
Dân số TB ( nghìn người)
Mật độ dân số ( người /km 2 )
Trang 7tế năng động nhất cả nước Ngoài các hoạt động truyền thống như : nuôi trồng thủysản, đánh bắt thủy hải sản,làm muối…, các hoạt động thương mại, du lịch, giải trí…cũng đang được đẩy mạnh, qua đó đời sống của người dân ven biển ngày càng đượccải thiện.
Tuy nhiên, vùng ven biển lại cũng là một khu vực nhạy cảm và dễ bị tổn thươngnhất bởi tác động của thiên tai: bão lũ, xói mòn… đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khíhậu hiện nay Trong những năm qua,dưới tác động của biến đổi khí hậu, tần suất vàcường độ của thiên tai ngày càng gia tăng ở Việt Nam, gây ra nhiều tổn thất to lớn vềngười, tài sản, các cơ sở hạ tầng về kinh tế, văn hóa, xã hội và tác động xấu đến môitrường Trong giai đoạn 2001-2010, các loại thiên tai như bão, lũ, lũ quét, sạt lở đất,úng ngập, hạn hán, xâm nhập mặn, và các thiên tai khác đã làm thiệt hại về tài sản ướctính chiếm khoảng 1.5% GDP/ năm ( Chiến lược Quốc gia về Biến đổi khí hậu, 2011)
Bảng 2.4 : Các sự kiện thiên tai lớn trong thập kỷ qua (1997-2009)
Trang 8người chết
bị thương người
mất tích
hại kinh
tế (tỷ đồng )
Nguồn: Ban chỉ đạo phòng chống lụt bão trung ương, 2013
Thiệt hại lớn nhất và nghiêm trọng nhất do thiên tai là thiệt hại về người Sốliệu thống kê cho thấy từ 1989 – 2013 ở nước ta đã có gần 11.000 người chết, hơn100.000 người bị thương và hơn 8 triệu người bị tác động xấu bởi các loại thiên tai
Bảng 2.5 : Thiệt hại về người do thiên tai xảy ra ở nước ta trong giai đoạn 1990 – 2000
Trang 9Số người chết
+ Số trẻ em dưới 16 tuổi
5.295530
4.4481029
1.050-
10.7931.559
Số ngưởi bị ảnh hưởng 5.206.919 3.306.307 - 8.243.22
6
Nguồn : ủy ban phòng chống bão lụt trung ương,2014
Các hoạt động sinh kế chính của các hộ gia đình ven biển luôn gắn liền với việc
sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có và tài nguyên biển như: đất, nước vàthủy sản Tuy nhiên đây là những nguồn tài nguyên nhạy cảm với biến đổi khí hậu, rủi
ro thiên tai Chính vì vậy, trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, làmmuối là những ngành dễ bị tổn thương nhất trước tác động của rủi ro thiên tai, biến đổikhí hậu
Trồng trọt, chủ yếu là trồng lúa là hoạt động kinh tế quan trọng nhất của vùngven biển Việt Nam, cung cấp lương thực và thu nhập cho người dân, chủ yếu là đồngbằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long Ngoài ra, việc xen canh kết hợp lúa-màu, gối vụ, áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác, khoa học kỹ thuật vào trồng trọt
và việc kết hợp chăn nuôi đã làm tăng năng suất và thu nhập cho các hộ gia đình Tuynhiên, do là ngành dễ bị tổn thương nhất với rủi ro thiên tai nên hàng năm, thiệt hại vềnông nghiệp luôn là thiệt hại nghiêm trọng
Bảng 2.6: Thiệt hại do thiên tai gây ra đối với nông nghiệp ở nước ta
Trang 10Nguồn : Văn phòng thường trực CLBTW, 2012
Nếu quy đổi các thiệt hại trên ra tiền thì trung bình hàng năm thiên tai có thểgây ra thiệt hại gần 800 tỷ đồng/năm tương đương với khoảng gần 5,5 triệu USD.Mức thiệt hại của lĩnh vực nông nghiệp chiếm bình quân hơn 11 % so với tổng thiệthại về kinh tế mà thiên tai gây ra cho tất cả các lĩnh vực ở nước ta ( Bộ Nông Nghiệp
và Phát triển Nông thôn, 2011)
Đánh bắt thủy sản là một sinh kế quan trọng của nhiểu hộ gia đình ở vùng venbiển mặc dù chi phí đầu tư tàu, thuyền, xăng dầu cao và mức độ rủi ro đến tính mạngcao cũng như sản lượng, giá cả phụ thuộc theo mùa Nam giới thường thực hiện đánhbắt gần bở hoặc xa bờ, còn nữ giới thường đánh bắt ở sông, gần bờ và tham gia hoạtđộng mua bán và chế biến thủy hải sản Đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản, khôngphải hộ gia đình nào cũng có đủ tiềm lực kinh tế để thực hiện Chỉ có một số hộ khágiả mới có khả năng thực hiện Những năm gần đây, do dịch bệnh, ô nhiễm môitrường nước, ngọt hóa do lũ lụt, muối hóa do xâm nhập mặn và hạn hán, thay đổi thờitiết, khí hậu nên sản lượng nuôi trồng giảm, có hộ lỗ hàng trăm triệu trong một vụ Dophụ thuộc vào nguồn nước và sự phong phú của nguồn lợi ven biển, nên ngành thủysản là một trong những lĩnh vực nhạy cảm và dễ bị tổn thương do sự thay đổi môitrường sống sau khi bị ảnh hưởng của thiên tai hay sự tàn phá của thiên tai với hệ sinhthái ven biển như rừng ngập mặn và san hô Vậy nên thiệt hại do thiên tai đối vớingành thủy sản là thiệt hại lớn hàng năm
Bảng 2.7: Thiệt hại của ngành thủy sản do thiên tai
Diện tích ao, hồ nuôi tôm cá vỡ ( ha)
Trang 11Nguồn : tổng hợp báo cáo thiệt hại thiên tai qua các năm
Việt Nam có bờ biển dài, điều kiện thiên nhiên ưu đãi, nguồn nước biển dồi dào, nồng độ nước biển khá cao cùng với người dân cần cù, chịu khó và có nhiều kinhnghiệm nên sản xuất muối luôn là ngành lợi thế của nước ta Nhưng do mùa vụ sản xuất muối trùng với mùa mưa bão, lũ, triều cường và thời tiết diễn biến thất thường gây ra các trận mưa trái vụ đã ảnh hưởng lớn đến công trình hạ tầng đồng muối cùng đời sống của diêm dân Trong những năm gần đây, do giá muối xuống thấp, thu nhập không ổn định nên một số nơi đã chuyển đổi đất muối sang trồng màu hoặc nuôi trồngthủy sản để nâng cao thu nhập cho người dân ven biển
2.1.4 Xu hướng và diễn biến của thiên tai ở Việt Nam.
Trong khoảng 50 năm qua ( 1958 – 2007), nhiệt độ trung bình năm ở Việt Namtăng khoảng 2-3oC Mực nước biển tại trạm Hòn Dáu trung bình dâng khoảng3mm/năm; tức đã dâng khoảng 20 cm trong vòng 50 năm qua Lượng mưa trung bình
Trang 12trên cả nước trong 50 năm qua đã giảm khoảng 2%/ năm mặc dù lượng mưa có xuhướng tăng ở vùng khí hậu phía Nam và giảm ở vùng khí hậu miền Bắc.
Bảng 2.8 Mức tăng nhiệt độ và mức thay đổi lượng mưa trong 50 năm qua của các vùng khí hậu việt nam
Tháng I Tháng VII Năm Thời kỳ
XI-IV
Thời kỳV-X
Nguồn : Kịch bản BĐKH và NBD cho Việt Nam- Bộ TN&MT, 2011
Ở Việt Nam, trong bối cảnh BĐKH, thời tiết sẽ trở nên nóng hơn, hạn hán khắcnghiệt hơn, mưa rét kéo dài nhiều hơn, lượng mưa ít hơn nhưng cường độ mưa lớn vàbất thường hơn, và bão xảy ra nhiều hơn Đối với vùng ven biển Việt Nam, các hiệntượng thiên tai thường xuyên xảy ra là: hạn hán, bão, gió lốc, lũ quét và mưa lớn.Vùng ven biển miền Trung là khu vực chịu ảnh hưởng nhiều nhất của các hiện tượngthiên tai như thời tiết khô và nắng kéo dài, hạn hán nghiêm trọng, bão diễn ra sớm vàthường xuyên hơn, lũ quét và mưa lớn thường xuyên gây lụt lội… Sự gia tăng cáchiện tượng khí hậu cực đoan, cả về tần suất và cường độ, là mối đe dọa thường xuyên,trước mắt và lâu dài với tất cả các lĩnh vực, các vùng và các cộng đồng ở Việt Nam,trong đó vùng ven biển là khu vực bị tổn thương nhiều nhất
Thách thức của ngành nông nghiệp trước BĐKH:
- Tình trạng ngập lụt làm mất đất canh tác ( 40% diện tích đồng bằng sôngCửu Long sẽ bị ngập nếu mực nước biển dâng thêm 1m vào cuối thế kỷ 21)
Trang 13- Tình trạng xâm nhập mặn làm thu hẹp diện tích đất nông nghiệp ( nếunước biển dâng cao 1m thì khoảng 1.77 triệu ha sẽ bị nhiễm mặn, chiếm 45% diện tíchđất ở đồng bằng sông Cửu Long và ước tính rằng có khoảng 85% người dân ở đây cầnđược hỗ trợ về nông nghiệp (ISPONRE, 2009).
- Nhiệt độ tăng ảnh hưởng đến sinh trường, năng suất, thời vụ gieo trồngTheo dự đoán vào năm 2070, số ngày có nhiệt độ dưới 20oC sẽ giảm xuống từ0-50 ngày và số ngày có nhiệt độ trên 25oC tăng lên từ 0-80 ngày Năng suất lúa xuân
ở vùng đồng bằng sông Hồng có thể giảm 3.7% vào năm 2020 và giảm tới 16.5% vàonăm 2070; năng suất lúa mùa sẽ giảm 1% vào năm 2020 và giảm tới 5% vào năm
2070 nếu không có các biện pháp ứng phó kịp thời và hiệu quả ( Nguyễn Mậu Dũng,2010)
Thách thức của ngành thủy sản:
- Đối với hoạt động đánh bắt, BĐKH làm thay đổi môi trường sống của cáloài thủy sản ( ô nhiễm, nhiệt độ tăng…) dẫn đến sự thay đổi trữ lượng, đa dạng loàigiảm, thay đổi quần xã sinh vật về cấu trúc và thành phần từ đó làm thu hẹp ngưtrường đánh bắt và sản lượng đánh bắt
- Đối với hoạt động nuôi trồng, xâm nhập mặn làm mặn hóa hoặc lũ làmngọt hóa đều làm chậm quá trình sinh trưởng của các loài thủy sản Triều cường thayđổi đột ngột và gây lụt lội ở những vùng đất trũng ven biển làm ảnh hưởng đến nguồnnước ở những đầm nuôi thấp hơn mực nước biển
Tóm lại, mưa nhiều, mưa lớn bất thường, số cơn bão tăng xảy ra trái mùa, gióbão mạnh hơn, đường đi của bão kỳ dị, những trận lũ quét, sạt lở đất, nắng nóng, hạnhán khốc liệt, xuất hiện các đợt lạnh giá ngoài mong muốn đều là những minh chứng
cụ thể về biến đổi khí hậu đã và đang ảnh hưởng ngày càng sâu rộng đến các vùngmiền trong cả nước
2.2 Tổng quan về tính dễ bị tổn thương
2.2.1 Khái niệm
TTDBTT có xuất xứ từ nghiên cứu hiểm họa tự nhiên hoặc an ninh lương thực,hiện còn là một khái niệm còn gây tranh cãi ( K Vincent 30) Khái niệm TTDBTT
Trang 14được hiểu theo nhiều cách khác nhau, do đó cũng được ứng dụng theo nhiều hướngkhác nhau.
Theo viện giảm nhẹ thiên tai( Disater reduction institue-DIR) thì TTDBTT là sựkết hợp của các yếu tố về mức độ tiếp xúc( exposure), mức độ nhạy cảm (suscepbility)
và khả năng thích ứng ( coping capacity)
Turner ( chủ tịch ủy ban BĐKH Anh) và các tác giả khác( 2003) miêu tảTTDBTT là hàm số có 3 đặc điểm: mức độ tiếp xúc (exposure) , mức độ nhạy cảm(sensitivity) và khả năng thích ứng ( adaptation capacity) Metzger và các tác giả khác(2006) đã lý thuyết hóa khái niệm này và biểu diễn bằng toán học TTDBTT (V) làhàm gồm mức độ tiếp xúc ( E), độ nhạy (S) và khả năng ứng phó (AC)
V= f(E,S,AC)Cũng theo Turner thì TTDBTT có thể được biểu thị là hàm của các tác độngtiềm tàng( potential impacts-PI) và khả năng thích ứng ( adaptation capacity):
V= f(PI,AC)Theo định nghĩa Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu ( IPCC 2007) thì:
“Tình trạng dễ bị tổn thương là mức độ (degree) mà ở đó một hệ thống dễ bịảnh hưởng và không thể ứng phó với các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, gồmcác dao động theo quy luật và các thay đổi cực đoan của khí hậu Tình trạng dễ bị tổnthương là hàm số của tính chất, cường độ và mức độ (phạm vi) của các biến đổi vàdao động khí hậu, mức độ nhạy cảm và khả năng thích ứng của hệ thống (IPCC 2001,p.995)”
Do đó TTDBTT (Vulnerability) có thể được biểu thị là hàm của độ phơi nhiễm(Exposure), độ nhạy (Sensitivity) và khả năng thích ứng (Adaptation Capacity)
Khả năng thích ứng
TTDBTT
Trang 15 Độ phơi nhiễm (Exposure) được IPCC định nghĩa là bản chất và mức độđến một hệ thống chịu tác động của các biến đổi thời tiết đặc biệt.
Độ nhạy (Sensitivity) là mức độ của một hệ thống chịu tác động (trựctiếp hoặc gián tiếp) có lợi cũng như bất lợi bởi các tác nhân kích thích liên quan đếnkhí hậu
Khả năng thích ứng (Adaptive Capacity) là khả năng của một hệ thốngnhằm thích nghi với biến đổi khí hậu (bao gồm sự thay đổi cực đoan của khí hậu),nhằm giảm thiểu các thiệt hại, khai thác yếu tố có lợi hoặc để phù hợp với tác độngcủa biến đổi khí hậu
- Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, tính dễ bị tổn thương: “Khả năng( tính) dễ bị tổn thương do tác động của biến đổi khí hậu là mức độ mà một hệ thống( tự nhiên, xã hội, kinh tế) có thể bị tổn thương do biến đổi khí hậu, hoặc không cókhả năng thích ứng với những tác động bất lợi của biến đổi khí hậu” ( Bộ Tài nguyên
và Môi trường, 2008)
- Đối tượng dễ bị tổn thương là nhóm người có đặc điểm và hoàn cảnhkhiến họ có khả năng phải chịu nhiều tác động bất lợi hơn từ thiên tai so với nhữngnhóm người khác trong cộng đồng Đối tượng dễ bị tổn thương bao gồm trẻ em, ngườicao tuổi, phụ nữ đang mang thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, người khuyếttật, người đang bị bệnh hiểm nghèo và người nghèo ( Luật môi trường, 2013)
2.2.2 Mục đích ĐGTDBTT
Quá trình đánh giá tính dễ bị tổn thương ( ĐGTDBTT) thực chất là quá trìnhxem xét và đánh giá những yếu tố dẫn tới tình trạng dễ gặp rủi ro, thiệt hại, mất mátcủa cộng đồng khi có thiên tai xảy ra; phân tích các nguyên nhân sâu xa của tình trạng
dễ bi tổn thương ( TTDBTT); TTDBTT của các nhóm đối tượng khác nhau trongcộng đồng như người già/người trẻ, nam giới/nữ giới, người lớn/trẻ em, người nghèo/người giàu… Và quá trình ĐGTDBTT là một phần trong quá trình đánh giá rủi rothiên tai thông qua công thức:
RRTT=
Hiểm họa x tình trạng dễ bị tổn thương
Khả năng ( năng lực cộng đồng)
Trang 16( Nguồn: Bộ Nông nghiêp và phát triển nông thôn, 2014)
Đánh giá mức độ tổn thương của cộng đồng ven biển với rủi ro thiên tai là hếtsức quan trọng vì nó cung cấp những thông tin làm cơ sở định hướng cho những giảipháp thích ứng đồng thời là cơ sở xây dựng chiến lược, chính sách, quy hoạch chovùng, quốc gia, lãnh thổ hay cộng đồng cũng như từng ngành, lĩnh vực cụ thể
Kết quả của ĐGTDBTT chỉ ra ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, xã hội, vật lý,
… của rủi ro thiên tai và năng lực thích ứng hiện tại của cộng đồng trước rủi ro thiêntai và các hạn chế, rào cản và cơ hội liên quan đến việc thực hiện các chính sách vàcác biện pháp thích ứng Qua đó, các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách có nhữngphân tích, nhận xét, hiểu rõ về tính chất của cộng đồng dân cư và các hệ sinh thái Từ
đó, họ có thể đưa ra những biện pháp, chương trình nhằm giảm nhẹ rủi ro, nâng caonhận thức, khả năng đối phó phù hợp của cộng đồng với rủi ro thiên tai
ĐGTDBTT chỉ ra các khu vực, các nhóm người và các hệ sinh thái trong tìnhtrạng rủi ro cao nhất, nguồn gốc tổn thương và làm thế nào để giảm thiểu hay loại bỏcác tổn thương này Vì thế, xác định các vùng và các nhóm người ở mức độ rủi ro caonhất và đánh giá nguồn gốc, nguyên nhân các tổn thương là rất cần thiết cho việc thiết
kế và thực hiện các giải pháp tăng cường năng lực thích ứng
2.3 Tổng quan các phương pháp nghiên cứu tính dễ bị tổn thương
2.3.1 Trên thế giới
2.3.1.1 Phương pháp của Ban Liên chính phủ về BĐKH ( IPCC)
Khung phương pháp luận ĐGTDBTT của IPCC được đề xuất đầu tiên năm
1992, khung đánh giá này kết hợp chặt chẽ đánh giá của các chuyên gia cùng với việcphân tích các dữ liệu về kinh tế - xã hội và các đặc trưng về mặt vật lý để hỗ trơngười sử dụng trong việc đánh giá toàn diện tác động của nước biển dâng Khungđánh giá này gồm 7 bước: (1) Mô tả vùng nghiên cứu; (2) xác định, kiểm kê các đặctrưng của vùng nghiên cứu; (3) xác định các nhân tố phát triển kinh tế - xã hội liênquan; (4) đánh giá cả thay đổi về mặt vật lý; (5) thiết lập chiến lược ứng phó; (6) đánh
Trang 17giá tình trạng dễ bi tổn thương; và (7) xác định nhu cầu trong tương lai Việc thíchứng tập trung vào 3 lựa chọn là né tránh, thích nghi và phòng vệ.
Phương pháp này được sử dụng hiệu quả tương tự như các phân tích cơ sở và làtiền đề cho các nghiên cứu ở mức độ cấp quốc gia và đặc biệt cho những nơi mà hiểubiết về dạng tổn thương ven biển còn hạn chế
2.3.1.2 Mô hình đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương BBC
Một khung đánh giá liên quan đến rủi ro và tình trạng dễ bị tổn thương đượcphát triển bởi Birkmann và Bogardi (2004) tại Đại học Liên Hợp Quốc, Viện Bảo vệcon người và môi trường (UNU-EHS- institule for Environment and Human Security).Khung đánh giá này được gọi là mô hình BBC, mô hình này dựa trên mô hình củaCardona (2004b) và tổng hợp các khía cạnh về tình trạn thích ứng và tác động trongkhía cạnh dễ bị tổn thương do Chambers và Bohle đề xuất Có 3 loại dễ bị tổn thươngđược miêu tả trong mô hình BBC, đó là tổn thương về kinh tế, xã hội và môi trường
Hình 2.2: Mô hình kết hợp mức độ tiếp xúc và khả năng thích ứng vào tình trạng dễ bi tổn thương
Nguồn: Birkmann,2005
Trang 18Mô hình này sử dụng 4 kỹ thuât chính để xác định, đinh lượng và đánh giá tìnhtrạng dễ bị tổn thương, tình trạng thích ứng và xen kẽ với các công cụ phù hợp tậptrung vào các nguồn dữ liệu khác nhau, các đăc tính khác nhau của tình trạng dễ bi tổnthương, 4 kỹ thuật đó là:
- Đánh giá môi trường sử dụng viễn thám
- Đánh giá cơ sở hạ tầng chủ yếu và các lĩnh vực dễ bị tổn thương
- Đánh giá tình trạng dễ bi tổn thương của các nhóm xã hội khác nhau sửdụng bảng câu hỏi phỏng vấn điều tra
- Đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương của các nhóm xã hội và cộng đồngđia phương dựa trên các số liệu thống kê và các chỉ tiêu cơ bản
2.3.1.3 Đánh giá tính dễ bị tổn thương qua chỉ số của SOCMON
Hình 2.3:Khung đánh giá tính dễ bị tổn thương xã hội (Marshall, et at, 2010, p:5)
Sáng kiến kinh tế xã hội giám sát toàn cầu về quản lý ven biển đã đưa ra 10 chỉ
số để đánh giá tính dễ bị tổn thương xã hội :
CC1: Đặc điểm dân cư
ẩn
Trang 19CC2: Mức độ phụ thuộc vào các nguồn lực tự nhiên.
CC8: Khả năng tái tổ chức của cộng đồng
CC9: Sự lãnh đạo của chính quyền
CC10: Tính công bằng trong tiếp cận với tài nguyên
Hầu hết các chỉ tiêu này có liên quan đến khả năng thích ứng xã hội, được xácđịnh bởi một loạt những yếu tố liên quan đến điều kiện văn hóa xã hội, kinh tế và điềukiện chính trị của cộng đồng cũng như sự liên quan đến quản lý và thể chế Tính phứctạp của khả năng thích ứng xã hội yêu cầu chúng ta phải cso sự cân nhắc về đặc điểm
xã hội của các nhân, hộ gia đình, cộng đồng Thông tin liên quan đến khả năng thíchứng xã hội rất hữu ích vì nó giúp xác định tổn thương của con người đối với BĐKH,
do đó, cung cấp hướng dẫn việc lập kế hoạch và chiến lược thích ứng một cách dễdàng Để thích ứng hiệu quả, cần thiết phải cải thiện và nâng cao khả năng thích ứngtrong khi giảm độ phơi nhiễm và nhạy cảm với các hiện tượng và ảnh hưởng của khíhậu
Trang 20Hình 2.4 : Kỹ thuật và áp dụng của đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương
Đánh giá
Xây dựngGiải pháp
GIÁMSÁT
KIỂM TRA
D Ự B Á O
HÀNHĐỘNG
- Giảm tình trạng dễ bị tổn thương
- Phân tích cơ hội thích ứng
- Quy hoạch phát triển ngành
- Quy hoạch sử dụng đất
- Đầu tư phát triển
- Bảo vệ tài nguyên và năng lực giảm thiểu
- Bảo hiểm và tái bảo hiểm
- Chuẩn bị thích ứng tình trạng khẩn cấp
- Tái phát triển và đầu tư sau thiên tai
Trang 21Hình 2.5 : Sơ đồ đánh giá tính trạng dễ bị tổn thương, thích ứng và hành động
Nguồn: Văn phòng phát triển quốc tế Canada, 2006 2.3.2 Tại VIỆT NAM
Đối với Việt Nam, hiện tại về phương pháp đánh giá tình trạng dễ bị tổn thươngchưa có sự thống nhất về phương pháp, các phương pháp được sử dụng đều dựa trêncăn bản là đánh giá và quản lý rủi ro thiên tai
2.3.2.1 Đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương và khả năng ( VCA)
Đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương và khả năng ( VCA) gồm một quá trìnhthu thập và phân tích thông tin về các hiểm họa mà người dân ở địa phương phải đốimặt, mức độ khác nhau của tình trạng dễ bị tổn thương và khả năng ứng phó với cáchiểm họa xảy ra đơn lẻ hoặc đồng thời, và khả năng phục hồi sau đó (Hội Chữ thập
đỏ Việt Nam, 2010)
Mục đích chính của VCA là cho phép cộng đồng xác định và hiểu về tình trạng
dễ bị tổn thương, khả năng của họ và các hiểm họa mà họ đang phải đối mặt Việc nàygiúp xác định các ưu tiên ở địa phương để giảm tình trạng dễ bị tổn thương quanh họ
và phát triển năng lực của cộng đồng Kết quả của VCA là cơ sở để cộng đồng lập kếhoạch quản lý rủi ro thảm họa dựa vào cộng đồng
Các yếu tố của VCA
Tình trạng dễ bị tổn thương được xác định trong quan hệ với 5 thành phần, hàmchứa hầu hết các khía cạnh mà con người phải chịu đựng trong một hiểm họa tự nhiên
cụ thể Một khi đã liên hệ VCA với các thành phần khác nhau của tình trạng dễ bị tổnthương và hiểu được mối quan hệ giữa chúng, sẽ dễ xác định các khả năng liên quancần phải tăng cường 5 thành phần này là:
- Sinh kế và khả năng hồi phục xác định các điều kiện sống và liên quan đếntạo nguồn thu nhập Việc này lại quyết định điều kiện nhà ở và khu vực sống an toàncủa người dân (sự tự bảo vệ) Nhiều đánh giá VCA cho thấy để có thể giảm tình trạng
dễ bị tổn thương thì cần bảo vệ và tăng cường sinh kế cho người dân
Trang 22- Các điều kiện sống cơ bản về sức khỏe (gồm cả sức khỏe tinh thần) và dinhdưỡng, rất quan trọng đối với khả năng hồi phục, đặc biệt trong trường hợp thảm họalàm giảm nguồn lương thực và tăng nguy cơ về sức khỏe.
- Sự tự bảo vệ có liên quan đến việc có một sinh kế đầy đủ để có thể đáp ứngcho việc bảo vệ nhà và tài sản Khả năng để xây một ngôi nhà có thể đứng vững trongthảm họa (như động đất và bão) phụ thuộc một phần vào nguồn thu nhập, mặc dù cácyếu tố văn hóa và hành vi cũng ảnh hưởng đến việc người dân ưu tiên cho việc bảo vệbản thân trước các hiểm họa không thường xuyên Sự trợ giúp cần thiết về các kỹnăng và kỹ thuật và trợ giúp khuyến khích sự tuân thủ các biện pháp bảo vệ
- Sự bảo vệ của xã hội nói chung là do các tổ chức địa phương (như các nhóm
tự giúp, chính quyền địa phương, các tổ chức phi chính phủ, v.v.) cung cấp Nó baogồm các biện pháp phòng ngừa khi người dân không tự giải quyết được, ví dụ như bảo
vệ khỏi lũ lụt hoặc tuân thủ các nguyên tắc xây dựng
- Tổ chức xã hội/chính quyền thể hiện qua việc hoạt động của bộ máy quyền lựctrong việc xác định, phân bổ các nguồn lực, nguồn thu nhập và sự có mặt và hoạt độngcủa các tổ chức dân sự
Đối với mỗi thành phần, có thể chia tình trạng dễ bị tổn thương thành 3 loại nhưtrình bày kèm theo các ví dụ trong bảng dưới đây
Bảng 2.9: Ví dụ về 3 loại tình trạng dễ bị tổn thương
1.Vật chất Nhà cửa và đất ruộng của cộng đồng nằm ở các vị trí dễ
xảy ra hiểm họa
Thiết kế và vật liệu xây dựng nhà cửa Thiếu cơ sở hạtầng cơ bản (đường xá, đê kè v.v.) các dịch vụ cơ bản (y
Trang 23bình đẳng trong các vấn đề của cộng đồng.
Các tổ chức cộng đồng thiếu hoặc yếu3.Thái độ/ động cơ Thái độ tiêu cực đối với thay đổi
Thụ động, trông chờ vào số phận, mất hy vọng, phụ thuộc
Thiếu sáng kiến hoặc tinh thần đấu tranh
Phụ thuộc vào sự hỗ trợ từ bên ngoài
Nguồn: Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, 2010 2.3.2.2 Đánh giá tính dễ bị tổn thương dựa vào cộng đồng
Quá trình đánh giá tính dễ bị tổn thương ( ĐGTDBTT) thực chất là quá trìnhcộng đồng đi xem xét và đánh giá những yếu tố dẫn tới tình trạng dễ gặp rủi ro, thiệthại, mất mát của cộng đồng khi có thiên tai xảy ra; phân tích các nguyên nhân sâu xacủa tình trạng dễ bi tổn thương ( TTDBTT); TTDBTT của các nhóm đối tượng khácnhau trong cộng đồng như người già/người trẻ, nam giới/nữ giới, người lớn/trẻ em,người nghèo/người giàu…
Quá trình đánh giá tính dễ bị tổn thương có thể được thực hiện theo 5 lĩnh vựcnhư trong hình 2.7
Điều kiện sống cơ bản
Sinh kế
Tổ chức/
chính quyền
Sức khỏe,
vệ sinh, môi trường
An toàn cộng đồng
Các lĩnh vực đánh giá
Trang 24Hình 2.6 : Các lĩnh vực liên quan tới đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương của cộng đồng
Mặc dù đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương của cộng đồng liên quan tới 5 lĩnhvực như trên song nội dung của nó có thể được quy về đánh giá theo 3 nội dung là:
Dễ tổn thương về mặt vật chất: Bao gồm các yếu tố như:
Dân cư, nhà ở, hệ thống cơ sở hạ tầng( điện , đường, trường, trạm…)
Các phương tiện phục vụ cho quá trình sản xuất: vật tư nông nghiệp, nông
cụ, vốn, giống cây trồng, giống vật nuôi,…
An ninh lương thực và các dịch vụ cơ bản như: Giáo dục, y tế, thông tinliên lạc, điện, nước…
Dễ tổn thương về mặt xã hội/ tổ chức
Sự liên kế lỏng lẻo giữa các thành viên trong cộng đồng
Sự bất bình đẳng khi tham gia các công việc trong cộng đồng
Thói quen, hủ tục lạc hậu
Sự thiếu hụt các tổ chức, đoàn thể trong cộng đồng như: Hội phụ nữ,Đoàn thanh niên, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh…
Dễ tổn thương về mặt kiến thức/kỹ năng
Cộng đồng có tư tưởng thụ động, bi quan, ỷ nại, lệ thuộc
Thiếu sự đoàn kết, tính phối hợp không cao
Có tư tưởng tiêu cực và có những hoạt động tín ngưỡng mang tính chátcản trở
Các thành viên trong cộng đồng thiếu kỹ năng ứng phó với thiên tai Ví dụnhư nhiều phụ nữ và trẻ em không biết bơi
Các thông tin liên quan tới quá trình đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương có thểđược trình bày trong một bảng tổng hợp để tiện theo dõi gọi là bảng Đánh giá tính dễ
bị tổn thương của cộng đồng
Bảng 2.10 : Bảng đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương của một cộng đồng
Đối tượng Vật chất Tổ chức xã hội Thái độ/động cơ
Trang 25Cá nhân Người
lớn
Nước sạch, công việc, thu nhập, khác…
Yếu kém hình thể, sức khỏe
…
Tham gia
tổ chức nào? Có được quan tâm không?
Tham gia họp nhóm
gì không?
Khác…
Thái độ tham gia thế nào? Tích cực hay không?
hộ, Nước sạch khác
Tổ chức nào giúp gia định, địa phương?
Tham gia hoạt động
xã hội nào không?
Khác … Ý thức gia
đình với hoat động phòng ngừa thảm họa như thế nào?
Tham gia hoạt động gì?
Khác …
Cộng đồng Tỷ lệ hộ
nghèo
Số nhà tam bợ
Phương tiện ứng cứu
Dịch vụ y tế
Điều kiện sinh sống Nước sạch khác
Có thành lập tổ nào?
Hoạt động gì?
Kết quả?
Ai quan tâm?
khác
Tổ chức nào mạnh/yếu Tinh thần giúp đỡ lẫn nhau
Khác
Quan tâm bảo quản đường xá, nơi công cộng thế nào?
Nguồn: Hội Chữ Thập Đỏ Tiền Giang, Sở Nông Nghiệp & Phát triển Nông thôn
Tiền Giang và Oxfam, 2005
2.4 Các nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương tại Việt Nam
Từ những năm cuối của thế kỷ XX, các nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương bắtđầu được nghiên cứu tại Việt Nam
Năm 1994-1996, Tom và cộng sự đã nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương củađới bờ biển Việt Nam do sự gia tăng mực nước biển dâng và BĐKH và nghiên cứu đãchỉ ra khả năng rủi ro cao cho khoảng 17 triệu người dân ở các đồng bằng ven biển
Năm 1999, Adger và cộng sự đã nghiên cứu TDBTT ở khía cạnh xã hội và khảnăng phục hồi ở Việt Nam khi môi trường thay đổi ở huyện Giao Thủy, tỉnh NamĐịnh Adger đã kết luận năng lực thích nghi của người dân bị ảnh hưởng khi phải đối
Trang 26mặt với sự thay đổi về thể chế tổ chức và những ảnh hưởng của sự BĐKH do sự đổimới về kinh tế bắt đầu từ giữa thập kỷ 80 đã làm năng tính bất công bằng trong thunhập và phúc lợi địa phương.
Năm 2001 – 2002, trong đề tài: “ Nghiên cứu, đánh giá tính dễ bị tổn thươngcủa đới duyên hải Nam Trung Bộ làm cơ sở khoa học để giảm nhẹ tai biến, quy hoạch
sử dụng đất bền vững”, GS Mai Trọng Nhuận và nhóm nghiên cứu đã xây dựng đượcphương pháp luận và quy trình đánh giá TDBTT cho đới duyên hải
Năm 2005, trong nghiên cứu về TDBTT tại đới ven biển Hải Phòng, Lê ThịThu Hiền đã thành lập được bản đồ TDBTT và nghiên cứu đã chỉ ra khu vực củaTDBTT cao tập trung ở khu vực nội thành cũ, khu vực nuôi trồng thủy hải sản, rừngphòng hộ ven biển và khu bảo tổn san hô
Năm 2010, đề tài “ đánh giá tổn thương và khả năng thích nghi ở hộ gia đìnhtrước thiên tai và biến đổi khí hậu trong khu vực thuộc Quận Bình Thủy và huyệnVĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ” của Lê Anh Tuấn, Trần Thị Kim Hồng đã chỉ rangười dân tại khu vực nông thôn bị tổn thương do các tác động của biến đổi khí hậunhiều hơn so với người dân sống ở vùng đo thị hoặc ven đô Trẻ em, người già, ngườikhuyết tật và người nghèo là các nhóm bị tổn thương nhất Việc phòng ngừa thiên taicủa người dân địa phương chưa đủ tốt Sự chuẩn bị của người dân, thông tin, tập huấn
từ chính quyền và cá tổ chức dân sự liên quan đến ô nhiễm, thiên tai, biến đổi khí hậuđến với dân chúng chưa nhiều và chưa làm thay đổi nhiều về hành vi của người dân.Tác giả cũng đưa ra một số khuyến cáo cho việc giảm nhẹ tổn thương và nâng cao khảnăng thích ứng cho địa phương
Năm 2012, “ nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứngtại xã Trung Bình huyện Trần Đề và xã An Thạnh Nam huyện Cù Lao Dung, Sóc
Trăng của Tổ Chức Bảo Tồn Thiên Nhiên Quốc Tế (IUCN) trong dự án Tăng cường Sức chống chịu đối với biến đổi khí hậu của vùng ven biển Thái Lan, Campuchia và Việt Nam Kết quả ngiên cứu chỉ ra rằng: về độ nhạy cảm: các nghề trồng mía, nuôi
tôm cua, trồng màu và đánh bắt thủy sản ven bờ; các hệ sinh thái thủy sản ven bờ ( tàinguyên tôm, cua, nghêu, cá…) và trong rừng ngập mặn là những đối tượng dễ bị tổn
Trang 27thương nhất bởi BĐKH Bên cạnh đó, còn nhiều hộ phải sống sóng bất hợp phápngoài vùng quy hoạch, cơ sở hạ tầng đường xá, trường học chưa đầy đủ, và nhiều hộdân không có đất sản xuất Về độ tiếp xúc, tác giả kết luận triều cường, lốc xoáy, mưabão là những tác động lớn nhất đối với địa phương, gây trở ngại trong phát triển sinh
kế người dân và có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tổn thương của người dân,
đó là trình độ dân trí thấp, thiếu vốn sản xuất, thiếu khoa học kỹ thuật, giá cả sảnphẩm bấp bênh, sử dụng hóa chất trong sản xuất, có quá nhiều người ngoài điaphương vào khai thác trên địa bàn
Năm 2012, Lưu Đức Cường và cộng sự đã thực hiện dự án “Đánh giá tính dễ bịtổn thương với BĐKH phường Xuân Tăng- thành phố Lào Cai” Kết quả dự án đã chỉ
ra rằng loại hình thiên tai phổ biến và gây tác động lớn nhất trên địa bàn phường XuânTăng là bão lũ, sạt lở đất và hạn hán, thiếu nước Là một phường khó khăn, với trên80% người dân sinh sống bằng nghề nông, hệ thống cấp nước sản xuất, sinh hoạt cònnhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng, đường giao thông, thoát nước còn nhiều hạn chế …nên năng lực thích ứng của người dân với thiên tai chưa cao
Năm 2014, trong nghiên cứu “Đánh giá tác động và tính dễ bị tổn thương doBĐKH đối với sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản tại huyện Quảng Ninh,tỉnh Quảng Bình”, Lê Hà Phương đã kết luận:
Các hiện tượng thủy tai đang diễn ra ngày càng khắc nghiệt và thấtthường, mức độ tác động của chúng tới các hoạt động sản xuất là khác nhau Các loạithiên tai tác động đến huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình là mưa lớn, hạn hán, bão,nước biển dâng, xâm nhập mặn và lũ quét Tần suất xuất hiện của bão ít hơn tuy nhiêncường độ của từng trận bão lại gia tăng đáng kể, và gây thiệt hại nghiêm trọng Hạnhán gây tác động và thiệt hại nhiều nhất, sau đó là ngập lụt và mưa lớn canh tác nôngnghiệp và chăn nuôi bị tác động do thủy tai nhiều nhất, sau đó đến nuôi trồng thủy sản
và đánh bắt thủy sản
Năng lực thích ứng thông qua 5 nguồn vốn sinh kế của các hộ gia đình ởmức thấp Các hoạt động sinh kế của các hộ gia đình dễ bị tổn thương do các tác hạicủa thủy tai do vốn con người (số lượng người lao động phụ thuộc cao, trình độ học
Trang 28vấn thấp), vốn vật chất ( thiếu phương tiện vật chất), vốn tự nhiên ( diện tích đất canhtác bình quân của mỗi hộ gia đình thấp), vốn tài chính thấp ( nhiều hộ không có việclàm ổn định), vốn xã hội đa dạng ( tính cộng đồng cao, chính quyền địa phương có hỗtrợ tích cực) nhưng không đủ để khắc phục thiệt hại do thủy tai Hộ nghèo và hộ cậnnghèo là những đối tượng dễ bị tổn thương nhất do thiếu phương tiện sản xuất, đặcbiệt là phương tiện phục vụ trong thời điểm gặp thủy tai như ngập lụt, bão lũ; họkhông có hoặc thiếu đất sản xuất, không có khoản tích lũy.
Người dân đã có những thay đổi linh hoạt để ứng phó với những tác độngcủa các hiện tượng thiên tai
Các hoạt động sản xuất có tính dễ bị tổn thương do tác động của thủy tai
ở các mức khác nhau Hoạt động có tính dễ bị tổn thương cao nhất là hoạt động chănnuôi, sau đó đến canh tác nông nghiệp, đánh bắt thủy sản xếp thứ 3 và hoạt động nuôitrồng thủy sản bị tổn thương ít nhất
Năm 2012, một số nghiên cứu khác như đánh giá TDBTT do lũ lụt, chủ yếu tậptrung vào đánh giá sự mất mát trong lĩnh vực nông nghiệp (FAO, 2004); Giảm thiểuTDBTT do lũ lụt và bão ở tỉnh Quảng Ngãi; và khả năng phục hồi của cộng đồng dân
cư ở đồng bằng sông Cửu Long do tai biến thiên nhiên (chính phủ Úc hỗ trợ thực hiệnnăm 2004-2009); nghiên cứu của Việt Trinh ( 2010) đã đánh giá rủi ro do lũ trên lưuvực sông Thạch Hãn- Quảng Trị dựa trên bản đồ nguy cơ do lũ và bản đồ tính dễ bịtổn thương; nghiên cứu về khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường trong nghien cứutổn thương lũ ở lưu vực sông Đáy của Mai Đặng (2010)
2.5 Quan điểm, chính sách của Việt Nam trong việc quản lý rủi ro thiên tai.
Trong những năm gần đây, chính phủ Việt Nam đã quan tâm, nâng cao việcphòng chống giảm nhẹ rủi ro thiên tai Nhiều chính sách, chiến lược, kế hoạch pháttriển kinh tế- xã hội tại cấp tỉnh và quốc gia trong giai đoạn 2011-2015 và các kếhoạch giai đoạn 2011-2020 cũng đã lồng ghép một số yếu tố về giảm nhẹ rủi ro thiêntai
Chiến lược Quốc gia Phòng chống và Giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020 đã
được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 172/QĐ-TTg ngày
Trang 2916/11/2007 Các mục tiêu trong Chiến lược này là huy động mọi nguồn lực để thựchiện có hiệu quả công tác phòng chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020, nhằmgiảm thiểu thiệt hại về người và tài sản, hạn chế sự phá hủy tài nguyên thiên nhiên, tácđộng đối với môi trường và di sản văn hóa và góp phần quan trọng nhằm bảo đảmphát triển bền vững về quốc phòng và an ninh.
Kế hoạch thực hiện Chiến lược Quốc Gia về Phòng chống và Giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020 được phê duyệt ngày 29/9/2009 với mục đích nhằm thúc đẩy Chiến
lược quốc gia ở các nội dung sau: nâng cao hiệu quả trong công tác điều hành chínhphủ, nâng cao khả năng phối hợp trong quá trình thực hiện của các đơn vị, tổ chức và
kế hoạch hành động; lồng ghép và hài hòa các nhiệm vụ của các đơn vị khác nhau vàcác cấp thẩm quyền địa phương, đảm bảo có sự tham gia của cộng đồng và nhân dân,nâng cao thể chê, chính sách khoa học và công nghệ, và đảm bảo nguồn lực được sửdụng hiệu quả và bền vững
Đề án Nâng cao nhận thức Cộng đồng và Quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 1002/QĐ-TTg ngày
13/7/2009 với mục đích nâng cao nhận thức cộng đồng; thiết lập mô hình hiệu quảtrong quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng- đặc biệt cho các cấp chính quyền vàngười dân địa phương, giảm thiểu thiệt hại về tính mạng và tài sản ( do thiên tai gâyra); hạn chế thiệt hại về tài nguyên thiên nhiên, môi trường và di sản văn hóa; đảm bảo
sự phát triển bền vững, an ninh quốc gia
Chiền lược Quốc gia về Biến dồi khí hậu ( 1012-1050) được Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt tại Quyết định số 2139/QĐ-TTg ngày 05/12/2011 Báo cáo chiến lượcthiết lập 4 mục tiêu phát triển tới 2050:
Đảm bảo an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh nước sạch vàgiảm đói nghèo, cân bằng giới, an ninh xã hội, sức khỏe cộng đồng, tăng chất lượngcuộc sống và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên trong bối cảnh BĐKH
Xu hướng phát triển kinh tế cacbon thấp, tăng trưởng xanh theo hướngphát triển bền vững; giảm thiểu phát thải khí nhà kính, tăng khả năng hấp thụ cacbonnhư một chỉ tiêu trong phát triển kinh tế xã hội
Trang 30Nâng cao năng lực khả năng thích ứng, ứng phó với BĐKH, phát triểnnăng lực trong khoa học và công nghệ khí hậu, bao gồm cả thể chế, chính sách và sửdụng hiệu quả nguồn lực tài chính nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh về kinh tế và vịthế của Việt Nam; lựa chọn những ưu thế trong BĐKH làm cơ hội phát triển kinh tế
xã hội; mở rộng lối sống thân thiện với khí hậu
Chủ động cam kết và đóng góp với cộng đồng quốc tế trong ứng phóBĐKH và tăng cường các hoạt động hợp tác quốc tế trong ứng phó với BĐKH
Chương trình mục tiêu Quốc Gia ứng phó với Biến đổi khí hậu được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 158/2008/ QĐ-TTg ngày 12/02/2008 nhằmđánh giá mức độ tác động biến đổi khí hậu lên các lĩnh vực, các khu vực trong tươnglai; xây dựng kế hoạch hành động thích hợp cho ứng phó hiệu quả trong giai đoạnngắn hạn và dài hạn; đảm bảo sự phát triển bền vững của quốc gia; lựa chọn nhữngđiểm mạnh, thuận lợi để phát triển đất nước theo hướng nền kinh tế phát thải cacbonthấp và hòa nhập với cộng đồng quốc tế trong giảm thiểu tác động của biến đổi khíhậu và bảo vệ hệ thống khí hậu toàn cầu
Khung hành động thích ứng Biến đổi khí hậu, Bộ NN và PTNT 2008-2020 được
Bộ trưởng Bộ NN và PTNT phê duyệt tại quyết định số 2730/QĐ-BNN-KHCN ngày09/5/2009 với mục tiêu giảm thiểu và thích ứng biến đổi khí hậu; giảm phạm vi tànphá và đảm bảo sự phát triển bền vững nông nghiệp trong bối cảnh BĐKH, với trọngtâm bền vững, an toàn cho dân cư đô thị và dân cư các vùng đặc biệt là đồng bằngchâu thổ sông Mê Kong, đồng bằng Bắc Bộ, miền Trung và các khu vực miền núi;đảm bảo sự bền vững của sản xuất nông nghiệp và an toàn lương thực; đảm bảo antoàn hệ thống đê và các công trình dân sự cho hạ tầng kinh tế kỹ thuật phù hợp vớiyêu cầu giảm thiểu rủi ro thiên tai
Bộ tài nguyên và Môi trường ban hành Kịch bản BĐKH cho Việt Nam tháng
6/2009 tới các Bộ, các cấp thẩm quyền, các đơn vị để đánh giá khả năng tác động củaBĐKH tới phát triển kinh tế xã hội và hướng dẫn phát triển kế hoạch hành động thíchứng và giảm thiểu tối đa tác động tiềm tàng của BĐKH trong tương lai
Trang 31Luật phòng chống thiên tai được Quốc hội thông qua vào ngày 19/6/2013 là cơ
sở pháp lý cao nhất trong lĩnh vực phòng chống thiên tai ở Việt Nam nhằm tăngcường cơ cấu thể chế và tổ chức của các cơ quan làm trong lĩnh vực phòng tránh vàgiảm nhẹ thiên tai, quy định trách nhiệm, cơ chế phối hợp và hỗ trợ giảm nhẹ rủi rothiên tai, quy định các nguyên tác hợp tác quốc tế trong phòng chống thiên tai
Song song với luật phòng chống rủi ro thiên tai, chính phủ đã ban hành Nghịđịnh 66/2004/NĐ-CP hướng dẫn cụ thể hơn việc thực hiện một số điều của luật phòngchống thiên tai, Quyết định 46/2014/QĐ-TTg quy định về việc dự báo, cảnh báo vàtruyền tin thiên tai, Quyết định 44/2014/QĐ-TTg quy định chi tiết về cấp độ rủi rothiên tai cho 19 loại hình thiên tai theo luật phòng chống thiên tai và bổ sung thêmmột số loại hình thiên tai khác
Một loạt các Nghị định nhằm nâng cao, kiện toàn cơ cấu tổ chức, quy định chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ chế phối hợp của Ban chỉ đạo phòng chống lụt bãotrung ương, ủy ban quốc gia tìm kiếm cứu nạn và ban chỉ huy phòng chống lụt bão vàtìm kiếm cứu nạn ở các Bộ, ngành và các cấp địa phuong ( Nghị định 14/2010/NĐ-
CP, Quyết định 76/2009/QĐ-TTg), việc vận động, tiếp nhận, phân phối và sử dụngcác nguồn đóng góp tự nguyện hỗ trợ nhân dân khắc phục khó khăn thiên tai, chínhsách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội ( Nghị định 64/2008/NĐ-CP, Nghị định67/2007/NĐ-CP, Quyết định 142/2009/QĐ-TTg)
Các tỉnh thành trên cả nước đã tích cực triển khai các văn bản pháp quy, cácchính sách và kế hoạch trên thực tế Tất cả 63 tỉnh, thành phố trên cả nước đã xâydựng Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược quốc gia Phòng chống và giảm nhẹthiên tai Hầu hết các Bộ ngành có đại diện là thành viên của Ban chỉ đạo phòngchống lụt bão trung ương đề đã xây dựng kế hoạch hành động của ngành trong đó cólồng ghép các vấn đề về phòng tránh, ứng phó, giảm nhẹ rủi ro thiên tai
Năm 2013, Ban chỉ đạo phòng chống lụt bão trung ương bổ sung thêm Hội Liênhiệp phụ nữ Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Ban chỉ đạo tại Quyết định216/QĐ-PCLTTW nhằm công nhận và đẩy mạnh công bằng giới, phát huy tối đã vaitrò giới trong ứng phó và giảm nhẹ thiên tai
Trang 32Bộ xây dựng đã ban hành Bộ Quy chuẩn xây dựng với hơn 1000 tiêu chuẩntrong đó có hơn 10 tiêu chuẩn liên quan đến quản lý rủi ro thiên tai và tiếp tục banhành bộ số liệu về khí tượng, thủy văn và đặc điểm thiên tai của các vùng miền cũngvới các thiết kế xây dựng công trình tương tứng được sử dụng Bộ xây dựng cũng banhành một số mô hình nhà ở có khả năng chịu đựng với bão, lũ lụt để phổ biến cho cáctỉnh áp dụng thí điểm.
Trang 33
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Giao Phong
- Đặc điểm sinh kế của cư dân
- Các thiên tai chính, lịch sử và tác động của chúng tới xã Giao Phong
- Phân tích, đánh giá tính dễ bị tổn thương của cộng đồng ven biển xã Giao Phong
- Đánh giá khả năng ứng phó với rủi ro thiên tai của cộng đồng cư dân xã Giao Phong và đề xuất giải pháp nâng cao khả năng ứng phó với rủi ro thiên tai
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Hướng nghiên cứu:
Áp dụng khung đánh giá tính dễ bị tổn thương về mặt xã hội của SOCMON(Global Socioeconomic Monitoring Initative for Coastal Management) tại địa bàn xãGiao Phong
3.3.2 Phương pháp thu thập, tổng hợp số liệu
Phương pháp này được thực hiện trên cơ sở kế thừa, phân tích và tổng hợp cácnguồn tài liệu, tư liệu, số liệu có liên quan một cách có chọn lọc, từ đó, đánh giáchúng theo yêu cầu và mục đích của nghiên cứu đó là các tài liệu được thu thập từ các
cơ quan cấp huyện, xã như Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu củahuyện Giao Thủy giai đoạn 2011-2015 tầm nhìn 2020; Niên giám thống kê của huyện
Trang 34Giao Thủy, Nghị quyết và Đề án xây dựng nông thôn mới xã Giao Phong, Quy hoạch
sử dụng đất của xã Giao Phong đến năm 2020, báo cáo phòng chống lụt bão xã GiaoPhong,…
3.3.3 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa
- Khảo sát thực địa: vẽ bản đồ lát cắt sinh thái thể hiện địa hình, đặc điểm
thực vật, đất… của địa phương
- Phỏng vấn sâu: phỏng vấn trực tiếp một số cán bộ xã về phòng chống
thiên tai; người có kinh nghiệm và am hiểu tình hình liên quan đến thiên tai tại địaphương; người lớn tuổi Các nội dung phỏng vấn bao gồm tình hình tác động của thiêntai, tính dễ bị tổn thương và khả năng ứng phó của người dân địa phương, những diễnbiến và đánh giá chủ quan của người phỏng vấn về tình hình thời tiết, khí hậu trongnhững năm gần đây
- Điều tra phỏng vấn hộ gia đình bằng phiếu câu hỏi điều tra soạn sẵn
( phụ lục) được sử dụng để thu thập thông tin cơ bản về hộ gia đình, các thông tin liênquan đến các hoạt động kinh tế của gia đình, những hiện tượng thiên tai đã xảy ra,thiệt hại và giải pháp thích ứng của các hộ gia đình
- Phương pháp thảo luận nhóm:
Bản đồ rủi ro: vẽ lại tổng thể không gian và các đặc điểm chính trong mộtkhu vực nhất định dựa trên kiến thức, hiểu biết của người dân
Lịch mùa vụ : thu thập thông tin, tình hình sản xuất của người dân địa phương trong một năm
Lịch sử thiên tai: liệt kê lại các sự kiện lịch sử đã xảy ra tại địa phương dựa trên trí nhớ, ghi chép và hiểu biết của người dân
Bảng xếp hạng tác động của rủi ro thiên tai tới các hoạt động sinh kế dựa vào cộng đồng: xếp hạng mức độ tác động, nguy hiểm của thiên tai với các giống cây trồng, vật nuôi tại địa phương
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu điều tra, thu thập được tổng hợp và xử lý thống kê bằng phần
mềm Excel
Trang 35PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Giao Phong
4.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và môi trường
4.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý
Hình 4.1: Bản đồ huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
Giao phong là xã nằm ở phía Tây Nam huyện Giao Thủy cách trung tâm huyện10km, có tổng diện tích theo địa giới hành chính là 712,30ha, có vị trí tiếp giáp nhưsau:
- phía Bắc giáp xã Giao Thịnh
- phía Nam giáp Biển Đông
- phía Đông giáp xã Bạch Long, Giao Yến
- phía Tây giáp thị trấn Quất Lâm, Giao Thịnh
Trang 36Giao phong là xã đồng bằng ven biển, địa hình tương đối bằng phẳng, địa hìnhnghiêng dần từ Bắc xuống Nam theo hướng nghiêng của đồng bằng Bắc Bộ, chốt đấtchênh cao trung bình không quá 0,5m.
Khí hậu
Giao phong nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa của vùng đồng bằng Bắc
Bộ Là khu vực nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều, có 4 mùa rõ rệt ( Xuân Hạ Thu - Đông)
- Nhiệt độ không khí:
- Nhiệt độ trung bình hàng năm là 20oC tháng có nhiệt độ cao nhất làtháng 7 có ngày lên tới 39oC, tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng chạp và tháng giêng
có ngày xuống tới 5oC
- Hướng gió chính là Nam và Đông Nam, nhưng thay đổi theo mùa Mùađông là gió Bắc sau chuyển dần sang hướng Đông, mùa hạ thường chịu ảnh hưởngcủa gió Lào ( gió Tây) kết hợp với nắng nóng gây tác động xấu đến cây trồng và vậtnuôi
- Độ ẩm không khí tương đối cao trung bình trong năm từ 75%-85%, cótháng độ ẩm cao tới >90%, có tháng độ ẩm <30%
- Mưa tập trung từ tháng 5-tháng 10
- Lượng mưa trung bình năm: 1740mm
- Lượng mưa ngày gió lớn: 284mm
Nắng: hàng năm trung bình có tới 250 ngày nắng, tổng số giờ nắng từ1650-1700 giờ Vụ hè thu có số giờ nắng cao khoảng 1100-1200 giờ, chiếm 70% sốgiờ nắng trong năm
Gió, bão:
- Hướng gió chủ đạo mùa hạ: gió Đông Nam
- Hướng gió mùa Đông: gió Đông Bắc
- Tốc độ gió lớn nhất: 40m/s
Trang 37- Bão vào địa phương từ tháng 6 đến tháng 10 và nhiều nhất vào tháng 8,bão cấp 12 trở lên có tần suất 20 năm.
Nhìn chung, khí hậu Giao Phong có điều kiện thuận lới cho phát triển nền nôngnghiệp đa dạng và phong phú Yếu tố hạn chế lớn nhất đối với sử dụng đất là mưa lớntập trung theo mùa thường gây làm ngập úng các khu vực thấp trũng gây khó khăncho việc thâm canh tăng vụ mở rộng diện tích
Thủy văn
Chế độ thủy văn chịu ảnh hưởng bởi một hệ thống sông Chợ Bến, sông QuấtLâm 2, sông Vọng và thủy triều, các sông tương đối đồng đều chảy theo hướngnghiêng của địa hình Tây Bắc- Đông Nam dốc dần ra biển Hàng năm vào mùa khôhanh đất thường bị nhiễm mặn tuy nhiên không ảnh hưởng nhiều tới sản xuất nôngnghiệp
Thủy triều thuộc loại nhật triều, biên độ trung bình từ 1-1,5m, lớn nhất là 2,3 m;nhỏ nhất là 0,1m do gần biển nên nước sông bị ảnh hưởng từ thủy triều Mỗi chu kỳthủy triều từ 13-14 ngày, về mùa hanh nhất là từ tháng giêng đến tháng tư hàng nămthủy triều đã gây nhiễm mặn, ảnh hưởng tới đồng ruộng, đất bị nhiễm mặn Thông qua
hệ thống sông ngòi kênh mương, chế độ nhật triều đã giúp thau chua, rửa mặn trênđồng ruộng Nguồn nước ngầm theo các tài liệu được khoan thăm dò ở độ sâu 93-180m cho thấy nguồn nước khai thác được ( độ mặn dưới 1%)
Trang 38Tuy nhiên, một số ít diện tích ở Giao Phong thuộc dạng đất phù sa trung tính ítchua nhiễm mặn- Sali Eutric Fluvisols ( Fle-s) nước ngầm vùng này chứa nhiều muốitan, trong mùa hanh khô, muối theo nước ngầm bốc lên có thể làm mặn hóa đất ở mứcnhẹ hoặc trung tính.
Tài nguyên nước, biển
Là xã ven biển nên xã Giao Phong rất thuận lợi trong việc phát triển kinh tếbiển, hiện nay ngoài ngành nghề nông nghiệp truyền thống, nhân dân trong xã cònphát triển được một số nghề về biển như nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản, sản xuấtmuối
Nguồn nước mặt: chủ yếu do hệ thống sông, kênh mương cung cấp, rất phongphú và dồi dào, cung cấp đầy đủ nước sinh hoạt cho nhân dân, cho nuôi trồng thủysản, sản xuất nông nghiệp… nước mưa được lưu giữ trong các ao hồ, kênh mương,cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt
Nguồn nước ngầm: nguồn nước ngầm được khoan sâu hơn 100m Chất lượngnước nhìn chung khá tốt, thích hợp với sinh hoạt và sự phát triển của cây trồng, dovậy, đây là nguồn nước sinh hoạt chủ yêu của người dân, và là nguồn nước sản xuấtkhi thiếu nước do hạn hán
Tài nguyên rừng
Diện tích rừng phòng hộ của Giao Phong là 37,73ha, chiếm 5,3% tổng diện tíchđất tự nhiên của xã Rừng ngập mặn của Giao Phong chủ yếu là sú, vẹt, có tác dụngtrong việc bảo vệ đê biển, chắn gió, chắn sóng, bảo vệ môi trường, bảo vệ đời sốngkinh tế, xã hội, hạn chế những rủi ro của thiên tai, mở rộng diện tích đất và góp phầnvào chiến lược phát triển kinh tế xã hội lâu dài của xã
4.1.1.3 Th c tr ng môi tr ực trạng môi trường ạng môi trường ường ng
Là một xã ven biển, xa các cụm công nghiệp nên Giao Phong có môi trườngkhá trong sạch, ít bị ô nhiễm Cảnh quan môi trường của xã khá tốt, trong lành và giữđược nét đẹp tự nhiên của đồng bằng sông Hồng
Hiện nay xã đã có một bãi rác tập trung thu gom rác thải từ các ngành nghề tiểuthủ công nghiệp, rác thải sinh hoạt từ hộ gia đình, với tuần suất 2 lần/tuần
Trang 39Vấn đề nước thải hiện nay chủ yếu là nước sinh hoạt của người dân, nguồnnước này chủ yếu thấm xuống lòng đất và thoát ra các kênh mương Ngoài ra, vấn đề
ô nhiễm nước từ các hộ nuôi trồng thủy sản cũng là vấn đề đáng lo ngại, cần phải giảiquyết
Để phát triển bền vững và đảm bảo sức khỏe cho người dân, trong thời gian tới
xã cần tiếp tục đẩy mạnh các biện pháp bảo vệ môi trường sinh thái, có chính sáchphát triển và bảo tồn hệ thực vật xanh, tuyên truyền, khuyến khích nhân dân giữ gìn
vệ sinh sạch sẽ trong từng thôn xóm và cộng đồng
4.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế, xã hội
4.1.2.1 Tăng trường kinh tế và chuyển dịch kinh tế.
Tăng trưởng kinh tế
Trong những năm vừa qua, nền kinh tế của xã đã từng bước phát triển, đời sốngnhân dân được cải thiện và nâng cao
- Tốc độ phát triển năm sau cao hơn năm trước
- Giá trị sản xuất năm 2005 đạt 30.5 tỷ đồng, đến năm 2010 đạt 83.0 tỷđồng trong đó,
Ngành nông, lâm, ngư, diêm nghiệp chiếm tỷ trọng 72%
Tiểu thủ công nghiệp, xây dựng cơ bản chiếm 19.4%
Thương mại dịch vụ chiếm 8.4%
Chuyển dịch kinh tế
Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch đúng hướng: Tỷ trọng ngành nông nghiệpngày càng giảm, tỷ trọng ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thươngmại ngày càng tăng
Qúa trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng đã có bước chuyển biến mạnh mẽ, đưacác loại cây trồng, con giống hiệu quả kinh tế vào sản xuất Tuy nhiên, có thể đánh giánông nghiệp ở xã Giao Phong còn chiếm tỷ trọng cao, cần phải có những giải pháptích cực cho sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất mạnh mẽ mới thực hiện được đúng chuânnông thôn mới trong những năm tới
Bảng 4.2: Hiện trạng kinh tế xã Giao Phong
Trang 40STT Tên ngành Giá trị sản xuất
Khu vực kinh tế nông nghiệp
Trồng trọt: Năm 2014, với diện tích trong toàn xã là 260 ha, trong đó đất
2 vụ lúa 25 ha, năng suất lúa vụ chiêm đạt 80 tạ/ha, năng suất lạc bình quân đạt 42 tạ/
ha Giá trị canh tác đạt từ 200-300 triệu đồng/ha/năm Tổng thu nhập lúa mà cả nămđạt 65 tỷ đồng
Chăn nuôi : sản xuất chăn nuôi tiếp tục được duy trì và phát triển theo
hướng giảm chăn nuôi nhỏ lẻ, tăng chăn nuôi theo mô hình gia trại quy mô vừa vànhỏ Hiện tại Giao Phong có một số gia trại nằm rải rác ở các xóm chủ yếu là chănnuôi lợn, gia cầm Nhiều hộ chăn nuôi có thu nhập từ 30-50 triệu đồng Năm 2014,toàn xã có 145 hộ nuôi lợn với tổng số lượng là 1600 con ( giảm 15,79 % so với năm2010) Đàn gia cầm có tổng số lượng 14.550 con ( giảm 29% so với năm 2010)
Sản xuất muối: Do giá cả tiêu thụ sản phẩm muối trên thị trường ở mức
thấp, tiêu thụ chậm và số ngày nắng ít dẫn đến thu nhập từ sản xuất muối không đáp