1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng nguy cơ phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp ở NVYT Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên

103 1,2K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀVới sự phát triển của Y học hiện đại, nhiều trang thiết bị, máy móc tântiến được áp dụng trong khám, chẩn đoán, điều trị và dự phòng bệnh tật đãmang lại cuộc sống, nâng cao sức

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Với sự phát triển của Y học hiện đại, nhiều trang thiết bị, máy móc tântiến được áp dụng trong khám, chẩn đoán, điều trị và dự phòng bệnh tật đãmang lại cuộc sống, nâng cao sức khỏe và chất lượng sống cho con người.Tuy nhiên, trong quá trình chăm sóc, điều trị người bệnh, nhiều thầy thuốc vàNVYT thường xuyên làm việc trong môi trường độc hại ảnh hưởng đến sứckhoẻ, trong đó ngoài việc thường xuyên phải tiếp xúc với các yếu tố độc hại

họ còn phải đương đầu với một số bệnh có khả năng lây truyền do tiếp xúctrực tiếp với chất thải của người bệnh, rác thải y tế hoặc những tai nạn trongquá trình tiến hành các thủ thuật, phẫu thuật…đó chính là những nguồn lâybệnh, mối nguy cơ phơi nhiễm hoặc bị bệnh lây truyền trong nghề nghiệp nhưnhiễm lao, nhiễm HIV, nhiễm HBV hoặc HCV [30],[31],[32]

Trong những năm gần đây, NVYT ngày càng có nguy cơ cao phơi nhiễmnghề nghiệp HIV trong khi tiến hành các hoạt động xét nghiệm, điều trị vàchăm sóc bệnh nhân [trích 2], [8] Báo cáo của Cục phòng chống AIDS ViệtNam, tính đến tháng 6 năm 2005, trên toàn quốc đã có 975 trường hợp NVYTđược báo cáo bị phơi nhiễm nghề nghiệp với HIV Tại Bệnh viện Bạch Mai(Hà Nội) trong năm 2001 có tới 67,1% NVYT báo cáo ít nhất có 1 lần phơinhiễm với HIV trong thời gian làm việc tại bệnh viện [trích 2]

Các tình huống dẫn đến hành vi gây phơi nhiễm HIV trong ngành y tếthường là do sơ ý trong tiêm truyền, trong lấy máu làm xét nghiệm, làm cácthủ thuật, phẫu thuật vì vậy, đối tượng dễ bị phơi nhiễm HIV trong ngành y

tế thường là điều dưỡng trực tiếp chăm sóc, điều trị cho bệnh nhânHIV/AIDS, nhân viên trong kíp mổ, nhân viên y tế làm việc tại các khoa cấpcứu và điều trị tích cực, nhân viên khoa xét nghiệm, khoa giải phẫu bệnh hoặcbác sĩ nội khoa khi làm thủ thuật cho bệnh nhân HIV/AIDS

Trang 2

Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên là một trong những cơ sở Y

tế hiện đại, nơi tiếp nhận, khám và điều trị bệnh cho nhân dân địa phương vàđồng bào các dân tộc thuộc miền núi phía Bắc Là Bệnh viện hạng I, gồmnhiều chuyên khoa với quy mô khoảng 800 giường bệnh và gần 900 cán bộ,NVYT đang làm việc tại tất cả các chuyên khoa Trong những năm gần đây,lưu lượng bệnh nhân đến khám điều trị ngày càng tăng, các loại hình bệnh tậtngày càng đa dạng và phức tạp, trong đó có các bệnh lây nhiễm, đó là mộtthách thức lớn đối với các thầy thuốc, các NVYT đang trực tiếp hoặc gián tiếpđiều trị và chăm sóc người bệnh

Trên thực tế, ngoài các khoa thuộc hệ Ngoại- Sản là nơi mà các NVYTthường xuyên tiếp xúc với nguồn lây nhiễm khá cao thì các chuyên khoathuộc hệ Nội - Nhi cũng không ít những nguy cơ phơi nhiễm Thực tế khi xảy

ra tai nạn nghề nghiệp, nhiều nhân viên y tế lúng túng trong việc xử lý vếtthương tại chỗ cho chính bản thân mình, lúng túng trong việc thực hiện quytrình xử lý sau phơi nhiễm Vì vậy, trang bị cho nhân viên y tế kiến thức về

dự phòng lây nhiễm và dự phòng sau phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp làmột vấn đề hết sức cần thiết Vấn đề phòng lây nhiễm HIV cho nhân viên y tế

đã trở thành mối quan tâm của toàn ngành

Vậy thực trạng nguy cơ phơi nhiễm nghề nghiệp đối với HIV của NVYTBệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên trong những năm gần đây rasao? Những yếu tố nào liên quan đến hành vi nguy cơ lây nhiễm? Giải phápnào nhằm giải quyết các vấn đề tồn tại được phát hiện để hạn chế tối đa nguy

cơ phơi nhiễm cho NVYT?

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi tiến hành đề tài:

“Thực trạng nguy cơ phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp ở NVYT

Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên ”

Trang 4

Chương 1TỔNG QUAN TÀI LIỆU1.1 Tình hình đại dịch HIV/AIDS trên thế giới và ở Việt Nam

1.1.1 Trên thế giới: Đại dịch HIV/AIDS xuất hiện từ đầu thập kỷ 80 và đã

nhanh chóng lan rộng khắp thế giới Theo tổ chức Y tế thế giới ước tính mỗingày có thêm 14.000 người nhiễm HIV và hiện nay trên thế giới có trên 42triệu người nhiễm HIV đó người lớn là 38,6 triệu người (phụ nữ 19,2 triệu, trẻ

em dưới 15 tuổi là 3,2 triệu người).Tính đến cuối năm 2008, số người nhiễmHIV/AIDS đang sống trên thế giới tiếp tục gia tăng và đạt con số 33,4 triệungười (dao động trong khoảng từ 31,1 triệu đến 35,8 triệu), tăng 20,00% sovới năm 2000 và hiện tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS ước tính cao gấp 3 lần năm

1990 Tính từ đầu vụ dịch (từ năm 1981) đến nay đã có khoảng 60 triệu ngườitrên hành tinh nhiễm HIV, trong đó có khoảng 25 triệu người đã chết do cácbệnh có liên quan đến AIDS [2], [21]

HIV/AIDS đã bắt đầu chuyển trọng điểm từ Châu Phi sang Nam

Á và Đông Nam Á Đông Nam Á là khu vực mà hiện nay và trong nhữngthập kỷ tiếp theo có tốc độ phát triển kinh tế, thương mại, du lịch nhanh.Đồng thời quá trình đô thị hoá, phân hoá giàu nghèo, sự gia tăng tệ nạn

xã hội, nhất là tệ nạn mại dâm mà phụ nữ và trẻ em là hai đối tượng ít có khả năng tự bảo vệ thì HIV sẽ còn gia tăng Đặc biệt nghiêm trọng hơn, vùngĐông Nam Á chịu ảnh hưởng nhiều của vị trí địa lý bởi có nhiều nước nằm

gần “Tam giác vàng” nơi sản xuất ra Heroin Trong những năm đầu của thế

kỷ 21 khu vực này sẽ phải đương đầu khốc liệt với nạn buôn bán, vận chuyển

và sử dụng ma tuý, một nguyên nhân quan trọng góp phần làm lây truyềnHIV/AIDS Tuy nhiên, ở các châu lục, dịch HIV/AIDS đang diễn biến phứctạp với hậu quả khó lường hết được [3]

Trang 5

1.1.2 Tại Việt nam: Kể từ trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện

vào năm 1990, đến nay số người nhiễm HIV ở nước ta tăng lên nhanh chóng.Chỉ sau 5 năm kể từ khi phát hiện ca nhiễm đầu tiên, dịch đã lan tràn khắptoàn quốc [13], [14], [20], tính đến 31/03/2012, số trường hợp nhiễm HIVhiện còn sống là 201.134 trường hợp, số bệnh nhân AIDS hiện còn sống là57.733 và 61.579 trường hợp tử vong do AIDS Thực tế này đã và đang trởthành gánh nặng cho ngành y tế trong công tác điều trị, chăm sóc, hỗ trợ chongười nhiễm HIV/AIDS [3] Theo số liệu thống kê của Viện Vệ sinh Dịch tễTrung ương cho thấy diễn biễn của nhiễm HIV theo thời gian như sau: năm

1996 số trường hợp nhiễm HIV mới là 1.681 người; năm 1997 là 2.811 người;năm 1998 là 5.670 người; năm 1999 là 7.956 người; năm 2000 là 10.333người; năm 2001 là 14.536 người và năm 2002 là 15.790 người [10], [11]…những con số này cho thấy: nhiễm HIV mới hàng năm có xu hướng gia tăng,những năm gần đây công tác phòng chống HIV/AIDS đã có tác động tích cực,bằng các hoạt động thông tin giáo dục truyền thông về sự nguy hiểm của cănbệnh và cách phòng tránh cho cộng đồng, tăng cường các biện pháp can thiệpnhằm giảm thiểu sự gia tăng nhiễm HIV, thực hiện các giải pháp chuyên môn

kỹ thuật, tăng cường sự tiếp cận của người nhiễm HIV với các dịch vụ chămsóc số nhiễm mới đã giảm dần từng năm Tính riêng 9 tháng đầu năm 2010

số nhiễm mới là 9.128 người, số AIDS là 1.498 người, số tử vong là 1.498người (thành phố Hồ Chí Minh vẫn là địa phương có số nhiễm cao nhất).Phân tích hình thái lây nhiễm cho thấy, trong số người phát hiện nhiễm mới,

tỷ lệ đường lây nhiễm như sau: nhiễm qua đường máu là 49,00% , nhiễm quađường tình dục là 38,00% , qua đường mẹ con là 3,00% và không rõ đườnglây là 10,00% Tỷ lệ người nhiễm ở nam là 70,80% và nữ chiếm 29,20%.Phần lớn là ở nhóm tuổi 20 - 39 (80,00%), trẻ em dưới 15 tuổi chiếm gần3,00% [9],[38]

Trang 6

1.2 Đường lây truyền và nguy cơ phơi nhiễm nghề nghiệp HIV/AIDS đối với NVYT.

1.2.1 Đường lây truyền HIV:

- Qua đường tình dục: HIV lây truyền qua giao hợp với người nhiễm

HIV, sự lây truyền xảy ra qua giao hợp dương vật - âm đạo từ nam sang nữ và

từ nữ sang nam, HIV lây truyền qua đường hậu môn - dương vật ở nhữngngười đồng tính luyến ái Qua những vết sước nhỏ, mắt thường không thểnhìn thấy được, trên bề mặt của lớp niêm mạc âm đạo, dương vật hay hậumôn, xảy ra trong lúc giao hợp, đó là đường vào của virus HIV rồi từ đó vàomáu [8], [14], [22]

- Qua đường máu: HIV lây truyền qua đường máu hay các sản phẩm của

máu chiếm tỷ lệ cao nhất trong các yếu tố nguy cơ (90.00%) Sử dụng chungbơm kim tiêm bị nhiễm HIV, hay gặp ở những người tiêm chích ma tuý Cácdụng cụ y tế không tiệt trùng cẩn thận khi tiêm, truyền cũng góp phần lâytruyền HIV qua đường máu, cách lây truyền này cũng giống như lây truyềnviêm gan B [14], [17], [23]

- Lây truyền HIV từ mẹ sang con: Các nghiên cứu cho thấy sự lây truyền

HIV từ mẹ sang con có thể xảy ra trong thời kỳ mang thai, trong cuộc đẻ vàngay cả trong thời kỳ khi bú sữa mẹ Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệlây từ mẹ sang con trong thời kỳ mang thai: 5.00%, trong cuộc đẻ: 15.00%,vàtrong thời kỳ bú sữa mẹ: 20.00 - 30.00% [1], [5]

1.2.2 Phơi nhiễm nghề nghiệp HIV/AIDS đối với NVYT

Phơi nhiễm nghề nghiệp với HIV là các tiếp xúc trực tiếp với máu hoặc dịch

cơ thể có thể có chứa HIV trong quá trình chăm sóc, chẩn đoán, điều trị bệnhnhân (qua da bị tổn thương do kim tiêm hoặc vật sắc nhọn, qua da, niêm mạc

bị trầy xước, loét, nhiễm trùng hoặc với da lành trên diện rộng hoặc trongthời gian dài) [9], [11]

Trang 7

Hình thức phơi nhiễm: Hình thức phơi nhiễm được phân thành 2 nhóm

chính như sau:

- Nhóm da bị tổn thương do kim đâm hoặc do vật sắc nhọn:

Theo ước tính của trung tâm kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ (năm 2000)trong các tổn thương da xảy ra trong các NVYT mỗi năm thì 61,00% là tổnthương có liên quan đến kim tiêm (là loại tổn thương thường gặp nhất) Trong

đó khoảng các tổn thương xảy ra sau khi đã sử dụng kim tiêm hoặc trước khihủy kim tiêm là 50,00%, tổn thương xảy ra trong khi chăm sóc bệnh nhân25% (khi lắp hoặc rút mũi tiêm bằng tay) và tổn thương xảy ra trong khi sửdụng dụng cụ y tế khác là 20,00% Thương tích thường xảy ra khi NVYT sửdụng 6 loại dụng cụ sắc nhọn sau [trích 2]:

Bơm kim tiêm dùng 1 lần 32,00%

Theo Gutierrez EB, mặc dù phơi nhiễm nghề nghiệp với HIV có thể xảy

ra ở bất cứ cơ sở y tế nào, bất cú hình thái thương tích gì nhưng khoảng40,00% các thương tích xảy ra ở các cơ sở điều trị nội trú, đặc biệt là tạiphòng khám, khoa cấp cứu và phòng mổ Thương tích thường xảy ra sau khi

sử dụng và trước khi hủy bỏ dụng cụ sắc nhọn là 41,00%, trong khi thực hiệnthủ thuật sử dụng dụng cụ sắc nhọn là 39,00% và sau thực hiện thủ thuật hoặckhi hủy bỏ những dụng cụ này là 16.00% [29] Chấn thương do kim là conđường phổ biến nhất của tiếp xúc, với tỷ lệ 27,70%, tiếp theo là tiếp xúc quaniêm mạc 19,10%, tiếp xúc với da bị tổn thương 5,50% và cuối cùng với cácvật sắc nhọn là 5,10%

Trang 8

- Nhóm phơi nhiễm qua da và niêm mạc: Tại Hoa Kỳ, năm 1996 có196.721 trường hợp phơi nhiễm qua niêm mạc và da xảy ra trong các cơ sở y

tế Trong tổng số các trường hợp phơi nhiễm qua niêm mạc và da thì 76,00%

là các phơi nhiễm qua niêm mạc mắt, tình huống bị phơi nhiễm là do máu/dịch thể của bệnh nhân bắn vào niêm mạc của NVYT trong lúc chăm sócbệnh nhân [trích 2], [43]

1.2.2.1 Nghiên cứu về nguy cơ phơi nhiễm nghề nghiệp HIV/AIDS trên Thế giới.

Nhiễm HIV cũng như một số tác nhân gây bệnh đường máu khác nhưvirus viêm gan B, viêm gan C bệnh có thể lây truyền tại cơ sở y tế từ bệnhnhân sang NVYT, từ bệnh nhân sang bệnh nhân, hoặc từ NVYT sang bệnhnhân Nhiễm HIV/AIDS trên thế giới ngày càng gia tăng và trở thành gánhnặng cho ngành y tế, phơi nhiễm HIV là một trong 3 phơi nhiễm thường xảy

ra nhất (HIV, HBV, HCV) cho NVYT trong quá trình chăm sóc bệnh nhân.Nhiều NVYT lo sợ bị lây nhiễm HIV khi chăm sóc cho bệnh nhân, tuy nhiêntrên thực tế, nguy cơ lây nhiễm virus viêm gan B và virus viêm gan C cao hơnnhiều Nguy cơ lây nhiễm virus viêm gan B sau một lần bị kim tiêm đâm là30,00%, đối với virus viêm gan C là 1,80 - 10,00% , trong khi đó đối với HIV

là 0,30% và tỷ lệ nguy cơ lây nhiễm HIV qua màng nhầy chỉ khoảng 0,09%[26], [28], [42] Năm 1996, theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng Ngừa Bệnhcủa Hoa Kỳ (CDC) cho biết: trong 51 báo cáo và 108 trường hợp NVYT tiếpxúc với HIV thì nguy cơ nhiễm HIV sau khi tiếp xúc qua da với máu từ bệnhnhân nhiễm HIV thì ước tính nguy cơ phơi nhiễm cũng khoảng 0,30% [39].Nhiễm HIV/AIDS trên thế giới ngày càng gia tăng và trở thành gánh nặngcho nghành y tế Phơi nhiễm HIV là một trong 3 phơi nhiễm thường xảy ranhất (HIV, HBV, HCV) cho NVYT trong quá trình chăm sóc bệnh nhân

Trang 9

Tại Hoa Kỳ, ước tính mỗi năm có khoảng 385.000 thương tích do kimtiêm hoặc vật sắc nhọn xảy ra với NVYT làm việc trong bệnh viện và các cơ

sở y tế, tương đương với 1.000 thương tích xảy ra mỗi ngày Tuy nhiên, sốthương tích xảy ra cho các NVYT trên thực tế còn cao hơn rất nhiều, một sốnghiên cứu đã chỉ ra rằng có khoảng 40,00 - 70,00% các thương tích xảy rađối với NVYT trong quá trình điều trị và chăm sóc bệnh nhân mà không đượcbáo cáo [34], [47], [48] Trường hợp NVYT đầu tiên nhiễm HIV nghề nghiệp

do bị kim tiêm đâm được phát hiện vào năm 1986, đến tháng 6 năm 1995trong tổng số 143 trường hợp nguy cơ phơi nhiễm nghề nghiệp với HIV đượcbáo cáo thì có tới 46 NVYT có huyết thanh dương tính với HIV sau phơinhiễm Theo báo cáo của CDC, đến tháng 12 năm 2001 có 57 trường hợpNVYT có kết quả xét nghiệm huyết thanh dương tính với HIV được xác định

là do phơi nhiễm nghề nghiệp ngoài ra còn có 138 trường hợp nhiễm HIVkhác nghi ngờ có thể do phơi nhiễm nghề nghiệp Sau tháng 12 năm 2001, chỉduy nhất có 01 trường hợp được báo cáo là nghi ngờ nhiễm HIV nghề nghiệp.Theo WHO ước tính trên toàn cầu có khoảng 1000 trường hợp NVYT bịnhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp do các tổn thương do vật sắc nhọn gây ra,trong đó 72,00% ở châu Phi [2]

Theo kết quả nghiên cứu của Alison.D Rant Kevin [20], Sadoh.AE,Sadoh.WE [45] và Saulat Jahan [47]: tất cả NVYT làm nhiệm vụ chăm óc,điều trị bệnh nhân đều có nguy cơ phơi nhiễm HIV trong quá trình làm việc,tuy nhiên các điều dưỡng viên (y tá) là những người có nguy cơ phơi nhiễmcao nhất, thống kê cho thấy trong giai đoạn 1987-1989 tỷ lệ nguy cơ phơinhiễm nghề nghiệp của điều dưỡng viên khoảng 58,00% -79,00% và tronggiai đoạn 1993 - 1995 tỷ lệ này là 53,00%

Trang 10

Theo thống kê tại Hoa Kỳ (2002), các đối tượng số nhân viên y tế nghingờ nhiễm và nhiễm HIV nghề nghiệp phân bố như sau [33]:

Đối tượng HIV nghề nghiệp Nghi ngờ nhiễm nghề nghiệp Nhiễm HIV

Bác sỹ, kỹ thuật viên

Trong số 55 trường hợp lây nhiễm HIV nghề nghiệp được báo cáo, có tới

50 trường hợp phơi nhiễm qua da (90,90%), 03 trường hợp phơi nhiễm quaniêm mạc (5,46%) và 02 trường hợp không rõ đường phơi nhiễm (3,64%).Tại Ấn Độ, theo nghiên cứu hồi cứu của Aggarwal V, Seth.A tại mộtBệnh viện thực hành về thực trạng việc tiếp xúc với máu và chất dịch cơ thểcủa NVYT Kết quả cho thấy có 103 NVYT có nguy cơ phơi nhiễm HIV dotiếp xúc nghề nghiệp với máu và dịch thể của bệnh nhân, trong đó bác sỹchiếm 69,90%, điều dưỡng viên chiếm 19,40% và hộ lý 10,60% là Các tìnhhuống tiếp xúc với dịch thể của bệnh nhân 48,00% , thu hồi vật sắc nhọn16,00%, xử lý dụng cụ sắc nhọn 29,01% và những tai biễn trong phẫu thuật6,90% Nguyên nhân phơi nhiễm: do không tuân thủ các biện pháp phòng

Trang 11

ngừa phổ quát 74,30% là Tác giả đã kết luận việc không tuân thủ các biệnpháp phòng ngừa phổ quát bao gồm cả sử lý chất thải không đúng cách lànguyên nhân cho phần lớn các tiếp xúc nghề nghiệp NVYT cần phải có kiếnthức liên quan đến quản lý chất thải bệnh viện, quản lý tiếp xúc nghề nghiệp,cần thiết điều trị dự phòng và tiếp tục theo dõi sau phơi nhiễm [18].

Năm 2007, Samir A Singru đã nghiên cứu tai nạn phơi nhiễm nghềnghiệp trên nhân viên chăm sóc sức khỏe, kết quả cho thấy cơ tới 92,21%trường hợp phơi nhiễm là do chấn thương với kim và vật sắc nhọn và chỉ có7,79% do tiếp xúc với mấu/dịch thể của bệnh nhân Vị trí tiếp xúc của nhânviên y tế phổ biến là ở tay: 61,06%, trong đó tiếp xúc ở ngón tay cái chiếm31,15%, cánh tay là 5,75%, niêm mạc miệng và kết mạc mắt 1,23%, ở chânchỉ chiếm tỷ lệ rất thấp là 0,82% [46]

Nghiên cứu của Carol M (1988-1989) nhằm đánh giá tình huống phơinhiễm y tế với HIV Kết quả cho thấy phơi nhiễm do tình cờ tiếp xúc vớimáu/dịch thể của bệnh nhân nhiễm HIV là 19,00%, tiếp xúc do bị những vếtthương kim đâm trong khi làm thủ thuật là 36,00% [24]

Theo Renee Ridzon, Kathleen Gallagher: Chấn thương do kim tiêm làcon đường phổ biến nhất của tiếp xúc phơi nhiễm nghề nghiệp, với tỷ lệ27,70%, tiếp theo là tiếp xúc qua niêm mạc 19,10%, tiếp xúc qua da bị tổnthương 5,50% và cuối cùng là chấm thương với các dụng cụ sắc nhọn (trừkim tiêm) là 5,10% [41]

Năm 2002-2003 Saulat J nghiên cứu dịch tễ học về tai nạn chấn thương

do kim đâm ở NVYT tại một Bệnh viện Trung ương Buraidah Mục đíchđánh giá tỷ lệ và các dạng phơi nhiễm ở NVYT bệnh viện Kết quả trong sốNVYT báo cáo bị thương từ kim tiêm và các vật sắc nhọn thì y tá đã chiếmtới 66,00% các trường hợp, các bác sĩ chiếm 19,00%, kỹ thuật viên 10,00%,

và nhân viên hỗ trợ 5,50% Các dạng phơi nhiễm chủ yếu với kim, ống tiêm

Trang 12

đã chiếm 63,00% Hầu hết hoàn cảnh xảy ra chấn thương trong khi dùng kimtiêm đã qua sử dụng 29,00%, trong khi phẫu thuật 19,00% và va chạm với cácvật sắc nhọn 14,00% Những thông tin này nhấn mạnh tầm quan trọng củađào tạo tăng cường nhận thức phòng chống chấn thương kim đâm [47]

1.2.2.2 Nghiên cứu về nguy cơ phơi nhiễm nghề nghiệp HIV/AIDS tại Việt Nam.

Trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện tại Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 12/1990 Đến năm 1993, dịch bắt đầu bùng nổ trong nhómNCMT tại một số tỉnh phía Nam và miền Trung như: Thành phố

Hồ Chí Minh, Khánh Hoà từ đó lan ra toàn quốc với tốc độ khá nhanh.Nhiễm HIV đã trở thành vấn đề bức xúc ở Việt Nam, HIV/AIDS đã xuất hiện

ở 64/64 tỉnh thành Nhiều địa phương, tất cả các quận/huyện, xã/phường đều

có người nhiễm HIV/AIDS [9]

Số liệu về HIV diễn biến theo thời gian như sau: Năm 1996 số trường hợpnhiễm HIV mới là 1.681; Năm 1997 là 2.811; Năm 1998 là 5.670; Năm 1999

là 7.956; Năm 2000 là 10.333; Năm 2001 là 14.536; Năm 2002 là 15.790…Những con số này cho thấy: Nhiễm HIV mới hàng năm có xu hướng gia tăng,những năm gần đây công tác phòng chống HIV/AIDS đã có tác động tích cực,bằng các hoạt động thông tin giáo dục truyền thông về sự nguy hiểm của cănbệnh và cách phòng tránh cho cộng đồng, tăng cường các biện pháp can thiệpnhằm giảm thiểu sự gia tăng nhiễm HIV, thực hiện các giải pháp chuyên môn

kỹ thuật, tăng cường sự tiếp cận của người nhiễm HIV với các dịch vụ chămsóc số nhiễm mới đã giảm dần từng năm Tính riêng 9 tháng đầu năm 2010

số nhiễm mới là 9.128 người, số AIDS là 1.498 người, số tử vong là 1.498người (Thành phố Hồ Chí Minh vẫn là địa phương có số nhiễm cao nhất).Phân tích hình thái lây nhiễm cho thấy, trong số người phát hiện nhiễm mới:49% nhiễm qua đường máu, 38% nhiễm qua đường tình dục, 3% qua đường

Trang 13

mẹ con, 10% không rõ đường lây Tỷ lệ người nhiễm ở nam là 70,8% và nữchiếm 29,2% Phần lớn là ở nhóm tuổi 20 – 39 (80%), trẻ em dưới 15 tuổichiếm gần 3% [3].

Tình hình dịch HIV tại Việt Nam cho thấy NVYT là đối tượng có nguy

cơ cao lây nhiễm HIV do nghề nghiệp ngày càng được quan tâm Tính đếntháng 6 năm 2005, trên toàn quốc có 975 trường hợp phơi nhiễm HIV/AIDSnghề nghiệp, trong đó 764 trường hợp là NVYT Riêng 6 tháng đầu năm

2005, trên toàn quốc có 7 trường hợp được báo cáo phơi nhiễm với HIV, đếncuối năm 2005 số NVYT phơi nhiễm nghề nghiệp với HIV/AIDS đã lên tới

938 người Tuy nhiên số NVYT nguy cơ phơi nhiễm với HIV khá cao ở một

số cơ sở y tế như: 63 trường hợp trong năm 2003 tại bệnh viện Bạch Mai, 27trường hợp trong giai đoạn 2000-2002 tại bệnh viện Chợ Rẫy, 14 trường hợptrong năm 2004 tại bệnh viên đa khoa Cần Thơ [trích 2]

Hầu hết các trường hợp NVYT nguy cơ phơi nhiễm với HIV trong khichăm sóc bệnh nhân như bị kim tiêm kim khâu đâm vào tay, bị dao mổ làmrách da, bị máu bắn vào niêm mạc mắt Các điều tra về đối tượng NVYT bịphơi nhiễm nghề nghiệp tại bệnh viện Chợ Rẫy năm 2000 cho thấy: điềudưỡng viên là 34,00% , Bác sỹ nội khoa 32,00%, phẫu thuật viên 53,00%,những đối tượng này báo cáo trong vòng 1 năm qua có tối thiểu 1 tổn thương

da trong quá trình chăm sóc và điều trị những bệnh nhân có nhiễm HIV.Trong số những vật sắc nhọn gây tổn thương thì 53,00% do kim tiêm, mộtphần ba thương tích của điều dưỡng viên xảy ra trong hay sau khi tiêm thuốc

và 80,00% tổn thương của phẫu thuật viên xảy ra trong khi khâu vết thương,vết mổ còn tỷ lệ phơi nhiễm qua niêm mạc là 18,00% Trong các trường hợpđiều dưỡng viêm bị phơi nhiễm qua niêm mạc thì có 40,00% bị máu bắn vàomắt còn đối với phẫu thuật viên, tỷ lệ phơi nhiễm qua niêm mạc mắt lên tới60,00% [2]

Trang 14

Theo nghiên cứu của Lê Thị Anh Thư khi theo dõi tất cả các trường hợpNVYT phơi nhiễm nghề nghiệp nói chung tại bệnh viện Chợ Rẫy (TP Hồ ChíMinh) từ tháng 2 năm 2000 đến tháng 6 năm 2009, cho thấy rằng tổng sốNVYT bị tai nạn nghề nghiệp phơi nhiễm với các bệnh nguyên đường máutrong khi thao tác là 327 trường hợp, trong đó phơi nhiễm với bệnh nhânnhiễm HIV là 65 trường hợp Hình thức phơi nhiễm xảy ra do kim tiêm, kimkhâu hoặc dao đâm là 74,80% hoặc do máu và dịch tiết của bệnh bắn vào mắt16,20% Tỷ lệ gặp nhiều nhất ở khoa ngoại 37,90% với đối tượng thường gặp

là điều dưỡng 35,50%, học viên điều dưỡng hoặc sinh viên 14,70%, nhân viênlàm sạch 14,40% và bác sỹ ngoại 15,60% Thao tác khi có tai nạn xảy ra chủyếu trong phẫu thuật 13,50%, tiêm truyền 19,90%, lấy máu 8,30%, trong lúcđậy nắp kim tiêm 11,90%, thu gom rác thải y tế 14,90% Nguyên nhân thườnggặp là do bất cẩn 72,20%, không tuân thủ phòng hộ quy định 24,70% Khixảy ra tai nạn phơi nhiễm có 48,90% NVYT không biết bệnh nhân có nhiễmHIV trước đó [12]

Theo kết quả đánh giá nhu cầu đào tạo tại 8 trường Đại học Y trên toànquốc do trường Đại học Y Hà Nội tiến hành năm 2005, số NVYT là cán bộgiảng dạy và sinh viên Y khoa đã từng tiếp xúc trực tiếp với máu và dịch tiết

có nguy cơ phơi nhiễm HIV chiếm tỷ lệ khá cao (37,00% - 59,50%), đặc biệt

là các cán bộ giảng dạy ở khoa Ngoại, khoa Sản, khoa Truyền nhiễm, khoa

Da liễu, khoa Huyết học Tuy nhiên số cán bộ giảng dạy và sinh viên báocáo trực tiếp hoặc gián tiếp với lãnh đạo hoặc những người có trách nhiệm vềtai nạn nghề nghiệp này lại chiếm tỷ lệ thấp (khoảng 18,00%) nên con số báocáo về các trường hợp tai nạn nghề nghiệp với HIV chắc chắn thấp hơn con sốthực tế nhiều lần [ trích 2]

Trang 15

1.2.3 Hiểu biết và thực hành dự phòng phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp của sinh viên y và NVYT.

Theo kết quả đánh giá nhu cầu đào tạo tại 8 trường Đại học Y trên toànquốc do trường Đại học Y Hà Nội tiến hành năm 2005, số cán bộ giảng dạy

và sinh viênY đã từng tiếp xúc trực tiếp với máu và dịch tiết mà lo lắng cónguy cơ phơi nhiễm HIV chiếm tỷ lệ kkhá cao (37,00% - 59,50%) Hầu hếtcác NVYT được điều tra đều chưa có hiểu biết một cách đầy đủ đối với cáckiến thức cơ bản về HIV/AIDS, chỉ có chưa tới 1/3 số cán bộ giảng dạy vàsinh viên Y nêu đúng các phương cách xét nghiệm HIV/AIDS Có tới 3,80%-16,80% cán bộ giảng dạy cho rằng nước bọt, nước tiểu, mồ hôi có nguy cơcao lây nhiễm HIV Đặc biệt số người nêu đúng và đủ các giai đoạn lâm sàngnhiễm HIV/AIDS cũng như kiến thức về nhóm thuốc kháng virus chiếm tỷ lệthấp Bên cạnh đó NVYT cũng chưa hiểu rõ các quy định chuyên môn vềquản lý người nhiễm HIV, dự phòng phổ cập, hạn chế trong thực hiện cácthao tác an toàn tránh tai nạn nghề nghiệp và sử dụng trang bị bảo hộ laođộng, né tránh bệnh nhân HIV/AIDS nhưng chủ quan khi chăm sóc điều trịcho bệnh nhân không rõ tình trạng nhiễm Các cán bộ và sinh viên chưa nắm

rõ biện pháp khử trùng và tiệt trùng, cách sử trí các bơm kim tiêm và dụng cụphòng thí nghiệm cần sử dụng lại Chỉ có khoảng 2/3 NVYT và sinh viên ycho rằng không nên dùng tay đậy nắp kim tiêm Số cán bộ và sinh viên y thựchiện các quy định về an toàn trong chm sóc y tế chiếm tỷ lệ nhỏ Chỉ có51,00% cán bộ giảng dạy và 30,00% sinh viên y chưa bao giờ dung tay đậynắp kim tiêm và khoảng 2/3 luôn sát trùng tay sau những thủ thuật tiếp xúcvới máu [ trích 2]

Trong điều trị dự phòng phơi nhiễm HIV, các cán bộ và sinh viên chưahiểu biết đầy đủ Chỉ 1/3 số người được điều tra biết có thể dự phòng nhiễmHIV bằng cách uống thuốc kháng virus Chỉ có 35,70% sinh viên Y và

Trang 16

53,40% cán bộ giảng dạy nêu được thời gian uống liều đầu tiên không nênquá 6 giờ và 1/3 cho rằng thời gian điều trị kéo dài 4 tuần Trên thực tế sinhviên y và cán bộ giảng dạy được điều trị dự phòng bằng ARV sau khi phơinhiễm trực tiếp với máu và dịch tiết nhiễm HIV chiếm tỷ lệ rất thấp (tươngứng là 3,40% và 10,20%) Chỉ có 16,00-18,00% người đã từng đi xét nghiệmHIV vì tai nạn nghề nghiệp [ trích 2].

Theo điều tra của Guruprasad Y (Ấn Độ) trên 120 sinh viên Nha khoa

về kiến thức, thái độ và thực hành liên quan đến nguy cơ lây nhiễm HIV dotai nạn kim đâm Kết quả cho thấy số sinh viên không biết rằng virus có thểđược truyền qua kim bị nhiễm chiếm 11,00%, số sinh viên không biết chínhxác phương pháp sử lý kim tiêm và ống tiêm dùng một lần là 67,50%, khoảng26,00% nói rằng họ sẽ nặn bóp máu tại nơi bị chấn thương khi phơi nhiễm vàchỉ có 30,00% nói rằng họ sẽ điều trị dự phòng sau phơi nhiễm Tác giả kếtluận là các bác sỹ nha khoa có nguy cơ lây nhiễm HIV cao chủ yếu là do tình

cờ tiếp xúc với máu và dịch cơ thể bị nhiễm và việc cần thiết nâng cao kiếnthức, thái độ và thực hành cho NVYT trong phòng lây nhiễm HIV [30]

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ phơi nhiễm nghề nghiệp HIV/AIDS tại các cơ sở y tế.

1.3.1 Nguy cơ phơi nhiễm với HIV của NVYT

Nhiễm HIV cũng như một số tác nhân gây bệnh qua đường máu nhưvirus viêm gan B, viêm gan C có thể lây truyền tại cơ sở Y tế từ bệnh nhânsang NVYT, từ bệnh nhân sang bệnh nhân hoặc từ NVYT sang bệnh nhân.Virus gây bệnh (HIV) hiện diện trong máu, tinh dịch, dịch tiết âm đạo và cổ

tử cung, nước tiểu và phân, dịch tiết của vết thương , nước bọt, nước mắt, sữa

mẹ, dịch não tủy, nước ối, hoạt dịch và dịch màng tim Theo thống kê cho tớinay mặc dù máu là dịch duy nhất có liên quan tới việc lây truyền HIV tại cơ

sở Y tế, về nguyên tắc bất kỳ dịch cơ thể nào chứa máu có thể nhìn thấy bằng

Trang 17

mắt thường đều có khả năng lây nhiễm Một số chất dịch cơ thể không chứamáu cũng có thể là nguồn lây nhiễm Những dịch này bao gồm: dịch tiết âmđạo, tinh dịch, dịch màng bụng, dịch não tủy, nước ối, hoạt dịch và dịch màngtim Chất dịch cơ thể được coi là có nguy cơ lây nhiễm rất thấp, và trên thực

tế chưa có trường hợp nào báo cáo bị lây nhiễm qua nguồn này là: nước tiểu

và phân, nước bọt, nước mắt, dịch mũi, chất nôn và mồ hôi [ trích 2], [18]

Bảng dịch cơ thể và nguy cơ lây nhiễm HIV Dịch được coi là có

nguy cơ cao

Dịch được coi là có nguy cơ thấp

Dịch được coi là có nguy cơ rất thấp*

Máu, huyết thanh Dịch màng ối Chất nhầy cổ tử cung

Dịch màng bụng Nước bọtDịch màng tim Mồ hôi

(*) Nếu những dịch này chứa máu nhìn thấy được bằng mắt thường thì

không được coi là nguy cơ rất thấpNguy cơ phơi nhiễm với HIV có thể xảy ra với tất cả các NVYT trựctiếp điều trị phục vụ và chăm sóc bệnh nhân như: bác sỹ, y tá, điều dưỡngviên, nữ hộ sinh, kỹ thuật viên, hộ lý…Nguy cơ lây nhiễm HIV cũng như cácbệnh lây truyền qua đường máu khác phụ thuộc vào mức độ an toàn của cácthao tác trong quá trình làm việc của các NVYT, vào tỷ lệ nhiễm HIV trongquần thể và tần xuất cũng như số lần phơi nhiễm Các dạng phơi nhiễmthường gặp trong quá trình làm việc của NVYT [29], [32], [36]:

- Kim tiêm đâm qua da khi làm các thủ thuật tiêm truyền, lấy máu làmxét nghiệm hoặc khi rút kim ra khỏi đường truyền tĩnh mạch Phơi nhiễm

Trang 18

cũng thường xảy ra khi NVYT dùng tay đậy nắp kim tiêm sau khi làm xongthủ thuật

- Dụng cụ sắc nhọn đâm qua da trong quá trình phẫu thuật hoặc làm thủthuật chọc dò

- Kim khâu đâm qua da khi khâu vết thương và vết mổ hoặc bị thương

do dao mổ hoặc các dụng cụ sắc nhọn khác gây ra trong quá trình phẫu thuật

- Tổn thương qua da do các ống đựng máu hoặc chất dịch của ngườibệnh bị vỡ đâm vào

- Máu, chất dịch cơ thể của người bệnh bắn vào các vùng da bị tổnthương (chàm, bỏng, viêm loét từ trước) hoặc bắn vào niêm mạc (miệng, mắt,mũi, họng)

- Ngoài ra còn có một số dạng phơi nhiễm khác: thao tác với các dụng cụhay bệnh phẩm như bỏ bệnh phẩm hoặc dụng cụ vào thùng chứa, chùi rửadụng cụ, bị kim đâm qua thành tùng rác, kim trong thùng rác đựng vật sắcnhọn quá đầy hoặc bị thủng đâm phải

Như vậy, lây nhiễm HIV trong môi trường chăm sóc y tế chủ yếu xảy rakhi NVYT tiếp xúc trực tiếp với máu và dịch thể của bệnh nhân

1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới nguy cơ lây nhiễm HIV.

Các yếu tố nguy cơ dẫn đến phơi nhiễm và lây nhiễm HIV được chia

thành 5 yếu tố [21], [35], [40],[44]

Bảng đánh giá mức độ nguy cơ lây nhiễm HIV Mức độ nguy cơ

1 Kiểu phơi nhiễm

Bị dụng cụ sắc nhọn dínhmáu và dịch thể của người bệnh xuyên qua da

Máu, dịch thể của người bệnh bắn vào vùng da bị

Máu, dịch thể của người bệnh bắn vào

Trang 19

Mức độ nguy cơ

tổn thương vùng da bị lànhMáu, dịch thể của người

bệnh bắn vào niêm mạc

2 Số lượng máu/dịch thể

và thời gian tiếp xúc

Máu/dịch thể nhiều Máu/dịch thể ítThời gian tiếp xúc lâu Thời gian tiếp xúc

5 Giai đoạn lâm sàng

của nguồn nhiễm

Giai đoạn sơ nhiễm vàgiai đoạn AIDS

Giai đoạn tiến triển

Một số y tố ảnh hường đến nguy cơ phơi nhiễm

Thứ nhất là: Hoàn cảnh xảy ra phơi nhiễm.

- Kiểu phơi nhiễm dưới da do kim hoặc vật sắc nhọn đâm…Tổn thươngdưới da, niêm mạc hoặc da lành tiếp xúc với dịch thể của bệnh nhân là thườnggặp nhất

- Loại dịch sinh học nguy cơ phơi nhiễm: Máu, tinh dịch, dịch tiết âmđạo và các dịch cơ thể có máu nhìn thấy bằng mắt thường được coi là dịch cónguy cơ lây nhiễm cao NVYT tiếp xúc với sữa mẹ không có nguy cơ lâynhiễm, nhưng nên đeo găng khi lấy sữa mẹ được bảo quản từ ngân hàng sữa

- Lượng máu hoặc dịch cơ thể phơi nhiễm: Nguy cơ lây nhiễm sẽ caohơn nếu NVYT phơi nhiễm với một lượng lớn máu khi bị kim tiêm đâm trựctiếp vào mạch máu, hay bị đâm sâu, bị tổn thương do các vật sắc nhọn dínhmáu nhìn thấy bằng mắt thường được Nguy cơ lây nhiễm lớn hơn với tổnthương do kim tiêm đường kính lớn đâm vào Các vết thương sâu và rộng cónguy cơ lây nhiễm cao hơn

- Thời gian tiếp xúc với máu, dịch chứa máu càng lâu nguy cơ lây nhiễmcàng cao

Trang 20

- Thời gian virus tồn tại ngoài cơ thể bệnh nhân càng lâu thì khả năng lâynhiễm càng thấp Những yéu tố ảnh hưởng đến khả năng sống của virus bênngoài cơ thể con người là các điều kiện môi trường như nhiệt độ, hóa chất.HIV đề kháng với nhiệt độ lạnh, tia Gamma, tia cực tím, virus sống 3 ngàytrong máu bệnh nhân nếu ở ngoài trời, bị tiêu diệt bởi cồn 700 , nước javenhoặc đun trong 30 phút ở nhiệt độ 560C.

Thứ hai là: Đặc điểm nguồn phơi nhiễm là bệnh nhân.

- Nguồn phơi nhiễm là chất dịch cơ thể của người nhiễm HIV giai đoạncấp, người nhiễm HIV có nhiễm trùng cơ hội, bệnh nhân AIDS có nguy cơ lâynhiễm cao hơn do số lượng virus trong cơ thể những bệnh nhân này rất cao

- Phơi nhiễm với máu hoặc dịch chứa máu của người nhiễm HIV có sốlượng tế bào lympho TCD4 thấp có nguy cơ lây nhiễm cao do nồng độ virus ởnhững bệnh nhân này cao

- Nồng độ virus bao gồm cả virus nằm trong và ngoài tế bào

- Nguy cơ lây nhiễm HIV còn phụ thuộc vào chủng virus của bệnh nhân

là nguồn phơi nhiễm, đặc biệt chủng virus tạo hợp bào

- Tình trạng nhiễm HIV chưa rõ, nguy cơ nhiễm thường được cân nhắcnếu bệnh nhân này thuộc nhóm nguy cơ cao (tiêm chích ma túy, gái mại dâm,tình dục đồng giới nam)

- Thuốc kháng virus đã sử dụng cho bệnh nhân, nếu phơi nhiễm từnguồn này thì nguy cơ lây nhiễm HIV cao hơn mặc dù có được điều trị dựphòng sau phơi nhiễm

Thứ ba là: Tình trạng hệ miễn dịch của người nguy cơ phơi nhiễm, đáp ứng

miễn dịch của người nguy cơ phơi nhiễm có thể giúp ngăn ngừa nhiễm HIVsau khi nguy cơ phơi nhiễm

Thứ tư là: Sử trí sau phơi nhiễm

Trang 21

- Nguy cơ lây nhiễm phụ thuộc việc sử trí ngay sau phơi nhiễm Vếtthương càng được sử trí sớm theo đúng quy trình thì nguy cơ lây nhiễmcàng thấp.

- Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm bằng thuốc kháng virus và khả năngđáp ứng với điều trị

Thứ năm là: Các yế tố khác

- Địa dư: NVYT làm việc tại khu vực có tỷ lệ nhiễm HIV cao, khu vựcđiểm nóng của các tệ nạn hoặc các bệnh viện tuyến trên sẽ có tần xuất tiếpxúc với người nhiễm HIV cao hơn và do đó có nguy cơ phơi nhiễm với HIVcao hơn

- An toàn trong lao động: Trang thiết bị bảo hộ lao động được sử dụngtrong quá trình lao động cũng ảnh hưởng đến nguy cơ lây nhiễm HIV Nguy

cơ lây nhiễm HIV sau khi bị kim đâm vào tay đi găng 2 lớp thấp hơn so với đigăng 1 lớp Sử dụng kính bảo hộ, khẩu trang, mặt nạ, tạp dề, quần áo bảo hộ,ủng cao su giúp cho NVYT hạn chế nguy cơ phơi nhiễm HIV NVYT dễ bịtai nạn nghề nghiệp hơn nếu phải lao động trong môi trường có cường độ cao,công việc căng thẳng hoặc đơn điệu, làm trong không gian hạn hẹp hoặckhông phù hợp, công cụ lao động thô sơ, không phù hợp với công việc Tainạn nghề nghiệp cũng thường xảy ra ở cuối giờ làm việc khi NVYT đã mệtmỏi, vào thời điểm này thời gian dẫn truyền phản xạ tăng, khả năng chú ý và

tư duy logic của con người giảm

- Thiếu kiến thức an toàn sinh học trong lao động, không thực hiện đúngnội quy, quy trình an toàn lao động, thiếu phương tiện, giảm khả năng laođộng do mệt mỏi hoặc các vấn đề tâm lý do môi trường lao động xấu gây rathiết lập chăm sóc sức khỏe nên có một hoạt động và năng động, chương trìnhkiểm soát lây nhiễm, cách tiếp cận chắc chắn sẽ cải thiện thái độ, kiến thức vàthực hành của NVYT

Trang 22

- Kinh nghiệm trong lao động thường gắn liền với tuổi đời và số nămcông tác cũng là yếu tố ảnh hưởng tới phơi nhiễm NVYT trẻ có lòng nhiệttình, tự tin nhưng còn thiếu kinh nghiệm và kỹ năng chưa thành thục nên cónguy cơ phơi nhiễm cao, đặc biệt trong những tình huống phức tạp hoặcnhững trường hợp cấp cứu.

1.4 Chiến lược bảo vệ NVYT trong dự phòng phơi nhiễm HIV nghề nghiệp [trích 2]

Bộ Y tế và Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư liên tịch số10/2005/TTLT-BYT-BTC ngày 30/3/2005 hướng dẫn thực hiện Quyết định

số 265/2003/QĐ-TTG ngày 16/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ về chế độđối với người bị phơi nhiễm hoặc bị nhiễm HIV do tai nạn rủi do nghềnghiệp Nội dung Thông tư quy định rõ:

Đối với người bị phơi nhiễm với HIV: “Được xét nghiệm chẩn đoánnhiễm HIV và được điều trị miễn phí các thuốc dự phòng chống lây nhiễmHIV do bác sỹ chỉ định theo quy định của Bộ Y tế; Được nghỉ việc để điều trị

dự phòng trong 20 ngày làm việc Trong thời gian nghỉ việc được hưởngnguyên lương và phụ cấp khác (nếu có) theo quy định của pháp luật

Đối với người bị nhiễm HIV: “Chế độ trợ cấp một lần ít nhất bằng 30tháng lương và phụ cấp hiện hưởng (nếu có) ngay sau khi người lao động đãđược xác định bị nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp; Được hưởng chế

độ hưu trí nếu đã đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên (không phụ thuộcvào tuổi đời); không phải giám định khả năng lao động và không phải giảm tỷ

lệ hưởng lương hưu do nghỉ việc trước tuổi hoặc được hưởng chế độ trợ cấpbảo hiểm xã hội một lần theo quy định của Điều lệ Bảo hiểm xã hội nếu chưa

đủ điều kiện nghỉ hưu; Nếu người nhiễm HIV bị chết thì gia đình hoặc ngườiđại diện hợp pháp của họ được hưởng chế độ tử tuất và các chế độ khác theoquy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội”

Trang 23

Đối với học sinh thực tập tại các cơ sở y tế bị nhiễm HIV: “Được điều trịmiễn phí các bệnh nhiễm trùng cơ hội do HIV gây nên, thuốc đặc hiệu, thuốcnâng cao thể trạng do bác sỹ chỉ định theo quy định của Bộ Y tế; chế độ trợcấp một lần ít nhất bằng 30 tháng lương khởi điểm của chuyên ngành đượcđào tạo ngay sau khi được xác định bị nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghềnghiệp”.

1.4.1 Xây dựng môi trường làm việc an toàn.

Môi trường làm việc an toàn không chỉ quyết định chất lượng dịch vụchăm sóc sức khỏe mà còn hạn chế tai nạn nghề nghiệp xảy ra đối với NVYT.Các biện pháp nhằm xây dựng môi trường làm việc an toàn gồm: Tổ chức tậphuấn, tuyên truyền, giáo dục sức khỏe hàng năm cho NVYT để mọi ngườihiểu rõ và thực hiện các biện pháp dự phòng Các nghiên cứu cũng chỉ ra ởnhững người được trang bị đầy đủ kiến thức về an toàn lao động thì thực hànhtốt hơn [16] Xây dựng ý thức chấp hành tự nguyện những quy định về vệsinh an toàn lao động nâng cao sức khỏe và quy trình báo cáo phơi nhiễmnghề nghiệp [25],[37],[39] Cung cấp đầy đủ trang thiết bị bảo hộ lao độngnhư găng tay, kính, khẩu trang, quần áo bảo hộ…giám sát tuân thủ sử dụngbảo hộ lao động Cung cấp đầy đủ và giám sát việc sử dụng các dung dịch sátkhuẩn, tiệt trùng, việc sử dụng thùng chứa rác thải không bị đâm thủng Sắpxếp gọn gàng, hợp lý dụng cụ và trang thiết bị tại nơi làm việc, dán nhãn chấtthải y tế có nguy cơ lây nhiễm Thực hiện, giám sát và đánh giá các hoạt độngcủa dự phòng phổ cập Cung cấp dịch vụ tư vấn, xét nghiệm tự nguyện, điềutrị, theo dõi và chăm sóc sau phơi nhiễm Giám sát hỗ trợ các NVYT trẻ còn ítkinh nghiệm Tổ chức lao động phù hợp, thời gian nghỉ hợp lý, vị trí lao độnghợp lý, tránh quá tải, giảm căng thẳng tâm lý, bố trí hệ thống biển báo vàvùng giới hạn [ trích 2]

1.4.2 Phòng ngừa chuẩn:

Trang 24

Hạn chế phơi nhiễm với các tác nhân gây bệnh là biện pháp hàng đầu

để làm giảm nguy cơ phơi nhiễm nghề nghiệp Theo Cục an toàn lao động vàsức khỏe Hoa Kỳ, nguyên tắc của phòng ngừa chuẩn là coi máu và các dịchchứa máu là nguồn lây nhiễm tiềm ẩn từ đó đưa ra các tiêu chuẩn khi thao tácvới máu và các dịch chứa máu trong cơ sở y tế nhằm làm giảm nguy cơ phơinhiễm nghề nghiệp và nguy cơ lây truyền của các tác nhân gây bệnh [trích 2]

1.4.3 Sử trí sau phơi nhiễm đúng và kịp thời [trích 2].

Bước 1 Sử lý vết thương tại chỗ

- Tổn thương da chảy máu: Xối ngay vết thương dưới vòi nước Để vết

thương tự chảy máu trong một thời gian ngắn, không nặn bóp vết thương Rửa

kỹ bằng xà phòng và nước sạch

- Phơi nhiễm qua niêm mạc mắt: Rửa mắt bằng nước cất hoặc nước muối

NaCl 0,9% liên tục trong 5 phút

- Phơi nhiễm qua miệng, mũi: Rửa, nhỏ mũi bằng nước cất hoặc dung

dịch NaCl 0,9 %, xúc miệng bằng dung dịch NaCl 0,9 % nhiều lần

Bước 2 Báo cáo người phụ trách và làm biên bản

- Nêu rõ ngày giờ, hoàn cảnh xảy ra, đánh giá vết thương, mức độ nguy

cơ của phơi nhiễm

- Lấy chữ ký của những người chứng kiến và chữ ký của người phụ trách

+ Tổn thương da sâu do dao mổ hoặc các ống nghiệm chứa máu và chấtdịch cơ thể của người bệnh bị vỡ đâm phải

Trang 25

+ Máu và chất dịch cơ thể của người bệnh bắn vào các vùng da, niêmmạc bị tổn thương viêm loét hoặc xây sát từ trước (thậm chí ngay cả khikhông biết có bị viêm loét hay không): nếu viêm loét hoặc xây sát rộng thìnguy cơ cao hơn

- Không nguy cơ: nếu máu hoặc dịch cơ thể của người bệnh bắn vào

vùng da lành

Bước 4 Xác định tình trạng HIV của nguồn gây phơi nhiễm

- Nếu người bệnh đã được xác định HIV (+): Tìm hiểu các thông tin về

tiền sử và đáp ứng đối với thuốc ARV

- Nếu chưa biết về tình trạng HIV của nguồn gây phơi nhiễm: Tư vấn và

lấy máu bệnh nhân xét nghiệm HIV

Bước 5 Xác định tình trạng HIV của người bị phơi nhiễm

- Tư vấn trước và sau khi xét nghiệm HIV theo quy định:

+ Nếu ngay sau khi bị phơi nhiễm, người bị phơi nhiễm có HIV(+): đã

bị nhiễm HIV từ trước, không phải do phơi nhiễm

+ Nếu HIV (-): kiểm tra lại sau 3 và 6 tháng

Bước 6 Tư vấn cho người bị phơi nhiễm.

- Người bị phơi nhiễm cần được cung cấp các thông tin và được tư vấn

thích hợp về dự phòng phơi nhiễm, lợi ích và nguy cơ

- Giới thiệu các tác dụng phụ của thuốc và triệu chứng của nhiễm trùng

tiên phát: sốt, phát ban, buồn nôn hoặc nôn, thiếu máu, nổi hạch v.v

- Tư vấn phòng lây nhiễm cho người khác: người bị phơi nhiễm có thể

làm lây truyền HIV cho người khác dù xét nghiệm HIV âm tính (thời kỳ cửasổ), vì vậy cần phải thực hiện các biện pháp dự phòng lây nhiễm

- Tư vấn tuân thủ điều trị và hỗ trợ tâm lý

Bước 7 Điều trị dự phòng bằng ARV cho người bị phơi nhiễm

Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm HIV bằng thuốc ARV [19], [51], [52]

Trang 26

Tiến hành điều trị bằng thuốc ARV càng sớm càng tốt từ 2-6 giờ vàtrước 72 giờ sau khi bị phơi nhiễm cho tất cả các trường hợp phơi nhiễm cónguy cơ, đồng thời tiến hành đánh giá tình trạng HIV của nguồn gây phơinhiễm và người bị phơi nhiễm

Nguy cơ lây nhiễm sau khi bị phơi nhiễm phụ thuộc vào việc sử trí ngaysau phơi nhiễm: Vết thương càng được sử lý sớm theo đúng quy trình thìnguy cơ lây nhiễm càng thấp [27]

Dự phòng lây nhiễm HIV sau phơi nhiễm với thuốc kháng virus được sửdụng rộng rãi trên toàn thế giới Hiện nay có nhiều phác đồ điều trị dự phòngsau phơi nhiễm và nâng cao hiệu quả điều trị, giảm chi phí, và hạn chế tối đacác tác dụng phụ đã và đang được áp dụng [43]

Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm bằng thuốc kháng vi rút có tác dụngtrong việc phòng ngừa HIV sau phơi nhiễm, tuy nhiên hiệu quả điều trị cũngkhông đạt 100% Vào thời điểm năm 2006, thế giới đã báo cáo 14 trường hợpthất bại trong điều trị dự phòng sau phơi nhiễm, có thể do những trường hợpnày đã nhiễm phải chủng HIV kháng thuốc hoặc thời gian từ khi bị phơinhiễm đến khi dùng liều kháng vi rút đầu tiên quá lâu

Phác đồ điều trị dự phòng sau phơi nhiễm

Phối hợp 2 thuốc

(Phác đồ cơ bản)

AZT + 3TC hoặc d4T + 3TC

Tất cả các trường hợp phơinhiễm có nguy cơ

Phối hợp 3 thuốc

AZT + 3TC + LPV/r hoặc

d4T + 3TC + LPV/r

Trong trường hợp nguồn gâyphơi nhiễm đã và đang điều trịARV và nghi có kháng thuốc

Thời gian điều trị 4 tuần

1.4.4 Chế độ, chính sách về dự phòng nhiễm HIV nghề nghiệp [trích 2].

Trang 27

- Người bị phơi nhiễm HIV, người nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghềnghiệp được hưởng chế độ theo quy định của pháp luật.

- Người nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp được khám, chữa bệnhnhiễm trùng cơ hội và cấp thuốc kháng HIV miễn phí

- Điều kiện để xác định người bị phơi nhiễm với HIV, người nhiễm HIV

do tai nạn rủi ro nghề nghiệp được Thủ tướng Chính phủ quy định

1.4.5 Giảm kỳ thị, phân biệt đối xử.

Ở Việt Nam, nhiễm HIV gặp chủ yếu ở nhóm người có liên quan đếnnhững hành vi bị cấm đoán như sử dụng ma túy và hành nghề mại dâm nên họthường bị lên án khi tình trạng nhiễm của họ bị tiết lộ Tuy nhiên, việc lên ánnhững người bị nhiễm HIV không giúp ích cho ngăn chặn sự lan rộng củabệnh Trong thực tế nó thường là nguyên nhân làm cho bệnh lan tràn rộng hơncủa bệnh Bởi vì nhóm người bị kỳ thị có xu hướng giấu bệnh Họ thườngkhông dám xét nghiệm xác định tình trạng nhiễm của mình, hoặc nếu biết thìcũng không thông báo tình trạng nhiễm của họ khi tới các cơ sở y tế Môitrường không kỳ thị, phân biệt đối sử sẽ giúp cho người nhiễm HIV mạnh dạntiết lộ tình trạng nhiễm với NVYT, giúp cho công tác phòng ngừa phơi nhiễmHIV tại cơ sở y tế thuận lợi hơn Cung cấp một môi trường làm việc an toànvới thực thi các biện pháp phòng ngừa phổ quát, cũng như cung cấp dự phòngsau phơi nhiễm được đề nghị như là cách để cho phép NVYT để thay đổi thái

Trang 28

- Khuyến khích và huy động sự tham gia của người nhiễm HIV, người bịảnh hưởng bởi HIV để phá bỏ những chuyện hoang đường về căn bệnh, tạo ra

sự đồng cảm và hiểu biết

- Cung cấp các dịch vụ xét nghiệm tự nguyện HIV/AIDS, chăm sóc, hỗtrợ và điều trị cho người nhiễm HIV

- Tôn trọng quyền riêng tư và giữ bí mật tình trạng nhiễm

- Nâng cao nhận thức về luật phòng, chống HIV/AIDS và bảo vệ ngườinhiễm HIV

1.5 Công tác phòng lây nhiễm HIV của Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên

Những năm gần đây tỷ lệ người nhiễm HIV ngày càng tăng trong cộngđồng Bệnh viện là đơn vị chuyên môn cao nhất thực hiện chăm sóc sức khỏecho cộng đồng Số người nhiễm HIV/AIDS điều trị tại bệnh viện ngày càngtăng, số người không rõ tình trạng nhiễm đến khám và điều trị bệnh tại bệnhviện ngày càng nhiều Điều này đặt ra cho NVYT những áp lực lớn, cường độlàm việc nhiều hơn, căng thẳng hơn, đây cũng là một trong những yếu tố gópphần làm tăng số trường hợp nạn nghề nghiệp

Những vấn đề về kiến thức, thái độ, thực hành dự phòng lây nhiễm HIVcủa NVYT Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên

Những năm gần đây, việc tiếp cận thông tin dễ dàng hơn, trình độ củaNVYT được cải thiện Các nhà quản lý cũng ý thức được tính chất nguy hiểm

và sự lây lan phức tạp của căn bệnh này, vì vậy công tác phòng chống HIVtrong bệnh viện ngày càng được quan tâm Tuy nhiên do còn nhiều khó khăn

cả về chủ quan lẫn khách quan nên bệnh viện cũng chỉ cơ bản đáp ứng đủgăng cao su cho nhân viên Việc cung ứng về các trang bị bảo hộ khác nhưkính hoặc mặt nạ, ủng ni lông còn hạn chế Mặt khác thói quen cả nhân viên

Trang 29

trong việc sử dụng các loại bảo hộ lao động này cũng chưa hình thành, đôikhi họ cảm thấy vướng bận khi sử dụng

Việc đào tạo cho NVYT về phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS chủ yếuthông qua các lớp đào tạo do bệnh viện thực hiện hàng năm cho toàn tỉnh, mỗiđơn vị được cử đại diện tham dự tập huấn, vì vậy số NVYT được đào tạo haytập huấn về công tác phòng lây nhiễm nghề nghiệp đối với HIV một cách đầy

đủ thường xuyên không nhiều Việc tuyên truyền về công tác phòng chốngHIV/AIDS cho nhân viên bệnh viện chủ yếu thông qua việc triển khai các vănbản quy định của Bộ Y tế thông qua giao ban hoặc công văn chuyển về cáckhoa phòng, chưa có sự đầu tư về chiều sâu cũng như tính cập nhật kiến thứcmới Trang bị bảo hộ để phòng chống HIV/AIDS của bệnh viện cho NVYTchủ yếu mới chỉ đáp ứng đủ găng, thiếu kính bảo hộ, mặt nạ và ủng ni lông.Bản thân nhân viên được trang bị kiến thức chưa đầy đủ, dẫn đến sự chủquan, đôi khi không quan tâm đến việc tự bảo vệ cho mình trong khi thựchiện nhiệm vụ

Trang 30

Chương 2ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Cán bộ, NVYT tại các khoa phòng, những đối tượng thường xuyên trựctiếp chăm sóc, điều trị bệnh nhân hoặc các chất thải y tế

- Đại diện lãnh đạo Bệnh viện, lãnh đạo khoa

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên là Bệnh viện đa khoa hạng

I, trực thuộc Bộ Y tế Bệnh viện đóng vai trò là hạt nhân của Trung tâm Y tếvùng Đông - Bắc Việt Nam

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 01/2012 đến tháng 12/2012.

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp nghiên cứu định

lượng với nghiên cứu định tính

+ Nghiên cứu định lượng:

Mô tả thực trạng nguy cơ phơi nhiễm HIV/AIDS của NVYT tại Bệnhviện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên

+ Nghiên cứu định tính:

Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ phơi nhiễm HIV/AIDSnghề nghiệp ở nhân viên bệnh viện hiện nay

2.2.2 Cách chọn mẫu

2.2.2.1 Tiêu chuẩn chọn mẫu

- Các nhân viên bệnh viện, Cán bộ quản lý khoa phòng có tham gia trựctiếp vào quá trình thăm khám, điều trị, chăm sóc và phục vụ người bệnh Là

Trang 31

những người có nguy cơ phơi nhiễm các bệnh lây nhiễm, đặc biệt chú nhânviên các khoa thuộc hệ Ngoại- Sản, khoa Truyền nhiễm, khoa khám bệnh,khoa Nhi, các chuyên khoa lẻ như Da liễu, Răng-Hàm-Mặt, Tai-Mũi-Họng

- Tự nguyện tham gia nghiên cứu

2.2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Không trực tiếp tham gia thăm khám, điều trị, chăm sóc người bệnh

- Không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.2.3 Phương pháp chọn mẫu, cỡ mẫu

2.2.3.1 Cỡ mẫu định lượng: Toàn bộ

Khối các khoa phòng có liên quan trực tiếp

2.2.4 Khái niệm về nguy cơ và sai số trong nghiên cứu.

- Nguy cơ là xác suất rủi ro gây nguy hiểm sẽ biến thành thảm họa haynói cách khác, xác suất mà một thảm họa xảy ra

- Sai số là sự chênh lệch giữa giá trị đo được hoặc tính được và giá trịthực hay giá trị chính xác của một đại lượng nào đó

2.2.5 Các chỉ tiêu nghiên cứu

2.2.5.1 Nhóm chỉ số chung về đối tượng nghiên cứu:

- Tuổi, giới, dân tộc

- Trình độ chuyên môn, thâm niên công tác

- Hệ lâm sàng (nội, ngoại, cận lâm sàng ) nơi NVYT đang công tác

- Đã tham gia hoặc chưa tham gia tập huấn về dự phòng lây nhiễm nghềnghiệp đối với HIV

Trang 32

2.2.5.2 Nhóm chỉ số thực trạng:

- Tần suất tiếp xúc với chất thải là dịch thể bệnh nhân

- Tỷ lệ NVYT thường xuyên phải tiếp xúc với dịch thể của bệnh nhântheo từng khối chuyên khoa

- Tỷ lệ NVYT trả lời đã từng bị phơi nhiễm

- Phân bố các hình thức phơi nhiễm của NVYT

- Tỷ lệ NVYT bị phơi nhiễm theo khối chuyên khoa

- Tỷ lệ các đối tượng bị phơi nhiễmphân theo trình độ học vấn

2.2.5.3 Nhóm chỉ số về kiến thức điều tra kiến thức của NVYT:

- Mức lây nhiễm của các loại rác thải và dịch thể người bệnh

- Xác định các trường hợp được gọi là có nguy cơ sau phơi nhiễm

- Quy trình xử lý sau phơi nhiễm

- Các biện pháp phòng lây nhiễm HIV

2.2.2.4 Nhóm chỉ số về thái độ:

- Thái độ đối với công việc

- Thái độ đối với người bệnh

2.2.5.5 Nhóm chỉ số về thực hành:

- Thực hành dự phòng phổ cập

- Thực hành phòng ngừa chuẩn

2.2.5.6 Nhóm chỉ số về các yếu tố liên quan:

- Thực trạng cơ sở vật chất của bệnh viện đáp ứng với việc dự phòng lâynhiễm HIV

- Việc tổ chức kiểm tra thực hiện các quy định phòng lây nhiễm HIVnghề nghiệp của bệnh viện

- Ý thức tự giác thực hiện các quy định phòng lây nhiễm HIV nghềnghiệp của NVYT

+ Liên quan giữa đào tạo và kiến thức

Trang 33

+ Liên quan giữa đào tạo và thực hành.

2.3 Kỹ thuật thu thập số liệu

- Nghiên cứu định lượng: Phỏng vấn NVYT trực tiếp điều trị, chăm

sóc và phục vụ bệnh nhân tại bệnh viện bằng bộ câu hỏi có cấu trúc, được

thiết kế sẵn (Phụ lục 1)

- Nghiên cứu định tính:

Phỏng vấn sâu các đối tượng: Lãnh đạo bệnh viện Lãnh đạo khoa phòng

có liên quan (Phụ lục 2)

Thảo luận nhóm với NVYT trực tiếp tiếp xúc với bệnh nhân về kiến thức

về HIV nghề nghiệp, các yếu tố liên quan đến hành vi nguy cơ lây nhiễm

HIV, các tai nạn rủi ro có nguy cơ cao phơi nhiễm nghề nghiệp (Phụ lục 3)

- Để tránh phỏng vấn lặp lại những người đã phỏng vấn sẽ được đánh

dấu vào danh sách lập sẵn

2.5 Đạo đức trong nghiên cứu

- Đối tượng tham gia nghiên cứu được thông báo rõ ràng và đầy đủ vềmục đích nghiên cứu và có quyền đồng ý tham gia hoặc rút lui khỏi nghiêncứu vào bất kỳ thời gian nào

- Mọi thông tin liên quan đến đối tượng chỉ được dùng vào mục đíchnghiên cứu và được bảo mật

Trang 34

2.6 Phương pháp sử lý số liệu

Số liệu được nhập với phần mềm EpiData 3.1 Phân tích và sử lý trênphần mềm chương trình EpiInfo 6.04

Trang 35

Chương 3KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Nhóm chỉ số về đối tượng nghiên cứu

Bảng 311: Mẫu nghiên cứu theo nhóm tuổi và giới

Tuổi Giới

Số NVYT nữ chiếm 76.50%, số NVYT nam chiếm 23.50%

Tỷ lệ NVYT trong nghiên cứu phần lớn ở độ tuổi dưới 40 với 68.18%, nhóm tuổi 40- 49 chiếm tỷ lệ thấp nhất 14.71%

Trang 37

12.5

Biểu đồ 4 Phân bố mẫu nghiên cứu theo dân tộc

Nhận xét: Phần lớn NVYT là người kinh chiếm tới 77.60%, các dân tộc khác

chiếm tỷ lệ thấp hơn

Biểu đồ 5 Phân bố mẫu nghiên cứu theo trình độ chuyên môn

Nhận xét: Trình độ sau đại học chiếm 16.60%, đại học chiếm 25.70%,Trình

độ trung cấp và kỹ thuật viên chiếm 51.60%; hộ lý và công nhân là 4.80%

Trang 38

Biểu đồ 6 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo khối chuyên khoa

Nhận xét: Khối Nội - Nhi chiếm tỷ lệ 54.90%, khối Ngoại - Sản chiếm 29.00%

khối cận lâm sàng chiếm 13.30%, các đối tượng còn lại khác chiếm tỷ lệ 2.80%

Trang 39

3.2 Thực trạng nguy cơ phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp của NVYT

Bảng 1 Tần suất tiếp xúc với chất thải là dịch thể bệnh nhân

Bảng 2 Tỷ lệ NVYT thường xuyên phải tiếp xúc với dịch thể của bệnh

nhân theo từng khối chuyên khoa

Khối Ngoại-Sản có tỷ lệ NVYT tiếp xúc với máu và dịch thể chiếm tỷ lệ

cao nhất (80.13%), cao hơn các đối tượng còn lại (p<0,01)

Bảng 3 Tỷ lệ NVYT trả lời đã từng bị phơi nhiễm

Trang 40

Số lần bị phơi nhiễm Số lượng Tỷ lệ %

Bảng 4 Phân bố các hình thức phơi nhiễm của NVYT

Chủ yếu các trường hợp phơi nhiễm là do vật sắc nhọn gây tổn thương

da với 67.53%, niêm mạc 27.67% Các hình thức phơi nhiễm còn lại có tỷ lệthấp hơn

Bảng 5.Tỷ lệ các đối tượng bị phơi nhiễm phân theo trình độ học vấn

Ngày đăng: 11/06/2015, 19:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng đánh giá mức độ nguy cơ lây nhiễm HIV  Mức độ nguy cơ - Thực trạng nguy cơ phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp ở NVYT Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
ng đánh giá mức độ nguy cơ lây nhiễm HIV Mức độ nguy cơ (Trang 18)
Bảng 311: Mẫu nghiên cứu theo nhóm tuổi và giới - Thực trạng nguy cơ phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp ở NVYT Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
Bảng 311 Mẫu nghiên cứu theo nhóm tuổi và giới (Trang 35)
Bảng 2. Tỷ lệ NVYT thường xuyên phải tiếp xúc với dịch thể của bệnh - Thực trạng nguy cơ phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp ở NVYT Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
Bảng 2. Tỷ lệ NVYT thường xuyên phải tiếp xúc với dịch thể của bệnh (Trang 39)
Bảng 4. Phân bố các hình thức phơi nhiễm của NVYT - Thực trạng nguy cơ phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp ở NVYT Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
Bảng 4. Phân bố các hình thức phơi nhiễm của NVYT (Trang 40)
Hình thức phơi nhiễm Số lượng Tỷ lệ % - Thực trạng nguy cơ phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp ở NVYT Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
Hình th ức phơi nhiễm Số lượng Tỷ lệ % (Trang 40)
Bảng 6. Tỷ lệ NVYT bị phơi nhiễm theo khối chuyên khoa - Thực trạng nguy cơ phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp ở NVYT Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
Bảng 6. Tỷ lệ NVYT bị phơi nhiễm theo khối chuyên khoa (Trang 41)
Bảng 7. Hiểu biết về loại chất thải lây nhiễm - Thực trạng nguy cơ phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp ở NVYT Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
Bảng 7. Hiểu biết về loại chất thải lây nhiễm (Trang 41)
Bảng 8.  Hiểu biết đúng quy định quản lý chất thải - Thực trạng nguy cơ phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp ở NVYT Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
Bảng 8. Hiểu biết đúng quy định quản lý chất thải (Trang 42)
Bảng 9.  Hiểu biết về nguy cơ lây nhiễm đối với các loại dịch thể của bệnh - Thực trạng nguy cơ phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp ở NVYT Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
Bảng 9. Hiểu biết về nguy cơ lây nhiễm đối với các loại dịch thể của bệnh (Trang 42)
Bảng 10.  Hiểu biết về nguy cơ phơi nhiễm khi máu/dịch thể bắn vào da/niêm mạc - Thực trạng nguy cơ phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp ở NVYT Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
Bảng 10. Hiểu biết về nguy cơ phơi nhiễm khi máu/dịch thể bắn vào da/niêm mạc (Trang 43)
Bảng 12. Hiểu biết đúng về các bước sử lý sau phơi nhiễm - Thực trạng nguy cơ phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp ở NVYT Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
Bảng 12. Hiểu biết đúng về các bước sử lý sau phơi nhiễm (Trang 44)
Bảng 13.  Hiểu biết về nguyên tắc dự phòng phổ cập - Thực trạng nguy cơ phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp ở NVYT Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
Bảng 13. Hiểu biết về nguyên tắc dự phòng phổ cập (Trang 44)
Bảng 14.  Hiểu biết về cần thiết điều trị cấp cứu ngay sau khi phơi nhiễm - Thực trạng nguy cơ phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp ở NVYT Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
Bảng 14. Hiểu biết về cần thiết điều trị cấp cứu ngay sau khi phơi nhiễm (Trang 45)
Bảng 16. Quan điểm của NVYT về xét nghiệm sàng lọc - Thực trạng nguy cơ phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp ở NVYT Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
Bảng 16. Quan điểm của NVYT về xét nghiệm sàng lọc (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w