Quá trình hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay
Trang 1A Lời Mở ĐầU
Thực tiễn hơn 10 năm đổi mới kinh tế, chúng ta đã khẳng định những thành tựu
to lớn trong phát triển kinh tế xã hội Tốc độ tăng trởng đạt khá cao, Việt Nam đã
ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế, đời sống nhân dân ngày càng đợc cải thiện và
đang bớc vào thời kỳ mới nh Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã chỉ rõ: thời
kỳ tiếp tục sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thực hiệnmục tiêu dân giàu nớc mạnh, xã hội công bằng, văn minh, vững bớc đi lên chủnghĩa xã hội Để thực hiện đợc mục tiêu dân giàu nớc mạnh, xã hội công bằng, vănminh, vững bớc đi lên chủ nghĩa xã hôi chúng ta phải giải quyết một loạt vấn đề rấtquan trọng, trong đó có vấn đề lựa chọn mô hình kinh tế thị trờng theo định hớngxã hội chủ nghĩa; xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế xã hội đúng đắn; xác địnhhớng dịch chuyển cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ, xây dựng và thực hiện đồng bộ cơchế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng XHCN
Từ khi Đảng ta công bố chủ trơng xây dựng một nền kinh tế thị trờng theo địnhhớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta đã có nhiều ý kiến khác nhau
Có ý kiến cho rằng kinh tế thị trờng và định hớng xã hội chủ nghĩa nh nớc vàlửa không thể dung nạp với nhau đợc, do vậy chủ trơng xây dựng kinh tế thị trờng
là từ bỏ lý tởng xã hội chủ nghĩa Cơ sở lý luận cho loại ý kiến này là ở chỗ họ chorằng Marx và Engels ngày xa dự đoán sẽ không có thị trờng và tiền tệ trong CNXH
Có loại ý kiến khác cho rằng chỉ cần nói xây dựng một nớc Việt Nam giàumạnh, xã hội công bằng, văn minh là đủ, không cần phải nói "theo định hớngXHCN" vì "dòng sông sẽ tự nó chảy ra biển không việc gì phải uốn nắn" vì làm nhthế là trái quy luật Lại có loại ý kiến khác cho rằng sự lựa chọn kinh tế thị trờngtheo định hớng XHCN ở nớc ta chỉ mang tính tất yếu chính trị chứ cha mang tínhtất yếu kinh tế và không thể định hớng đợc cái cha có Nhìn chung dù cho các loạiquan điểm trên có đúng hay không thì chúng cũng biểu hiện sự sùng bái tự phát và
đánh mất lý tởng với t cách là một chủ thuyết phát triển của một dân tộc
Phía ý kiến còn lại thì tán đồng chủ trơng và đã luận giải góp phần làm sáng tỏdần luận điểm mới mẻ này Tình hình đa đến một yêu cầu bức thiết phải tiếp tụcnghiên cứu bổ sung, hoàn thiện luận điểm này trên nhiều giác độ khác nhau Nói rõlên các vấn đề : đi theo kinh tế thị trờng có phải là từ bỏ lý tởng XHCN không? Thếnào là kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa? Nó có đặc trng gì và nó khácvới kinh tế thị trờng t bản chủ nghĩa ở chỗ nào? Để có đợc định hớng XHCN cần cónhững điều kiện gì?
Tôi có tham vọng là giải quyết đợc tất cả những gì có liên quan đến nền kinh tếthị trờng định hớng XHCN ở Việt Nam nhng do thời gian và kiến thức giới hạn,
Trang 2trong đề án này tôi chỉ xin đợc giới thiệu tổng quát và đi sâu vào một số phần về
"quá trình hình thành và phát triển nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa
ở nớc ta hiện nay".Tôi cũng xin chân thành cám ơn thầy giáo - TS Tô Đức Hạnh đãgiúp đỡ tôi hoàn thành đề án này
Trang 3B Nội dung
I Những vấn đề lý luận chung về nền kinh tế thị trờng
1 Các điều kiện để hình thành nền kinh tế thị trờng
Ngày nay, không một ai phủ nhận vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của kinh tếhàng hoá và kinh tế thị trờng trong quá trình phát triển kinh tế, phát triển lực lợngsản xuất xã hội Nhng về điều kiện ra đời và tồn tại của kinh tế hàng hoá, kinh tếthị trờng thì không phải mọi ngời đã nhận thức và hiểu nh nhau
Trớc đây, khi còn quan điểm không đúng: đối lập chủ nghĩa xã hội với kinh tếhàng hoá, kinh tế thị trờng (vì cho rằng kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trờng gắn vớichủ nghĩa t bản), thì nhiều ngời nhận thức, và hiểu rằng dới chủ nghĩa xã hội khôngcòn kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trờng, mà nếu còn tồn tại thì chỉ là một kiểu kinh
tế hàng hoá đặc biệt (chỉ có t liệu tiêu dùng là hàng hoá, còn t liệu sản xuất, sức lao
động, vốn không phải là hàng hoá) Với cách hiểu nh vậy, nên khi trình bày về
điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất, lu thông hàng hoá, nhiều sách giáo khoakinh tế chính trị viết rằng: sản xuất hàng hoá ra đời khi có hai điều kiện là phâncông lao động xã hội và chế độ t hữu về t liệu sản xuất
Về điều kiện thứ nhất, phân công lao động xã hội thì đến nay vẫn không có gìphải bàn thêm, phân công lao động xã hội là cơ sở của sản xuất và lu thông hànghoá Lênin cho rằng: " hễ ở đâu và khi nào có phân công lao động xã hội và sảnxuất hàng hoá thì ở đó và khi ấy, có " thị trờng" "
Về điều kiện thứ hai, cần có sự bàn luận để nhận thức và hiểu cho đúng Nếu chorằng, điều kiện thứ hai cho sự ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hoá là chế độ thữu về t liệu sản xuất thì sẽ không giải thích đợc sự tồn tại sản xuất, lu thông hànghoá trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và trong chủ nghĩa xã hội, mà còndẫn đến phủ định kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trờng trong chủ nghĩa xã hội Bởi vìnền sản xuất dựa trên chế độ t hữu về t liệu sản xuất hàng ngày hàng giờ đẻ ra chủnghĩa t bản Vậy thì muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải xóa bỏ chế độ t hữu,thiết lập chế độ công hữu về t liệu sản xuất, có nghĩa là trong thời kỳ quá độ lênchủ nghĩa xã hội và trong chủ nghĩa xã hội không còn điều kiện thứ hai của sảnxuất hàng hoá Do đó chủ nghĩa xã hội tất yếu cũng không còn kinh tế hàng hoá,kinh tế thị trờng Nh vậy thì mâu thuẫn với thực tế khách quan: trong chủ nghĩa xãhội vẫn sẽ còn kinh tế hàng hoá ngay cả khi nền kinh tế dựa trên chế độ công hữu
về t liệu sản xuất Còn trong chủ nghĩa xã hội thì kinh tế hàng hoá lại có thể tồn tạicả trong điều kiện hoàn toàn không có chế độ t hữu về t liệu sản xuất Khi nghiên
Trang 4cứu nền nông nghiệp t bản chủ nghĩa, Lênin đã viết: " Về mặt lý luận, nền sản xuất
t bản chủ nghĩa có thể hoàn toàn đi đôi với việc không có chế độ t hữu về ruộng
đất, với việc quốc hữu hoá ruộng đất "
Vậy thì điều kiện thứ hai cho sự nảy sinh và tồn tại của sản xuất, lu thông hànghoá là gì?
Lênin cho rằng, sản xuất hàng hoá chính là tổ chức của nền kinh tế xã hội, trong
đó sản phẩm đều do những ngời sản xuất cá thể, riêng lẻ sản xuất ra, mỗi ngờichuyên làm ra một thứ sản phẩm nhất định, nên muốn thoả mãn nhu cầu của xã hộithì phải có mua bán sản phẩm, vì vậy sản phẩm trở thành hàng hoá trên thị trờng Khẳng định phân công lao động là điều kiện ra đời và tồn tại của nền sản xuấthàng hoá, mới chỉ là điều kiện cần mà cha đủ Marx đồng thời chỉ ra điều kiện đủ
để sản xuất hàng hoá ra đời, tồn tại là " những lao động t nhân độc lập và khôngphụ thuộc vào nhau" của những ngời sản xuất hàng hoá Marx viết: "Trong công xã
ấn Độ thời cổ, lao động đã có sự phân công xã hội, nhng các sản phẩm lao độngkhông trở thành hàng hoá Hay là chúng ta hãy lấy một ví dụ gần gũi hơn : trongmỗi công xởng, lao động đợc phân công một cách có hệ thống, nhng sự phân côngnày đợc thực hiện không phải bằng cách các công nhân trao đổi những sản phẩm
của cá nhân họ với nhau Chỉ có sản phẩm của những lao động t nhân độc lập và
không phụ thuộc vào nhau mới đối diện với nhau nh là những hàng hoá Nh vậy sự
tồn tại của sản xuất hàng hoá cần có : phân công lao động xã hội và "những lao
động t nhân độc lập và không phụ thuộc vào nhau" của những ngời sản xuất hànghoá Mà muốn có "những lao động t nhân độc lập và không phụ thuộc vào nhau"thì những ngời, những doanh nghiệp sản xuất hàng hoá phải độc lập và không phụthuộc vào nhau
Trong nền kinh tế hàng hoá , tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoáphản ánh chất t nhân và tính chất xã hội của lao động của ngời sản xuất hàng hoá.Trong nền kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trờng, việc sản xuất cái gì, sản xuất nh thếnào, sản xuất cho ai là việc riêng của mỗi ngời, mỗi doanh nghiệp Họ là những ng-
ời sản xuất độc lập Những doanh nghiệp sản xuất hàng hoá có thể thuộc quyền sởhữu t nhân, hay thuộc quyền sở hữu tập thể hoặc thuộc quyền sở hữu của nhà nớc ,nhng chúng vẫn là những doanh nghiệp sản xuất hàng hoá độc lập, sản phẩm củachúng vẫn là hàng hoá Đối với toàn xã hội thì lao động của mỗi doanh nghiệp (dù
là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu nào) vẫn là lao động t nhân, và chỉ khi nào bán
đợc hàng hoá thì lao động t nhân đó mới đợc xã hội thừa nhận, mới trở thành bộphận thực sự của lao động xã hội Lao động t nhân và lao động xã hội là hai mặtmâu thuẫn của một thể thống nhất là lao động sản xuất hàng hoá Với phân công
Trang 5lao động xã hội, lao động sản xuất hàng hoá mang tính chất là lao động xã hội, làmột bộ phận của toàn bộ lao động xã hội Sự phân công lao động xã hội tạo ra sựphụ thuộc lẫn nhau giữa những ngời, những doanh nghiệp sản xuất hàng hoá độclập, họ làm việc cho nhau thông qua trao đổi hàng hoá Còn với t cách là doanhnghiệp sản xuất hàng hoá độc lập, lao động sản xuất hàng hóa của họ lại mang tínhchất lao động t nhân (cá biệt, độc lập, không phụ thuộc vào nhau) Mâu thuẫn này
đợc giải quyết khi sản phẩm đợc trao đổi dới hình thức hàng hoá
Kinh tế hàng hoá tồn tại trong nhiều chế độ xã hội khác nhau, dựa trên nhiều chế
độ sở hữu khác nhau, chứ không chỉ dựa trên chế độ sở hữu t nhân, miễn là nhữngngời, những doanh nghiệp sản xuất hàng hoá độc lập và không phụ thuộc vào nhau.Chế độ sở hữu t nhân chỉ là một trong nhiều nhân tố làm cho những ngời, nhữngdoanh nghiệp sản xuất hàng hoá độc lập và không phụ thuộc vào nhau, vì vậy màthúc đẩy kinh tế hàng hoá phát triển, chứ không phải là điều kiện ra đời và tồn tạicủa sản xuất, lu thông hàng hoá Nh vậy có thể khẳng định rằng : điều kiện thứ haicủa sự ra đời và tồn tại kinh tế hàng hóa là sự độc lập và không phụ thuộc vào nhaugiữa những ngời, những doanh nghiệp sản xuất hàng hoá
Cùng với quá trình phân công lao động xã hội và đa dạng hóa các hình thức sởhữu t liệu sản xuất thì sự bùng nổ của các cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật cũng
là một nhân tố góp phần dẫn đến sự ra đời và phát triển của nền kinh tế thị tr ờng.Khoa học - kĩ thuật phát triển làm cho năng suất lao động tăng lên và vì thế cũngdẫn đến quá trình chuyên môn hoá sản xuất sâu rộng hơn, phân chia thị trờng thànhcác thị trờng chuyên biệt : thị trờng hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ, thị trờng cácyếu tố sản xuất Đặc biệt là thị trờng các yếu tố sản xuất bao gồm thị trờng vốn, thịtrờng sức lao động, thị trờng kĩ thuật - công nghệ Có thị trờng này mới có các yếu
tố để sản xuất ra hàng hoá, mới có hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ, hay mới có thị ờng đầu ra Số lợng và tính chất, tính đa dạng của thị trờng đầu ra do thị trờng đầuvào quy định.Quá trình phát triển của phân công lao động và trao đổi trên phạm viquốc tế cũng góp phần vào quá trình hình thành và phát triển của nền kinh tế thị tr-ờng, dẫn đến quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế
tr-2 Các giai đoạn phát triển của nền kinh tế thị trờng
Về phơng diện kinh tế có thể khái quát rằng, lịch sử phát triển của sản xuất và
đời sống kinh tế - xã hội của nhân loại đã và đang trải qua hai kiểu tổ chức kinh tếthích ứng với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất và phân công lao động xãhội, hai thời đại kinh tế khác hẳn nhau về chất Đó là : thời đại kinh tế tự nhiên, tự
Trang 6cung - tự cấp; và thời đại kinh tế hàng hoá, mà giai đoạn cao của nó đợc gọi là kinh
tế thị trờng
Kinh tế tự nhiên là kiểu tổ chức kinh tế -xã hội đầu tiên của nhân loại Đó là
ph-ơng thức sinh hoạt kinh tế ở trình độ thấp ban đầu là sử dụng những tặng phẩm của
tự nhiên và sau đó đợc thực hiện thông qua những tác động trực tiếp vào tự nhiên
để tạo ra những giá trị sử dụng trong việc duy trì sự sinh tồn của con ngời Nó đợc
bó hẹp trong mối quan hệ tuần hoàn khép kín giữa con ngời và tự nhiên Kinh tế tựnhiên lấy quan hệ trực tiếp giữa con ngời và tự nhiên, mà tiêu biểu là giữa lao động
và đất đai làm nền tảng Hoạt động kinh tế đó gắn liền với xã hội sinh tồn, với kinh
tế nông nghiệp , tự cung- tự cấp Nó đã tồn tại và thống trị trong các xã hội cộngsản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến , tuy không còn giữ địa vị thống trịnhng vẫn còn tồn tại trong xã hội t bản cho đến ngày nay Kinh tế tự nhiên, hiệnvật, sinh tồn, tự cung- tự cấp gắn liền với kém phát triển và lạc hậu
Kinh tế hàng hoá, bắt đầu bằng kinh tế hàng hoá giản đơn, ra đời khi chế độcộng sản nguyên thuỷ tan rã, dựa trên hai tiền đề cơ bản là có sự phân công lao
động xã hội và có sự tách biệt về hình thức sở hữu về t liệu sản xuất và sản phẩmlao động Chuyển từ kinh tế tự nhiên, tự cung- tự cấp sang kinh tế hàng hoá là đánhdấu bớc chuyển sang thời đại kinh tế của sự phát triển, thời đại văn minh của nhânloại Trong lịch sử phát triển của mình, vị thế của kinh tế hàng hoá cũng dần đợc
đổi thay : từ chỗ nh là kiểu tổ chức kinh tế -xã hội không phổ biến, không hợp thờitrong xã hội chiếm hữu nô lệ của những ngời thợ thủ công và nông dân tự do, đếnchỗ đợc thừa nhận trong xã hội phong kiến, và đến chủ nghĩa t bản thì kinh tế hànghoá giản đơn không những đợc thừa nhận mà còn phát triển lên giai đoạn cao hơn,
đó là kinh tế thị trờng
Kinh tế thị trờng là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hoá, cũng đã trải
qua ba giai đoạn phát triển Giai đoạn thứ nhất, giai đoạn chuyển từ kinh tế hàng
hoá giản đơn sang kinh tế thị trờng (còn gọi là giai đoạn kinh tế thị trờng sơ khai
hay dã man) Giai đoạn thứ hai, giai đoạn phát triển kinh tế thị trờng tự do Đặc
tr-ng quan trọtr-ng của giai đoạn này là sự phát triển kinh tế diễn ra theo tinh thần tự do,
nhà nớc không tham gia vào hoạt động kinh tế Giai đoạn thứ ba, giai đoạn kinh tế
thị trờng hiện đại Đặc trng của giai đoạn này là nhà nớc can thiệp vào kinh tế thịtrờng và mở rộng giao lu kinh tế với nớc ngoài Sự can thiệp của nhà nớc vào nềnkinh tế thị trờng thông qua việc xây dựng các hình thức sở hữu nhà nớc, các chơngtrình khuyến khích đầu t và tiêu dùng, cùng với việc sử dụng các công cụ kinh tế
nh tài chính, tín dụng, tiền tệ để điều tiết nền kinh tế ở tầm vĩ mô Sự phối hợp
Trang 7giữa chính phủ và thị trờng trong một nền kinh tế hỗn hợp nhằm đảm bảo sự pháttriển có hiệu quả của những nớc có mức tăng trởng kinh tế nhanh.
Mặc dù sự hình thành và phát triển của kinh tế hàng hoá (sản xuất hàng hoá nhỏ)
tự phát sẽ “ hằng ngày hằng giờ đẻ ra chủ nghĩa t bản” (nói theo cách nói của V.I.Lênin) và sự phát triển của kinh tế thị trờng trong lịch sử diễn ra đồng thời với sự
hình thành và phát triển của chủ nghĩa t bản, nhng tuyệt nhiên, kinh tế thị trờng
không phải là một chế độ kinh tế- xã hội Kinh tế thị trờng là hình thức và phơng
pháp vận hành kinh tế Các quy luật của thị trờng chi phối việc phân bổ các tàinguyên, quy định sản xuất cái gì, sản xuất nh thế nào (bao nhiêu?), và sản xuất cho
ai Đây là một kiểu tổ chức kinh tế hình thành và phát triển do những đòi hỏi kháchquan của sự phát triển lực lợng sản xuất Nó là phơng thức sinh hoạt kinh tế của sựphát triển Sự cạnh tranh trong cơ chế thị trờng theo quy luật giá trị đòi hỏi các chủthể sản xuất- kinh doanh không ngừng đổi mới, ứng dụng tiến bộ khoa học- kỹthuật, nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm chi phí, mở rộng quy mô sản xuất-kinh doanh Quá trình hình thành và phát triển kinh tế thị trờng là quá trình mởrộng phân công lao động xã hội, phát triển khoa học- công nghệ mới và ứng dụngchúng vào thực tiễn sản xuất- kinh doanh Sự phát triển của kinh tế thị trờng gắnliền với quá trình phát triển của nền văn minh nhân loại, của khoa học- kỹ thuật,của lực lợng sản xuất Nhiều học giả đã khái quát rằng: Giai đoạn kinh tế hàng hoágiản đơn gắn liền với nền văn minh nông nghiệp và kỹ thuật thủ công; giai đoạnkinh tế thị trờng tự do gắn liền với nền văn minh công nghiệp và kỹ thuật cơ khí;giai đoạn kinh tế thị trờng hiện đại gắn liền với nền văn minh trí tuệ và kỹ thuật vi
điện tử- tin học
3 Cơ chế thị trờng
Kinh tế thị trờng vận động theo cơ chế thị trờng Cơ chế thị trờng là một cơ chế
mà trong đó tổng thể các nhân tố, các quan hệ có bản vận động dới sự chi phối củaquy luật thị trờng, trong môi trờng cạnh tranh vì mục tiêu lợi nhuận Cơ chế thị tr-ờng là cơ chế nảy sinh một cách tất yếu từ sự phát triển của sản xuất và lu thônghàng hoá, qua thị trờng để tự điều chỉnh các cân đối của nền kinh tế theo yêu cầucủa các quy luật khách quan (giá trị, cung-cầu, cạnh tranh, lu thông tiền tệ ) Cơchế thị trờng là guồng máy vận hành của nền kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trờng; làphơng thức cơ bản để phân phối và sử dụng các nguồn lực (vốn, tài nguyên, côngnghệ, t liệu sản xuất, sức lao động) Căn cứ vào thị trờng, các doanh nghiệp sẽquyết định : sản xuất cái gì, sản xuất nh thế nào, sản xuất cho ai Cơ chế thị trờng
đòi hỏi phát triển sản xuất hàng hoá; mở rộng thị trờng về mọi phơng diện; tự do
Trang 8sản xuất, kinh doanh; tự do thơng mại; đa dạng hóa hình thức sở hữu, hình thứcphân phối Trong đó nó có các đặc trng: đặc trng cơ bản nhất là cơ chế hình thànhgiá cả một cách tự do, ngời bán và ngời mua thông qua thị trờng để xác định giá cả;
đặc trng cơ bản thứ hai là lựa chọn tối u hoá các hoạt động kinh tế để đạt đợc lợinhuận tối đa Cơ chế thị trờng chịu sự tác động rất mạnh của các quy luật kinh tếhàng hoá
Hiện nay còn tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về cơ chế thị trờng Chẳng hạn,theo Paul A Samuelson, “ cơ chế thị trờng là một kiểu tổ chức kinh tế trong đó cánhân ngời tiêu dùng và các nhà doanh nghiệp tác động lẫn nhau qua thị trờng đểxác định ba vấn đề trung tâm của tổ chức kinh tế”
Cơ chế thị trờng không phải là một sự hỗn độn, mà là một trật tự kinh tế, là bộmáy tinh vi phối hợp một cách không có ý thức hoạt động của ngời tiêu dùng vớicác nhà sản xuất thông qua hệ thống giá cả thị trờng Không ai tạo ra nó, nó tự phátsinh ra và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của kinh tế hàng hoá
Lợi nhuận là động lực cơ bản của sự vận động của nền kinh tế hàng hoá Nóquyết định thởng hay phạt các hoạt động sản xuất- kinh doanh Lợi nhuận hớngnhững ngời sản xuất vào lĩnh vực mà ngời tiêu dùng có nhu cầu, cũng nh buộc phải
sử dụng công nghệ có hiệu quả nhất
Thực tế khó có thể đánh giá đầy đủ những u điểm và khuyết tật của cơ chế thị ờng Tuy nhiên có thể nêu lên những u điểm của cơ chế thị trờng nh sau:
tr-Cơ chế thị trờng kích thích hoạt động của các chủ thể kinh tế và tạo điều kiệnthuận lợi cho sự hoạt động tự do của họ Do đó làm cho nền kinh tế phát triển năng
động, huy động đợc các nguồn lực của xã hội vào phát triển kinh tế Cạnh tranhbuộc những ngời sản xuất phải giảm hao phí lao động cá biệt đến mức thấp nhất cóthể đợc bằng cách áp dụng kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất, nhờ đó thúc
đẩy lực lợng sản xuất phát triển, nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lợng
và số lợng hàng hoá
Sự tác động của cơ chế thị trờng đa đến sự thích ứng tự phát giữa khối lợng và cơcấu của sản xuất với khối lợng và cơ cấu nhu cầu của xã hội, nhờ đó có thể thoảmãn nhu cầu tiêu dùng cá nhân và sản xuất về hàng ngàn, hàng vạn loại sản phẩmkhác nhau Những nhiệm vụ này nếu Nhà nớc làm sẽ phải thực hiện một khối lợngcông việc khổng lồ, có khi không thực hiện đợc và đòi hỏi chi phí cao trong việc racác quyết định.Cơ chế thị trờng mềm dẻo hơn Nhà nớc và có khả năng thích nghicao hơn khi những điều kiện kinh tế thay đổi, làm thích ứng kịp thời giữa sản xuấtvới nhu cầu xã hội
Trang 9Nhờ vậy cơ chế thị trờng giải quyết đợc những vấn đề cơ bản của tổ chức kinh
tế Cần sản xuất loại hàng hoá gì với khối lợng bao nhiêu do ngời tiêu dùng quyết
định khi họ quyết định mua hàng hoá này mà không mua hàng hoá khác Lợinhuận lôi cuốn các doanh nghiệp vào sản xuất mặt hàng có lợi nhuận cao Do đó
mà đáp ứng đợc nhu cầu xã hội Sản xuất bằng phơng pháp nào, bằng công nghệ gì
đợc quyết định bởi cạnh tranh giữa những ngời sản xuất hàng hoá Cách duy nhất
để các doanh nghiệp có thể cạnh tranh đợc về giá cả và đạt đợc lợi nhuận tối đa chomình là giảm chi phí đến mức tối thiểu bằng cách áp dụng kỹ thuật công nghệ vàosản xuất Hệ thống giá cả là tín hiệu cho một phơng pháp công nghệ thích hợp Sảnxuất hàng hoá cho ai hay là sản phẩm sản xuất ra đợc phân phối nh thế nào, mộtphần đợc quyết định bởi quan hệ cung- cầu trên thị trờng các nhân tố sản xuất (đất
đai, lao động, vốn) Thu nhập của các tầng lớp dân c phụ thuộc vào số lợng và giácả các nhân tố sản xuất
Lịch sử phát triển của sản xuất xã hội chứng minh rằng cơ chế thị trờng là cơ chế
điều tiết nền kinh tế hàng hoá đạt hiệu quả kinh tế cao Song cơ chế thị trờng khôngphải là hiện thân của sự hoàn hảo, mà nó vốn có những khuyết tật dới đây của cơchế thị trờng
Cơ chế thị trờng chỉ thể hiện đầy đủ khi có sự kiểm soát của cạnh tranh hoànhảo Một nền kinh tế đợc thúc đẩy bởi cạnh tranh hoàn hảo sẽ dẫn tới sự phân bố và
sử dụng hiệu quả nhất đầu vào của sản xuất và đầu ra, tức là nền kinh tế đứng trên
đờng giới hạn khả năng sản xuất.Nh vậy, hiệu lực của cơ chế thị trờng phụ thuộcvào mức độ không hoàn hảo của cạnh tranh, cạnh tranh càng không hoàn hảo thìhiệu lực của cơ chế thị trờng càng giảm
Mục đích hoạt động của các doanh nghiệp là lợi nhuận tối đa, vì vậy họ có thểlạm dụng tài nguyên của xã hội, gây ô nhiễm môi trờng sống của con ngời mà xãhội phải gánh chịu, do đó hiệu quả kinh tế-xã hội không đợc bảo đảm
Có những mục tiêu xã hội mà dù cơ chế thị trờng có hoạt động tốt cũng khôngthể đạt đợc Sự tác động của cơ chế thị trờng đa đến sự phân hoá giàu nghèo, tác
động xấu đến đạo đức, tình ngời Một nhà nghiên cứu phơng Tây nhận xét về xãhội của các nớc phát triển cao nh sau: “ Trong các nền văn minh đợc coi là pháttriển của chúng ta, tồn tại một tình trạng kém phát triển thảm hại về văn hoá, trínão, đạo đức và tình ngời”
Một nền kinh tế do cơ chế thị trờng điều tiết khó tránh khỏi những thăng trầm,khủng hoảng kinh tế có tính chu kỳ Ngời ta nhận thấy rằng, một nền kinh tế hiện
đại đứng trớc một vấn đề nan giải của kinh tế vĩ mô không một nớc nào trong thờigian dài lại có đợc lạm phát thất nghiệp thấp và công ăn việc làm đầy đủ Do đó,
Trang 10ngày nay trong thực tế không tồn tại cơ chế thị trờng thuần tuý, mà thờng có sự canthiệp của Nhà nớc, khi đó nền kinh tế, nh ngời ta gọi là nền kinh tế hỗn hợp.
4 Vai trò kinh tế của Nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng.
Nh đã nói ở trên, cơ chế thị trờng là cơ chế tốt nhất điều tiết nền kinh tế thị hànghoá một cách có hiệu quả, tuy nhiên cơ chế thị trờng có một loạt những khuyết tật.Vì vậy, ở tất cả các nớc mà nền kinh tế do cơ chế thị trờng điều tiết đều có sự canthiệp của nhà nớc vào kinh tế nhằm sửa chữa “ những thất bại của thị trờng”, tuynhiên, với mức độ khác nhau nhằm đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định,hiệu quả và đạt đợc sự công bằng xã hội
Vì vậy, chúng ta không chỉ cần biết cơ chế thị trờng hoạt động nh thế nào, màcòn cần biết Nhà nớc tác động đến hoạt động của nền kinh tế nh thế nào?
Vai trò của Nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng rất quan trọng Vai trò đó đợcthực hiện qua các chức năng kinh tế của nó Có thể nêu lên các chức năng kinh tếcủa Nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng nh dới đây :
Một là, đảm bảo sự ổn định chính trị, xã hội và thiết lập khuôn khổ luật pháp để
tạo ra những điều kiện cần thiết cho hoạt động kinh tế Về nhiều mặt, chức năngnày vợt ra ngoài lĩnh vực kinh tế đơn thuần Nhà nớc tạo ra hành lang luật pháp chohoạt động kinh tế bằng cách đặt ra những điều luật cơ bản về quyền sở hữu tài sản
và sự hoạt động của thị trờng, đặt ra những quy định chi tiết cho hoạt động của cácdoanh nghiệp Khuôn khổ luật pháp mà Nhà nớc thiết lập có tác dụng sâu sắc tớicác hành vi kinh tế của con ngời và cả bản thân Chính phủ cũng phải tuân theo
Hai là, điều tiết kinh tế để đảm bảo cho nền kinh tế thị trờng phát triển ổn định.
Nền kinh tế thị trờng khó tránh khỏi bị chấn động bởi các cuộc khủng hoảng kinh
tế, đều phải trải qua các chu kỳ kinh doanh, tức là các dao động lên xuống củaGNP hoặc GDP, kèm theo là các dao động lên xuống về mức độ thất nghiệp và lạmphát
Nhà nớc cần cố gắng làm dịu những dao động lên xuống của các chu kỳ kinhdoanh thông qua chơng trình hoá kinh tế, chính sách tài chính và chính sách tiền tệ.Chẳng hạn, chính phủ có thể giảm thuế trong cơn suy thoái với hy vọng tăng chitiêu của dân chúng, nhờ đó sẽ nâng cao GDP Ngân hàng Trung ơng áp dụng cácbiện pháp “ thắt chặt tiền tệ” nhằm giảm lạm phát Nh vậy, thông qua chính sáchtài chính và chính sách tiền tệ Nhà nớc cố gắng ổn định kinh tế, duy trì nền kinh tếcàng sát càng tốt đối với tình trạng đầy đủ việc làm và lạm phát thấp.Hiển nhiên làNhà nớc không thể kiểm soát nền kinh tế một cách hoàn hảo, nếu không thì chúng
ta không phải chứng kiến những suy thoái và lạm phát trầm trọng
Trang 11Ba là, đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động hiệu quả Một trong những nguyên
nhân dẫn đến tính kém hiệu quả của hoạt động thị trờng là những tác động, mà cácnhà kinh tế gọi là tác động bên ngoài Các doanh nghiệp vì lợi ích tối đa của mình
có thể lạm dụng tài nguyên xã hội, gây ô nhiễm môi trờng sống của con ngời mà xãhội phải gánh chịu Sự can thiệp của Chính phủ nhằm ngăn chặn những tác độngbên ngoài để nâng cao hiệu quả
Một nguyên nhân khác dẫn đến tính kém hiệu quả của hoạt động thị trờng là sựxuất hiện của độc quyền Các tổ chức độc quyền có thể không tăng thậm chí giảm
số lợng hàng hoá mà chỉ tăng giá để tăng lợi nhuận Một nền kinh tế đợc thúc đẩybởi cạnh tranh hoàn hảo sẽ đạt hiệu quả cao, nhng cạnh tranh làm hạn chế khả năng
đạt lợi nhuận độc quyền nên các doanh nghiệp thờng cố gắng giảm bớt cạnh tranh.Vì vậy, Nhà nớc có một nhiệm vụ rất cơ bản bảo vệ cạnh tranh và chống độc quyền
để nâng cao tính hiệu quả của hoạt động thị trờng
Bốn là, đồng thời để đảm bảo tính hiệu quả thì Nhà nớc phải sản xuất ra hàng
hoá công cộng, đảm bảo xây dựng kết cấu hạ tầng cho nền kinh tế, thực hiện côngbằng xã hội Sự hoạt động của cơ chế thị trờng có thể làm cho nền kinh tế đạt hiệuquả cao Nhng cơ chế thị trờng hoạt động phi nhân tính, nó không tính đến các khíacạnh nhân đạo và xã hội, không mang lại những kết quả mà xã hội cố gắng vơn tới.Việc phân phối và sử dụng tối u các nguồn lực không tự động mang lại một sự phânphối thu nhập tối u
Sự can thiệp của Nhà nớc nhằm phân phối thu nhập công bằng, bảo vệ các thànhviên của xã hội chống lại những khó khăn về kinh tế, nâng cao mức sống của cácnhóm dân c có thu nhập thấp nhất Điều đó đợc thực hiện thông qua chính sáchphân phối, bảo hiểm xã hội và phúc lợi xã hội
II Đặc trng của nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở Việt Nam.
1 Sự cần thiết khách quan phải chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa Mô hình kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở nớc ta.
Trớc hết cần nghiên cứu những đặc trng cơ bản của cơ chế kế hoạch hoá tậptrung- cơ chế quản lý kinh tế đã tồn tại ở nớc ta trớc thời kỳ đổi mới- và hậu quảcủa nó.Cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp có những đặc trng chủ yếusau đây:
Trang 12a) Nhà nớc quản lý nền kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính là chủ yếu, điều đó thểhiện ở sự chi tiết hoá các nhiệm vụ do trung ơng giao bằng một hệ thống chỉ tiêupháp lệnh từ một trung tâm.
b) Các cơ quan hành chính- kinh tế can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất kinhdoanh của các đơn vị kinh tế cơ sở, nhng lại không chịu trách nhiệm gì về mặt vậtchất đối với các quyết định của mình
c) Bỏ qua quan hệ hàng hoá- tiền tệ và hiệu quả kinh tế, quản lý nền kinh tế và kếhoạch hoá bằng chế độ cấp phát và giao nộp sản phẩm, quan hệ hiện vật là chủ yếu,
do hạch toán kinh tế chỉ là hình thức: bao cấp qua giá, bao cấp qua tiền lơng hiệnvật (chế độ tem phiếu) và bao cấp qua cấp phát vốn của ngân sách, mà không ràngbuộc vật chất đối với ngời đợc cấp phát vốn
d) Từ những đặc điểm trên đã dẫn đến bộ máy quản lý rất cồng kềnh, có nhiều cấptrung gian và kém năng động, từ đó sinh ra một đội ngũ cán bộ kém năng lực quản
lý, không thạo nghiệp vụ kinh doanh, nhng phong cách thì quan liêu, cửa quyền.Cơ chế kế hoạch hoá tập trung đã tích góp những xu hớng tiêu cực, làm nảy sinh
sự trì trệ, hình thành cơ chế kìm hãm sự phát triển kinh tế- xã hội Vấn đề đặt ra làphải đổi mới sâu sắc cơ chế đó Phơng hớng cơ bản của sự đổi mới cơ chế quản lýkinh tế ở nớc ta đã đợc Đại hội VI của Đảng xác định và tiếp tục đợc Đại hội VIIcủa Đảng khẳng định “ Tiếp tục xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, hìnhthành đồng bộ và vận hành có hiệu quả cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà n-ớc”
Trớc năm 1986 ở Việt Nam cũng nh các nớc CNXH khác đã có nhận thức không
đúng về kinh tế thị trờng và CNXH vì cho rằng chúng đối lập nhau không thể cùngtồn tại, cùng phát triển đợc Kinh tế thị trờng là sản phẩm của CNTB, vì vậy CNXHkhông thể xây dựng trên nền tảng của kinh tế thị trờng mà phải xây dựng trên cơ sởcủa nền kinh tế không thị trờng Do những quan niệm trên nên trong một thời kỳdài, kinh tế thị trờng không thể tồn tại trong ý thức hệ cũng nh trong thực tế ở ViệtNam.Trong thời kỳ này mọi hoạt động kinh tế không diễn ra trên thị trờng, quan hệhàng hoá - tiền tệ bị xem nhẹ, các quy luật của kinh tế thị trờng không đợc nhậnthức vận dụng, các đòn bẩy kinh tế nh lợi nhuận, tiền lơng, giá cả, thuế bị xemnhẹ, thay vào đó là quan hệ cấp phát hiện vật, sản xuất theo kế hoạch nhà nớc; cácchỉ tiêu kinh tế, các quyết định kinh tế đợc soạn thảo từ nhà nớc, làm cho thị trờng
bị biến dạng đã dẫn đến làm triệt tiêu động lực phát triển kinh tế, đã dẫn đến khủnghoảng kinh tế
Chính thực tiễn đó buộc Việt Nam phải có nhận thức mới về nền kinh tế XHCN
Đó là nền kinh tế thị trờng theo định hớng XHCN, có sự quản lý của Nhà nớc Vấn
Trang 13đề đặt ra là vì sao thừa nhận kinh tế thị trờng có thể tồn tại và phát triển trong hìnhthái kinh tế- xã hội xã hội chủ nghĩa Đại hội VI của ĐCSVN và các văn kiện tiếpsau của các đại hội VII, VIII cũng nh các bài viết của các nhà lý luận đã xác địnhkinh tế thị trờng và định hớng XHCN không đối lập nhau trong quá trình phát triểnkinh tế theo định hớng XHCN là vì :
- Kinh tế thị trờng là sản phẩm chung của nền kinh tế thế giới, của sự phát triểnlâu dài của nền kinh tế thế giới, phản ánh các nấc thang tiến hoá trong giai đoạn cụthể của nền kinh tế thế giới
Nền kinh tế thế giới bắt đầu từ nền kinh tế tự nhiên, sống nhờ vào sản phẩm màthiên nhiên ban phát, vai trò của con ngời đối với nền kinh tế còn hết sức nhỏ bé,con ngời sống lệ thuộc thiên nhiên Song thông qua lao động con ngời đã sáng tạo
ra các công cụ lao động và các hình thức lao động làm cho của cải sản xuất ra ngàycàng nhiều không chỉ cung cấp cho ngời sản xuất mà còn d thừa cung ứng cho xãhội, quan hệ hàng- tiền tất yếu xuất hiện, cùng với sự xuất hiện của một loạt các thịtrờng, sản sinh ra nền sản xuất hàng hoá mà đỉnh cao là của nó là nền kinh tế thị tr-ờng,nếu nền kinh tế thị trờng đó đi với chế độ t nhân t bản chủ nghĩa thì hình thànhnền kinh tế thị trờng TBCN, nếu đi với nền kinh tế ấy là chế độ công hữu, cũng vớivai trò quản lý của nhà nớc, đặt dới sự lãnh đạo của ĐCS thì nền kinh tế thị trờng
đó theo hớng XHCN
Nh vậy, kinh tế thị trờng, nảy sinh tất yếu khách quan của quá trình vận độngcủa nền kinh tế thế giới, nó sẽ biến đổi trong quá trình đó, nó không phải là sảnphẩm của một phơng thức sản xuất mà sẽ tồn tại trong nhiều phơng thức sản xuất.Luận điểm đó cho thấy, chủ nghĩa xã hội mà Việt Nam định xây dựng hoàn toàn
có thể dung hợp với kinh tế hàng hoá mà đỉnh cao là kinh tế thị trờng, có nh vậymới có điều kiện chuẩn bị các tiền đề kinh tế, xã hội cho sự vận động ở trình độ caohơn Những ý tởng đối lập với luận điểm này sẽ là lực cản cho quá trình phát triểnkinh tế Việt Nam hiện tại và tơng lai
- Sự vận động của nền kinh tế thế giới từ trớc đến nay cho thấy, quy luật quan
hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lợng sản xuất, đã chi phối sự vận động đó,con ngời chỉ nhận thức chính xác mức độ tác động của quy luật qua các thời kỳ vàkhéo léo vận dụng chúng cho phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội cụ thể nhằmkích thích nền kinh tế tăng trởng nhanh, bền vững Điều này có nghĩa là kinh tếhàng hoá, kinh tế thị trờng là sản phẩm của sự tác động biện chứng giữa quy luậtquan hệ sản xuất và lực lợng sản xuất, vì vậy không thể phủ định nó khi mà các
điều kiện đảm bảo cho nó phát triển vẫn còn tồn tại, nghĩa là kinh tế thị trờng và
định hớng xã hội chủ nghĩa không đối lập nhau,mà cùng tồn tại với nhau trong thời
Trang 14kỳ dài của sự phát triển nền kinh tế thế giới, song tất yếu, giữa chúng sẽ có mâuthuẫn với nhau, đây chính là động lực của sự phát triển.
Sự phù hợp của kinh tế thị trờng và định hớng xã hội chủ nghĩa thể hiện ở chỗkinh tế hàng hoá, kinh tế thị trờng có nhiều mặt tích cực đối với sự phát triển nềnkinh tế nói chung, trong đó có nền kinh tế XHCN Còn nền kinh tế XHCN cũng cómặt tích cực đối với sự phát triển của loài ngời Nền kinh tế XHCN kế thừa mặt tíchcực của nền kinh tế hàng hoá để làm cho nền kinh tế phát triển nhanh hơn, nh vậychúng bổ sung cho nhau Nền kinh tế Việt Nam hiện tại và tơng lai cần có sự hỗ trợcác mặt tích cực đó của kinh tế thị trờng
Theo nấc thang tiến hoá của lịch sử, phát triển các phơng thức sản xuất, bớc đi từkinh tế tự nhiên lên kinh tế hàng hoá là kết quả của sự phát triển LLSX đạt đến mộttrình độ nhất định, đạt đến trình độ cao của kinh tế thị trờng nh hiện nay là phản
ánh trình độ phát triển cao của LLSX Đến lợt nó, kinh tế thị trờng phát triển caocũng có những tác động thúc đẩy LLSX vốn đã phát triển cao lại càng cao thêm.Với những t duy mới, chúng ta có thể khẳng định rằng : Kinh tế thị trờng khôngphải là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa t bản Nó không đối lập mà là sản phẩmchung của nền văn minh nhân loại Xây dựng và phát triển kinh tế thị trờng là mộttrong những tính quy luật phổ biến của sự phát triển lực lợng sản xuất xã hội
Do điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội khác nhau nên mỗi nớc có một mô hìnhkinh tế thị trờng riêng Chẳng hạn, ở Cộng hoà liên bang Đức có mô hình kinh tếthị trờng- xã hội; ở Trung Quốc có mô hình kinh tế thị trờng mang màu sắc TrungQuốc
Việt Nam từ giữa những năm 80 của thế kỷ XX đã tiến hành công cuộc đổi mới
và nền kinh tế của đất nớc đợc xây dựng theo mô hình kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa
- Sự hình thành và phát triển KTTT định hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta đã trảiqua quá trình nghiên cứu, thử nghiệm và tổng kết thực tiễn Đại hội Đảng toànquốc lần thứ VI (1986) đánh dấu công cuộc đổi mới nền kinh tế đợc khởi xớng, nh-
ng phải trải qua 5 năm thực hiện, đến Đại hội lần thứ VII (1991), mới đa ra phơnghớng : “ Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng xã hộichủ nghĩa” Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ khoá VII bổ sung thêm cơ chế vậnhành nhằm cụ thể hoá thêm một bớc phơng hớng nói trên là : “Xây dựng đồng bộcơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng XHCN” Đại hội Đảnglần thứ VIII (1996) lại cụ thể hoá thêm một bớc nữa là : “ Xây dựng nền kinh tếhàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà n-
ớc theo định hớng XHCN”; “ phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành
Trang 15theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng XHCN” Trong dựthảo Báo cáo chính trị trình Đại hội IX có viết về con đờng đi lên CNXH ở nớc ta.
Đây là thành quả tổng kết lý luận qua nhiều năm thực hiện đờng lối đổi mới của
Đảng Một trong bốn nội dung về con đờng này, dự thảo chỉ rõ : “Đảng và Nhà nớc
ta chủ trơng thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hànghoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trờng, có sự quản lý của Nhà nớctheo định hớng XHCN, nói gọn lại là nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN”.Cơ chế của nền kinh tế ở nớc ta là cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớctheo định hớng XHCN Trong mô hình này nổi lên 3 khía cạnh chủ yếu :
Thứ nhất: Với t cách cái chung-KTTT- đòi hỏi trong quá trình kết hợp phải tạo
lập và vận dụng đồng bộ các yếu tố:
a) Cơ sở kinh tế mang tính đa dạng về sở hữu và thành phần kinh tế để nền kinh
tế có thể “tự do hoá kinh tế” (tự do cạnh tranh, tự do kinh doanh và tự chủ)
b) Các phạm trù kinh tế vốn có của KTTT nh hàng hoá, tiền tệ, thị trờng, cạnhtranh, cung-cầu, giá trị thị trờng, giá cả thị trờng và lợi nhuận
c) Các quy luật kinh tế của KTTT (quy luật giá trị, quy luật lu thông tiền tệ, quyluật cạnh tranh và quy luật cung cầu)
d) Cơ chế vận hành nền KTTT- cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc
Thứ hai : Với t cách là cái đặc thù- định hớng XHCN- trong quá trình kết hợp
đòi hỏi phải tuân theo các mục tiêu, nguyên tắc và nhiệm vụ kinh tế cơ bản hớng
đến mục tiêu và các đặc trng của CNXH mà nớc ta cần xây dựng Định hớngXHCN ở nớc ta là một sự lựa chọn tất yếu, một khái niệm khoa học Tuy vậy, vẫncòn có một số cách hiểu khác nhau, thậm chí không phải không có t tởng hoài nghi
về tính hiện thực của định hớng XHCN mà Đảng, Nhà nớc và nhân dân ta đã lựachọn
Lý thuyết hình thái kinh tế-xã hội của K.Marx cho rằng xã hội cộng sản chủnghĩa mà giai đoạn đầu là xã hội XHCN, đợc ra đời và phát triển trên cơ sở thaythế, kế tiếp xã hội t bản chủ nghĩa Nghiên cứu sự ra đời và phát triển xã hội mớiphải đợc tiếp cận nh một quá trình phủ định biện chứng- phủ nhận có kế thừa Cũngtheo lý thuyết này và có tính đến lý thuyết phát triển nền văn minh thì xã hộiXHCN phải là một xã hội hàm chứa trong nó những nhân tố kinh tế, chính trị, vănhoá và gắn với mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con ng-
ời Xã hội cộng sản chủ nghĩa theo K Marx, lẽ ra phải xuất hiện từ “các nớc t bảnvăn minh” có nền kinh tế đã phát triển cao Song, xã hội đó do những điều kiện lịch
sử đặc biệt và do sự lựa chọn của Đảng và nhân dân ta, lại xuất hiện ở Việt Nam,một nớc mà nền kinh tế có điểm xuất phát thấp Mặc dù vậy, cũng không nên lấy
Trang 16sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Đông Âu và Liên Xô cũng nh ta từ bỏ mô hình kinh
tế chỉ huy tập trung quan liêu, bao cấp để chứng minh sự lựa chọn CNXH là sailầm Thật ra hai sự việc trên chỉ chứng tỏ sai lầm của nhận thức giản đơn, thậm chínhận thức lệch lạc về CNXH Cần ý thức rằng định hớng XHCN đã chọn là một tấtyếu, vì sự lựa chọn phù hợp với nội dung thời đại- “Thời đại quá độ từ chủ nghĩa tbản lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới” Đảng ta nhận định : “XHCN trên thếgiới, từ những bài học thành công và thất bại cũng nh từ khát vọng và sự thức tỉnhcủa các dân tộc, có điều kiện và khả năng tạo ra bớc phát triển mới Theo quy luậttiến hóa của lịch sử, loài ngời nhất định sẽ tiến tới XHCN” (Văn kiện Đại hội IX,tr.14) Định hớng XHCN không chỉ là một tất yếu về chính trị và nguyện vọngmong muốn của nhân dân ta, mà còn là một tất yếu kinh tế, nếu chúng ta đặt nhữngtiền đề kinh tế cho việc xây dựng CNXH ở nớc ta theo t duy mới, mở cửa về kinh tếvới tất cả các nớc trên thế giới,và nếu chúng ta xem xét các tiền đề kinh tế khôngdừng lại ở điểm xuất phát ban đầu mà xem xét những thành tựu đã đạt đợc sau hơn
15 năm đổi mới nền kinh tế
Tuy vậy, cũng phải nhận thấy rằng bên cạnh những thành tựu đã đạt đợc, đất nớc
ta còn đang đứng trớc những cơ hội và thách thức Trong bối cảnh đó, để đạt đợc
đầy đủ các mục tiêu của một xã hội XHCN đích thực không đơn giản, mà nên coicác mục tiêu đó chỉ có thể đợc hình thành từng bớc, chỉ là mục tiêu hớng tới, gắnliền với cả thời kỳ quá độ lên CNXH ở nớc ta Điều đó giúp ta hiểu vì sao Đảng takhông sử dụng khái niệm KTTT xã hội chủ nghĩa mà chọn và sử dụng khái niệmKTTT định hớng XHCN Từ mục tiêu của CNXH cần ý thức rằng xã hội XHCN
đích thực mà ta hớng tới không phải đã có sẵn hình mẫu Mô hình này còn đangtrong quá trình hình thành Vì vậy những đặc trng của mô hình CNXH chỉ nên xác
định những thuộc tính khái quát nhất và cơ bản nhất Trên cơ sở đó, làm thử tổng
kết từng bớc bổ sung và hoàn thiện Hiện tại có thể sử dụng các đặc trng đã đợc
Đảng ta xác định trong Cơng lĩnh xây dựng đất nớc của thời kỳ quá độ lên XHCN ởnớc ta, đó là “ xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội :
Do nhân dân lao động làm chủ
Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lợng sản xuất hiện đại và chế
độ công hữu về t liệu sản xuất chủ yếu
Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Con ngời đợc giải phóng khỏi áp bức bóc lột, bất công,làm theo năng lực, ởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàndiện cá nhân
h- Các dân tộc trong nớc bình đẳng, đoàn kết, và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ
Trang 17 Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nớc trên thế giới”(Văn kiện Đại hội Đảng VII).
“Định hớng XHCN”, vừa là mục tiêu và đặc trng vừa là con đờng mà xã hộidùng để đạt đến mục tiêu Vì vậy, ngoài các mục tiêu và đặc trng nói trên, còn phải
đề cập đến các vấn đề gắn với con đờng, hành lang để thực hiện mục tiêu định ớng, đó là : những nhiệm vụ kinh tế cơ bản của thời kỳ quá độ lên CNXH đợc triểnkhai thông qua các mô hình tổ chức quá độ, chính sách kinh tế quá độ, các khâu, b-
h-ớc đi trung gian quá độ và mở cửa Bằng cách đó, rút ngắn đáng kể thời gian thựchiện các trật tự phát triển tự nhiên theo định hớng mục tiêu CNXH đã chọn
Thứ ba : trong mối quan hệ giữa cái chung- KTTT với cái đặc thù- định hớng
XHCN, không thể lấy KTTT làm chủ đạo, mà nhất thiết phải lấy định hớng XHCNlàm chủ đạo Đây là nguyên tắc cơ bản trong mối quan hệ kết hợp giữa cái chung
và cái đặc thù, vì chúng ta không chủ trơng xây dựng mô hình KTTT bất kỳ, trừu ợng, càng không chủ trơng xây dựng mô hình KTTT t bản chủ nghĩa, mà chủ trơngxây dựng mô hình KTTT định hớng XHCN, tất yếu phải lấy định hớng XHCN làmchủ đạo Hơn nữa, KTTT mặc dù có nhiều yếu tố tích cực, song vẫn có một số tiêucực nhất định, muốn phát huy yếu tố tích cực, hạn chế tiêu cực không thể không
t-định hớng XHCN trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế thị trờng Xa rờinguyên tắc này sẽ làm cho việc xây dựng KTTT dễ đi chệch định hớng XHCN Vìvậy, lấy định hớng XHCN làm chủ đạo trở thành nguyên tắc cơ bản chi phối lơngtâm, trách nhiệm đối với các cấp, các ngành và các chủ doanh nghiệp trong việcban hành và thực hiện các chủ trơng, quyết định về sản xuất, kinh doanh trong tiếntrình xây dựng KTTT ở nớc ta
2 Đặc trng của nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở nớc ta hiện nay.
Đặc trng của nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN phải là một nền kinh tế cótrình độ phát triển ngày càng cao, có khả năng làm cho dân giàu nớc mạnh, hay nóicách khác là nền kinh tế phồn thịnh Quan hệ giữa con ngời với con ngời trong xãhội là bình đẳng, hay công bằng, dân chủ và xã hội ngày càng văn minh Vì vậy,
định hớng XHCN là định hớng đa kinh tế- xã hội nớc ta tiến tới phồn thịnh, bình
đẳng và văn minh, và đó cũng chính là đặc trng của nền kinh tế thị trờng Việt Nam.a) KTTT định hớng XHCN là một nền kinh tế bao gồm nhiều thành phần , trong
đó kinh tế nhà nớc và kinh tế hợp tác trở thành nền tảng Và kinh tế nhà nớc đóngvai trò chủ đạo Các thành phần kinh tế đều vận động theo định hớng chung và theokhuôn khổ pháp luật của nhà nớc XHCN
Trang 18Nền kinh tế thị trờng phải đợc xây dựng trên cơ sở đa dạng hóa loại hình và hìnhthức sở hữu, đa dạng hoá hình thức kinh tế hay hình thức kinh doanh
Hiện nay ở nớc ta có 3 loại hình sở hữu về t liệu sản xuất, và trong mỗi loại hìnhlại có những hình thức sở hữu khác nhau Ba loại hình sở hữu là sở hữu quốc gia; sởhữu nhóm, tập thể; và t hữu Loại sở hữu quốc gia có các hình thức nh ngân sách,các quỹ quốc gia, kinh tế doanh nghiệp nhà nớc Loại sở hữu tập thể, nhóm có cáchình thức kinh tế hợp tác xã, t bản nhà nớc và kinh tế hỗn hợp khác Loại sở hữu tnhân bao gồm kinh tế t nhân sản xuất lớn và kinh tế t nhân sản xuất nhỏ
Phạm trù kinh tế Nhà nớc hiện có nhiều quan điểm khác nhau, trong đó có ýkiến coi kinh tế Nhà nớc nh là một thành phần kinh tế, có ý kiến thứ hai cho rằng,kinh tế Nhà nớc không phải là một thành phần kinh tế mà là tài sản của một quốcgia Nội dung kinh tế của nó gồm ngân sách nhà nớc, các quỹ mà quốc gia nắmgiữ, sở hữu các doanh nghiệp Nhà nớc Nh vậy, sở hữu các doanh nghiệp Nhà nớcchỉ là một bộ phận của kinh tế Nhà nớc, của sở hữu quốc gia Không nên đặt kinh
tế nhà nớc ngang với các hình thức tổ chức kinh doanh khác
Về vấn đề hình thức kinh tế hay hình thức tổ chức kinh doanh Trong dự thảonêu lên 6 hình thức tổ chức kinh doanh (hình thức kinh tế) Hình thức kinh tế hayhình thức kinh doanh là kiểu tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên mộthình thức sở hữu nhất định ở nớc ta hiện nay có những hình thức kinh tế chủ yếusau đây :
Hình thức kinh tế Nhà nớc
Hình thức kinh tế tập thể hay hợp tác xã, gọi tắt là hợp tác xã
Hình thức kinh tế hỗn hợp hay t bản nhà nớc, gọi tắt là doanh nghiệp hỗnhợp, gồm cả hình thức kinh tế 100% vốn đầu t nớc ngoài
Hình thức kinh tế t nhân sản xuất lớn, gọi tắt là t bản t nhân
Hình thức kinh tế t nhân sản xuất nhỏ, gọi tắt là kinh tế cá thể
Trong kinh tế , doanh nghiệp là nơi làm giàu cho đất nớc Sứ mệnh của nó là sinhlợi cho nền kinh tế quốc dân Một đất nớc muốn phát triển thì doanh nghiệp phảihoạt động có hiệu quả, có lãi để thực sự đóng góp cho ngân sách nhà nớc Tuynhiên mỗi loại hình kinh tế đóng góp vai trò nhất định trong quá trình sinh lợi chonền kinh tế Hiện nay, ở nớc ta còn nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này Theo tôicho rằng, kinh tế nhà nớc giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, bởi lẽ nó tạo ra hiệuquả kinh tế xã hội cho toàn nền kinh tế thông qua việc cung cấp hàng hoá côngcộng và mở đờng cho các thành phần kinh tế khác phát triển Các hình thức kinh tếkhác có vai trò trực tiếp sinh lợi cho nền kinh tế quốc dân Trong nền kinh tế địnhhớng XHCN, mục tiêu căn bản nhất là bình đẳng xã hội vì những đặc điểm có tính