đầu tư là điều kiện quyết định sự ra đời, tồn tại và tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, là yếu tố quyết định sự phát triển và tăng trưởng của nền sản xuất xã hội.
Trang 1Chương I Vai trò của nguồn vốn ODA đối với công tác xoá đói giảm nghèo
I Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) với phát triển kinh tế xã hội ở
các nước đang phát triển.
1 Nguồn vốn ODA
ODA ra đời sau chiến tranh thế giới II cùng với kế hoạch Marshall để
giúp các nước Châu Âu phục hồi các ngành công nghiệp bị chiến tranh tàn phá
Để tiếp nhận viện trợ của kế hoạch Marshall các nước Châu Âu thành lập tổ
chức hợp tác và phát triển kt (OECD) Ngày nay tổ chức này bao gồm 30 nước
và không chỉ có các nước Châu Âu, tham gia tổ chức này còn có Mỹ, Australia,
Nhật, Hàn Quốc…
ODA là một bộ phận có tầm quan trọng đặc biệt của các nguồn vốn vay
và tài trợ quốc tế Ngày nay hầu hết các nước đều thừa nhận rằng ODA là một
nguồn thu quan trọng cho ngân sách để các nước đang phát triển đầu tư phát
triển KT- XH
1.1 Những quan điểm về ODA
Trong quá trình phát triển của nền kt thế giới đã có nhiều quan điểm khác
nhau ODA Trước đây, ODA được coi là một nguồn vốn viện trợ ngân sách của
các nước phát triển dành cho các nước đang phát triển và kém phát triển Với
quan điểm này ODA mang tính tài trợ là chủ yếu
Ngày nay, trong xu hướng quốc tế hoá và toàn cầu hóa nền kinh tế đã hình
thành nên một quan điểm hoàn toàn mới về ODA Quan điểm này cho rằng
ODA là hình thức hợp tác phát triển của các nước đã công nghiệp hoá và các tổ
chức quốc tế với các nước đang phát triển Theo quan điểm này, ODA là các
khoản viện trợ không hoàn lại và các khoản vốn vay với điều kiện ưu đãi của
Chính Phủ các nước, các tổ chức quốc tế và các tổ chức phi chính phủ (NGO)
Trang 2ODA theo quan điểm của Chính Phủ Việt Nam là sự hợp tác phát triển
giữa nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với một hay nhiều quốc gia, tổ
chức quốc tế liên chính phủ và các tổ chức phi chính phủ
Nói chung ODA được gọi là nguồn tài chính do các cơ quan chính thức
(chính quyền nhà nước hay địa phương) của một nước hay một tổ chức quốc tế
viện trợ cho các nước đang phát triển nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế và
phúc lợi xã hội của nước này
Quá trình phân công lao động quốc tế ngày càng sâu sắc sẽ dẫn đến sự
liên kết chặt chẽ qua lại về mặt kinh tế giữa các quốc gia và giữa nhiều quốc gia
với nhau Đây là một nhân tố thúc đẩy sự gia tăng về số lượng cũng như chất
lượng của ODA Các nước tài trợ lớn trên thế giới, hàng năm đều căn cứ vào sự
phát triển kinh tế xã hội của nước mình để từ đó điều chỉnh khối lượng ODA
cung cấp cho các nước đang phát triển
1.2 Các hình thức cung cấp ODA
- Hỗ trợ cán cân thanh toán: gồm các khoản ODA được cung cấp dưới
dạng tiền mặt hoặc bán hàng để hỗ trợ ngân sách chính phủ
- Hỗ trợ theo chương trình : gồm các khoản ODA được cung cấp để
thực hiện một chương trình nhằm đạt được nhiều mục tiêu với một tập hợp các
dự án thực hiện trong một thời gian xác định tại các thời điểm cụ thể(chương
trình tín dụng Nhật Bản tài trợ khu vực phát triển giao thông nông thôn, phát
triển lưới điện nông thôn, phát triển hệ thống cung cấp nước sạch sinh hoạt ở
các thị xã, thị trấn…)
- Hỗ trợ kỹ thuật: nhằm giúp phát triển thể chế tăng cường năng lực,
chuyển giao công nghệ, cung cấp trang thiết bị, đào tạo nhân lực, hỗ trợ nghiên
cứu điều tra cơ bản (lập quy hoạch, báo cáo nghiên cứu khả thi…) Một hỗ trợ
kỹ thuật có thể bao gồm một số hoặc tất cả các nội dung trên (Đầu những năm
Trang 31990 Australia cung cấp 1 triệu USD hỗ trợ nghiên cứu nông nghiệp của Việt
Nam)
- Hỗ trợ theo dự án: ODA được cung cấp để thực hiện dự án xây
dựng phát triển Có thể gồm dịch vụ tư vấn, đào tạo cán bộ tại chỗ hoặc gửi
ra nước ngoài
1.3 Phân lo ại ODA
Theo nghị định số 17/2001/NĐ-CP ngày 4 tháng 5 năm 2001 về hoạt
động thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA thì ODA được phân
thành 2 loại:
- ODA không hoàn lại: Đây là khoản ODA mà bên nước ngoài cung cấp
viện trợ không hoàn lại để thực hiện chương trình dự án ODA
- ODA vốn vay bao gồm:
+ ODA cho vay ưu đãi (hay còn gọi là tín dụng ưu đãi) là các khoản ODA
cho vay có yếu tố không hoàn lại ít nhất 25% giá trị khoản vay ưu đãi
+ ODA cho vay hỗn hợp: là các khoản ODA bao gồm kết hợp một phần
ODA không hoàn lại (hoặc ODA cho vay ưu đãi) và một phần tín dụng thương
mại theo các điều kiện của tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD)
1.4 Các đối tác cung cấp ODA
Từ đầu những năm 1990 cho tới nay Việt Nam đã nhận được sự hỗ trợ
tích cực của cộng đồng quốc tế, các nhà tài trợ quốc tế đối với công cuộc phát
triển kinh tế xã hội Các đối tác cung cấp bao gồm:
Trang 4a H ỗ trợ song phương:
Hiện nay chúng ta có quan hệ hợp tác phát triển với 24 nhà tài trợ song
phương Thông thường trong tổng ODA lưu chuyển trên thế giới, phần hỗ trợ
song phương chiếm tỉ trọng lớn, nhiều lúc chiếm 80% tổng số ODA được tài trợ
Bao gồm những nước sau:
Mỹ
Na Uy Nhật Bản Niu Di Lân Oxtraylia
Pháp Phần lan Tây Ban Nha Thái Lan Thuỵ Điển Thuỵ Sỹ Trung Quốc Singapo
b H ỗ trợ đa phương
Hiện nay chúng ta quan hệ hợp tác với 15 nhà tài trợ đa phương hỗ trợ
phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội Bao gồm các tổ chức sau:
- Công ty tài chính quốc tế (IFC)
- Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP)
- Chương trình kiểm soát ma tuý quốc tế của Liên Hợp Quốc
(UNNCP)
- Cộng đồng Châu Âu (EU)
- Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)
- Tổ chức lao động quốc tế (ILO)
- Tổ chức nông nghiệp và lương thực (FAO)
- Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp Quốc (UNIDO)
Trang 5- Tổ chức y tế thế giới (WHO)
- Chương trình lương thực thế giới (WFP)
- Ngân hàng phát triển Châu á (ADB)
- Ngân hàng thế giới (WB)
- Quỹ dân số của Liên Hợp Quốc (UNFPA)
- Quỹ nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF)
- Quỹ phát triển nông nghiệp quốc tế (IADF)
c H ỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài (PCPNN)
Ban đầu chỉ có một số tổ chức hoạt động và hỗ trợ chủ yếu mục đích
nhân đạo tại Việt Nam, thì đến năm 1991 đã có 125 tổ chức phi chính phủ
nước ngoài có quan hệ hợp tác với Việt Nam và đến năm 2001 có 485 tổ chức
phi chính phủ nước ngoài thuộc 26 nước công nghiệp phát triển và các nước
công nghiệp mới hoạt động viện trợ tại Việt Nam Trong đó có 369 tổ chức
thường xuyên có mặt ở Việt Nam, có dự án, đối tác cụ thể, được cơ quan có
thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy phép hoạt động
Qui mô viện trợ của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài đã tăng
trong 10 năm qua (gấp 4 lần) Theo thống kê chưa đầy đủ, giá trị viện trợ của
các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tăng từ 20,3 triệu USD vào năm 1991
lên 80 triệu USD vào năm 2000
Hình thức hỗ trợ này được thông qua tổ chức: “Trung tâm thông tin và
tư liệu phi chính phủ” được đặt tại Hà Nội- Việt Nam
Trong xu thế Quốc tế hoá toàn cầu và chuyên môn hoá như ngày nay sẽ
dẫn tới sự liên kết chặt chẽ của các nền kinh tế thế giới Các nước đều có xu
hướng hợp tác và cùng nhau phát triển Giảm dần khoảng cách giàu nghèo
giữa các nước và các khu vực Một nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu thì mức
Trang 6sống dân cư rất thấp và khả năng chăm sóc y tế, PLXH, cơ sở vật chất… thấp
kém gây cản trợ sự phát triển của xã hội Trong khi đó ngân sách Chính phủ
lại eo hẹp và phần đầu tư cho các chương trình XĐGN bằng nguồn vốn trong
nước là rất thấp Trong khi đó các nước phát triển lại có xu hướng đầu tư sang
các nước đang phát triển và nghèo, nơi có nguồn nhân công dồi dào giá nhân
công thấp, thị trường chưa phát triển Từ đó hỗ trợ các nước đang phát triển
để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư trực tiếp của mình
Như vậy, những lợi ích mà nguồn vốn ODA mang lại không những cho
nước tiếp nhập mà còn đem lại những lợi ích cho những tổ chức và nước cung
cấp ODA
Nguồn ODA sẽ nâng cao uy tín về mặt chính trị của các nước, các tổ
chức đối với những nước nhận hỗ trợ Nhờ có nguồn vốn này các nước tiếp
nhận có điều kiện phát triển kinh tế và ổn định xã hội góp phần ổn định chính
trị thế giới
2 Vai trò của ODA với phát triển kinh tế xã hội ở các nước đang
phát triển
ở các nước đang phát triển quan hệ kinh tế chưa phát triển cùng với một
nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu, cơ sở vật chất yếu kém… Để tạo tiền đề cho
phát triển kinh tế các nước đang phát triển rất cần thiết có được hỗ trợ về
nguồn nhân lực từ các nước phát triển, các tổ chức trong khi ngân sách chính
phủ hạn hẹp khó tự mình giải quyết được các vấn đề kinh tế, xã hội Vì vậy
ODA là nguồn vốn rất quan trọng để các nước đang phát triển thực hiện công
cuộc phát triển kinh tế xã hội của mình
a.V ề mặt kinh tế:
Các nước đang phát triển coi nguồn vốn ODA là một nguồn thu ngân
sách đáng kể, góp phần làm tăng tỷ trọng đầu tư cho phát triển từ ngân sách
Trang 7chính phủ Các nước này thường sử dụng ODA thực hiện những chương trình
đầu tư quốc gia đặc biệt là những dự án cải tạo, nâng cấp, hiện đại hoá kết cấu
hạ tầng kinh tế xã hội, làm cơ sở tăng trưởng kinh tế
Qua những dự án hỗ trợ khoa học kỹ thuật, chuyển giao công nghê
Thông qua quá trình nghiên cứu, triển khai quản lý các dự án và chương trình
đầu tư phát triển từ nguồn ODA Nó có vai trò đặc biệt đối với các nước đang
phát triển khắc phục nền khoa học kỹ thuật nghèo nàn lạc hậu, trình độ cán bộ
quản lý và thực hiện được nâng cao Từ đó tác động trực tiếp tới khả năng sản
xuất, nghiên cứu ứng dụng…làm tăng trưởng mạnh nền kinh tế và nâng cao
trình độ khoa học kỹ thuật của nước mình
Bên cạnh đó những chương trình thực hiện bằng nguồn vốn ODA như
các chương trình hỗ trợ kỹ thuật trong các ngành sản xuất nông lâm, ngư
nghiệp, phát triển kinh tế vùng, dịch vụ… góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo chiều hướng tiến bộ
b V ề mặt xã hội
Nguồn vốn ODA có vai trò cực kỳ quan trọng để giải quyết các vấn đề
xã hội trong khi ngân sách chính phủ quá hạn hẹp để giải quyết vấn đề này
Thông qua các dự án hỗ trợ phát triển xã hội và đặc biệt trong những chương
trình xoá đói giảm nghèo, tạo thêm nhiều việc làm mới, nâng cao điều kiện
sống của người dân Trong lĩnh vực giáo dục thông qua những chương trình
hỗ trợ đào tạo, nâng cấp cơ sở vật chất, trình độ tri thức được ngày càng nâng
lên
Công tác y tế chăm sóc sức khoẻ người dân ngày càng được cải thiện
Công tác phòng chống tệ nạn xã hội như HIV/AIDS, ma tuý… được đẩy mạnh
Bằng những nguồn vốn hỗ trợ ODA qua những chương trình, các dự án
có vai trò tích cực trong phát triển xã hội nâng cao điều kiện sống của dân
Trang 8cư… Và để thực hiện nguồn vốn ODA đòi hỏi Việt Nam phải cải cách hành
chính, thủ tục cho đáp ứng được nhu cầu phát triển, hợp tác
Trang 9II Vốn ODA với công tác xoá đói giảm nghèo
1 Vấn đề nghèo đói
a Định nghĩa
Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo do hội nghị chống
đói nghèo khu vực Châu á- Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng
Cốc, Thái Lan tháng 9/1993 là:
“Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả
mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội
thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của
địa phương”
b Tiêu chuẩn đói nghèo
- Tiêu chuẩn quốc tế:
Phương pháp xác định đường đói nghèo theo tiêu chuẩn quốc tế do
tổng cục Thống Kê, Ngân hàng thế giới xác định và được thực hiện trong các
cuộc khảo sát mức sống dân cư ở Việt Nam (năm 1992-1993 và năm
1997-1998) Đường đói nghèo ở mức thấp gọi là đường đói nghèo về lương thực,
thực phẩm Đường đói nghèo thứ hai ở mức cao hơn gọi là đường đói nghèo
chung ( bao gồm cả lương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm)
Đường đói nghèo về lương thực thực phẩm được xác định theo tiêu
chuẩn mà hầu hết các nước đang phát triển cũng như tổ chức y tế thế giới và
các cơ quan khác đã xây dựng mức Kcal tối thiểu cần thiết cho mỗi thể trạng
con người, là chuẩn về nhu cầu 2.100 Kcal/người/ngày Những người có mức
chi tiêu dưới mức chi cần thiết để đạt được lượng Kcal này gọi là nghèo về
lương thực, thực phẩm
Đường đói nghèo chung: tính thêm các chi phí cho các mặt hàng phi
lương thực, thực phẩm Tính cả chi phí này với đường đói nghèo về lương
Trang 10thực, thực phẩm ta có đường đói nghèo chung Năm 1993 đường này có mức
chi tiêu là 1,16 triệu đồng/năm/người:
-Tiêu chuẩn quốc gia:
Theo chuẩn nghèo đói của chương trình xoá đói giảm nghèo quốc gia:
căn cứ vào quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế, nguồn lực tài chính
2001-2005 và mức sống thực tế của người dân từng vùng, Bộ lao động Thương
binh xã hội Việt Nam đưa ra chuẩn nghèo nhằm lập danh sách hộ nghèo từ
cấp nông thôn, xã và danh sách xã nghèo từ các huyện trở lên để hưởng sự
giúp đỡ của Chính Phủ từ chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm
nghèo và các chính sách hỗ trợ khác…
Trước những thành tích của công cuộc giảm nghèo cũng như tốc độ
tăng trưởng kinh tế và mức sống từ năm 2001 đã công bố mức chuẩn nghèo
mới để áp dụng cho thời kỳ 2001-2005, theo đó chuẩn nghèo của chương
trình xoá đói giảm nghèo quốc gia mới được xác định ở mức độ khác nhau
tuỳ theo từng vùng, cụ thể bình quân thu nhập là: 80.000 đồng/người/tháng ở
các vùng hải đảo và vùng núi nông thôn, 100.000 đồng/người/tháng ở các
vùng đồng bằng nông thôn, 150.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị
Trong tương lai sẽ tiến đến sử dụng một chuẩn thống nhất để đánh giá
tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam và có tính đến tiêu chí Quốc tế để so sánh
2 Nguồn vốn ODA trong công tác xoá đói giảm nghèo
Trong khi ngân sách chính phủ hạn hẹp thì ODA như một nguồn vốn
đáng kể để thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo Các chương trình xoá đói
giảm nghèo thường phải đầu tư lớn và thời gian thực hiện dài vì vậy nguồn
ODA thực hiện cho chương trình này được xem là rất hiệu quả
Tron khi đó nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) từ bên
ngoài thường chỉ tập trung vào lĩnh vực , ngành có khả năng thu hồi vốn cao,
Trang 11mang lại lợi nhuận cao… nên không thích hợp với những dự án xóa đói giảm
nghèo thực hiện gặp nhiều khó khăn Như vậy các nước đang phát triển
thường phải dựa vào nguồn vốn ODA để phát triển kinh tế xã hội
Sử dụng nguồn vốn ODA sẽ góp phần nâng cao điều kiện sống cho
người dân Khi sử dụng nhiều ODA ở những vùng xa, vùng khó khăn các dự
án trồng rừng, đắp đê ven biển… góp phần cải thiện điều kiện sống người dân
trong vùng Các chương trình tín dụng nông thôn, giao thông nông thôn, nước
sạch…góp phần làm thay đổi cơ cấu sản xuất của nông nghiệp nâng cao đời
sống nông thôn Đồng thời các dự án góp phần tăng phúc lợi công cộng và cải
thiện điều kiện môi trường
Thúc đẩy nền kinh tế phát triển thông qua đầu tư phát triển các công
trình thuộc lĩnh vực kết cấu hạ tầng… là tiền đề để phát triển kinh tế, xoá đói
giảm nghèo
Theo thời báo kinh tế số 31/99 ODA đã được sử dụng từ năm
1993-1998 là 5015 triệu USD bằng khoảng 46% so với ODA cam kết trong cùng
thời kỳ
Trong giai đoạn 2001-2005 ODA được sử dụng cho chiến lược toàn
diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo như sau:
+ Vốn ODA không hoàn lại được sử dụng cho những chương trình, dự
án thuộc lĩnh vực xoá đói giảm nghèo, trước hết tại các vùng nông thôn, vùng
sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, ytế, dân số và phát triển giáo
dục, phát triển nguồn nhân lực; Các vấn đề xã hội…
+ ODA vốn vay sử dụng cho những chương trình, dự án thuộc lĩnh vực:
xóa đói giảm nghèo, phát triển nông thôn, giao thông vận tải, thông tin liên
lạc, cơ sở hạ tầng xã hội…
Cụ thể ODA được sử dụng cho xoá đói giảm nghèo như sau:
Trang 12- Về năng lượng: tiếp tục phát triển nguồn điện, hệ thống đường dây tải
điện và các trạm biến thế, điện lưới khu vực nông thôn và các vùng khó khăn,
miền núi, hải đảo
- Về công nghiệp: sử dụng ODA để đổi mới công nghệ trang thiết bị,
nâng cao cạnh tranh sản phẩm, nhằm giữ ổn định về công ăn việc làm, góp
phần giải quyết các vấn đề xã hội
- Về giao thông vận tải: phát triển đi đôi với nâng cấp các hệ thống
quốc lộ Dành nguồn ODA phát triển các đường nhánh, đường xương cá nối
với quốc lộ đảm bảo giao thông thông suốt các vùng dân cư, nhất là vùng sâu,
vùng xa, miền núi
- Về nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, thủy lợi, kết hợp với phát triển
nông thôn và xoá đói giảm nghèo Nguồn ODA sẽ hỗ trợ phát triển nông thôn,
đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa Mở rộng phạm vi các dịch vụ tài chính
nông thôn nhằm tạo vốn cho người dân phát triển sản xuất, tăng thu nhập
- Về y tế xã hội: cải tạo, nâng cấp và tăng cường trang thiết bị y tế cho
các bệnh viện tỉnh, nâng cấp bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, thành phố chưa
được sử dụng ODA trong giai đoạn 1996-2000 Tăng cường năng lực hệ
thống y tế xã huyện, chương trình nước sạch, phòng chống HIV/AIDS…
- Về cấp thoát nước đô thị và bảo vệ môi trường: nâng cấp hệ thống
nước cho các thị xã chưa được nhận ODA trong giai đoạn 1996-2000 Ưu tiên
nâng cấp hệ thống nước tại huyện lị, nông thôn… Chính Phủ và các nhà tài
trợ sẽ tiếp tục được củng cố và phát triển nhằm thực hiện mục tiêu cải thiện và
nâng cao chất lượng sử dụng ODA phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội
và đấu tranh chống lại đói nghèo ở Việt Nam
Trang 13III Kinh nghiệm của các nước đang phát triển trong việc quản lý và sử
dụng ODA.
1 Công tác quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA của các nước
đang phát triển
1.1 Philippin
Theo số liệu báo cáo tháng 6/1997 của ngân hàng thế giới tính đến cuối
năm 1996, tổng mức cam kết đối với các chương trình dự án đang thực hiện là
12,5 tỷ USD, mức giải ngân hàng năm khoảng 1,4-1,5 tỷ USD và được đánh
giá là nước có mô hình quản lý và sử dụng vốn ODA tương đối tốt Một trong
những nguyên nhân tiến bộ do Chính Phủ Philippin đã quan tâm, đã tổ chức
tốt hệ thống theo dõi thực hiện và đánh giá các chương trình dự án ODA
- Khuôn khổ pháp lý và cơ cấu tổ chức theo dõi đánh giá chương
trình, dự án ODA
Việc theo dõi thực hiện và đánh giá các dự án ODA đã được Chính Phủ
quan tâm nhiều năm và ngày càng được hoàn thiện NEDA (National
Economic and Development) là cơ quan đầu mối của chính phủ, có trách
nhiệm tổng hợp và báo cáo lên Tổng thống tình hình thực hiện và đánh giá
các chương trình, dự án ODA Đặc biệt tháng 11/1996 Tổng thống Philippin
đã ký đạo luật về ODA, trong đó quy định trách nhiệm báo cáo của các cơ
quan liên quan thực hiện chương trình dự án ODA
- Chế độ báo cáo thực hiện các chương trình, dự án ODA được qui
định như sau:
Không quá 4 tuần sau khi kết thúc quí, các cơ quan thực hiện ODA
phải báo cáo lên NEDA các nội dung sau:
+ Kế hoạch và thực hiện các chỉ tiêu về hiện vật
+ Phân bố ngân sách, chi phí và giải ngân các khoản vay và viện trợ
Trang 14+ Đề nghị về chi phí từng tháng trong quí tới cơ quan quản lý vốn
+ Những vấn đề gây chậm quá trình thực hiện
+ Kiến nghị biện pháp giải quyết các vấn đề gây chậm quá trình thực
hiện dự án
+ Các thông tin khác để có thể tăng khả năng đánh giá quá trình thực
hiện dự án
Trong thời gian 6 tuần sau khi kết thúc thời kỳ đánh giá, NEDA phải
báo cáo lên Tổng thống tình hình thực hiện toàn bộ các chương trình, dự án
Hệ thống cơ quan theo dõi và đánh giá dự án được tổ chức từ cấp quốc
gia tới cấp vùng và tỉnh Trên cơ sở báo cáo của các cơ quan thực hiện dự án,
tuỳ theo từng cấp mà các cơ quan theo dõi dự án chuyển các thông tin về
những vấn đề cần giải quyết đến cơ quan có liên quan Qua đó, các cơ quan
có trách nhiệ sẽ kịp thời tìm ra các biện pháp giải quyết, thúc đẩy quá trình
thực hiện dự án
- Công cụ theo dõi và đánh giá dự án
NEDA ban hành các mẫu biểu báo cáo thống nhất cho các cơ quan thực
hiện dự án Các mẫu biểu đã phản ánh được kế hoạch và thực tế thực hiện
chương trình, dự án ODA bao gồm các chỉ tiêu về tài chính, khối lượng hiện
vật, tình trạng và các vấn đề vướng mắc cần giải quyết Số liệu được cập nhật
và xử lý qua hệ thống mạng trong NEDA và nối sang một số cơ quan lãnh
thổ, tình trạng dự án và các biểu đồ so sánh
1.2 Malaysia
So sánh Malaysia và Philippin, 2 nước cùng trong nhóm ASEAN ta
thấy giải ngân ODA của Malaysia luôn ít hơn Philippin cả về giá trị tuyệt đối
lẫn tỷ trọng trong GNP Trong khi đó thì Malaysia lại có nền kinh tế phát triển
bền vững hơn Philippin
Trang 15B ảng 1: So sánh giữa Malaysia và Philippin
2400
289 0,6
2540
206 0,3 7,8
2830
94 0,15 0,3
3140
68 0,10 8,4 9,6
750
1051 2,3
760
1716 3,1 0,3
800
1487 2,6 1,5
850
1057 1,3 4,5 5,3
Ngu ồn: World Table 1996
Word Development Report 1996
Những nguyên nhân thành công của Malaysia
- Malaysia đã có chiến lược phát triển phù hợp hoàn cảnh điều kiện cụ
thể của đất nước và luôn có nỗ lực điều chỉnh chính sách từng giai đoạn Đó
là điều luôn được các tổ chức cho vay quốc tế, đặc biệt là WB khẳng định là
một trong những yếu tố quyết định tính hiệu quả trong sử dụng nguồn vốn,
bất kể là nguồn vốn trong hay ngoài nước
- Trên cơ sở phát triển kinh tế, Malaysia đã có được năng lực nội tại để
tạo vốn từ bên trong, giảm sự lệ thuộc về vốn bên ngoài và sử dụng có hiệu
quả nguồn vốn tích luỹ của mình
1.3 Hàn Qu ốc
Tài trợ nước ngoài là nguồn tài chính lớn để bù đắp thâm hụt cán cân
thanh toán những năm 50-60 và đầu những năm70 Hơn 70% nhập khẩu được
Trang 16trang trải bằng tài trợ nước ngoài trong suốt thời kỳ khôi phục đất nước Sau
chiến tranh giai đoạn 1953-1960 Chỉ riêng từ năm 1945-1960 Hàn Quốc đã
tiếp nhận 70% lượng vốn ODA nước ngoài cho nước này Nhập khẩu chủ yếu
là hàng tiêu dùng, lương thực thực phẩm, chỉ có 10% hàng nhập khẩu là nhằm
mục tiêu đầu tư Nhờ có tài trợ nước ngoài mà các vấn đề nghèo đói, bệnh tật
bị đẩy lùi, mức sống dân cư của Hàn Quốc vẫn được giữ ở mức cao
Mỹ là nước viện trợ chủ yếu cho Hàn Quốc, có nhiều thay đổi trong
chính sách hỗ trợ mới buộc Hàn Quốc phải có chiến lược phát triển dài hạn
dựa vào nguồn vốn vay nước ngoài Từ những năm 1970, Hàn Quốc chấm dứt
nhận ODA, giảm FDI và chỉ sử dụng nguồn vốn vay thương mại
2 Bài học kinh nghiệm rút ra trong công tác quản lý và sử dụng
các nguồn vốn ODA trong xoá đói giảm nghèo
2.1 Bài học thành công
Theo đánh giá của ngân hàng thế giới những nước nổi tiếng về quản lý
thành công hỗ trợ nước ngoài là Hàn Quốc, Chi Lê, Malaysia… Việt Nam
cũng được xem là nước sử dụng tốt ODA thời gian qua để phát triển kinh tế
xã hội Đặc biệt là trong công tác xoá đói giảm nghèo với chiến lược xoá đói
giảm nghèo toàn diện Những bài học thành công được thể hiện ở:
- Có sự nhất trí trong Chính Phủ về mục tiêu quốc gia chính sách và
danh mục ưu tiên chi tiêu được xác định rõ ràng
- Thiết lập các đơn vị phối hợp thực hiện hỗ trợ ở cấp trung ương và
địa phương Các đơn vị này giữ mối liên hệ thường xuyên với các bộ ngành
chủ quản và với các bộ phận quản lý viện trợ
- Cân nhắc kỹ chiến lược tài trợ
+ Tầm cỡ mức độ tài trợ
+ Yêu cầu loại nguồn vốn tài trợ nước nào
Trang 17+ Những chỉ số và điều kiện được cho là có thể chấp nhận được
+ Mục tiêu của nước cấp
+ Tài trợ cho dự án
+ Thủ tục thực hiện rõ ràng
+ Các bộ phận đảm nhiệm kiểm tra quá trình viện trợ
- Chuyên môn hoá về chiều sâu, chiến lược đào tạo nhằm hình thành
đội ngũ cán bộ kỹ thuật
- Tăng cường kế hoạch hoá lẫn ngân sách hoá và quản lý nguồn ODA
từ bên ngoài ở cùng một cơ sở Mối quan hệ khăng khít giữa trung tâm kinh tế
với các bộ phận quản lý viện trợ, cơ chế điều phối chính sách mức độ có hiệu
quả cao
- Thường xuyên lập kế hoạch mang tính chất thực tế và các chương
trình đầu tư công cộng kế tiếp nhau, coi đó là phương tiện để phối hợp chính
sách của Chính Phủ, phổ biến rộng rãi những chính sách đó, lên chương trình
thực các ưu tiên chỉ tiêu trung hạn trong công tác thực hiện dự án
- Chú ý chặt chẽ nghiên cứu chọn lọc dự án và giám sát thực hiện dự
án
- Tạo môi trường đầu tư trực tiếp hấp dẫn
- Lên kế hoạch chính xác tập trung ODA cho các vùng trọng điểm nhất,
Trang 18- Tính không xác đáng của nguồn vốn và mối quan hệ qua lại giữa nó
- Sự phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài có chiều hướng tăng hơn và
kéo dài thời gian dự án khi chương trình cấp vốn nhỏ giọt
- Chậm giải phóng mặt bằng cho dự án dẫn đến tốc độ giải ngân chậm
- Vốn đối ứng thiếu hoặc không kịp thời ảnh hưởng đến tốc độ dự án
- Năng lực quản lý thực hiện dự án của cán bộ kém gây kém hiệu quả
cho chương trình, không đáp ứng được mục tiêu của dự án
Trang 19ch ương II
thực trạng sử dụng oda của australia trong xóa đói giảm nghèo ở việt nam
I Khái quát tình hình thu hút và sử dụng oda của australia tại việt nam
1 Tình hình chung về thu hút và sử dụng oda ở Việt Nam
Vào những năm cuối của thập kỷ 80 và những năm đầu của thập kỷ 90,
tình hình quốc tế diễn biến có nhiều phức tạp Sự sụp đổ của Liên Xô và hệ
thống XHCN ở Đông Âu đã có những tác động tiêu cực đến sự phát triển của
kinh tế Việt Nam Nguồn tài trợ nước ngoài chủ yếu ở các nước này đã hoàn
toàn chấm dứt vào năm 1991, trong khi đó quan hệ hợp tác phát triển với
cộng đồng quốc tế chưa được nối lại
Tổng kết chặng đường đổi mới 10 năm qua (1986-1996) Việt Nam đã
rút ra một trong những bài học chủ yếu là “Mở rộng sự hợp tác quốc tế tranh
thủ sự ủng hộ và giúp đỡ cảu nhân dân thế giới, kết hợp sức mạnh của dân tộc
và sức mạnh của thời đại”
Trong giai đoạn 1993 đến nay Việt Nam đã nhận được sự hỗ trợ tích
cực của cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế đối với công cuộc phát triển KTXH
Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức oda đã đóng vai trò quan trọng, góp
phần giúp Việt Nam đạt được tăng trưởng kinh tế, xoá đói giảm nghèo và cải
thiện đời sống nhân dân
Trong bối cảnh hiện nay, khi nguồn oda khó có khả năng gia tăng
trong khi nhu cầu phát triển đòi hỏi nguồn lực này rất lớn, Chính phủ Việt
Nam cam kết hợp tác chặt chẽ với các nhà tài trợ nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng oda
Hiện nay ở Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ quan hệ hợp tác phát
triển với 25 nhà tài trợ song phương, 19 đối tác đa phương và hơn 350 tổ
Trang 20chức phi chính phủ nước ngoài (NGO) Từ năm 1993 tới nay Việt Nam đã
hợp tác với cộng đồng các nhà tài trợ tổ chức thành công 9 hội nghị Nhóm tư
vấn các nhà tài trợ (Hội nghị CG) và được cộng đồng tài trợ cam kết hỗ trợ
nguồn vốn oda với giá trị là 19,94 tỷ USD
Bi ểu 02: Cam kết thực hiện oda thời kỳ 1993-2001
Năm Cam kết oda (triệu USD) Thực hiện oda (triệu USD) %
Ngu ồn: Bộ Kế hoạch và đầu tư
Ghi chú: * : Chưa kể 0,5 tỷ USD dự định hỗ trợ cải cách kinh tế
**: Chưa kể 0,7 tỷ USD dự định hỗ trợ cải cách kinh tế
Để sử dụng nguồn oda đã cam kết, từ 1999-2001, chính Phủ Việt Nam
đã ký kết với các nhà tài trợ các điều ước quốc tế cụ thể về ODA trị giá 14,72
tỷ USD, đạt khoảng 73,8% Tổng số vốn oda đã cam kết tính đến hết năm
2001 Trong đó oda vay khoảng 12,35 tỷ USD (84%) và oda viện trợ không
hoàn lại 2,37 tỷ USD (16%)
Trang 21Nguồn vốn oda đã tập trung hỗ trợ cho các lĩnh vực phát triển kinh tế,
xã hội ưu tiên của chính phủ, đó là : năng lượng điện (24%); ngành giao thông
(27,5%); phát triển nông nghiệp, nông thôn bao gồm cả thuỷ sản, lâm nghiệp,
thuỷ lợi (12,74%); ngành cấp thoát nước (7,8%); ngành ytế – xã hội, giáo dục
và đào tạo, khoa học – công nghệ – môi trường (11,87) Ngoài ra, nguồn oda
cũng hỗ trợ đáng kể cho ngân sách của chính phủ để thực hiện điều chỉnh cơ
cấu kinh tế và thực hiện chính sách cải cách kinh tế (các khoản tín dụng điều
chỉnh cơ cấu kinh tế, điều chỉnh cơ cấu kinh tế mở rộng, quỹ Miyazawa,
PRGF, và PRSC)
Căn cứ vào chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội năm
(2001-2005), phù hợp với hiến chương oda nói chung cũng như nguyên tắc và mục
đích về hỗ trợ phát triển chính thức của các nhà tài trợ, trong thời gian qua
việc sử dụng oda đã định hướng vào chiến lược xoá đói giảm nghèo toàn diện
và tăng trưởng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm (2001-2010)
và kế hoạch năm năm (2001-2005)
Trong thời kỳ 2001-2005 Trong 3 năm đầu do khó khăn của nền kinh
tế toàn cầu, nguồn oda của thế giới giảm Một số nhà tài trợ buộc phải thực
hiện chính sách cắt giảm oda Tuy nhiên, trong bối cảnh đó, cam kết oda dành
cho Việt Nam tiếp tục tăng, năm 2002 đạt 2,5 tỷ USD tăng 4,5% so với năm
2001 Từ năm 2001 đến hết quý III/ 2003 Tổng giá trị các hiệp định đã được
ký kết đạt khoảng hơn 5,7 tỷ USD trong đó vốn vay khoảng 4,7 tỷ USD, vốn
viện trợ không hoàn lại khoảng 1tỷ USD
Các hiệp định đã được ký kết tập trung chủ yếu vào phát triển cơ sở hạ
tầng kinh tế – xã hội, về cơ bản phù hợp với định hướng cơ cấu sử dụng oda
của Chính phủ
Trang 22Bi ểu số 03: Cơ cấu sử dụng ODA thời kỳ 2001 - 2003
Lĩnh vực sử dụng ODA Cơ cấu sử dụng theo hiệp định
2 Năng lượng và công nghiệp 18,41
3 NN và PTNT, Thuỷ Lợi, Lâm nghiệp
2 Lĩnh vực ưu tiên sử dụng oda ở Việt Nam
Tiếp tục tranh thủ sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế về nguồn vốn oda
nhằm hỗ trợ cho phát triển kinh tế xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu xoá
đói giảm nghèo, phát triển nguồn nhân lực và tạo ra những tiền đề cần thiết
cho sự phát triển nhanh và bền vững Trong năm năm (2001-2005) Chính phủ
Việt Nam mong muốn dành khoảng 15% vốn oda cho đầu tư phát triển nông
nghiệp, thuỷ lợi, lâm nghiệp, thuỷ sản, kết hợp với mục tiêu phát triển nông
nghiệp nông thôn, xoá đói giảm nghèo; 25% cho ngành năng lượng và công
nghiệp; 25% cho ngành giao thông, bưu điện Phần còn lại dành để hỗ trợ
phát triển giáo dục đào tạo, ytế, bảo vệ môi trường, khoa học công
nghệ…Chính phủ Việt Nam ưu tiên sử dụng các loại hình oda theo định
hướng sau:
Trang 23(1) Vốn oda không hoàn lại được ưu tiên sử dụng cho những chương
trình, dự án thuộc các lĩnh vực: Xoá đói giảm nghèo, trước hết tại các vùng
nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; ytế, dân số và
phát triển ; giáo dục, phát triển nguồn nhân lực; Các vấn đề xã hội (tạo việc
làm, cấp nước sinh hoạt, phòng chống dịch bệnh, phòng chống các tệ nạn xã
hội); Bảo vệ môi trường, bảo vệ và phát triển các nguồn tài nguyên thiên
nhiên, Nghiên cứu khoa học và công nghệ; nâng cao năng lực nghiên cứu và
triển khai; nghiên cứu cơ bản để chuẩn bị chương trình, dự án đầu tư phát
triển (Quy hoạch, điều tra cơ bản, tổng quan nghiên cứu khả thi); cải cách
hành chính, tư pháp, tăng cường năng lực của cơ quan quản lý Nhà nước ở
trung ương, địa phương và phát triển thể chế…)
(2) oda vốn vay được ưu tiên sử dụng cho những chương trình, dự án
thuộc các lĩnh vực: Xoá đói giảm nghèo, phát triển nông nghiệp và nông thôn;
Giao thông vận tải, thông tin liên lạc, năng lượng, Cơ sở hạ tầng xã hội (Các
công trình phúc lợi công cộng, ytế, giáo dục và đào tạo, cấp thoát nước, bảo
vệ môi trường); Hỗ trợ một số lĩnh vực sản xuất nhằm giải quyết các vấn đề
xã hội (tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người nghèo, khắc phục các
tệ nạn xã hội); hỗ trợ cán cân thanh toán…
Trong 5 năm nay, cùng với các nguồn lực trong nước Chính phủ Việt
Nam muốn tập trung hơn nữa nguồn oda cho các vùng nghèo, có nhiều khó
khăn như đồng bằng Sông Cửu long, vùng duyên hải miền trung, Tây nguyên,
vùng núi phía bắc để hỗ trợ thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo, phát
triển nông nghiệp và nông thôn
Trang 243 Tình hình thu hút và sử dụng oda của australia ở Việt nam
3.1 Tình hình h ợp tác phát triển
a T ại sao cần có quan hệ hợp tác
Australia có một chương trình hợp tác phát triển với Việt Nam vì nghèo
đói vẫn tiếp tục là một vần đề nổi cộm nhất ở nước này, triển vọng của công
cuộc xoá đói giảm nghèo là tốt đẹp, và chính phủ Australia có thể có những
đóng góp quý báu trong lĩnh vực này bởi giảm nghèo ở Việt Nam là mối
quan tâm quốc gia của Australia
Chìa khoá để Việt Nam thành công đáng kể trong cuộc đấu tranh chống
đói nghèo trong thập kỷ 90 là sự chuyển dịch sang nền kinh tế thị trường Sự
chuyển dịch này đã giải phóng tiềm năng khổng lồ của nhân dân Việt Nam
Viện trợ oda đã có hiệu quả, ví dụ: trong lĩnh vực hỗ trợ phục hồi cơ sở hạ
tầng đã sa sút ở Việt Nam Tuy nhiên, việc huy động các nguồn lực trong
nước và đầu tư của khu vực tư nhân nước ngoài cũng có vai trò quan trọng
tương đương hoặc nhiều hơn Điều có ý nghĩa quan trọng là Việt Nam cởi mở
đối với những tư tưởng mới, những kỹ năng mới Viện trợ của Australia được
cung cấp ở dạng không hoàn lại có thể đóng một vai trò quý báu trong giai
đoạn chiến lược bằng cách tập trung vào những ý tưởng mới, kỹ năng mới,
những tiếp cận mới và những thể chế mới như yếu tố then chốt để tiếp tục góp
phần tăng trưởng và giảm đói nghèo
b M ối quan tâm quốc gia của Australia
Australia có cả hai quan tâm thực tiễn và quan tâm nhân đạo trong việc
đảm bảo Việt Nam đạt được sự ổn định và phồn vinh lâu dài Việt Nam là một
đối tác khu vực quan trọng của Australia Trong bối cảnh Việt Nam nằm ở
trung tâm khu vực Đông Nam á, một nước Việt Nam ổn định và tăng trưởng
sẽ có lợi cho an ninh và phồn vinh của khu vực Việt Nam cũng là một đối tác
Trang 25chủ chốt trong những nỗ lực khu vực nhằm giải quyết một loạt những vấn đề
biên giới bao gồm vấn đề buôn bán người và ma tuý, tội phạm xuyên quốc gia
và HIV/AIDS
Đây là lĩnh vực mà Australia đang tăng cường chú trọng trong các
chương trình hợp tác phát triển khu vực của mình
Những sự phát triển gần đây trong quan hệ song phương lành mạnh bao
gồm sự hình thành mối quan hệ về an ninh tuy còn sơ khởi, những cuộc thảo
luận chính thức về quyền con người và mối quan hệ thương mại đa dạng
Australia quan tâm tới việc thâm nhập nhiều hơn vào thị trường của Việt
Nam, đặc biệt là thị trường đang tăng trưởng Ví dụ, Australia đã nổi lên như
một điểm hẹn quan trọng đối với lượng sinh viên du học tự tức từ Việt Nam
ngày càng tăng
c Chính sách h ợp tác phát triển của Australia
Viện trợ của Australia là đầu tư vào sự tăng trưởng, ổn định và phồn vinh
Tháng 9/2002, Bộ trưởng ngoại giao Australia Hon Alexander Powner,
đã đưa ra khung chính sách mới có tên gọi: Viện trợ Australia: sự đầu tư vào
tăng trưởng, ổn định, phồn vinh Chính sách này đã khẳng định mục tiêu của
chương trình hợp tác phát triển Australia là : “Thúc đẩy lợi ích quốc gia của
Australia bằng cách hỗ trợ các nước đang phát triển giảm nghèo và đạt được
sự phát triển bền vững” và duy trì địa bàn trọng tâm của các chương trình hay
là khu vực Châu á - Thái Bình Dương Chính sách này nhấn mạnh tầm quan
trọng của công tác quản lý nhà nước như một nền tảng để phát triển và giảm
nghèo thành công
Bản tuyên bố chính sách này đã đưa ra một loạt các ưu tiên làm cho
việc viện trợ của Australia trở nên có hiệu quả hơn bao gồm: tăng cường hoạt
động trong khuôn khổ khung phát triển của các nước đối tác; củng cố quan hệ
Trang 26của các chương trình viện trợ các tổ chức quốc tế quan trọng khác, các tổ
chức phi chính phủ và các chuyên gia; và đẩy mạnh sử dụng những yếu tố
khuyến khích thực hiện tốt như một biện pháp củng cố trọng tâm của
Australia đối với quản lý nhà nước vào tiếp tục cải cách
d M ười năm quan hệ hợp tác phát triển song phương
Cùng với những dự án như dự án cầu Mỹ Thuận, hay dự án cung cấp
nước sạch tỉnh đã mang lại uy tín to lớn, một điều rất rõ ràng là nhiều thành
công đáng chú ý đạt được trong hàng loạt lĩnh vực, các hoạt động và ở các
quy mô khác nhau Sự hỗ trợ mạnh của Chính phủ Việt Nam là một hợp phần
chung trong mọi dự án thành công và điều này thể hiện mọt mô hình thực
tiễn, có hiệu quả và đúng lúc cho phép tạo nên những kết quả sớm Những bài
học khác nhau thu được liên quan tới tính phù hợp của môi trường thể chế của
các dự án (mặc dù môi trường này rất phức tạp để có thể đánh giá được) và nhu
cầu tập trung chú ý vào những điều kiện phổ biến và lặp lại các mô hình thành
công
Chiến lược chương trình 1998-2001 đại diện cho sự khởi đầu của nỗ
lực làm rõ trọng tâm của chương trình với ba chiến lược then chốt vào 4 lĩnh
vực (Giáo dục đào tạo, phát triển nông thôn, ytế và quản lý nhà nước) đã được
xác định Các khung liên ngành đã được xây dựng dự án – Xác định địa bàn
trọng tâm là vấn đề nổi lên trong giai đoạn chiến lược này Chiến lược mới
trình bày một cơ hội tiếp tục xây dựng và làm sâu sắc hơn trọng tâm của
chiến lược giai đoạn (1998-2001)
3.2 Tình hình cam k ết thực hiện
Trong thời kỳ 1993-2002, Australia đã tiến hành cam kết cung cấp viện
trợ cho Việt Nam theo từng giai đoạn 4 năm Trên cơ sở các chiến lược hợp
Trang 27tác giữa hai nước, các khoản viện trợ đã cam kết đã được sử dụng vào các dự
án, chương trình cụ thể thuộc lĩnh vực mà hai nước thoả thuận
B ảng 04: Viện trợ của Australia dành cho Việt Nam giai đoạn 1992-1993
Ngu ồn DAC- 2001
Trong 4 tài khoá 1994/95 đến 1997/98, Australia cam kết viện trợ cho
Việt Nam 200 triệu đô la Australia, tập trung trong lĩnh vực chủ yếu sau:
- Phát triển nguồn nhân lực
- Phát triển cơ sở hạ tầng
- Ytế
- Phát triển tài nguyên thiên nhiên
B ảng 05: Viện trợ của Australia dành cho Việt Nam phân theo lĩnh vực
giai đoạn 1994-1198 (đơn vị: triệu đô la Australia)
Trang 28Mặc dù mức cam kết dành cho Việt Nam là 200 triệu đô la Australia,
nhưng trên thực tế, giải ngân luôn vượt mức kế hoạch Tiếp theo sự thành
công của sự hợp tác song phương giữa hai nước trước giai đoạn
1994/95-1997/98, Australia tiếp tục cam kết viện trợ cho Việt Nam 236 triệu đô la
Australia trong giai đoạn 1998/99-2001/02 Sự gia tăng về mức cam kết đã
khẳng định chính sách của Australia hướng về Châu á, trong đó coi Việt Nam
là một bạn hàng, một đối tác ưu tiên của Australia
Trong giai đoạn 1998-2002, Chính phủ Australia đã xem xét lại chính
sách viện trợ cho các nước đang phát triển Theo đó, viện trợ của Australia sẽ
được ưu tiên dành cho các lĩnh vực sau:
- Phát triển nguồn nhân lực
- Y tế
- Phát triển nông thôn và cơ sở hạ tầng
- Quản lý nhà nước
B ảng 06: Viện trợ của Australia dành cho Việt Nam phân tích theo
l ĩnh vực giai đoạn 1998 đến 2003 (đơn vị: triệu đô la Australia)
IV T ổng số 67.8 77.6 69.6 67.6 72.2
Giáo dục và đào tạo 20.45 19.78 21.98 24.06 20.92
Phát triển nông thôn
Chương trình viện trợ của Australia chỉ dưới hình thức cung cấp viện
trợ không hoàn lại cho tất cả các nước, các lĩnh vực, chương trình Cơ quan
Trang 29chịu trách nhiệm xây dựng chiến lược hợp tác với từng quốc gia và thực hiện
chiến lược hợp tác đó là Cơ quan phát triển quốc tế Australia (AusAID) thuộc
Bộ Ngoại giao và Ngoại thương Australia
Các chương trình, dự án viện trợ của Australia được quản lý và thực
hiện do các hãng, công ty của Australia và Niu Di Lân Tuy nhiên, gần đây đã
có một số thay đổi trong chính sách này Chủ dự án của nước tiếp nhận đã
được tham dự vào Ban Tuyển chọn kỹ thuật, đánh giá chất lượng các nhà
thầu, có sự linh hoạt hơn trong lực chọn các dịch vụ tư vấn
II Đánh giá thực trạng sử dụng oda của Australia cho xoá đói giảm nghèo ở
Việt Nam
1 Thực trạng đói nghèo ở Việt Nam
Việt Nam được xếp vào nhóm nước nghèo của hế giới Tỷ lệ hộ nghèo
đói của Việt Nam còn khá cao Theo điều tra năm 1998 là trên 37% ước tính
năm 2000 tỷ lệ này vào khoảng 32% (giảm 1/2 tỷ lệ hộ nghèo so với năm
1990) Nếu tính theo chuẩn đói nghèo về lương thực, thực phẩm năm 1998 là
15%, 2000 là 13%
Theo chuẩn nghèo của chương trình xoá đói giảm nghèo quốc gia mới,
đầu năm 2000 có khoảng 2.8 triệu hộ nghèo, chiếm 17,2% tổng số hộ trong cả
nước
Nghèo đói phổ biến trong những hộ có thu nhập thấp và bấp bênh Thu
nhập của một bộ phận lớn dân cư vẫn nằm giáp ranh mức nghèo, do vậy chỉ
cần những điều chỉnh nhỏ về chuẩn nghèo, cũng khiến họ rơi xuống ngưỡng
nghèo và làm tăng tỷ lệ nghèo Mức độ cải thiện của người nghèo chậm hơn
so với mức sống chung và đặc biệt so với nhóm mức sống cao Sự gia tăng
chênh lệch thu nhập giữa nhóm 20% giàu nhất và 20% nghèo nhất (từ 7,3 lần
năm 1993 lên 8,9 lần năm 1998)