Với tinh thần ấy, bài viết này sẽ tập trung vào việc phân tích các đặc điểm về hình thái xã hội của “phương thức sản xuất châu Á”, Đồng thời đem những đặc điểm ấy soi rọi vào lịch sử Việ
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DẪN LUẬN 2
Chương1 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN TRONG “HÌNH THÁI XÃ HỘI” CỦA PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT CHÂU Á (VỚI TÍNH CHẤT NHƯ MỘT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI) 3
1.1 Những vấn đề cơ bản của phương thức sản xuất Châu Á 3
1.1.1 Lược khảo khái luận phương thức sản xuất Châu Á của Các Mác – Ănghen 3
1.1.2 Xuất xứ của khái luận phương thức sản xuất Châu Á 5
1.1.3 Những đặc trưng cơ bản của phương thức sản xuất Châu Á 6
1.2 Hình thái xã hội của “phương thức sản xuất chấu Á” 9
Chương 2 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA HÌNH THÁI XÃ HỘI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN CỔ - TRUNG ĐẠI 11
2.1 Xã hội Việt Nam thời kì Văn Lang – Âu Lạc và Bắc thuộc 11
2.1.1 Thời kì Văn Lang – Âu Lạc 11
2.1.2 Thời Bắc thuộc 13
2.2 Xã hội Việt Nam trong thời kì dân tộc tự chủ từ thế kỉ X-XIV 18
2.2.1 Đại Cồ Việt thời Đinh (939 – 980) 18
2.2.2 Đại Cồ Việt thời Tiền Lê (980 – 1009) 19
2.2.3 Đại Việt thời Lý 21
2.2.4 Đại Việt thời Trần 23
2.3 Xã hội Việt Nam trong thời kì phát triển mạnh mẽ của chế độ phong kiến từ thế kỉ XV-XIX 27
2.3.1 Thời Hậu Lê 27
2.3.2 Thời Nguyễn 30
TỔNG LUẬN 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 34
Trang 2DẪN LUẬN
Phương thức sản xuất Châu Á là gì? Là một vấn đề được nói đến rất nhiều lần từ hơn một nửa thế kỉ nay Càng bàn, ý kiến càng tân kì, nhận định càng khác và cho đến nay giữa các nhà học giả macxít trên thế giới vẫn chưa có một kiến giải nhất định, thoả đáng
Vì vậy, vấn đề phương thức sản xuất Châu Á có một tầm quan trọng nhất định trong công tác nghiên cứu lịch sử nhưng cũng là một trong những vấn đề phức tạp nhất, khó hiểu nhất
mà những nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã đề ra cho những người làm công tác sử học
Để tiếp cận với phương thức sản xuất châu Á, theo chúng tôi, chúng ta không thể tiếp cận môt cách tổng thể với khối lượng tài liệu, kiến thức đồ sộ về mọi mặt như ccá nhà nghiên cứu của thế kỉ XX đã làm Thay vào đó chúng ta hãy tiếp cận và làm sáng tỏ từng
bộ phận từ cơ sở hạ tầng đến kiến trúc thượng tầng của nó và đi đến một cái nhìn từ chi tiết đến cụ thể Có như vậy chúng ta mới tìm được những chi tiết cho thấy sự dị biệt hay tương đồng giữa “phương thức sản xuất châu Á” với các hình thái kinh tế - xã hội khác đã được chứng minh và công nhận
Với tinh thần ấy, bài viết này sẽ tập trung vào việc phân tích các đặc điểm về hình thái xã hội của “phương thức sản xuất châu Á”, Đồng thời đem những đặc điểm ấy soi rọi vào lịch sử Việt Nam cổ trung đại để xem xem có sự tồn tại của phương thức sản xuất châu
Á ở Việt nam hay không và nhận dạng liệu ở Việt Nam có nưubgx đặc điểm gì khác so với mặt bằng chung của châu Á, phương đông không?
Trang 3Chương1 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN TRONG “HÌNH THÁI XÃ HỘI” CỦA PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT CHÂU Á (VỚI TÍNH CHẤT NHƯ MỘT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI)
1.1 Những vấn đề cơ bản của phương thức sản xuất Châu Á
1.1.1 Lược khảo khái luận phương thức sản xuất Châu Á của Các Mác – Ănghen
Mầm mống của khái niệm “Phương thức sản xuất châu Á” xuất phát từ một đoạn văn trong bài tựa cuốn sách “Phê phán chính trị kinh tế học” của Mác viết năm 1859 Trong đoạn văn ấy, Mác nhận định: “Về đại thể, có thể coi các phương thức sản xuất Châu Á, cổ đại, phong kiến và tư sản hiện đại là những thời đại tiến triển dần dần của hình thái kinh tế
xã hội” (C.Mác – Ănghen, Tuyển tập, tập1, trang 578)
Mác chỉ phát biểu một cách đại thể như thế và cũng chỉ phát biểu một lần Ở đây cũng như trong toàn bộ tác phẩm trước Mác không hề xác định phương thức sản xuất Châu
Á là phương thức sản xuất của giai đoạn lịch sử nào của Châu Á, phong kiến hay nô lệ hay công xã nguyên thuỷ mặc dù Mác luôn luôn nói đến Châu Á và đề cập đến nhiều vấn đề Châu Á Mãi tới 50 năm sau khi Mác phát biểu, khái niệm phương thức sản xuất Châu Á mới lại được nhắc tới
Khái niệm khoa học do Mác đề ra đầu tiên để biểu thị một số đặc thù của xã hội phương Đông cổ xưa Trong lời tựa tác phẩm “góp phần phên phái khoa kinh tế chính trị” xuất bản năm 1859, Mác coi phương thức sản xuất Châu Á cùng với cổ đại, phong kiến và
tư sản hiện đại là những thời đại tiến triển dần dần của hình thái kinh tế xã hội Mác cùng với Ănghen đã nghiên cứu lịch sử phương Đông thời trước chủ nghĩa thực dân và tái hiện nhiều đặc điểm quan trọng của xã hội phương Đông như vai trò của thuỷ lợi trong phát triển nông nghiệp và hình thành nhà nước, sự bảo tồn lâu dài của công xã nông thôn kiểu
Á châu, hình thái sở hữu nhà nước về ruộng đất, đặc điểm của thành thị và mối quan hệ mật thiết, không tách rời giữa thành thị và nông thôn, sự hình thành sớm nhà nước quân chủ tập quyền phát triển theo xu hướng chuyên chế, tình trạng trì trệ vào cuối thời trung đại… Nhưng Mác – Ănghen chưa đưa ra một kết luận rõ ràng phương thức sản xuất Châu
Trang 4Á có phải là một hình thái kinh tế - xã hội hay không Vì vậy đã diễn ra cuộc tranh luận về phương thức sản xuất Châu Á vào cuối những năm 20 đầu những năm 30 ở Liên Xô và những năm 60 thế kỉ XX ở Pháp rồi lan rộng ra nhiều nước ở Châu Âu, Á, Phi, Mỹ… Trong tranh luận, hình thành hai xu hướng chủ yếu: Phương thức sản xuất Châu Á là những nét đặc thù của hình thái kinh tế - xã hội chiếm hữu nô lệ hay phong kiến ở phương Đông; phương thức sản xuất Châu Á là một hình thái kinh tế - xã hội phân hoá giai cấp và nhà nước sơ kì ở phương Đông không thuộc phạm trù chế độ chiếm hữu nô lệ hay phong kiến
Các ý kiến thảo luận đều nhận thấy phải tiếp tục nghiên cứu sâu hơn nữa các hình thái kinh tế - xã hội cổ đại và trung đại phương Đông để đi đến một khái quát khoa học vững chắc về vấn đề này và trong trường hợp thừa nhận phương thức sản xuất Châu Á là một hình thái kinh tế - xã hội thì phải xây dựng một thuật ngữ khoa học mới thay thế cho khái niệm phương thức sản xuất Châu Á
Phương thức sản xuất Châu Á là sự đúc kết của nhiều công trình nghiên cứu mà Mác và Ănghen đã phát hiện ở phương Đông Trong công trình “Hệ tư tưởng Đức” (1845 – 1846), Mác đã phát hiện ra rằng: “Sự phân công lao động cũng đồng thời là những hình thức khác của sở hữu” và tìm thấy các hình thức sở hữu đầu tiên trong lịch sử nhân loại: Thứ nhất là sở hữu bộ lạc, thứ hai là sở hữu công xã và sở hữu nhà nước, thứ ba là sở hữu phong kiến hay sở hữu đẳng cấp Tất cả các hình thức sở hữu đó đều gắn với sự xuất hiện nhà nước
Trong tác phẩm “Sự khốn cùng của triết học”, Mác phát hiện ra mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong một phương thức sản xuất: Những quan hệ
xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực lượng sản xuất Do có những lực lượng sản xuất mới loài người thay đổi phương thức sản xuất của mình… loài người thay đổi tất cả những quy luật xã hội của mình Từ nhận thức lí luận đó đã đưa đến khẳng định sự ra đời
kế tiếp lẫn nhau giữa các hình thái kinh tế xã hội: Cộng sản nguyên thuỷ đến chiếm hữu nô
lệ, phong kiến và tư bản chủ nghĩa
Trang 5Vào những năm đầu của thập kỉ 50 của thế kỉ XIX, nhìn sang Ấn Độ, Mác và Enghen
đã phát hiện ra cái mới Những thư từ mà Mác công bố trước 1855 cùng với công trình “sự thống trị Anh ở Ấn Độ (10 – 6- 1857) đã cho thấy rõ những điều rất cơ bản về nét đặc thù của các xã hội phương Đông là “nhà nước chuyên chế phương Đông – Chuyên chế Châu Á” và “chế độ công xã nông thôn” Từ những công trình “những hình thức có trước sản xuất tư bản chủ nghĩa” (1857 – 1858), cuốn “nguyên lý phê phán chính trị kinh tế học” và đến tác phẩm “góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị” (1859), Mác đã chính thức đưa
ra khái niệm phương thức sản xuất Châu Á, coi như một trong những phương thức sản xuất
có trong lịch sử loài người
1.1.2 Xuất xứ của khái luận phương thức sản xuất Châu Á
Khái luận phương thức sản xuất Châu Á của Mác và Enghen được đúc kết từ ba nguồn ý tưởng:
Lý luận của các nhà kinh tế học quốc gia thửơ ấy như Streat Mill và Riched Jones
mà Mác đã nghiên cứu vào năm 1853 và sử dụng những khái niệm của họ
Kiến thức lấy từ các kí sự chuyên đề các xứ phương Đông
Nguồn kiến thức từ những nghiên cứu về các cộng đồng xóm làng của nhiều xứ khác trên thế giới mà hai ông đã đặt trọng tâm nghiên cứu vào ý nghĩa của các cộng đồng này tại các nước phương Đông
Những công trình nghiên cứu này là những đóng góp hỗ trợ cho công trình nghiên cứu nền ngoại thương của Anh quốc và sự thịnh vượng kinh tế của xứ này Thị trường phương Đông đã trở thành khu vực ảnh hưởng tăng trưởng của nền công nghiệp Anh quốc
Sự bành trướng xuất cảng hàng hoá Anh đã dẫn tới những xáo trộn sâu rộng nội tại của xã hội phương Đông Loạn Thái Bình thiên quốc ở Trung Hoa, cuộc nổi dậy Sepoy tại Ấn Độ
là những phản ứng trực tiếp hay gián tiếp vào quá trình giải thể đang tăng mạnh của các xã hội trên Với kiến thức khai phá, Mác và Enghen đã nghiên cứu thí điểm cấu trúc của các
xã hội Châu Á đang lâm vào quá trình tan rã Từ đó hai ông đã phác thảo đại cương khái luận phương thức sản xuất Châu Á
Trang 61.1.3 Những đặc trưng cơ bản của phương thức sản xuất Châu Á
Những đặc trưng của phức thức sản xuất châu Á theo quan điểm của các tác gia kinh điển (Mác - Ănghen):
Ở những tác phẩm khác nhau thì những phương sán xuất châu Á được Mác và Ăngghen chỉ ra (không có tác phẩm riêng biệt nào bàn về phương thức sản xuất châu Á).Tuy nhiên người ta thống nhất ở mấy đặc trưng sau:
Một, chế độ công xã nông thôn với tất cả sự trì trệ bảo thủ của nó (tiêu biểu nhất là công xã nông thôn ở Ấn Độ)
Hai, Nhà nước chuyên chế phương Đông
Ba, chế độ sở hữu tập thể về ruộng đất mà người đứng đầu là nhà vua và sự chiếm dụng của các công xã
Bốn, sự bóc lột theo kiểu cống nạp
Năm, sự không tách rời giữa thủ công nghiệp với nông nghiệp, thành thị chậm ra đời và khó phát triển
Sáu, sự tồn tại một cách kiên trì nhất và lâu dài nhất của các hình thái châu Á
Bảy, sản xuất hàng hoá chậm phát triển
Tám, trong phương thức sản xuất châu Á, tô và thuế kết hợp là một
Chín, hiệp tác (hợp tác) giản đơn của những người lao động dưới sự chỉ huy của Nhà nước chuyên chính phương Đông tạo nên những công trình xa hoa hay có ích
Mười, tính độc chuyên của phường hội và sự hình thành những đẳng cấp xã hội Mười một, sự duy trì các tôn giáo cổ đại, sự thần thánh hoá thiên nhiên
Mười hai, tính trì trệ và sự tồn tại dai dẳng của phương thức sản xuất châu Á
Từ đó ta có thể rút ra mấy đặc trưng chính như sau:
Trang 7- Chế độ sở hữu công cộng về ruộng đất: Mác và Enghen đã xuất phát từ phân công lao động và các hình thức sở hữu để tìm tới phương thức sản xuất Châu Á Chế độ này bao gồm: Kẻ sở hữu tối cao hay sở hữu duy nhất là nhà vua, kẻ chiếm dụng đất đai theo kiểu cha truyền con nối là các công xã, kẻ sử dụng đất đai là các thành viên công xã và phải thực hiện nghĩa vụ nộp cống cho kẻ sở hữu Mâu thuẫn của chế độ sở hữu nảy sinh từ khi
tư hữu hoá về ruộng đất xuất hiện dẫn đến sự giải thể của phương thức sản xuất Châu Á Chúng ta có thể khẳng định quyền sở hữu nhà nước về ruộng đất là phổ biến ở các xã hội phương Đông cổ trung đại Nhà vua đại biểu cho nhà nước cũng là kẻ nắm nhà nước có toàn quyền phong cấp đất đai trong lãnh thổ của mình cho bất cứ ai, vì vậy sở hữu nhà nước là một thực quyền Chế độ sở hữu nhà nước thiết lập trên cơ sở các công xã nông thôn có thể là cả bộ lạc là đặc trưng của chế độ sở hữu theo phương thức sản xuất Châu Á Quyền sở hữu nhà nước biểu hiện trong quyền hướng dùng sản phẩm thặng dư - quyền thu địa tô – do nông dân công xã cống nạp Mác đã nói rất rõ về chế độ sở hữu nhà nước thông qua ông vua chuyên chế và việc bóc lột địa tô của những nhà nước kiểu phương thức sản xuất Châu Á và phân biệt nó với các phương thức bóc lột khác… sự chiếm hữu địa tô là hình thái kinh tế dưới đó quyền sở hữu ruộng đất được thực hiện, và mặt khác địa tô giả định đã phải có quyền sở hữu ruộng đất tức là giả định đã phải có một số người nào đó là những kẻ sở hữu (bàn về các xã hội tiền tư bản, trang 237)
- Nhà nước chuyên chế cổ đại: Nhà nước thực hiện chuyên chế dựa trên quyền sở hữu tối cao về ruộng đất được xác lập trên mối quan hệ kẻ thống trị là nhà vua và đẳng cấp, giai cấp cầm quyền thu cống nạp, giai cấp bị trị nộp cống phẩm, nhà nước thực hiện ba chức năng, ngoài việc bóc lột nhân dân trong nước bằng hình thức tô kết hợp với thuế làm một và đi cướp bóc nhân dân các nước khác, chức năng tích cực là chăm lo xây dựng các công trình mỹ quan và công cộng mà ở phương Đông quan trọng nhất là trị thuỷ, thuỷ lợi
Với tư cách là kẻ sở hữu tối cao về ruộng đất, nhà nước trực tiếp giữ quyền phân phối ruộng đất cho bất cứ ai, đồng thời nhà nước cũng can thiệp vào việc thúc đẩy sản xuất nông nghiệp cấm bỏ hoang ruộng đất thực hiện di dân lập làng Nhà nước quân chủ Châu
Á do quý tộc quan liêu nắm với tư cách là giai cấp bóc lột thu cống phẩm các công xã nông
Trang 8thôn, lợi ích của nó gắn liền với sự tồn tại của công xã nông thôn Vì vậy nhà nước bảo vệ
sở hữu công xã, bảo vệ người nông dân công xã khỏi rơi xuống thân phận nô lệ Nhà nước hạn chế sự cướp đoạt nông dân, hạn chế sự áp bức bóc lột của bọn quý tộc, quan lại nhằm bảo vệ người đóng thuế, người đi lính, đi lao dịch cho nhà nước Nhà nước thực hiện những chức năng xã hội – xây dựng thuỷ lợi với quy mô lớn và điều khiển việc thuỷ lợi Rõ ràng chức năng thủy lợi của nhà nước quân chủ chuyên chế phương Đông là một nét đặc biệt,
nó có thể giải thích phần nào những đặc trưng của nhà nước phương Đông Một nét chung của nhà nước theo phương thức sản xuất Châu Á là sự thực hiện những chức năng xây dựng công cộng Ngoài thuỷ lợi, đê điều còn có việc mở mang đường giao thông xây cầu cống, đào sông, xây dựng các công trình kiến trúc lớn như đền đài, cung điện, lăng tẩm quy
mô Như Mác nói: Đó là nhờ có việc các nhà nước quân chủ phương Đông đã tập trung trong tay của cải và nhân công mới có thể tiến hành được
- Công xã nông thôn: Với nền kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc khép kín, kinh tế hàng hoá chậm ra đời và kém phát triển Thủ công nghiệp không tách rời khỏi công nghiệp, đô thị chỉ như những cái bướu của cơ cấu kinh tế Duy trì và tàng trữ lâu dài những tàn dư lạc hậu cổ đại Tình trạng thấp kém hạn chế của tư duy, phản ánh trong tôn giáo cổ đại và sự thần thánh hoá tự nhiên… hạn chế lý trí con người và hạ thấp nhân phẩm trước cả thiên nhiên và xã hội
- Phương thức bóc lột: Chúng ta có thể sơ bộ định nghĩa phương thức bóc lột của chế độ xã hội theo phương thức sản xuất Châu Á là trên cơ sở chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất, giai cấp quý tộc quan liêu đã bóc lột sản phẩm thặng dư dưới hình thức tô thuế
do nông dân công xã nộp Trong “tư bản luận” tập III đã hai lần Mác nói đến các giai cấp bóc lột của xã hội nô lệ, phong kiến và phương thức sản xuất Châu Á và xác định rõ ràng cũng như giai cấp chủ nô, giai cấp chúa đất, nhà nước là người sở hữu chính cùa sản phẩm thặng dư: “Trong điều kiện cùa chế độ nô lệ, chế độ nông nô của chế độ nạp cống thì người chủ nô, tên chúa đất và nhà nước thu cống nạp đều chiếm hữu sản phẩm do đó bán sản phẩm”
Trang 9Mác đã nêu lên mối quan hệ hữu cơ giữa chiếm địa tô và quyền sở hữu ruộng đất:
“…Sự chiếm hữu địa tô là hình thái kinh tế dưới đó quyền sở hữu ruộng đất được thực hiện
và mặt khác địa tô giả định đã phải có quyền sở hữu ruộng đất tức là giả định đã phải có một số người nào đó là những kẻ sở hữu” Thời cổ đại và trung cổ nhà nước là kẻ thu tô địa tô của các công xã, điều đó chứng tỏ nhà nước là kẻ sở hữu ruộng đất vì chế độ sở hữu nhà nước thiết lập trên công xã nông thôn nên nông dân công xã phải nộp tô dưới hình thức thuế cho nhà nước Địa tô bao gồm toàn bộ phần sản phẩm thặng dư của người nông dân công xã, khi công xã nông thôn bị thu hẹp lại thì chế độ sở hữu nhà nước cũng bị thủ tiêu Chế độ phong cấp, ban phát ruộng đất cho quý tộc, quan lại không còn nữa Theo truyền thống nhà nước quân chủ vẫn tiếp tục thu thuế trên nông dân các làng nhưng thuế người tiểu noong phải nộp cho nhà nước bây giờ không còn là địa tô nữa, vì nó không phải là toàn bộ sản phẩm thặng dư mà chỉ là một phần của sản phẩm thặng dư
1.2 Hình thái xã hội của “phương thức sản xuất chấu Á”
Để nói về hình thái xã hội của “phương thức sản xuất châu Á” thì yêu cầu căn bản nhất là phải chứng minh được “phương thức sản xuất châu Á tồn tại trong lịch sử nhân loại như một kiểu hình thái kinh tế - xã hội độc lập, ngang hàng với các hình thái kinh tế - xã hội đã được chứng minh và khẳng định (như chiếm hữu nô lệ, phong kiến hay tư bản chủ nghĩa) Chỉ có như vậy, chúng ta mới có thể sử dụng một cách khoa học thuật ngữ “hình thái”
Và như những gì đã trình bày trong phần các đặc trưng của “phương thức ản xuất châu Á”, chúng ta có thể dễ dàng nhìn nhận các đặc trưng ấy trải rộng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống con người (kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội Cụ thể, có thể gom các đặc trưng ấy và chia lại như sau:
-Về chính trị: Sự tồn tại của Nhà nước chuyên chế đối với quyền lực tối cao nằm trong một cá nhân người
-Về xã hội: Sự tồn tại dai dẳng của công xã nông thôn và sự khắc nghiệt của chế độ đẳng cấp
Trang 10-Về kinh tế: Sự phổ biến của sở hữu tập thể về ruộng đất mà người đứng đầu là nhà vua và không có chế độ tư hữu về ruộng đất.Phát triển công nghiệp và nông nghiệp không tách rời nhau.Thành thị chậm ra đời và hình thức bóc lột theo kiểu cống nạp
-Về văn hoá: Ảnh hưởng nặng nề bởi tôn giáo
Mặc dù phương thức sản xuất châu Á đã Mác- Ăngghen nói tới cách đây hàng thế
kỉ, song đến nay vẫn còn rất nhiều ý kiến, quan điểm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn đề này
Rõ ràng, với việc tìm ra đặc điểm của “phương thức sản xuất châu Á” trên tất cả các lĩnh vực từ cơ sở hạ tầng đến kiến trúc thượng tầng, chúng ta có một cơ sở vững chắc để khẳng định đây thực sự là một hình thái kinh tế - xã hội riêng biệt từng tồn tại trong lịch
sử phát triển của xã hội loài người
Vậy, những đặc điểm cơ bản của hình thái xã hội thời kì này là gì, cũng từ những đặc trưng đã nêu trên, chúng ta cũng có thể chỉ ra những đặc điểm của xã hội trong “phương thức sản xuất châu Á”
Thứ nhất, đây chắc chăn slà một xã hội đã phân chia giai cấp Bởi lẽ, phương thức sản xuất châu Á tồn tại có sự hiện diện của nhà nước Mà nền tảng để hình thành nhà nước
là phải có sự phân chia giai cấp Ở trên, chúng tôi còn sử dụng thuật ngữ đẳng cấp là để bổ sung thêm rằng, cho đến thời kì này, trong xã hội đã hình thành nên một cách căn bản sự pohân tầng xã hội, sự xuất hiện của các ngành nghề cơ bnả như nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp,… Chúng tôi nhân mạnh là mình không tan sthành voié ý kiến cho rằng đẳng cấp là một “nấc thang” nền tảng để tiến lên gia cấp Quan điểm của chúng tôi là đẳng cấp và giai cấp và hai cách phan chia xã hội loài người trên các tiêu chí phân chia khác nhau mà thôi
Thứ hai, đơn vị tổ chức cơ sở của xã hội trong “phương thức sản xuất châu Á” là các công xã nông thôn Đây chính là dấu hiệu cho thấy sự tiếp nối của lịch sử xã hội loài người tuy đã hình thành nhà nước nhưng xã hội của “phương thức sản xuất châu Á” vân duy trì nét đặc trưng của hình thái công xã nguyên thủy – đó là các công xã, chỉ có điều tổ
Trang 11chức công xã tỷong thời kì này đã có những bước tiến cao hơn, đặc biệt là đã vượt qua “rào cản” về huyết thống, dòng tộc mà hướng tới một xã hội ổn định trên nền tảng cùng cư trú trong một phạm vi xác định Cũng chính sự ổn định trong tổ chức công xa mà sự tồn tại lau dài của “phương thức sản xuất châu Á” được đảm bảo mặc dù sự suy vong của các nhà nước vẫn diễn ra luân phiên Như vậy, có thể thấy vai trò của ccá công xã đối với hình thái
xã hội của “phương thức sản xuất châu á” là cực kì quan trọng, là nền tảng, động lực để nó tồn tại trong lịch sử
Thứ ba, sự bóc lột giữa các giai cấp được thực thi qua mói quan hệ giữa nhà nước
và các công xã Các công xã nông thôn tồn tại trên nền tảng về sở hữu công đối với tư liệu sản xuất và như đã nói ở trên thì các công xã có tính độc lập và khả năng tự điều chỉnh để oỏn định tổ chức Do vậy, sữ không có chuyện tư hữu ruộng đất xuất hiện trong cơ sở hạ tầng của “phương thức sản xuất châu Á”, việc này đồng nghĩa với sữ không có một thế lực
tư nhân nào có thể xâm phạm đến quyền lực của các công xã Nhà nước muốn thu tô thuế của nhân dân sẽ không thể thông qua con được quyền lực của các “tay sai” như trong thời phơng kiến mà buộc phải thông qua các công xã, những đơn vị căn bản cấu tạo nên Nhà nước và trong trường hợp này, tô thuế được gọi là vật phẩm công nạp
Chương 2 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA HÌNH THÁI XÃ HỘI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN CỔ - TRUNG ĐẠI
2.1.1 Thời kì Văn Lang – Âu Lạc
Phương thức sản xuất châu Á có từ thời Văn Lang (thế kỷ VII TCN Đồng chí Phạm Văn Đồng đã có những hướng dẫn quan trọng về vấn đề phương thức sản xuất Châu Á, trong đó người đã nói: “Nghiên cứu về giai đoạn lịch sử Hùng Vương, nếu chúng ta làm tốt hoặc là có những tài liệu đích đáng, có thể chúng ta dựa được vào đây để tìm ra một đôi ánh sáng về vấn đề cực kì quan trọng đó là vấn đề phương thức sản xuất Châu Á” hay vào những năm đầu 70, Phan Huy Lê cùng với Chữ Văn Tần sau khi phân tích tình hình của sức sản xuất, quá trình phân hóa xã hội đã nêu lên những đặc điểm của kết cấu kinh tế xã hội và tổ chức nhà nước phôi thai thời Hùng Vương và đi đến nhận xét: “Đó là một xã hội
Trang 12có giai cấp sơ kì với những nét đặc trưng của hình thái Á châu, đó không phải là xã hội chiếm hữu nô lệ mà thuộc hình thái kinh tế xã hội của phương thức sản xuất Châu Á” ) Sau khi nghiêm cứu về hình thái xã hội thời Văn Lang- Âu Lạc thì có thể nhận thấy hình thái xã hội thời kỳ này biểu hiện ở những đặc trưng về công xã nông thôn, chế độ sở hữu tập thể về ruộng đất, sự bóc lột theo kiểu cống nạp, sự không tách rời giữa thủ công nghiệp
và nông nghiệp, hình thành các tầng lớp xã hội…
Xã hội thời Hùng Vương đã có sự phân chia giai cấp tầng lớp Vào giai đoạn cuối, tồn tại 3 tầng lớp xã hội: Tầng lớp quý tộc, tầng lớp nô tỳ, và tầng lớp dân tự do của công
xã nông thôn Tuy nhiên sự phân chia này chưa dẫn tới sự khắc nghiệt của chế độ đẳng cấp Thời kỳ nhà nước Văn Lang mới chỉ hình quan hệ bóc lột phong kiến, chưa có sự chuyên chế với quyền lực tối cao nằm trong tay vua Tầng lớp quý tộc là những người thống trị, vốn là những quý tộc bộ lạc, gồm các tộc trưởng, tù trưởng bộ lạc, thủ lĩnh liên minh bộ lạc…Tầng lớp nô tỳ ở vào địa vị thấp nhất trong xã hội, là những thành viên công
xã nghèo khổ hay vi phạm tục lệ công xã, hoặc có thể là người ngoại tộc bị bắt làm nô tỳ
Họ có thể tham gia sản xuất ít nhiều, nhưng chủ yếu là phục dịch trong các gia đình quý tộc Tầng lớp dân tự do của công xã nông thôn giữ vai trò lực lượng sản xuất chủ yếu Họ được công xã chia ruộng đất cho cày cấy, “ khẩn ruộng đó mà ăn ”, nhưng lại bị Lạc hầu “
ăn ruộng ” Một hình thức bóc lột đã trùm lên công xã và trên thực tế đã biến công xã thành
cơ sở và đơn vị bóc lột Tuy nhiên, những đặc điểm của loại hình công xã châu Á vẫn đảm bảo cho công xã quyền tự trị rộng lớn và bảo đảm cho các thành viên công xã một cuộc sống tương đối ổn định, tự do, hạn chế xu hướng nô lệ hoá và nông nô hoá Hình thức bóc lột ở đây là cống nạp hay lao dịch
Sang thời Âu Lạc, những đặc trưng về công xã nông thôn, quyền lực nhà vua của phương thức sản xuất châu Á được thể hiện rõ nét hơn Quyền uy của vua được tăng cường Lạc hầu có thể thay mặt vua giải quyết các công việc trong nước, làm công việc tôn giáo, thu cống phẩm, giữ kho tàng….Đứng đầu các bộ vẫn là các Lạc tướng, là người thu nộp cống phẩm cho nhà vua, đồng thời là thủ lĩnh quân sự địa phương, chịu sự điều động của nhà vua Trong công xã nông thôn, bồ chính là người đứng đầu, bên cạnh có một hội đồng
Trang 13công xã, là những người do các thành viên công xã cử ra để giải quyết và định đoạt hoạt động của công xã Công xã vừa là cơ sở của nhà nước, vừa mang tính tự quản cao Quan
hệ giữa công xã và chính quyền nhà nước cấp trên là quan hệ mang tính chất lưỡng hợp Nhà nước vừa đại diện và đứng trên tất cả các công xã, như là “ người cha của số đông công xã ” (C.Mác), tổ chức công cuộc trị thuỷ - thuỷ lợi và tự vệ, vừa bóc lột các công xã dưới dạng cống phẩm, do thành viên trong công xã
2.1.2 Thời Bắc thuộc
Bước sang thời Bắc Thuộc, đây là thời kỳ nước ta nằm dưới sự cai trị của phong kiến phương Bắc Thời kỳ này xã hội Việt nam có nhiều biến đổi xong phương thức sản xuất châu Á (PTSXCA) vẫn mang những sắc thái riêng của Việt Nam
Chế độ công xã nông thôn với tất cả sự trì trệ bảo thủ của nó (dưới góc nhìn của chế
độ phong kiến) là một trong những đặc điểm tiêu biểu của PTSXCA Tuy nhiên dưới sự cai trị của phong kiến phương Bắc, dù cố gắng đến mấy thì công xã (tức làng xã) vẫn ít chịu sự quản lý của chính quyền đô hộ Thời kỳ Bắc thuộc, phong kiến Trung Quốc (TQ)
đã tìm mọi cách vươn xuống tận cơ sở để nắm lấy và sử dụng làng Việt truyền thống như một công cụ phục vụ cho mưu đồ thống trị và đồng hoá của chúng Tiêu biểu cho khuynh hướng này là việc Khâu Hoà (Giao Châu Đại Tổng quản của nhà Đường) hồi đầu thế kỷ thứ VII đã đề ra chính sách khuôn làng Việt vào mô hình thống trị của Trung Quốc: Đặt ra hương (trong đó tiểu hương có từ 70 đến 150 hộ và đại hương có từ 160 đến 540 hộ) và dưới hương là xã (gồm tiểu xã từ 10 đến 30 hộ và đại xã từ 40 đến 60 hộ) Nhưng trong thực tế phong kiến Trung Quốc đã không thành công Tuy từ đầu Công nguyên chế độ Lạc tướng đã bị xoá bỏ và chính quyền đô hộ đã nắm giữ được cấp huyện, nhưng nó vẫn không thể khống chế nổi cơ sở hạ tầng của xã hội Việt cổ là các công xã (tức là các xóm làng) Người Việt suốt thời kỳ thống trị của phong kiến phương Bắc đã không ngừng bảo tồn và củng cố cộng đồng xóm làng, biến xóm làng của mình thành những pháo đài chống Bắc thuộc, chống đồng hoá, dựa vào làng và xuất phát từ làng mà đấu tranh giành lại nước Công xã nông thôn Việt Nam với kết cấu bền chặt của nó không những không bị giải thể
mà trái lại có mặt còn được củng cố trong nghìn năm chống Bắc thuộc Tuy vậy phong
Trang 14kiến phương Bắc vẫn ra sức củng cố, tổ chức bộ máy cai trị trên đất nước ta, quản lý đi từ chỗ lỏng lẻo đến chặt chẽ
Khi chuyển dần sang xã hội có giai cấp, ruộng đất tư từng bước xuất hiện và lấn át công điền Sự phân hóa giai cấp làm nảy sinh tình trạng kẻ giàu có, có quyền thế đã chiếm hữu nhiều đất đai, và kẻ nghèo hèn sa sút thì không có một tấc đất cắm dùi Chế độ công hữu ruộng đất ở Việt Nam tồn tại dai dẳng, lâu dài, song song với chế độ tư hữu thường đân xen lẫn nhau ngay trong cùng một đơn vị (điều mà Mác và Ăngghen gọi là tính nhị nguyên của chế độ sở hữu công xã nông thôn)
Để củng cố cơ sở vật chất cho chính quyền đô hộ và tăng cường sự bóc lột đối với người dân, ngay từ thời Mã Viện cai quản Giao Châu đã xuất hiện hàng loạt trang trại của các địa chủ Hán tộc Đây là những quan lại, quí tộc TQ khi quyết định sinh cơ lập nghiệp
ở Giao Châu thường mang theo rất nhiều thuộc hạ mà người ta gọi là các “gia nô”, “gia khách” hay “bôk khúc” Phần lớn số họ là nững thành viên công xã, những nông dân bị phá sản phải phụ thuộc vào chủ nhân là những quan lại, quý tộc Với lực lượng sẵn có, lại dựa vào sự ủng hộ của chính quyền thống trị Giao Châu, bọn quan lại, quý tộc TQđã tiến hành chiếm đoạt ruộng đất của nông dân bản xứ, đồng thời khai khẩn, mở rộng them diện tích đất để lập nên những trang trại mang dáng dấp đồn điền Từ thời thái thú Nhâm Diên
đã có việc khai khẩn ruộng đất, giảm bớt binh lính, bắt họ làm ruộng để nộp tô cho chính quyền Đến thời Mã Viện tiếp tục mở ra những ấp trại đồn điền
Ở thời kì này có nững binh lính người Hán ở hẳn đất Giao Chỉ, và sau này sử Hán gọi là người Mã lưu Những tù nhân chiến tranh cùng những người dân mất ruộng đất chính
là nguồn nông nô, nô tỳ ở các trang trại của địa chủ Trung Hoa, họ phải làm việc theo hình thức cưỡng bức lao động với thân phận thấp kém Nhiều mô hình bằng đất nung của những trang trại này đuọc tìm thấy dưới dạng đồ tùy tang trong những ngôi mộ Hán trên đất nước
ta
Do bị mất ruộng và bị bóc lột nặng nề, cuối thế kỉ II, ở Giao Châu đã xuất hiện ngày càng nhiều dân lưu tán tức những người phải bỏ quê hương đi tha phương cầu thực Cuối
Trang 15thế kỷ V, sử cũng ghi lại hiện tượng xuất hiện nhiều những người “dân vong mệnh” , tức những người nông dân phá sản lưu vong Chính quyền đô hộ đã chiêu tập những người này, tập trung vào các ấp, tại, lập nên những đồn điền Đồn điền là một loại ruộng công gọi
là “ruộng Quốc khố” do nhà nước trực tiếp quản lý Các tội nhân và những người dân công
xã bị phá sản ở chính quốc cũng được đưa sang làm việc trong những đồn điền này Những người lao động đồn điền dù là người Việt hay Hán thân phận đều bị trói buộc như một thứ nông nô của chính quyền đô hộ
Đến thời Ngô, có lẽ hình thức đồn điền đã rất phát triển nên chính quyền ở Giao Châu đã đặt cức quan gọi là “Điền nông Đô úy” hay “Đô úy” chuyên trách cai quản đồn điền
Với kinh tế chính vẫn là nông nghiệp chính quyền đô hộ mặc sức bóc lột bằng hình thức cống nạp và tô, thuế:
Phương thức bóc lột chủ yếu của chính quyền đô hộ TQ với những miền ngoại vực như Giao Châu là cống nạp, Việc cống nạp có ưu thế là không cần sự điều hành trực tiếp của chính quyền trung ương mà được giao cho Thứ sử và các quan thái thú trong bộ máy chính quyền địa phương đảm nhiệm Các quan địa phương muốn được triều đình trung ương chiếu cố để tự tung tự tác ở phương xa phải hết long và tự nguyện cống nạp
Hình thức cống nạp trong giai đoạn này chưa được quy định rõ về định mức, mà nó phụ thuộc vào tình hình thực tế ở địa phương Chính vì vậy, bọn quan lại cấp châu, quận nhân cơ hội cần thu gom sản vật tiến cống mặc sức vơ vét, chiếm đoạt của cải của người dân Hậu Hán thư có chép về tình trạng này: “Xưa đất Giao Chỉ có nhiều sản vật quý, ngọc minh cơ, lông trả, sừng tê, ngà voi…thứ gì cũng có Các Thứ sử trước sau phần lớn không thanh liêm, trên thì bỡ đỡ kẻ quyền quý, dưới thì thu vét của cải của dân, đến khi đày túi tiền thì xin dời đổi” Cũng theo Hậu Hán thư thời Đông Hán, Giao Châu luôn phải cống vải, nhãn cùng các thứ đồ tươi sống
Trang 16Thời Sĩ Nhiếp: Các mặt hàng thủ công Giao Châu với nguồn nguyên liệu lạ luôn là thứ đồ ưa thích của các vua chúa và quan lại TQ Giao Châu đã từng phải cống vải dệt bằng
tơ chuối, lấy từ vỏ và lá trầm hương…
Đời Tống, Tề, Giao Châu vài năm phải cống mũ Đâu mâu bằng bạc các loại súc vật phương nam cũng được liệt kê Thời Tam quốc, Sĩ Nhất em trai Sĩ Nhiếp cống cho vua Ngô mấy tram con ngựa, rồi voi được thuần phục, gà có tiếng gáy dài…
Người dân Giao Châu không chỉ nộp cống vật mà còn phải đi lao dịch để chuyên chở những cống vật ấy về triều đình TQ
Bên cạnh hình thức bóc lột bằng cống nạp, từ thời Đông Hán đến Lục triều, Giao Châu còn phải chịu sự bóc lột bằng tô, thuế của chính quyền đô hộ phương Bắc Theo ý kiến các nhà nghiên cứu, có thể phương thức bóc lột bằng tô thuế đã xuất hiện vào cuối thời Tây Hán, bởi đầu thời Tây Hán theo Hán thư ở Giao Châu vẫn chưa có thuế, nhưng khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa vào năm 40 (thời Đông Hán), đã xá thuế 2 năm cho dân
Sau khi Đông Hán bình định được đất Giao Châu, việc bóc lột tô, thuế ngày càng tang, từ chỗ nhà Hán vẫn phải chở lương thực để nuôi quân sĩ ở đây, đến thời điểm này số thóc do bóc lột được bằng tô thuế đã đủ để nuôi toàn bộ quan lại, quân sĩ Giao Châu Sử
cũ ghi rằng số thóc thuế mà chính quyền đô hộ thu được ở Giao Châu thời Đông Hán lên tới 13.600.000 hộc tương đương 272.000 tấn thóc Thóc lúa mà chính quyền Giao Châu có được là do thu thuế các hộ làm nông nghiệp, còn ở vùng biển, các hộ đáng cá, làm muối,
mò ngọc…đều phải chịu mức thuế rất nặng
Sử nhà Hán và sử ta đều nhắc về việc thứ sử Chu Phù “tàn bạo với dân chúng, cưỡng bức thu thuế của dân Một con cá vàng (Hoàng ngư) thu một hộc lúa, dân chúng oán giận Thời Nam triều có hàng trăm thứ thuế, dân nghèo phải bán vợ con để nộp thuế
Chính sách bóc lột bằng những hình thức tiến cống tô thuế nặng nề với chính quyền
đô hộ ở Giao Châu đã khiến người dân lâm vào cảnh bần cùng, cực khổ mà sử cũ ghi lại
“tram họ xác xơ” Những người dân bị cướp ruộng đất phải phiêu tán khỏi làng quê hoặc
Trang 17bị biến thành nông nô trong các trang trại, đồn điền của những địa chủ người Hán và Việt Như một quy tất yếu, người dân Giao Châu lại vùng lên đấu tranh
Đến đời nhà Lương, vẫn tiếp tục duy trì chính sách bóc lột của nhà Tề, trong đó có chính sách thuế rất nặng Chính sách này khiến người dân bị bần cùng hóa, bị biến thành
và được xem như thế giới riêng của người Việt
Khi chính quyền đô hộ ra sức tìm cách đồng hóa dân ta, nhưng nhân dân đã biết tiếp thu văn hóa một cách có chọn lọc với sự du nhập của các tôn giáo, tư tưởng mới đã góp phần làm phong phú hơn cho văn hóa Việt Nam nhưng vẫn giữ đậm nét dân tộc
Đến thời Bắc thuộc, mặc dù bị chính quyền phong kiến phương Bắc cai trị, nhưng
xã hội Việt Nam vẫn mang những đặc trưng của phương thức sản xuất châu Á Nhà nước phương Bắc cai trị từ chỗ lỏng lẻo đến chặt chẽ, hoàn thiện, vừa cai trị trực tiếp vừa cai trị gián tiếp Sự chuyên chế cao hơn thời Văn Lang - Âu Lạc Sản xuất thời kì này chủ yếu vẫn là nông nghiệp trong các công xã nông thôn (kẻ, chạ, chiềng) Bên cạnh đó nền thủ công nghiệp cổ truyền vẫn tiếp tục phát triển, kèm theo là một số truyền thống kĩ thuật và kinh nghiệm sản xuất mới của người Hán Về mặt xã hội, giai cấp thống trị, bên cạnh quý tộc quan lại người Việt, còn có thêm tầng lớp quý tộc quan lại người Hán Trong giai đoạn đầu, chính quyền trung ương, chính quyền đô hộ bản địa, quý tộc, quan lại người Hán,