1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VAI TRÒ CỦA VỐN ODA ĐỐI VỚI CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO

58 639 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai Trò Của Vốn Oda Đối Với Công Tác Xóa Đói Giảm Nghèo
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Phát Triển
Thể loại Bài Tiểu Luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 704,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đầu tư là điều kiện quyết định sự ra đời, tồn tại và tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, là yếu tố quyết định sự phát triển và tăng trưởng của nền sản xuất xã hội.

Trang 1

Chương I Vai trò của nguồn vốn ODA đối với công tác xoá đói giảm nghèo

I Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) với phát triển kinh tế xã hội ở

các nước đang phát triển.

1 Nguồn vốn ODA

ODA ra đời sau chiến tranh thế giới II cùng với kế hoạch Marshall để

giúp các nước Châu Âu phục hồi các ngành công nghiệp bị chiến tranh tàn phá

Để tiếp nhận viện trợ của kế hoạch Marshall các nước Châu Âu thành lập tổ

chức hợp tác và phát triển kt (OECD) Ngày nay tổ chức này bao gồm 30 nước

và không chỉ có các nước Châu Âu, tham gia tổ chức này còn có Mỹ, Australia,

Nhật, Hàn Quốc…

ODA là một bộ phận có tầm quan trọng đặc biệt của các nguồn vốn vay

và tài trợ quốc tế Ngày nay hầu hết các nước đều thừa nhận rằng ODA là một

nguồn thu quan trọng cho ngân sách để các nước đang phát triển đầu tư phát

triển KT- XH

1.1 Những quan điểm về ODA

Trong quá trình phát triển của nền kt thế giới đã có nhiều quan điểm khác

nhau ODA Trước đây, ODA được coi là một nguồn vốn viện trợ ngân sách của

các nước phát triển dành cho các nước đang phát triển và kém phát triển Với

quan điểm này ODA mang tính tài trợ là chủ yếu

Ngày nay, trong xu hướng quốc tế hoá và toàn cầu hóa nền kinh tế đã hình

thành nên một quan điểm hoàn toàn mới về ODA Quan điểm này cho rằng

ODA là hình thức hợp tác phát triển của các nước đã công nghiệp hoá và các tổ

chức quốc tế với các nước đang phát triển Theo quan điểm này, ODA là các

khoản viện trợ không hoàn lại và các khoản vốn vay với điều kiện ưu đãi của

Chính Phủ các nước, các tổ chức quốc tế và các tổ chức phi chính phủ (NGO)

Trang 2

ODA theo quan điểm của Chính Phủ Việt Nam là sự hợp tác phát triển

giữa nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với một hay nhiều quốc gia, tổ

chức quốc tế liên chính phủ và các tổ chức phi chính phủ

Nói chung ODA được gọi là nguồn tài chính do các cơ quan chính thức

(chính quyền nhà nước hay địa phương) của một nước hay một tổ chức quốc tế

viện trợ cho các nước đang phát triển nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế và

phúc lợi xã hội của nước này

Quá trình phân công lao động quốc tế ngày càng sâu sắc sẽ dẫn đến sự

liên kết chặt chẽ qua lại về mặt kinh tế giữa các quốc gia và giữa nhiều quốc gia

với nhau Đây là một nhân tố thúc đẩy sự gia tăng về số lượng cũng như chất

lượng của ODA Các nước tài trợ lớn trên thế giới, hàng năm đều căn cứ vào sự

phát triển kinh tế xã hội của nước mình để từ đó điều chỉnh khối lượng ODA

cung cấp cho các nước đang phát triển

1.2 Các hình thức cung cấp ODA

- Hỗ trợ cán cân thanh toán: gồm các khoản ODA được cung cấp dưới

dạng tiền mặt hoặc bán hàng để hỗ trợ ngân sách chính phủ

- Hỗ trợ theo chương trình : gồm các khoản ODA được cung cấp để

thực hiện một chương trình nhằm đạt được nhiều mục tiêu với một tập hợp các

dự án thực hiện trong một thời gian xác định tại các thời điểm cụ thể(chương

trình tín dụng Nhật Bản tài trợ khu vực phát triển giao thông nông thôn, phát

triển lưới điện nông thôn, phát triển hệ thống cung cấp nước sạch sinh hoạt ở

các thị xã, thị trấn…)

- Hỗ trợ kỹ thuật: nhằm giúp phát triển thể chế tăng cường năng lực,

chuyển giao công nghệ, cung cấp trang thiết bị, đào tạo nhân lực, hỗ trợ nghiên

cứu điều tra cơ bản (lập quy hoạch, báo cáo nghiên cứu khả thi…) Một hỗ trợ

kỹ thuật có thể bao gồm một số hoặc tất cả các nội dung trên (Đầu những năm

Trang 3

1990 Australia cung cấp 1 triệu USD hỗ trợ nghiên cứu nông nghiệp của Việt

Nam)

- Hỗ trợ theo dự án: ODA được cung cấp để thực hiện dự án xây

dựng phát triển Có thể gồm dịch vụ tư vấn, đào tạo cán bộ tại chỗ hoặc gửi

ra nước ngoài

1.3 Phân lo ại ODA

Theo nghị định số 17/2001/NĐ-CP ngày 4 tháng 5 năm 2001 về hoạt

động thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA thì ODA được phân

thành 2 loại:

- ODA không hoàn lại: Đây là khoản ODA mà bên nước ngoài cung cấp

viện trợ không hoàn lại để thực hiện chương trình dự án ODA

- ODA vốn vay bao gồm:

+ ODA cho vay ưu đãi (hay còn gọi là tín dụng ưu đãi) là các khoản ODA

cho vay có yếu tố không hoàn lại ít nhất 25% giá trị khoản vay ưu đãi

+ ODA cho vay hỗn hợp: là các khoản ODA bao gồm kết hợp một phần

ODA không hoàn lại (hoặc ODA cho vay ưu đãi) và một phần tín dụng thương

mại theo các điều kiện của tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD)

1.4 Các đối tác cung cấp ODA

Từ đầu những năm 1990 cho tới nay Việt Nam đã nhận được sự hỗ trợ

tích cực của cộng đồng quốc tế, các nhà tài trợ quốc tế đối với công cuộc phát

triển kinh tế xã hội Các đối tác cung cấp bao gồm:

Trang 4

a H ỗ trợ song phương:

Hiện nay chúng ta có quan hệ hợp tác phát triển với 24 nhà tài trợ song

phương Thông thường trong tổng ODA lưu chuyển trên thế giới, phần hỗ trợ

song phương chiếm tỉ trọng lớn, nhiều lúc chiếm 80% tổng số ODA được tài trợ

Bao gồm những nước sau:

Mỹ

Na Uy Nhật Bản Niu Di Lân Oxtraylia

Pháp Phần lan Tây Ban Nha Thái Lan Thuỵ Điển Thuỵ Sỹ Trung Quốc Singapo

b H ỗ trợ đa phương

Hiện nay chúng ta quan hệ hợp tác với 15 nhà tài trợ đa phương hỗ trợ

phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội Bao gồm các tổ chức sau:

- Công ty tài chính quốc tế (IFC)

- Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP)

- Chương trình kiểm soát ma tuý quốc tế của Liên Hợp Quốc

(UNNCP)

- Cộng đồng Châu Âu (EU)

- Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)

- Tổ chức lao động quốc tế (ILO)

- Tổ chức nông nghiệp và lương thực (FAO)

- Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp Quốc (UNIDO)

Trang 5

- Tổ chức y tế thế giới (WHO)

- Chương trình lương thực thế giới (WFP)

- Ngân hàng phát triển Châu á (ADB)

- Ngân hàng thế giới (WB)

- Quỹ dân số của Liên Hợp Quốc (UNFPA)

- Quỹ nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF)

- Quỹ phát triển nông nghiệp quốc tế (IADF)

c H ỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài (PCPNN)

Ban đầu chỉ có một số tổ chức hoạt động và hỗ trợ chủ yếu mục đích

nhân đạo tại Việt Nam, thì đến năm 1991 đã có 125 tổ chức phi chính phủ

nước ngoài có quan hệ hợp tác với Việt Nam và đến năm 2001 có 485 tổ chức

phi chính phủ nước ngoài thuộc 26 nước công nghiệp phát triển và các nước

công nghiệp mới hoạt động viện trợ tại Việt Nam Trong đó có 369 tổ chức

thường xuyên có mặt ở Việt Nam, có dự án, đối tác cụ thể, được cơ quan có

thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy phép hoạt động

Qui mô viện trợ của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài đã tăng

trong 10 năm qua (gấp 4 lần) Theo thống kê chưa đầy đủ, giá trị viện trợ của

các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tăng từ 20,3 triệu USD vào năm 1991

lên 80 triệu USD vào năm 2000

Hình thức hỗ trợ này được thông qua tổ chức: “Trung tâm thông tin và

tư liệu phi chính phủ” được đặt tại Hà Nội- Việt Nam

Trong xu thế Quốc tế hoá toàn cầu và chuyên môn hoá như ngày nay sẽ

dẫn tới sự liên kết chặt chẽ của các nền kinh tế thế giới Các nước đều có xu

hướng hợp tác và cùng nhau phát triển Giảm dần khoảng cách giàu nghèo

giữa các nước và các khu vực Một nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu thì mức

Trang 6

sống dân cư rất thấp và khả năng chăm sóc y tế, PLXH, cơ sở vật chất… thấp

kém gây cản trợ sự phát triển của xã hội Trong khi đó ngân sách Chính phủ

lại eo hẹp và phần đầu tư cho các chương trình XĐGN bằng nguồn vốn trong

nước là rất thấp Trong khi đó các nước phát triển lại có xu hướng đầu tư sang

các nước đang phát triển và nghèo, nơi có nguồn nhân công dồi dào giá nhân

công thấp, thị trường chưa phát triển Từ đó hỗ trợ các nước đang phát triển

để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư trực tiếp của mình

Như vậy, những lợi ích mà nguồn vốn ODA mang lại không những cho

nước tiếp nhập mà còn đem lại những lợi ích cho những tổ chức và nước cung

cấp ODA

Nguồn ODA sẽ nâng cao uy tín về mặt chính trị của các nước, các tổ

chức đối với những nước nhận hỗ trợ Nhờ có nguồn vốn này các nước tiếp

nhận có điều kiện phát triển kinh tế và ổn định xã hội góp phần ổn định chính

trị thế giới

2 Vai trò của ODA với phát triển kinh tế xã hội ở các nước đang

phát triển

ở các nước đang phát triển quan hệ kinh tế chưa phát triển cùng với một

nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu, cơ sở vật chất yếu kém… Để tạo tiền đề cho

phát triển kinh tế các nước đang phát triển rất cần thiết có được hỗ trợ về

nguồn nhân lực từ các nước phát triển, các tổ chức trong khi ngân sách chính

phủ hạn hẹp khó tự mình giải quyết được các vấn đề kinh tế, xã hội Vì vậy

ODA là nguồn vốn rất quan trọng để các nước đang phát triển thực hiện công

cuộc phát triển kinh tế xã hội của mình

a.V ề mặt kinh tế:

Các nước đang phát triển coi nguồn vốn ODA là một nguồn thu ngân

sách đáng kể, góp phần làm tăng tỷ trọng đầu tư cho phát triển từ ngân sách

Trang 7

chính phủ Các nước này thường sử dụng ODA thực hiện những chương trình

đầu tư quốc gia đặc biệt là những dự án cải tạo, nâng cấp, hiện đại hoá kết cấu

hạ tầng kinh tế xã hội, làm cơ sở tăng trưởng kinh tế

Qua những dự án hỗ trợ khoa học kỹ thuật, chuyển giao công nghê

Thông qua quá trình nghiên cứu, triển khai quản lý các dự án và chương trình

đầu tư phát triển từ nguồn ODA Nó có vai trò đặc biệt đối với các nước đang

phát triển khắc phục nền khoa học kỹ thuật nghèo nàn lạc hậu, trình độ cán bộ

quản lý và thực hiện được nâng cao Từ đó tác động trực tiếp tới khả năng sản

xuất, nghiên cứu ứng dụng…làm tăng trưởng mạnh nền kinh tế và nâng cao

trình độ khoa học kỹ thuật của nước mình

Bên cạnh đó những chương trình thực hiện bằng nguồn vốn ODA như

các chương trình hỗ trợ kỹ thuật trong các ngành sản xuất nông lâm, ngư

nghiệp, phát triển kinh tế vùng, dịch vụ… góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh

tế theo chiều hướng tiến bộ

b V ề mặt xã hội

Nguồn vốn ODA có vai trò cực kỳ quan trọng để giải quyết các vấn đề

xã hội trong khi ngân sách chính phủ quá hạn hẹp để giải quyết vấn đề này

Thông qua các dự án hỗ trợ phát triển xã hội và đặc biệt trong những chương

trình xoá đói giảm nghèo, tạo thêm nhiều việc làm mới, nâng cao điều kiện

sống của người dân Trong lĩnh vực giáo dục thông qua những chương trình

hỗ trợ đào tạo, nâng cấp cơ sở vật chất, trình độ tri thức được ngày càng nâng

lên

Công tác y tế chăm sóc sức khoẻ người dân ngày càng được cải thiện

Công tác phòng chống tệ nạn xã hội như HIV/AIDS, ma tuý… được đẩy mạnh

Bằng những nguồn vốn hỗ trợ ODA qua những chương trình, các dự án

có vai trò tích cực trong phát triển xã hội nâng cao điều kiện sống của dân

Trang 8

cư… Và để thực hiện nguồn vốn ODA đòi hỏi Việt Nam phải cải cách hành

chính, thủ tục cho đáp ứng được nhu cầu phát triển, hợp tác

Trang 9

II Vốn ODA với công tác xoá đói giảm nghèo

1 Vấn đề nghèo đói

a Định nghĩa

Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo do hội nghị chống

đói nghèo khu vực Châu á- Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng

Cốc, Thái Lan tháng 9/1993 là:

“Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả

mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội

thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của

địa phương”

b Tiêu chuẩn đói nghèo

- Tiêu chuẩn quốc tế:

Phương pháp xác định đường đói nghèo theo tiêu chuẩn quốc tế do

tổng cục Thống Kê, Ngân hàng thế giới xác định và được thực hiện trong các

cuộc khảo sát mức sống dân cư ở Việt Nam (năm 1992-1993 và năm

1997-1998) Đường đói nghèo ở mức thấp gọi là đường đói nghèo về lương thực,

thực phẩm Đường đói nghèo thứ hai ở mức cao hơn gọi là đường đói nghèo

chung ( bao gồm cả lương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm)

Đường đói nghèo về lương thực thực phẩm được xác định theo tiêu

chuẩn mà hầu hết các nước đang phát triển cũng như tổ chức y tế thế giới và

các cơ quan khác đã xây dựng mức Kcal tối thiểu cần thiết cho mỗi thể trạng

con người, là chuẩn về nhu cầu 2.100 Kcal/người/ngày Những người có mức

chi tiêu dưới mức chi cần thiết để đạt được lượng Kcal này gọi là nghèo về

lương thực, thực phẩm

Đường đói nghèo chung: tính thêm các chi phí cho các mặt hàng phi

lương thực, thực phẩm Tính cả chi phí này với đường đói nghèo về lương

Trang 10

thực, thực phẩm ta có đường đói nghèo chung Năm 1993 đường này có mức

chi tiêu là 1,16 triệu đồng/năm/người:

-Tiêu chuẩn quốc gia:

Theo chuẩn nghèo đói của chương trình xoá đói giảm nghèo quốc gia:

căn cứ vào quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế, nguồn lực tài chính

2001-2005 và mức sống thực tế của người dân từng vùng, Bộ lao động Thương

binh xã hội Việt Nam đưa ra chuẩn nghèo nhằm lập danh sách hộ nghèo từ

cấp nông thôn, xã và danh sách xã nghèo từ các huyện trở lên để hưởng sự

giúp đỡ của Chính Phủ từ chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm

nghèo và các chính sách hỗ trợ khác…

Trước những thành tích của công cuộc giảm nghèo cũng như tốc độ

tăng trưởng kinh tế và mức sống từ năm 2001 đã công bố mức chuẩn nghèo

mới để áp dụng cho thời kỳ 2001-2005, theo đó chuẩn nghèo của chương

trình xoá đói giảm nghèo quốc gia mới được xác định ở mức độ khác nhau

tuỳ theo từng vùng, cụ thể bình quân thu nhập là: 80.000 đồng/người/tháng ở

các vùng hải đảo và vùng núi nông thôn, 100.000 đồng/người/tháng ở các

vùng đồng bằng nông thôn, 150.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị

Trong tương lai sẽ tiến đến sử dụng một chuẩn thống nhất để đánh giá

tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam và có tính đến tiêu chí Quốc tế để so sánh

2 Nguồn vốn ODA trong công tác xoá đói giảm nghèo

Trong khi ngân sách chính phủ hạn hẹp thì ODA như một nguồn vốn

đáng kể để thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo Các chương trình xoá đói

giảm nghèo thường phải đầu tư lớn và thời gian thực hiện dài vì vậy nguồn

ODA thực hiện cho chương trình này được xem là rất hiệu quả

Tron khi đó nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) từ bên

ngoài thường chỉ tập trung vào lĩnh vực , ngành có khả năng thu hồi vốn cao,

Trang 11

mang lại lợi nhuận cao… nên không thích hợp với những dự án xóa đói giảm

nghèo thực hiện gặp nhiều khó khăn Như vậy các nước đang phát triển

thường phải dựa vào nguồn vốn ODA để phát triển kinh tế xã hội

Sử dụng nguồn vốn ODA sẽ góp phần nâng cao điều kiện sống cho

người dân Khi sử dụng nhiều ODA ở những vùng xa, vùng khó khăn các dự

án trồng rừng, đắp đê ven biển… góp phần cải thiện điều kiện sống người dân

trong vùng Các chương trình tín dụng nông thôn, giao thông nông thôn, nước

sạch…góp phần làm thay đổi cơ cấu sản xuất của nông nghiệp nâng cao đời

sống nông thôn Đồng thời các dự án góp phần tăng phúc lợi công cộng và cải

thiện điều kiện môi trường

Thúc đẩy nền kinh tế phát triển thông qua đầu tư phát triển các công

trình thuộc lĩnh vực kết cấu hạ tầng… là tiền đề để phát triển kinh tế, xoá đói

giảm nghèo

Theo thời báo kinh tế số 31/99 ODA đã được sử dụng từ năm

1993-1998 là 5015 triệu USD bằng khoảng 46% so với ODA cam kết trong cùng

thời kỳ

Trong giai đoạn 2001-2005 ODA được sử dụng cho chiến lược toàn

diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo như sau:

+ Vốn ODA không hoàn lại được sử dụng cho những chương trình, dự

án thuộc lĩnh vực xoá đói giảm nghèo, trước hết tại các vùng nông thôn, vùng

sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, ytế, dân số và phát triển giáo

dục, phát triển nguồn nhân lực; Các vấn đề xã hội…

+ ODA vốn vay sử dụng cho những chương trình, dự án thuộc lĩnh vực:

xóa đói giảm nghèo, phát triển nông thôn, giao thông vận tải, thông tin liên

lạc, cơ sở hạ tầng xã hội…

Cụ thể ODA được sử dụng cho xoá đói giảm nghèo như sau:

Trang 12

- Về năng lượng: tiếp tục phát triển nguồn điện, hệ thống đường dây tải

điện và các trạm biến thế, điện lưới khu vực nông thôn và các vùng khó khăn,

miền núi, hải đảo

- Về công nghiệp: sử dụng ODA để đổi mới công nghệ trang thiết bị,

nâng cao cạnh tranh sản phẩm, nhằm giữ ổn định về công ăn việc làm, góp

phần giải quyết các vấn đề xã hội

- Về giao thông vận tải: phát triển đi đôi với nâng cấp các hệ thống

quốc lộ Dành nguồn ODA phát triển các đường nhánh, đường xương cá nối

với quốc lộ đảm bảo giao thông thông suốt các vùng dân cư, nhất là vùng sâu,

vùng xa, miền núi

- Về nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, thủy lợi, kết hợp với phát triển

nông thôn và xoá đói giảm nghèo Nguồn ODA sẽ hỗ trợ phát triển nông thôn,

đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa Mở rộng phạm vi các dịch vụ tài chính

nông thôn nhằm tạo vốn cho người dân phát triển sản xuất, tăng thu nhập

- Về y tế xã hội: cải tạo, nâng cấp và tăng cường trang thiết bị y tế cho

các bệnh viện tỉnh, nâng cấp bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, thành phố chưa

được sử dụng ODA trong giai đoạn 1996-2000 Tăng cường năng lực hệ

thống y tế xã huyện, chương trình nước sạch, phòng chống HIV/AIDS…

- Về cấp thoát nước đô thị và bảo vệ môi trường: nâng cấp hệ thống

nước cho các thị xã chưa được nhận ODA trong giai đoạn 1996-2000 Ưu tiên

nâng cấp hệ thống nước tại huyện lị, nông thôn… Chính Phủ và các nhà tài

trợ sẽ tiếp tục được củng cố và phát triển nhằm thực hiện mục tiêu cải thiện và

nâng cao chất lượng sử dụng ODA phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội

và đấu tranh chống lại đói nghèo ở Việt Nam

Trang 13

III Kinh nghiệm của các nước đang phát triển trong việc quản lý và sử

dụng ODA.

1 Công tác quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA của các nước

đang phát triển

1.1 Philippin

Theo số liệu báo cáo tháng 6/1997 của ngân hàng thế giới tính đến cuối

năm 1996, tổng mức cam kết đối với các chương trình dự án đang thực hiện là

12,5 tỷ USD, mức giải ngân hàng năm khoảng 1,4-1,5 tỷ USD và được đánh

giá là nước có mô hình quản lý và sử dụng vốn ODA tương đối tốt Một trong

những nguyên nhân tiến bộ do Chính Phủ Philippin đã quan tâm, đã tổ chức

tốt hệ thống theo dõi thực hiện và đánh giá các chương trình dự án ODA

- Khuôn khổ pháp lý và cơ cấu tổ chức theo dõi đánh giá chương

trình, dự án ODA

Việc theo dõi thực hiện và đánh giá các dự án ODA đã được Chính Phủ

quan tâm nhiều năm và ngày càng được hoàn thiện NEDA (National

Economic and Development) là cơ quan đầu mối của chính phủ, có trách

nhiệm tổng hợp và báo cáo lên Tổng thống tình hình thực hiện và đánh giá

các chương trình, dự án ODA Đặc biệt tháng 11/1996 Tổng thống Philippin

đã ký đạo luật về ODA, trong đó quy định trách nhiệm báo cáo của các cơ

quan liên quan thực hiện chương trình dự án ODA

- Chế độ báo cáo thực hiện các chương trình, dự án ODA được qui

định như sau:

Không quá 4 tuần sau khi kết thúc quí, các cơ quan thực hiện ODA

phải báo cáo lên NEDA các nội dung sau:

+ Kế hoạch và thực hiện các chỉ tiêu về hiện vật

+ Phân bố ngân sách, chi phí và giải ngân các khoản vay và viện trợ

Trang 14

+ Đề nghị về chi phí từng tháng trong quí tới cơ quan quản lý vốn

+ Những vấn đề gây chậm quá trình thực hiện

+ Kiến nghị biện pháp giải quyết các vấn đề gây chậm quá trình thực

hiện dự án

+ Các thông tin khác để có thể tăng khả năng đánh giá quá trình thực

hiện dự án

Trong thời gian 6 tuần sau khi kết thúc thời kỳ đánh giá, NEDA phải

báo cáo lên Tổng thống tình hình thực hiện toàn bộ các chương trình, dự án

Hệ thống cơ quan theo dõi và đánh giá dự án được tổ chức từ cấp quốc

gia tới cấp vùng và tỉnh Trên cơ sở báo cáo của các cơ quan thực hiện dự án,

tuỳ theo từng cấp mà các cơ quan theo dõi dự án chuyển các thông tin về

những vấn đề cần giải quyết đến cơ quan có liên quan Qua đó, các cơ quan

có trách nhiệ sẽ kịp thời tìm ra các biện pháp giải quyết, thúc đẩy quá trình

thực hiện dự án

- Công cụ theo dõi và đánh giá dự án

NEDA ban hành các mẫu biểu báo cáo thống nhất cho các cơ quan thực

hiện dự án Các mẫu biểu đã phản ánh được kế hoạch và thực tế thực hiện

chương trình, dự án ODA bao gồm các chỉ tiêu về tài chính, khối lượng hiện

vật, tình trạng và các vấn đề vướng mắc cần giải quyết Số liệu được cập nhật

và xử lý qua hệ thống mạng trong NEDA và nối sang một số cơ quan lãnh

thổ, tình trạng dự án và các biểu đồ so sánh

1.2 Malaysia

So sánh Malaysia và Philippin, 2 nước cùng trong nhóm ASEAN ta

thấy giải ngân ODA của Malaysia luôn ít hơn Philippin cả về giá trị tuyệt đối

lẫn tỷ trọng trong GNP Trong khi đó thì Malaysia lại có nền kinh tế phát triển

bền vững hơn Philippin

Trang 15

B ảng 1: So sánh giữa Malaysia và Philippin

2400

289 0,6

2540

206 0,3 7,8

2830

94 0,15 0,3

3140

68 0,10 8,4 9,6

750

1051 2,3

760

1716 3,1 0,3

800

1487 2,6 1,5

850

1057 1,3 4,5 5,3

Ngu ồn: World Table 1996

Word Development Report 1996

Những nguyên nhân thành công của Malaysia

- Malaysia đã có chiến lược phát triển phù hợp hoàn cảnh điều kiện cụ

thể của đất nước và luôn có nỗ lực điều chỉnh chính sách từng giai đoạn Đó

là điều luôn được các tổ chức cho vay quốc tế, đặc biệt là WB khẳng định là

một trong những yếu tố quyết định tính hiệu quả trong sử dụng nguồn vốn,

bất kể là nguồn vốn trong hay ngoài nước

- Trên cơ sở phát triển kinh tế, Malaysia đã có được năng lực nội tại để

tạo vốn từ bên trong, giảm sự lệ thuộc về vốn bên ngoài và sử dụng có hiệu

quả nguồn vốn tích luỹ của mình

1.3 Hàn Qu ốc

Tài trợ nước ngoài là nguồn tài chính lớn để bù đắp thâm hụt cán cân

thanh toán những năm 50-60 và đầu những năm70 Hơn 70% nhập khẩu được

Trang 16

trang trải bằng tài trợ nước ngoài trong suốt thời kỳ khôi phục đất nước Sau

chiến tranh giai đoạn 1953-1960 Chỉ riêng từ năm 1945-1960 Hàn Quốc đã

tiếp nhận 70% lượng vốn ODA nước ngoài cho nước này Nhập khẩu chủ yếu

là hàng tiêu dùng, lương thực thực phẩm, chỉ có 10% hàng nhập khẩu là nhằm

mục tiêu đầu tư Nhờ có tài trợ nước ngoài mà các vấn đề nghèo đói, bệnh tật

bị đẩy lùi, mức sống dân cư của Hàn Quốc vẫn được giữ ở mức cao

Mỹ là nước viện trợ chủ yếu cho Hàn Quốc, có nhiều thay đổi trong

chính sách hỗ trợ mới buộc Hàn Quốc phải có chiến lược phát triển dài hạn

dựa vào nguồn vốn vay nước ngoài Từ những năm 1970, Hàn Quốc chấm dứt

nhận ODA, giảm FDI và chỉ sử dụng nguồn vốn vay thương mại

2 Bài học kinh nghiệm rút ra trong công tác quản lý và sử dụng

các nguồn vốn ODA trong xoá đói giảm nghèo

2.1 Bài học thành công

Theo đánh giá của ngân hàng thế giới những nước nổi tiếng về quản lý

thành công hỗ trợ nước ngoài là Hàn Quốc, Chi Lê, Malaysia… Việt Nam

cũng được xem là nước sử dụng tốt ODA thời gian qua để phát triển kinh tế

xã hội Đặc biệt là trong công tác xoá đói giảm nghèo với chiến lược xoá đói

giảm nghèo toàn diện Những bài học thành công được thể hiện ở:

- Có sự nhất trí trong Chính Phủ về mục tiêu quốc gia chính sách và

danh mục ưu tiên chi tiêu được xác định rõ ràng

- Thiết lập các đơn vị phối hợp thực hiện hỗ trợ ở cấp trung ương và

địa phương Các đơn vị này giữ mối liên hệ thường xuyên với các bộ ngành

chủ quản và với các bộ phận quản lý viện trợ

- Cân nhắc kỹ chiến lược tài trợ

+ Tầm cỡ mức độ tài trợ

+ Yêu cầu loại nguồn vốn tài trợ nước nào

Trang 17

+ Những chỉ số và điều kiện được cho là có thể chấp nhận được

+ Mục tiêu của nước cấp

+ Tài trợ cho dự án

+ Thủ tục thực hiện rõ ràng

+ Các bộ phận đảm nhiệm kiểm tra quá trình viện trợ

- Chuyên môn hoá về chiều sâu, chiến lược đào tạo nhằm hình thành

đội ngũ cán bộ kỹ thuật

- Tăng cường kế hoạch hoá lẫn ngân sách hoá và quản lý nguồn ODA

từ bên ngoài ở cùng một cơ sở Mối quan hệ khăng khít giữa trung tâm kinh tế

với các bộ phận quản lý viện trợ, cơ chế điều phối chính sách mức độ có hiệu

quả cao

- Thường xuyên lập kế hoạch mang tính chất thực tế và các chương

trình đầu tư công cộng kế tiếp nhau, coi đó là phương tiện để phối hợp chính

sách của Chính Phủ, phổ biến rộng rãi những chính sách đó, lên chương trình

thực các ưu tiên chỉ tiêu trung hạn trong công tác thực hiện dự án

- Chú ý chặt chẽ nghiên cứu chọn lọc dự án và giám sát thực hiện dự

án

- Tạo môi trường đầu tư trực tiếp hấp dẫn

- Lên kế hoạch chính xác tập trung ODA cho các vùng trọng điểm nhất,

Trang 18

- Tính không xác đáng của nguồn vốn và mối quan hệ qua lại giữa nó

- Sự phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài có chiều hướng tăng hơn và

kéo dài thời gian dự án khi chương trình cấp vốn nhỏ giọt

- Chậm giải phóng mặt bằng cho dự án dẫn đến tốc độ giải ngân chậm

- Vốn đối ứng thiếu hoặc không kịp thời ảnh hưởng đến tốc độ dự án

- Năng lực quản lý thực hiện dự án của cán bộ kém gây kém hiệu quả

cho chương trình, không đáp ứng được mục tiêu của dự án

Trang 19

ch ương II

thực trạng sử dụng oda của australia trong xóa đói giảm nghèo ở việt nam

I Khái quát tình hình thu hút và sử dụng oda của australia tại việt nam

1 Tình hình chung về thu hút và sử dụng oda ở Việt Nam

Vào những năm cuối của thập kỷ 80 và những năm đầu của thập kỷ 90,

tình hình quốc tế diễn biến có nhiều phức tạp Sự sụp đổ của Liên Xô và hệ

thống XHCN ở Đông Âu đã có những tác động tiêu cực đến sự phát triển của

kinh tế Việt Nam Nguồn tài trợ nước ngoài chủ yếu ở các nước này đã hoàn

toàn chấm dứt vào năm 1991, trong khi đó quan hệ hợp tác phát triển với

cộng đồng quốc tế chưa được nối lại

Tổng kết chặng đường đổi mới 10 năm qua (1986-1996) Việt Nam đã

rút ra một trong những bài học chủ yếu là “Mở rộng sự hợp tác quốc tế tranh

thủ sự ủng hộ và giúp đỡ cảu nhân dân thế giới, kết hợp sức mạnh của dân tộc

và sức mạnh của thời đại”

Trong giai đoạn 1993 đến nay Việt Nam đã nhận được sự hỗ trợ tích

cực của cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế đối với công cuộc phát triển KTXH

Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức oda đã đóng vai trò quan trọng, góp

phần giúp Việt Nam đạt được tăng trưởng kinh tế, xoá đói giảm nghèo và cải

thiện đời sống nhân dân

Trong bối cảnh hiện nay, khi nguồn oda khó có khả năng gia tăng

trong khi nhu cầu phát triển đòi hỏi nguồn lực này rất lớn, Chính phủ Việt

Nam cam kết hợp tác chặt chẽ với các nhà tài trợ nhằm nâng cao hiệu quả sử

dụng oda

Hiện nay ở Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ quan hệ hợp tác phát

triển với 25 nhà tài trợ song phương, 19 đối tác đa phương và hơn 350 tổ

Trang 20

chức phi chính phủ nước ngoài (NGO) Từ năm 1993 tới nay Việt Nam đã

hợp tác với cộng đồng các nhà tài trợ tổ chức thành công 9 hội nghị Nhóm tư

vấn các nhà tài trợ (Hội nghị CG) và được cộng đồng tài trợ cam kết hỗ trợ

nguồn vốn oda với giá trị là 19,94 tỷ USD

Bi ểu 02: Cam kết thực hiện oda thời kỳ 1993-2001

Năm Cam kết oda (triệu USD) Thực hiện oda (triệu USD) %

Ngu ồn: Bộ Kế hoạch và đầu tư

Ghi chú: * : Chưa kể 0,5 tỷ USD dự định hỗ trợ cải cách kinh tế

**: Chưa kể 0,7 tỷ USD dự định hỗ trợ cải cách kinh tế

Để sử dụng nguồn oda đã cam kết, từ 1999-2001, chính Phủ Việt Nam

đã ký kết với các nhà tài trợ các điều ước quốc tế cụ thể về ODA trị giá 14,72

tỷ USD, đạt khoảng 73,8% Tổng số vốn oda đã cam kết tính đến hết năm

2001 Trong đó oda vay khoảng 12,35 tỷ USD (84%) và oda viện trợ không

hoàn lại 2,37 tỷ USD (16%)

Trang 21

Nguồn vốn oda đã tập trung hỗ trợ cho các lĩnh vực phát triển kinh tế,

xã hội ưu tiên của chính phủ, đó là : năng lượng điện (24%); ngành giao thông

(27,5%); phát triển nông nghiệp, nông thôn bao gồm cả thuỷ sản, lâm nghiệp,

thuỷ lợi (12,74%); ngành cấp thoát nước (7,8%); ngành ytế – xã hội, giáo dục

và đào tạo, khoa học – công nghệ – môi trường (11,87) Ngoài ra, nguồn oda

cũng hỗ trợ đáng kể cho ngân sách của chính phủ để thực hiện điều chỉnh cơ

cấu kinh tế và thực hiện chính sách cải cách kinh tế (các khoản tín dụng điều

chỉnh cơ cấu kinh tế, điều chỉnh cơ cấu kinh tế mở rộng, quỹ Miyazawa,

PRGF, và PRSC)

Căn cứ vào chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội năm

(2001-2005), phù hợp với hiến chương oda nói chung cũng như nguyên tắc và mục

đích về hỗ trợ phát triển chính thức của các nhà tài trợ, trong thời gian qua

việc sử dụng oda đã định hướng vào chiến lược xoá đói giảm nghèo toàn diện

và tăng trưởng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm (2001-2010)

và kế hoạch năm năm (2001-2005)

Trong thời kỳ 2001-2005 Trong 3 năm đầu do khó khăn của nền kinh

tế toàn cầu, nguồn oda của thế giới giảm Một số nhà tài trợ buộc phải thực

hiện chính sách cắt giảm oda Tuy nhiên, trong bối cảnh đó, cam kết oda dành

cho Việt Nam tiếp tục tăng, năm 2002 đạt 2,5 tỷ USD tăng 4,5% so với năm

2001 Từ năm 2001 đến hết quý III/ 2003 Tổng giá trị các hiệp định đã được

ký kết đạt khoảng hơn 5,7 tỷ USD trong đó vốn vay khoảng 4,7 tỷ USD, vốn

viện trợ không hoàn lại khoảng 1tỷ USD

Các hiệp định đã được ký kết tập trung chủ yếu vào phát triển cơ sở hạ

tầng kinh tế – xã hội, về cơ bản phù hợp với định hướng cơ cấu sử dụng oda

của Chính phủ

Trang 22

Bi ểu số 03: Cơ cấu sử dụng ODA thời kỳ 2001 - 2003

Lĩnh vực sử dụng ODA Cơ cấu sử dụng theo hiệp định

2 Năng lượng và công nghiệp 18,41

3 NN và PTNT, Thuỷ Lợi, Lâm nghiệp

2 Lĩnh vực ưu tiên sử dụng oda ở Việt Nam

Tiếp tục tranh thủ sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế về nguồn vốn oda

nhằm hỗ trợ cho phát triển kinh tế xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu xoá

đói giảm nghèo, phát triển nguồn nhân lực và tạo ra những tiền đề cần thiết

cho sự phát triển nhanh và bền vững Trong năm năm (2001-2005) Chính phủ

Việt Nam mong muốn dành khoảng 15% vốn oda cho đầu tư phát triển nông

nghiệp, thuỷ lợi, lâm nghiệp, thuỷ sản, kết hợp với mục tiêu phát triển nông

nghiệp nông thôn, xoá đói giảm nghèo; 25% cho ngành năng lượng và công

nghiệp; 25% cho ngành giao thông, bưu điện Phần còn lại dành để hỗ trợ

phát triển giáo dục đào tạo, ytế, bảo vệ môi trường, khoa học công

nghệ…Chính phủ Việt Nam ưu tiên sử dụng các loại hình oda theo định

hướng sau:

Trang 23

(1) Vốn oda không hoàn lại được ưu tiên sử dụng cho những chương

trình, dự án thuộc các lĩnh vực: Xoá đói giảm nghèo, trước hết tại các vùng

nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; ytế, dân số và

phát triển ; giáo dục, phát triển nguồn nhân lực; Các vấn đề xã hội (tạo việc

làm, cấp nước sinh hoạt, phòng chống dịch bệnh, phòng chống các tệ nạn xã

hội); Bảo vệ môi trường, bảo vệ và phát triển các nguồn tài nguyên thiên

nhiên, Nghiên cứu khoa học và công nghệ; nâng cao năng lực nghiên cứu và

triển khai; nghiên cứu cơ bản để chuẩn bị chương trình, dự án đầu tư phát

triển (Quy hoạch, điều tra cơ bản, tổng quan nghiên cứu khả thi); cải cách

hành chính, tư pháp, tăng cường năng lực của cơ quan quản lý Nhà nước ở

trung ương, địa phương và phát triển thể chế…)

(2) oda vốn vay được ưu tiên sử dụng cho những chương trình, dự án

thuộc các lĩnh vực: Xoá đói giảm nghèo, phát triển nông nghiệp và nông thôn;

Giao thông vận tải, thông tin liên lạc, năng lượng, Cơ sở hạ tầng xã hội (Các

công trình phúc lợi công cộng, ytế, giáo dục và đào tạo, cấp thoát nước, bảo

vệ môi trường); Hỗ trợ một số lĩnh vực sản xuất nhằm giải quyết các vấn đề

xã hội (tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người nghèo, khắc phục các

tệ nạn xã hội); hỗ trợ cán cân thanh toán…

Trong 5 năm nay, cùng với các nguồn lực trong nước Chính phủ Việt

Nam muốn tập trung hơn nữa nguồn oda cho các vùng nghèo, có nhiều khó

khăn như đồng bằng Sông Cửu long, vùng duyên hải miền trung, Tây nguyên,

vùng núi phía bắc để hỗ trợ thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo, phát

triển nông nghiệp và nông thôn

Trang 24

3 Tình hình thu hút và sử dụng oda của australia ở Việt nam

3.1 Tình hình h ợp tác phát triển

a T ại sao cần có quan hệ hợp tác

Australia có một chương trình hợp tác phát triển với Việt Nam vì nghèo

đói vẫn tiếp tục là một vần đề nổi cộm nhất ở nước này, triển vọng của công

cuộc xoá đói giảm nghèo là tốt đẹp, và chính phủ Australia có thể có những

đóng góp quý báu trong lĩnh vực này bởi giảm nghèo ở Việt Nam là mối

quan tâm quốc gia của Australia

Chìa khoá để Việt Nam thành công đáng kể trong cuộc đấu tranh chống

đói nghèo trong thập kỷ 90 là sự chuyển dịch sang nền kinh tế thị trường Sự

chuyển dịch này đã giải phóng tiềm năng khổng lồ của nhân dân Việt Nam

Viện trợ oda đã có hiệu quả, ví dụ: trong lĩnh vực hỗ trợ phục hồi cơ sở hạ

tầng đã sa sút ở Việt Nam Tuy nhiên, việc huy động các nguồn lực trong

nước và đầu tư của khu vực tư nhân nước ngoài cũng có vai trò quan trọng

tương đương hoặc nhiều hơn Điều có ý nghĩa quan trọng là Việt Nam cởi mở

đối với những tư tưởng mới, những kỹ năng mới Viện trợ của Australia được

cung cấp ở dạng không hoàn lại có thể đóng một vai trò quý báu trong giai

đoạn chiến lược bằng cách tập trung vào những ý tưởng mới, kỹ năng mới,

những tiếp cận mới và những thể chế mới như yếu tố then chốt để tiếp tục góp

phần tăng trưởng và giảm đói nghèo

b M ối quan tâm quốc gia của Australia

Australia có cả hai quan tâm thực tiễn và quan tâm nhân đạo trong việc

đảm bảo Việt Nam đạt được sự ổn định và phồn vinh lâu dài Việt Nam là một

đối tác khu vực quan trọng của Australia Trong bối cảnh Việt Nam nằm ở

trung tâm khu vực Đông Nam á, một nước Việt Nam ổn định và tăng trưởng

sẽ có lợi cho an ninh và phồn vinh của khu vực Việt Nam cũng là một đối tác

Trang 25

chủ chốt trong những nỗ lực khu vực nhằm giải quyết một loạt những vấn đề

biên giới bao gồm vấn đề buôn bán người và ma tuý, tội phạm xuyên quốc gia

và HIV/AIDS

Đây là lĩnh vực mà Australia đang tăng cường chú trọng trong các

chương trình hợp tác phát triển khu vực của mình

Những sự phát triển gần đây trong quan hệ song phương lành mạnh bao

gồm sự hình thành mối quan hệ về an ninh tuy còn sơ khởi, những cuộc thảo

luận chính thức về quyền con người và mối quan hệ thương mại đa dạng

Australia quan tâm tới việc thâm nhập nhiều hơn vào thị trường của Việt

Nam, đặc biệt là thị trường đang tăng trưởng Ví dụ, Australia đã nổi lên như

một điểm hẹn quan trọng đối với lượng sinh viên du học tự tức từ Việt Nam

ngày càng tăng

c Chính sách h ợp tác phát triển của Australia

Viện trợ của Australia là đầu tư vào sự tăng trưởng, ổn định và phồn vinh

Tháng 9/2002, Bộ trưởng ngoại giao Australia Hon Alexander Powner,

đã đưa ra khung chính sách mới có tên gọi: Viện trợ Australia: sự đầu tư vào

tăng trưởng, ổn định, phồn vinh Chính sách này đã khẳng định mục tiêu của

chương trình hợp tác phát triển Australia là : “Thúc đẩy lợi ích quốc gia của

Australia bằng cách hỗ trợ các nước đang phát triển giảm nghèo và đạt được

sự phát triển bền vững” và duy trì địa bàn trọng tâm của các chương trình hay

là khu vực Châu á - Thái Bình Dương Chính sách này nhấn mạnh tầm quan

trọng của công tác quản lý nhà nước như một nền tảng để phát triển và giảm

nghèo thành công

Bản tuyên bố chính sách này đã đưa ra một loạt các ưu tiên làm cho

việc viện trợ của Australia trở nên có hiệu quả hơn bao gồm: tăng cường hoạt

động trong khuôn khổ khung phát triển của các nước đối tác; củng cố quan hệ

Trang 26

của các chương trình viện trợ các tổ chức quốc tế quan trọng khác, các tổ

chức phi chính phủ và các chuyên gia; và đẩy mạnh sử dụng những yếu tố

khuyến khích thực hiện tốt như một biện pháp củng cố trọng tâm của

Australia đối với quản lý nhà nước vào tiếp tục cải cách

d M ười năm quan hệ hợp tác phát triển song phương

Cùng với những dự án như dự án cầu Mỹ Thuận, hay dự án cung cấp

nước sạch tỉnh đã mang lại uy tín to lớn, một điều rất rõ ràng là nhiều thành

công đáng chú ý đạt được trong hàng loạt lĩnh vực, các hoạt động và ở các

quy mô khác nhau Sự hỗ trợ mạnh của Chính phủ Việt Nam là một hợp phần

chung trong mọi dự án thành công và điều này thể hiện mọt mô hình thực

tiễn, có hiệu quả và đúng lúc cho phép tạo nên những kết quả sớm Những bài

học khác nhau thu được liên quan tới tính phù hợp của môi trường thể chế của

các dự án (mặc dù môi trường này rất phức tạp để có thể đánh giá được) và nhu

cầu tập trung chú ý vào những điều kiện phổ biến và lặp lại các mô hình thành

công

Chiến lược chương trình 1998-2001 đại diện cho sự khởi đầu của nỗ

lực làm rõ trọng tâm của chương trình với ba chiến lược then chốt vào 4 lĩnh

vực (Giáo dục đào tạo, phát triển nông thôn, ytế và quản lý nhà nước) đã được

xác định Các khung liên ngành đã được xây dựng dự án – Xác định địa bàn

trọng tâm là vấn đề nổi lên trong giai đoạn chiến lược này Chiến lược mới

trình bày một cơ hội tiếp tục xây dựng và làm sâu sắc hơn trọng tâm của

chiến lược giai đoạn (1998-2001)

3.2 Tình hình cam k ết thực hiện

Trong thời kỳ 1993-2002, Australia đã tiến hành cam kết cung cấp viện

trợ cho Việt Nam theo từng giai đoạn 4 năm Trên cơ sở các chiến lược hợp

Trang 27

tác giữa hai nước, các khoản viện trợ đã cam kết đã được sử dụng vào các dự

án, chương trình cụ thể thuộc lĩnh vực mà hai nước thoả thuận

B ảng 04: Viện trợ của Australia dành cho Việt Nam giai đoạn 1992-1993

Ngu ồn DAC- 2001

Trong 4 tài khoá 1994/95 đến 1997/98, Australia cam kết viện trợ cho

Việt Nam 200 triệu đô la Australia, tập trung trong lĩnh vực chủ yếu sau:

- Phát triển nguồn nhân lực

- Phát triển cơ sở hạ tầng

- Ytế

- Phát triển tài nguyên thiên nhiên

B ảng 05: Viện trợ của Australia dành cho Việt Nam phân theo lĩnh vực

giai đoạn 1994-1198 (đơn vị: triệu đô la Australia)

Trang 28

Mặc dù mức cam kết dành cho Việt Nam là 200 triệu đô la Australia,

nhưng trên thực tế, giải ngân luôn vượt mức kế hoạch Tiếp theo sự thành

công của sự hợp tác song phương giữa hai nước trước giai đoạn

1994/95-1997/98, Australia tiếp tục cam kết viện trợ cho Việt Nam 236 triệu đô la

Australia trong giai đoạn 1998/99-2001/02 Sự gia tăng về mức cam kết đã

khẳng định chính sách của Australia hướng về Châu á, trong đó coi Việt Nam

là một bạn hàng, một đối tác ưu tiên của Australia

Trong giai đoạn 1998-2002, Chính phủ Australia đã xem xét lại chính

sách viện trợ cho các nước đang phát triển Theo đó, viện trợ của Australia sẽ

được ưu tiên dành cho các lĩnh vực sau:

- Phát triển nguồn nhân lực

- Y tế

- Phát triển nông thôn và cơ sở hạ tầng

- Quản lý nhà nước

B ảng 06: Viện trợ của Australia dành cho Việt Nam phân tích theo

l ĩnh vực giai đoạn 1998 đến 2003 (đơn vị: triệu đô la Australia)

IV T ổng số 67.8 77.6 69.6 67.6 72.2

Giáo dục và đào tạo 20.45 19.78 21.98 24.06 20.92

Phát triển nông thôn

Chương trình viện trợ của Australia chỉ dưới hình thức cung cấp viện

trợ không hoàn lại cho tất cả các nước, các lĩnh vực, chương trình Cơ quan

Trang 29

chịu trách nhiệm xây dựng chiến lược hợp tác với từng quốc gia và thực hiện

chiến lược hợp tác đó là Cơ quan phát triển quốc tế Australia (AusAID) thuộc

Bộ Ngoại giao và Ngoại thương Australia

Các chương trình, dự án viện trợ của Australia được quản lý và thực

hiện do các hãng, công ty của Australia và Niu Di Lân Tuy nhiên, gần đây đã

có một số thay đổi trong chính sách này Chủ dự án của nước tiếp nhận đã

được tham dự vào Ban Tuyển chọn kỹ thuật, đánh giá chất lượng các nhà

thầu, có sự linh hoạt hơn trong lực chọn các dịch vụ tư vấn

II Đánh giá thực trạng sử dụng oda của Australia cho xoá đói giảm nghèo ở

Việt Nam

1 Thực trạng đói nghèo ở Việt Nam

Việt Nam được xếp vào nhóm nước nghèo của hế giới Tỷ lệ hộ nghèo

đói của Việt Nam còn khá cao Theo điều tra năm 1998 là trên 37% ước tính

năm 2000 tỷ lệ này vào khoảng 32% (giảm 1/2 tỷ lệ hộ nghèo so với năm

1990) Nếu tính theo chuẩn đói nghèo về lương thực, thực phẩm năm 1998 là

15%, 2000 là 13%

Theo chuẩn nghèo của chương trình xoá đói giảm nghèo quốc gia mới,

đầu năm 2000 có khoảng 2.8 triệu hộ nghèo, chiếm 17,2% tổng số hộ trong cả

nước

Nghèo đói phổ biến trong những hộ có thu nhập thấp và bấp bênh Thu

nhập của một bộ phận lớn dân cư vẫn nằm giáp ranh mức nghèo, do vậy chỉ

cần những điều chỉnh nhỏ về chuẩn nghèo, cũng khiến họ rơi xuống ngưỡng

nghèo và làm tăng tỷ lệ nghèo Mức độ cải thiện của người nghèo chậm hơn

so với mức sống chung và đặc biệt so với nhóm mức sống cao Sự gia tăng

chênh lệch thu nhập giữa nhóm 20% giàu nhất và 20% nghèo nhất (từ 7,3 lần

năm 1993 lên 8,9 lần năm 1998)

Ngày đăng: 10/04/2013, 09:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: So sánh giữa Malaysia và Philippin - VAI TRÒ CỦA VỐN ODA ĐỐI VỚI CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
Bảng 1 So sánh giữa Malaysia và Philippin (Trang 15)
Bảng 05: Viện trợ của Australia dành cho Việt Nam phân theo lĩnh vực   giai đoạn 1994-1198 (đơn vị: triệu đô la Australia) - VAI TRÒ CỦA VỐN ODA ĐỐI VỚI CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
Bảng 05 Viện trợ của Australia dành cho Việt Nam phân theo lĩnh vực giai đoạn 1994-1198 (đơn vị: triệu đô la Australia) (Trang 27)
Bảng 06: Viện trợ của Australia dành cho Việt Nam phân tích theo   lĩnh vực giai đoạn 1998 đến 2003 (đơn vị: triệu đô la Australia) - VAI TRÒ CỦA VỐN ODA ĐỐI VỚI CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
Bảng 06 Viện trợ của Australia dành cho Việt Nam phân tích theo lĩnh vực giai đoạn 1998 đến 2003 (đơn vị: triệu đô la Australia) (Trang 28)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w