1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp thúc đẩy phát triển quan hệ ngoại thương Việt - Mỹ

23 595 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp thúc đẩy phát triển quan hệ ngoại thương Việt - Mỹ
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Ngoại Thương
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2000
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 153,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiềm năng thương mại giữa hai nước rất to lớn

Trang 1

Lời Nói Đầu

Sự kiện chính phủ Mỹ tuyên bố bãi bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Namngày 3/2/1994 và Tổng thống Mỹ Bill Clinton tuyên bố công nhận ngoại giao

và bình thờng hoá quan hoá với Việt Nam ngày 11/7/1995 đánh dấu một bớcphát triển mới trong quan hệ của hai nớc Đặc biệt với việc ký kết Hiệp địnhthơng mại Việt Nam-Hoa Kỳ ngày 13/7/2000 theo giờ Hoa Kỳ, theo giờ ViệtNam là ngày 14/7/2000 đã đa quan hệ hai nớc lên một tầm cao mới, đánh dấuviệc hoàn tất quá trình bình thờng hoá hoàn toàn quan hệ Việt- Mỹ, phù hợpvới xu thế vận động của nền kinh tế thế giới, góp phần tạo lập môi trờng kinhdoanh lành mạnh, ổn định và phát triển

Việc ký kết hiệp định thơng mại Việt-Mỹ ngày 14/7/2000 đã làm choquan hệ thơng mại hai nớc đợc khai thông Vấn đề đặt ra là làm sao giải quyết

đợc các trở ngại tiếp theo để phát triển thơng mại hai nớc cho xứng với tiềmnăng và vị trí của hai bên; Chính phủ và các doanh nghiệp Việt Nam cần phải

làm gì để đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trờng Mỹ Vì vậy đề tài “Giải pháp

thúc đẩy phát triển quan hệ ngoại thơng Việt - Mỹ” đã đợc chọn làm nội

dung nghiên cứu để thực hiện mục đích trên

Tiềm năng thơng mại giữa hai nớc là rất to lớn Tuy nhiên để biến tiềmnăng thành hiện thực góp phần đem lại hiệu quả kinh tế và lợi ích của cả haibên thì cần phải khắc phục những khó khăn tạo điều kiện thuận lợi cho sự hợptác bình đẳng, cùng có lợi, tạo tiền đề để phát triển quan hệ chính trị, ngoạigiao toàn diện giữa hai nớc Cái đích trớc mắt là nỗ lực tuyên truyền, vận động

để hiệp định thơng mại hai bên có hiệu lực càng sớm càng tốt; tổ chức, chuẩn

bị thật tích cực chủ động để khi hiệp định có hiệu lực ta có thể đi vào thị trờngnày ngay, không chờ đợi

Phần I: Sự cần thiết phải phát triển quan hệ thơng mại với Hoa Kỳ

Trang 2

I/ sự cần thiết phải đẩy mạnh quan hệ thơng

mại việt – mỹ

1.Phát triển và mở rộng đợc một thị trờng lớn nhất thế giới:

Kể từ khi Việt Nam đổi mới nền kinh tế, phát triển nền kinh tế thị trờngtheo định hớng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế nớc ta đã có những bớc tiến đáng

kể và gặt hái đợc những thành tựu quan trọng Thơng mại không ngừng pháttriển, đặc biệt trong ngoại thơng Hàng hoá xuất khẩu tăng nhanh về số lợng,chất lợng không ngừng đợc cải thiện, đa dạng về chủng loại Thị trờng xuấtkhẩu không ngừng đợc mở rộng, hiện ta có quan hệ buôn bán với hơn 160 nớctrên thế giới Kim ngạch xuất khẩu năm sau tăng so với năm trớc, ớc tínhtrong năm 2000 kim ngạch xuất khẩu có thể đạt mức 14 tỷ USD Những điềunày đã góp phần không nhỏ vào sự tăng trởng kinh tế đất nớc, đa Việt Namhội nhập nền kinh tế thế giới, chuyển nền kinh tế thị trờng hớng vào xuấtkhẩu

Đối với thị trờng Mỹ, kể từ khi Mỹ tuyên bố bãi bỏ lệnh cấm vận và bìnhthờng hoá quan hệ với Việt Nam thì kim ngạch xuất khẩu của các doanhnghiệp Việt Nam sang thị trờng Mỹ luôn tăng 100- 200%/năm Đây là tốc độtăng trởng xuất khẩu cao nhất so với các thị trờng khác, cho dù ta cha hởngquy chế tối huệ quốc (MFN) và hệ thống u đãi thuế quan chung (GSP) củaMỹ

Bảng 1: Kim ngạch buôn bán Việt-Mỹ

Trang 3

phải chịu mức thuế nhập khẩu cao khi xuất sang Mỹ Mức thuế trung bình củaquy chế tối huệ quốc (MFN) đối với hàng hoá nhập khẩu vào Mỹ là từ 4-5%trong khi mức thuế chung nhập khẩu của Mỹ (mức thuế phi MFN) là trên50% Đây là sự phân biệt đối xử rất lớn đối với các đối tác thơng mại của Mỹ.

Nh vậy khi dành đợc quy chế MFN, hàng hoá của Việt Nam xuất sang Mỹ sẽ

có tính cạnh tranh cao, mở rộng và đa dạng hoá các sản phẩm xuất sang Mỹ

Ta có thể nhận định, trong những năm tới, kim ngạch xuất khẩu hàng hoásang Mỹ sẽ không ngừng tăng cao cùng với Nhật, EU, Singapore Mỹ sẽ làmột thị trờng xuất khẩu chính của Việt Nam chứ không phải chỉ có kim ngạchxuất khẩu nhỏ bé nh những năm vừa qua (xem bảng số liệu ở trên)

2.Lợi ích từ hệ thống u đãi thuế quan chung (GSP) và triển vọng gia nhập WTO.

Ngoài việc đợc hởng quy chế MFN, Mỹ còn có thể dành cho Việt Namhởng lợi ích từ hệ thống u đãi thuế quan chung (Generalized system ofpreferences _ GSP) Đây là một chơng trình đem lại lợi ích hầu nh một cách

đặc quyền cho các nớc đang phát triển bằng cách Mỹ sẽ loại bỏ thuế quannhập khẩu hay u đãi mức thuế thấp đối với một số sản phẩm Đây là chế độ u

đãi đơn phơng, không ràng buộc điều kiện có đi có lại Điều này nhằm giúpcác nớc kém phát triển dễ dàng tiếp cận với thị trờng Mỹ Điều kiện để mộtmặt hàng đợc hởng u đãi GSP gồm: hàng hoá đó thuộc danh mục đợc hởngGSP và đáp ứng nguyên tắc xuất xứ từ các nớc đang phát triển đợc hởng lợi(Benificary developing country_ BDC) Mặt khác tỷ lệ nội địa hoá của sảnphẩm phải đạt ít nhất là 35% giá trị của sản phẩm Điều 3 khoản 8 trong hiệp

định Thơng mại Việt- Mỹ đã đề cập tới vấn đề này: "Hoa kỳ sẽ xem xét khảnăng dành cho Việt Nam chế độ GSP "

Với việc đạt đợc hiệp định thơng mại Việt-Mỹ, việc gia nhập WTO củaViệt Nam đã có triển vọng thuận lợi, để từ đó hội nhập nền kinh tế thế giới.Tuy cha phải là đàm phán gia nhập WTO với Mỹ nhng hiệp định thơng mạiViệt-Mỹ đợc đàm phán theo tiêu thức của WTO, điều này sẽ thuận lợi cho choviệc đàm phán song phơng và đa phơng, là một tiện ích thúc đẩy quá trìnhViệt Nam gia nhập WTO Mỹ có thể "bật đèn xanh" trong việc Việt Namtham gia vào WTO

3.Lợi ích từ việc thu hút đợc nhiều nguồn đầu t trực tiếp (FDI) từ nớc ngoài vào Việt Nam.

Khi hiệp định thơng mại có hiệu lc, hiệp định sẽ tạo cơ hội để các nớctăng cờng đầu t vào thị trờng Việt Nam Nhiều nớc mà trớc hết là các nớctrong khu vực nh Hàn Quốc, Singapo, Thái Lan, Nhật Bản, Trung Quốc, Đài

Trang 4

Loan, các nớc EU sẽ gia tăng mạnh đầu t trực tiếp (FDI) vào Việt Nam vì họcoi Việt Nam là cầu nối để từ đó hàng hoá của họ đợc xuất khẩu vào thị trờngHoa Kỳ với mức thuế suất thấp Các nhà đầu t của Hoa Kỳ cũng sẽ tới ViệtNam để đầu t Họ sử dụng những lợi thế ở thị trờng Việt Nam trong việc sảnxuất hàng hoá rồi xuất khẩu trở lại Hoa Kỳ và xuất khẩu sang các nớc khác.

Từ đó, việc giải quyết việc làm sẽ bớt căng thẳng hơn, tạo ra nhiều công ănviệc làm, nâng cao thu nhập và mức sống của ngời dân

4." Thêm bạn bớt thù" trong quan hệ quốc tế, nâng cao vị thế Việt Nam trên trờng quốc tế.

Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, Việt Nam chỉ có quan hệ với các nớcthuộc khối xã hội chủ nghĩa và luôn có sự đối đầu với các nóc thuộc hệ thống

t bản chủ nghĩa Quan hệ Việt Nam với Mỹ trở nên căng thẳng hơn khi Mỹthất bại trong chiến tranh ở Việt Nam Từ khi đổi mới tới nay, các văn kiện đạihội VI, VII, VIII đều khẳng định: “ Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các n-

ớc trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” Việcphát triển kinh tế, mở rộng quan hệ đối ngoại đã mở cho Việt Nam với các n-

ớc TBCN nói chung và Mỹ nói riêng đợc cải thiện đáng kể Bình thờng hoáquan hệ với Mỹ, đạt đợc các hiệp định về bản quyền, hiệp định sở hữu trí tuệ

và gần đây là hiệp định thơng mại đợc hai bên ký kết ngoài mục tiêu phát triểnkinh tế đối ngoại, nó còn có ý nghĩa chính trị to lớn đó là “thêm bạn bớt thù”

Đồng thời đây là nhân tố góp phần làm tăng vị thế của Việt Nam trongASEAN, ở khu vực châu á và trên thế giới Việt Nam sẽ có cơ hội vơn lênbình đẳng, không thua kém các nớc láng giềng Và quan trọng hơn cả đó làgóp phần vào việc phát triển thơng mại, tăng kim ngạch xuất khẩu thu ngoại

tệ, đa nền kinh tế tăng trởng phát triển để công nghiệp hoá hiện đại hoá đất ớc

1 Phát triển thị trờng xuất khẩu.

Mỹ là một nớc xuất khẩu lớn nhất thế giới Hàng hoá của Mỹ có mặtkhắp nơi trên thế giới và có thị phần đáng kể Với những sản phẩm, hàng hoá

đạt tiêu chuẩn chất lợng hàng đầu, mặt hàng đa dạng và phong phú, tính cạnhtranh cao với những nhãn hiệu nổi tiếng thế giới thì việc xâm nhập vào thị tr -ờng Việt Nam với gần 80 triệu dân là không mấy khó khăn Đặc biệt khi hiệp

định thơng mại Việt-Mỹ có hiệu lực thì hai bên sẽ có cơ sở pháp lý để thựcthi, rào cản thơng mại ở Việt Nam sẽ không còn khó khăn, hàng hoá của Mỹkhông bị phân biệt đối xử, chỉ phải chịu mức thuế u đãi khi xuất khẩu vào ViệtNam thì tiềm năng tiêu thụ hàng hoá của Mỹ sẽ gia tăng mạnh ở Việt Nam

Trang 5

Cùng với sự phát triển kinh tế, đời sống nhân dân đợc nâng cao, việc tiêu dùnghàng ngoại sẽ tăng nhanh đặc biệt với hàng hoá của Mỹ Các doanh nghiệp

Mỹ sẽ có cơ hội phát triển tại Việt Nam

2 Lợi ích từ việc mở rộng nguồn cung cấp một số nguyên vật liệu từ Việt Nam.

Mỹ là một trong những quốc gia có nguồn tài nguyên giàu nhất thế giớinhng Mỹ vẫn có chiến lợc bảo đảm nguồn cung cấp cho một số nguyên vậtliệu cần thiết từ nớc ngoài cho nền sản xuất trong nớc Để tránh rủi ro xảy ra

do phụ thuộc vào nguồn cung cấp nguyên vật liệu, Mỹ đã có chính sáchkhuyến khích nhập khẩu các yếu tố đầu vào cho sản xuất ở Mỹ Cũng nh cácnớc đang phát triển trong giai đoạn đầu công nghiệp hoá, Việt Nam chủ yếuxuất khẩu các sản phẩm thô, tài nguyên thiên nhiên cha qua chế biến dokhông có công nghệ hiện đại để chế biến thành sản phẩm tiêu dùng cuối cùng

Từ đó, Việt Nam trở thành nơi cung cấp nguyên vật liệu cho các ngành chếbiến ở nớc ngoài Với chiến lợc đa dạng hoá nguồn cung cấp nguyên vật liệuthì Mỹ rất quan tâm đến một số sản phẩm sơ chế của Việt Nam nh dầu thô,gạo, cà phê, cao su Các doanh nghiệp Mỹ có thể nhập đợc những nguyên vậtliệu rẻ, làm cho giá thành sản phẩm giảm xuống, tăng khả năng cạnh tranhcủa hàng hoá chế biến Mỹ Việc nhập khẩu một số sản phẩm sơ chế từ ViệtNam cũng góp phần làm ổn định hơn nguồn cung cấp nguyên vật liệu cho nềnsản xuất của Mỹ

3 Là thị trờng tiêu thụ những máy móc thiết bị đã khấu hao hết của Mỹ, các dây chuyền sản xuất của thập kỷ 80 nhng vẫn phù hợp với điều kiện của Việt Nam.

Việt Nam là một nớc đang phát triển, đang trong quá trình xây dựng nềnkinh tế hớng vào xuất khẩu, công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc nhu cầu vềmáy móc thiết bị dây chuyền sản xuất là rất lớn Có thể thấy cơ cấu nhập khẩucủa Việt Nam chủ yếu là thiết bị máy móc, dây chuyền công nghệ Do vậy cácdoanh nghiệp Mỹ đã có thêm một thị trờng về thiết bị máy móc, dây chuyềncông nghệ lớn, có nhu cầu cao và nắm đợc tâm lý là ngời Việt Nam muốnnhập công nghệ nguồn Do đó đây cũng là một lợi thế của Việt Nam do có thểtiếp cận đợc công nghệ nguồn về thiết bị, máy móc, dây chuyền công nghệ,sản xuất hàng xuất khẩu mà Việt Nam có lợi thế

Trang 6

Phần II: Thực trạng quan hệ thơng mại

Việt-Mỹ trong thời gian qua.

I/.Giai đoạn trớc khi Mỹ huỷ bỏ lệnh cấm

vận đối với Việt Nam.

1 Thời kỳ trớc năm 1975:

Trớc năm 1975, Mỹ có quan hệ kinh tế thơng mại với chính quyền SàiGòn cũ Kim ngạch buôn bán không lớn, chủ yếu là hàng nhập khẩu bằng việntrợ Mỹ để phục vụ cuộc chiến tranh xâm lợc Về xuất khẩu sang Mỹ có một sốmặt hàng nh cao su, gỗ hải sản, súc sản, đồ gốm nhng kim ngạch xuất khẩukhông đáng kể

Tháng 5/1964, áp dụng đạo luật buôn bán với kẻ thù, Mỹ cấm vận chốngmiền Bắc nớc ta và tháng 4/1975 mở rộng cấm vận trên toàn cõi Việt Namtrong tất cả các lĩnh vực thơng mại, tài chính tín dụng ngân hàng và tài sản

Đồng thời áp dụng chế tài khống chế các nớc đồng minh và các tổ chức quốc

tế do Mỹ thao túng trong mọi quan hệ kinh tế thơng mại với Việt Nam

2 Giai đoạn từ 1975 tới 1993:

Đây là giai đoạn Việt Nam bị cấm vận hoàn toàn Tuy nhiên thông quacon đờng trực tiếp hay gián tiếp Việt Nam vẫn có quan hệ kinh tế và viện trợphát triển với nhiều nớc, nhiều tổ chức và các tổ chức phi chính phủ Ngaychính nhiều công ty của Mỹ qua con đờng gián tiếp cũng đã có hàng xuấtkhẩu vào Việt Nam Năm 1987 hàng nhập vào Việt Nam có trị giá 23 triệuUSD, năm 1988 đạt 15 triệu USD, năm 1989 đạt 11 triệu USD (theo số liệucủa Bộ thơng mại Mỹ tháng 7/1994)

Trong những năm 1988-1993, tuy còn cấm vận song một số công ty Mỹthông qua các chi nhánh hoặc liên doanh đăng ký tại các nóc khác đã có 6 dự

án đầu t trực tiếp tại Việt Nam với số vốn đăng ký khoảng 3,3 triệu USD Từtháng 4/1992 Mỹ bắt đầu đi vào lộ trình hớng tới bãi bỏ lệnh cấm vận mở đầubằng việc cho phép xuất khẩu sang Việt Nam hàng hoá đáp ứng nhu cầu thiếtyếu của con ngời Tiếp đó cho phép các công ty Mỹ mở văn phòng đại diện,tiến hành nghiên cứu khả thi rồi cho phép các hãng Mỹ tham gia đấu thầu cáccông trình tại Việt Nam, ra quy định về cấp giấy phép buôn bán với Việt Nam.Hoạt động ngoại thơng hai nớc trong những năm đầu thập kỷ 90 này đã cónhững bớc đột phá ban đầu Theo số liệu thống kê, nếu xuất khẩu của ViệtNam sang Mỹ thời kỳ 1986-1989 hầu nh không có gì, thì năm 1990 đã xuất

Trang 7

khẩu đợc lợng hàng trị giá khoảng 5000 USD, tăng lên 9000 USD năm 1991,

11000 USD năm 1992 và lên 58000 USD năm 1993 Về nhập khẩu trong banăm 1991-1993, giá trị hàng nhập khẩu vào Việt Nam đạt gần 7 triệu USD sovới 5 triệu USD của cả thời kỳ 1986-1990

1.Quan hệ Ngoại thơng Việt Mỹ sau khi lệnh cấm vận bị loại bỏ

Ngày 11 tháng 7 năm 1995, Tổng thống Bill Clinton đã chính thức “tuyên

bố bình thờng hoá quan hệ ngoại giao với Việt Nam” Từ đó đến nay đã đợc 5năm, ta có thể tóm tắt quá trình đó qua các sự kiện nh sau:

Tháng 11/1995: đoàn liên bộ Mỹ thăm Việt Nam tìm hiểu hệ thống luật lệthơng mại đầu t của Việt Nam

Tháng 4/1996: Mỹ trao cho Việt Nam bản “những yếu tố bình thờng hoáquan hệ kinh tế thơng mại với Việt Nam”

Tháng 7/1996: Việt Nam trao cho Mỹ bản “Năm nguyên tắc bình thờnghoá quan hệ kinh tế thơng mại và đàm phán hiệp định thơng mại với Mỹ” đáplại văn bản nói trên

Tháng 9/1996: Bắt đầu quá trình đàm phán hiệp định thơng mại Việt-Mỹ Ngày 10/3/1998 Tổng thống Mỹ tuyên bố bãi bỏ việc áp dụng điều luật bổsung Jacson-Vannic đối với Việt Nam Đây là điều luật ngăn cấm việc dànhcho các nớc XHCN quy chế MFN trong thơng mại Điều luật này không chophép các quốc gia XHCN tham gia vào mọi chơng trình của chính phủ Mỹ,trong đó có cả hoạt động cung cấp tín dụng, bảo đảm tín dụng, bảo đảm đầu tdới hình thức trực tiếp và gián tiếp Đáng chú ý hơn là điều luật bổ sungJacson-Vannic còn cấm ngân hàng xuất khẩu (EXIMBANK) trợ cấp tín dụnggiúp các công ty Mỹ xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ sang Việt Nam hoặc tàitrợ trực tiếp cho Việt Nam để mua hàng hoá của Mỹ Do vậy việc tuyên bố bãi

bỏ việc áp dụng điều luật bổ sung Jacson-Vannic đã góp phần thúc đẩy bìnhthờng hoá quan hệ thơng mại Hàng năm quyết định này đều đợc tiếp tục giahạn nh ngày 3/6/1999 và tháng 6/2000

Ngày 19/3/1998: Mỹ chính thức ký kết hiệp định để OPIC (Quỹ đầu t tnhân hải ngoại- cơ quan bảo hiểm và xúc tiến đầu t Mỹ sang các nớc đangphát triển) đợc hoạt động tại Việt Nam Ngày 26/3/1998 Việt Nam cũng chínhthức ký hiệp định này

Ngày 9/12/1999: TạI Hà Nội, ngân hàng nhà nớc Việt Nam và ngân hàngxuất khẩu Mỹ (EXIMBANK) ký hai hiệp định bảo lãnh khung và khuyếnkhích các dự án đầu t của Mỹ tại Việt Nam

Trang 8

Ngày 14/7/2000: Việt Nam và Mỹ ký hiệp định thơng mại song phơng,hoàn tất quá trình bình thờng hoá hoàn toàn quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ.

2.Những thành quả ban đầu:

Từ năm 1994 đến nay, sau khi quan hệ ngoại giao đợc bình thờng hoá,quan hệ buôn bán giữa Việt Nam và Hoa kỳ vẫn còn gặp những trở ngại lớn

do trong thời gian này hai bên Việt Nam và Mỹ cha ký đợc hiệp định thơngmại song phơng và do Mỹ cha dành cho Việt Nam quy chế MFN Do đó hầuhết hàng hoá của Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ còn phải chịu mức thuế cao.Tuy nhiên, hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ đã tăng lên một cáchnhanh chóng (xem bảng 2)

Đối với hàng hoá Mỹ tại Việt Nam, tuy cha có con số thống kê chính xác

là hàng Mỹ chiếm bao nhiêu thị phần ở Việt Nam, song có thể dễ dàng nhậnthấy hầu hết các hãng nổi tiếng nh Microsoft, General, caltex, Esso, Peppsi,Coca-cola, Carrier, Dial, Ford, Cargill đều đã có mặt tại Việt Nam Mặc dù

đến muộn hơn so với các nớc khác song với nguồn vốn lớn, chiến lợcMarketing độc đáo, sản phẩm chất lợng cao, các sản phẩm của Mỹ đã nhanhchóng giành đợc cảm tình lớn của ngời Việt Nam và tăng mạnh thị phần củamình trên thị trờng này

a Xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ:

Bảng 2: Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ từ 1995 đếnquý I/2000 ( Đơn vị :1000 USD)

1.Cá và hải sản 19.583 33.990 46.376 79.500 108100 46.400 2.Quả và hạt 901 7.973 15.900 23.400 23.700 10.000 3.Cà phê, chè, gia vị 146455 110910 108208 142600 100100 55.300

5.Chế phẩm từ thịt cá 11 75 10.477 13.800 1.500 2.400 6.Chế phẩm từ ngũ cốc,

Nguồn: Hải quan Mỹ( Vietnam Economic Times ) Năm 1999 so với 1994, xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ gấp 12 lần,bình quân một năm tăng 64,2%, cao gấp 2,8 lần tốc độ tăng xuất khẩu tơngứng của cả nớc So với tổng kim ngạch xuất khẩu thì xuất khẩu sang Mỹchiếm 1,2%( năm 1994) lên 5,2% (năm 1999) Cân đối xuất nhập chuyển từ

Trang 9

nhập siêu sang xuất siêu (xem bảng 2) Xét về mặt cơ cấu xuất khẩu, hàngnông sản chiếm phần chủ yếu và thờng tập trung vào một số ít loại mặt hàng,cha đợc đa dạng hoá Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu:

Cà phê: nhìn bảng 2 số liệu ở trên ta thấy đây là mặt hàng có giá trị kim

ngạch lớn nhất Hàng năm ta xuất khẩu với kim ngạch đều trên 100 triệu USD.Việt Nam bắt đầu xuất khẩu cà phê robusta vào Mỹ từ năm 1994 và ngay năm

đầu tiên đã đạt 32 triệu USD Sau khi suy giảm vào các năm 1996-1997, kimngạch đã tăng trở lại vào năm 1998 đạt 142,6 triệu USD Ước tính năm 2000

có thể đạt kim ngạch 160 triệu USD Hiện nay Việt Nam đã vơn lên đứng vịtrí thứ 7 về trị giá trong số các nớc xuất khẩu cà phê vào Mỹ (theo số liệuthống kê của hải quan Mỹ)

Hải sản: Việt Nam bắt đầu xuất khẩu hải sản vào Hoa Kỳ từ năm 1994

với trị giá gần 6 triệu USD, Năm 1998 đạt 79,5 triệu USD, năm 1999 đạt108,1 triệu USD Tính đến 6 tháng đầu năm 2000 Việt Nam xuất sang Mỹ gần

123 triệu USD, gấp 2,1 lần cùng kỳ năm 1999 và chiếm 22,2% tổng kimngạch xuất khẩu thuỷ sản của nớc ta Mỹ trở thành thị trờng lớn thứ hai sauNhật Bản về kim ngạch xuất khẩu Sản phẩm chính là tôm và và cua đônglạnh, trong đó chủ yếu là tôm Kim ngạch tôm đông lạnh năm 1997 đạt 55triệu USD, năm 1998 đạt 62 triệu USD chiếm 77% kim ngạch xuất khẩu hảisản nói chung Việt Nam hiện đang đứng hàng thứ 9 trong tổng số các nớcxuất khẩu tôm vào Hoa Kỳ

Ngoài tôm và cua, cá đông lạnh đang đợc xuất khẩu sang Hoa Kỳ với sốlợng ngày càng tăng Kim ngạch năm 1997 đạt khoảng 10 triệu USD, năm

1998 đạt 16 triệu USD

Giày dép: Mặt hàng này tuy phải chịu mức thuế phi MFN, nhng kim

ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam vào Hoa Kỳ đã tăng lên rất nhanh từ69.000 USD vào năm 1994 lên đến 145,7 triệu USD năm 1999 Việt Namchiếm vị trí thứ 12 trong danh sách các nớc xuất khẩu giày dép nhiều nhất vàoHoa Kỳ, đứng trên cả Canada (là nớc đợc hởng thuế nhập khẩu rất thấp theoNAFTA), Hồng Kông và Philippin Tuy nhiên, chủng loại giày dép xuất khẩucủa ta vào Mỹ cha đa dạng chủ yếu tập trung ở những sản phẩm có mức chênhlệch giữa thuế MFN và phi MFN thấp nh giày nam, giày trẻ em, các loại dép

đi trong nhà và dép tắm biển

Hàng may mặc và dệt may: Mặt hàng này do không đợc hởng quy chế

MFN của Mỹ nên phải chịu mức thuế suất cực kỳ cao, gấp gần 2,5 lần so vớimức MFN Do vậy hàng may mặc của Việt Nam vào thị trờng Mỹ trong thờigian qua là do các công ty nớc ngoài đặt Viêt Nam gia công và sẵn sàng chấp

Trang 10

nhận lợi nhuận thấp, thậm chí lỗ khi đa hàng vào Hoa Kỳ để chuẩn bị thị trờngcho thời kỳ “hậu hiệp định thơng mại” Một số công ty dệt may nh ThànhCông, Thắng Lợi cũng đã có sản phẩm sang Hoa Kỳ nhng kim ngạch còn nhỏ.Kim ngạch năm 1999 chỉ dạt 36,4 triệu trong khi nhu cầu về mặt hàng này của

Mỹ hàng năm lên tới hàng chục tỷ USD

Một số hàng nông sản khác:

Đối với sản phẩm chè: Việt Nam xuất sang Mỹ 903.000 USD năm 1994.

Năm 1998 đạt 842.000 USD đứng thứ 15 trong số các nớc xuất khẩu chè vào

Mỹ Năm 1999 xuất khẩu chè đạt kim ngạch 1 triệu USD Do thuế nhập khẩuchè đen là 0% cho cả MFN và phi MFN nên chè đen của ta có khả năng tăngkim ngạch trên thị trờng Hoa Kỳ trong thời gian tới Mức tăng bình quân cóthể đạt trên 20%/năm

Hạt tiêu: có mặt trên thị trờng Hoa Kỳ sau cà phê, năm 1997 đạt kim

ngạch 2,1 triệu USD Năm 1998 tăng lên 3,6 triệu đứng thứ 9 trong số các nớcxuất khẩu hạt tiêu vào Mỹ Ta xuất sang Mỹ chủ yếu là loại hạt tiêu đen loạicha xay, cha nghiền (có mức thuế phi MFN là 0%)

Quế: đây cũng là sản phẩm có mức thuế phi MFN là 0% nên mặt hàng

này xuất sang Mỹ năm 1996 đạt 878.000 USD Năm 1998 giảm xuống còn596.000 USD nhng vẫn đứng thứ ba trong số các nớc xuất khẩu quế vào Hoa

Kỳ Khả năng tăng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này còn tăng Tuy nhiênmức tăng này còn bị giới hạn bởi lợng quế của nớc ta không nhiều Dự kiếnnăm 2005 sẽ xuất sang Hoa Kỳ khoảng 2 triệu USD chiếm 40% kim ngạchxuất khẩu quế của Việt Nam

Một số sản phẩm nh rau tơi, quả và hạt ăn dợc; rau quả chế biến và thựcphẩm chế biến cũng đợc xuất sang Mỹ Trong đó thực phẩm chế biến đạt kimngạch 13,5 triệu USD vào năm 1998 Trong sản phẩm quả và hạt ăn đợc thìhạt điều là sản phẩm chủ yếu Năm 1996 kim ngạch xuất khẩu sản phẩm này

đạt 7,6 triệu USD tới năm 1998 là 22,5 triệu USD đứng vị trí thứ 3 sau ấn Độ

và Brazil

Mặt hàng gốm sứ cũng đã đợc thâm nhập đợc vào thị trờng Mỹ mặc dù

kim ngạch còn nhỏ bé Năm 1998 mặt hàng này chỉ đạt 2,5 triệu USD.Nguyên nhân chính là do thuế phi MFN quá chênh lệch so với thuế MFN

Đối với nhóm hàng cao su và các sản phẩm cao su bao gồm cao su

dùng trong công nghiệp và y tế, quần áo bảo hộ lao động v.v… Đây là nhóm Đây là nhómhàng có nhu cầu rất lớn ở Hoa Kỳ Năm 1998 Hoa Kỳ nhập hơn 9 tỉ USD cao

su và các sản phẩm cao su Các nớc xuất khẩu lớn là Canada, Nhật Bản,

Trang 11

Malaysia, Indonesia, Thái Lan Việt Nam chỉ xuất đợc gần 3 triệu USD dochủng loại cha phù hợp với nhu cầu của thị trờng Hoa Kỳ.

Tóm lại, ta có thể nhận xét thực trạng hàng Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ

nh sau: Mặc dù bị kiềm hãm đáng kể do cha đợc hởng thuế suất MFN nhngkim ngạch xuất khẩu chung của Việt Nam sang Hoa Kỳ vẫn tăng nhanh Tuynhiên những mặt hàng xuất khẩu tăng mạnh cả về số lợng lẫn kim ngạch chủyếu là những mặt hàng chịu mức thuế phi MFN ngang bằng với mức MFNhoặc có sự chênh lệch không đáng kể Nếu hiệp định thơng mại song phơng đ-

ợc hai nớc phê chuẩn có hiệu lực thì khả năng kim ngạch xuất khẩu của ViệtNam sang Mỹ sẽ tăng ở mức cao Đặc biệt là ngành thuỷ sản, ngành may mặc

sẽ có điều kiện tăng tốc về kim ngạch xuất khẩu

b Nhập khẩu Việt Nam từ Mỹ:

Ngay năm đầu tiên, sau khi Mỹ huỷ bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam,hàng nhập khẩu từ Mỹ đã tăng mạnh về số lợng và phong phú, đa dạng vềchủng loại Năm 1993 chỉ có 4 nhóm hàng đợc phép xuất khẩu sang ViệtNam, nhng trong năm 1994 số nhóm hàng đã tăng lên con số 35 Các mặthàng xuất khẩu chủ yếu sang Việt Nam là máy móc và thiết bị, phân bón, máymóc xây dựng, ô tô, thiết bị điện tử viễn thông

Kim ngạch nhập khẩu hàng từ Mỹ năm 1994 đạt 172 triệu USD Năm

1995 tăng lên 252 triệu, năm 1996 đạt 616 triệu nhng những năm tiếp theogiảm dần 278 triệu USD (1997), 269,5 triệu USD (1998) và 277,3 triệu USD(1999)

Bảng 3: Cơ cấu hàng xuất khẩu của Mỹ sang Việt Nam (Đơn vị: 1000USD).

Chất thừa và chất phế thải từ ngành thực phẩm 1.763 1.787 2.350

Máy và thiết bị, thiết bị đIện 24.583 42.114 43.942

Ngày đăng: 10/04/2013, 09:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w