đầu tư là điều kiện quyết định sự ra đời, tồn tại và tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, là yếu tố quyết định sự phát triển và tăng trưởng của nền sản xuất xã hội.
Trang 1Mở đầu
Nhà ở luôn là mối quan tâm hàng đầu của xã hội, là một trong những nhu
cầu cơ bản không thể thiếu đối với mỗi người, mỗi gia đình Cha ông ta
thường nói “tậu trâu, cưới vợ, làm nhà/ xong ba việc ấy mới ra hồn người”
Nhà ở là một mục tiêu phấn đấu lớn lao của đời người - “sống mỗi người mỗi
nhà, chết mỗi người mỗi mồ” và cũng là phương tiện của cuộc sống - “có an
cư mới lạc nghiệp” Phấn đấu để có chỗ ở của riêng mình luôn là động cơ của
đa số dân cư Đặc biệt trong cuộc sống ngày nay, con người bị cuốn vào vòng
xoáy của cuộc sống hiện đại thì việc mong muốn có ngôi nhà thật sự để nghỉ
ngơi, phục hồi sức khoẻ sau một ngày làm việc vất vả là một thôi thúc mãnh
liệt chính đáng cần được thoả mãn Nó càng trở nên bức xúc khi dân số ngày
một tăng mà đất đai đô thị dành cho xây dựng ngày một giảm
ở nước ta, mặc dù những năm gần đây với chính sách đổi mới, nhà ở đã
được cải thiện đáng kể với nhịp độ nhanh hơn, đa dạng hơn Song hiện nay
nước ta vẫn là một nước chậm phát triển trên thế giới, chúng ta vẫn đang ở
giai đoạn đầu của công cuộc xây dựng và quá trình đô thị hoá Hơn thế nữa,
đất nước ta có những hoàn cảnh đặc biệt: hơn 30 năm chiến tranh và sau đó
một số năm quản lý yếu kém trong cơ chế tập trung bao cấp đã làm cho nhà ở
đô thị nước ta vừa yếu và thiếu trầm trọng Nếu như đặt vấn đề xây dựng nhà
ở đô thị trong khái niệm đồng bộ của nó bao gồm cả tiện nghi, trang thiết bị,
cấp thoát nước, điện, văn hoá, y tế, môi trường đô thị thì càng thấy nhà ở đô
thị nước ta còn ở một mức rất thấp, thiếu nghiêm trọng - nhiều thứ phải xây
dựng lại, sửa chữa lại, phát triển theo định hướng mới của một chiến lược
phát triển Quốc gia Vì vậy, trong thời gian gần đây Chính phủ đã can thiệp
trực tiếp vào thị trường cung cấp nhà ở bằng những chính sách khuyến khích
cho các doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà ở theo các dự án nhằm đáp ứng
một phần nhu cầu nhà ở của nhân dân Việc đầu tư xây dựng nhà ở theo các
dự án vừa đáp ứng một phần nhu cầu nhà ở của nhân dân vừa đảm bảo đồng
bộ về hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đồng thời góp phần tạo dựng bộ mặt
kiến trúc đô thị văn minh, hiện đại Công ty Cổ phần LILAMA Hà Nội thuộc
Tổng công ty Lắp Mắy Việt Nam (LILAMA)đã và đang thực hiện nhiều dự
án đầu tư xây dựng nhà ở nhằm thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và
Nhà nước
Trang 2Tuy nhiên việc tiến hành đầu tư xây dựng nhà ở theo các dự án hiện nay
đang gặp nhiều khó khăn như trong công tác giải phóng mặt bằng, thủ tục
hành chính rườm rà điều này ảnh hưởng tới tiến độ thi công và chất lượng
công trình Như vậy, giai đoạn thực hiện đầu tư xây dựng đóng vai trò quan
trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đầu tư nói chung và dự án nhà ở
nói riêng không chỉ tại Công ty Cổ phần LILAMA Hà Nội mà còn cho bất kỳ
một doanh nghiệp xây dựng nào
Luận văn với đề tài: “Một số vấn đề về thực hiện các dự án đầu tư
xây dựng nhà ở tại công ty cổ phần LILAMA Hà Nội” được lựa chọn và
nghiên cứu trong bối cảnh đó
Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm:
- Nghiên cứu và hệ thống cơ sở lý luận về: dự án đầu tư xây dựng nhà ở,
nội dung của dự án đầu tư xây dựng và trình tự của quá trình đầu tư xây dựng
nhà ở
- Qua phân tích tình hình thực hiện các dự án đầu tư xây dựng nhà ở tại
Công ty Cổ phần LILAMA Hà Nội rút ra những nhận xét về kết quả đạt được
và những tồn tại, khó khăn trong việc đầu tư xây dựng các dự án nhà tại Công ty
- Đề ra một số giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại và khó khăn
trong công tác thực hiện đầu tư xây dựng các dự nhà ở nhằm nâng cao kết quả
của công tác này
Đối tượng nghiên cứu là các dự án nhà ở dưới giác độ đầu tư và xây dựng
Phạm vi nghiên cứu là các dự án đầu tư xây dựng nhà ở tại Công ty Cổ
phần LILAMA Hà Nội Do trình tự thực hiện đầu tư xây dựng các dự án nhà
ở là tương đối giống nhau, nên trong phạm vi đề tài này không nghiên cứu hết
quá trình thực hiện đầu tư xây dựng của các dự án nhà ở mà chỉ tập trung vào
nghiên cứu một dự án cụ thể (dự án chung cư cao tầng CT5) từ đó rút ra
những nhận xét không chỉ của dự án chung cư cao tầng CT5 mà còn của các
dự án khác nữa
Phương pháp nghiên cứu: đề tài này sử dụng phương pháp duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử làm phương pháp nghiên cứu, có kết hợp chặt chẽ
với việc sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, hệ thống và các phương
pháp của nghiên cứu khoa học kinh tế
Trang 3Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn chia làm 3
chương:
Chương I: Một số vấn đề lý luận chung về dự án đầu tư xây dựng
nhà ở
Chương II: Tình hình thực hiện các dự án đầu tư xây dựng nhà ở tại
Công ty Cổ phần LILAMA Hà Nội
Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao kết quả thực hiện các
dự án đầu tư xây dựng nhà ở tại Công ty
Do thời gian và khả năng còn hạn chế, báo cáo thực tập này vì thế không
tránh khỏi những hạn chế nhất định, em rất mong nhận được những ý kiến
đóng góp của các thầy cô giáo, các anh chị và các bạn để hoàn thiện đề tài này
hơn nữa
Trang 4Chương I: Một số vấn đề lí luận chung về
dự án đầu tư xây dựng nhà ở
I Dự án đầu tư xây dựng
1 Khái niệm dự án đầu tư xây dựng
Dự án đầu tư là tế bào cơ bản của hoạt động đầu tư Đó là một tập hợp
các biện pháp có căn cứ khoa học và cơ sở pháp lí đề xuất về các mặt kĩ thuật,
công nghệ, tổ chức sản xuất, tài chính, kinh tế và xã hội để làm cơ sở cho việc
quyết định bỏ vốn đầu tư với hiệu quả tài chính đem lại cho doanh nghiệp và
hiệu quả kinh tế - xã hội đem lại cho quốc gia và xã hội lớn nhất có thể được
Theo quy chế quản lí đầu tư và xây dựng, dự án đầu tư xây dựng là một
tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc
cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số
lượng hoặc duy trì, cải tiến nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ
trong khoảng thời gian xác định
Như vậy, nói tới một dự án đầu tư xây dựng là nói tới:
- Tập hợp đề xuất về kinh tế - kĩ thuật có liên quan đến việc bỏ vốn đầu
tư;
- Tập hợp đề xuất đó phải hướng tới làm tăng về số lượng, chất lượng sản
phẩm dịch vụ và thu lợi cao;
- Tập hợp đề xuất đó phải được thực hiện trong khoảng thời gian xác
định
Dự án đầu tư xây dựng nhà ở là một bộ phận quan trọng của dự án đầu tư
xây dựng, nó rất cần thiết cho việc xây dựng nhà ở phục vụ nhu cầu có nhà ở
của mọi người dân Việc phát triển dự đầu tư xây dựng nhà ở là rất cần thiết
bởi vì:
Trước tiên nó xuất phát từ vai trò của nhà ở Giải quyết vấn đề nhà ở là
vấn đề khó khăn của nhiều quốc gia ở Việt Nam, đây là yêu cầu đặc biệt bức
xúc trong giai đoạn hiện nay đối với các cấp, các ngành trong cả nước Sự gia
tăng dân số tại các đô thị trong những năm gần đây, dự báo dân số trong
những năm sắp tới đã và đang đặt ra nhiều vấn đề đối với tăng trưởng kinh tế
xã hội và nhà ở
Trang 5Nhà ở là phạm trù bao gồm hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị kinh
tế Về mặt giá trị sử dụng, nhà ở là nhu cầu có tính bức thiết,là phương tiện
quan trọng để bảo vệ con người trước các hiện tượng thiên nhiên như: nắng,
mưa, gió bão, giá rét Về mặt giá trị kinh tế, nhà ở không những là tài sản có
tầm quan trọng đặc biệt đối với mỗi gia đình, mà còn là một trong những tiêu
chuẩn làm thước đo phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi
nước, mức sống của dân cư mỗi dân tộc Phát triển nhà ở để đáp ứng nhu cầu
nhà ở ngày càng gia tăng tạo điều kiện cải thiện đời sống cho dân, góp phần
ổn định chính trị - xã hội Phát triển nhà ở còn góp phần cải thiện cơ sở hạ
tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật đô thị, cải tạo cảnh quan và môi trường đô thị
theo hướng hiện đại văn minh Mặt khác phát triển nhà ở là điều kiện cần thiết
để tạo ra những việc làm mới, cải thiện thu nhập cho người lao động trực tiếp
hoạt động trong ngành xây dựng Phát triển nhà ở sẽ tạo hiệu ứng dây chuyền
kích cầu đầu tư và tiêu dùng cho phát triển các ngành kinh tế sản xuất và dịch
vụ khác trực tiếp và gián tiếp có liên quan (xây dựng, sản xuất vật liệu, đồ nội
thất, điện, nước và các dịch vụ sinh hoạt đô thị khác)
Sau nữa, phát triển nhà ở theo dự án là rất có lợi Trong thực tế hiện nay,
việc xây dựng nhà ở theo xu hướng tự phát, không tuân thủ quy hoạch diễn ra
rất phổ biến dẫn tới sự mất cân đối giữa nhà ở với hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng
xã hội, giữa kiến trúc cá biệt của nhà ở với kiến trúc tổng thể của đô thị, giữa
nhà ở và vị trí các giao thông công cộng đô thị, giữa diện tích nhà ở cần thiết
phải xây dựng với khả năng đáp ứng về diện tích đất xây dựng nhà ở Việc
chính quyền các đô thị không kiểm soát được việc xây dựng theo quy hoạch
đã làm ảnh hưởng đến kiến trúc, cảnh quan đô thị, môi trường sống và hậu
quả cuối cùng là chất lượng về chỗ ở chẳng những không được cải thiện mà
làm cho môi trường đô thị ngày càng thấp kém Vì vậy, thực hiện mô hình
đầu tư phát triển nhà ở theo dự án sẽ tăng nhanh quỹ nhà ở với yêu cầu vừa
đảm bảo đồng bộ về hệ thống hạ tầng kỹ thuật vừa góp phần tạo dựng bộ mặt
kiến trúc các khu dân cư đô thị văn minh, hiện đại
Như vậy đầu tư phát triển nhà ở theo dự án là rất cần thiết
2 Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng nhà ở
Dự án đầu tư xây dựng nhà ở có các đặc điểm sau:
Trang 62.1 Tính cố định
Mỗi dự án đầu tư xây dựng nhà ở luôn gắn liền với đất đai, nên cố định
về vị trí, địa điểm và không có khả năng dịch chuyển, khó có khả năng tăng
thêm về số lượng, diện tích Sản phẩm của mỗi dự án là các công trình gắn
liền với địa điểm mà chính nó được tạo ra, vì vậy những công trình này sẽ
phát huy tác dụng tại chính nơi nó được tạo ra mà không thể dịch chuyển đi
nơi khác Đặc điểm này có ảnh hưởng rất lớn đến thị trường nhà ở và hoạt
động kinh doanh nhà ở Vấn đề vị trí, địa điểm có ý nghĩa rất quan trọng đối
với giá trị của mỗi công trình nhà ở
2.2 Dự án có tính duy nhất
Mỗi dự án đầu tư xây dựng nhà ở có đặc trưng riêng biệt lại được thực
hiện trong những điều kiện khác biệt cả về địa điểm, không gian, thời gian và
môi trường luôn thay đổi đã tạo nên tính duy nhất cho mỗi dự án Mỗi công
trình nhà ở đều có những đặc điểm riêng biệt không cái nào giống cái nào Sự
khác biệt này thể hiện ở kiến trúc công trình, bố trí hạng mục công trình
Mặt khác, chính các nhà đầu tư, kiến trúc sư đều muốn tạo ra các công trình
nhà ở không giống nhau để tạo sự hấp dẫn đối với khách hàng nhưng vẫn đảm
bảo được sự thống nhất của các công trình
2.3 Dự án diễn ra ở ngoài trời và bị hạn chế về thời gian
Quá trình sản xuất của ngành khác không phụ thuộc vào điều kiện thời
tiết, mưa hay gió lạnh đối với nhà máy không có ý nghĩa gì lớn Trái lại ngành
xây dựng, tiến hành chủ yếu ngoài trời, không thể thi công xây lắp trong mưa
bão, nhiều việc khó tiến hành ba ca, mùa hè nắng gắt công nhân phải nghỉ lao
động nhiều hơn, lâu hơn Như vậy, nếu thời tiết không tốt sẽ có ảnh hưởng
lớn đến không chỉ tiến độ thực hiện công trình làm thời gian đầu tư kéo dài
mà còn ảnh hưởng đến chất lượng của công trình Mặt khác mỗi dự án đều
phải có điểm khởi đầu và điểm kết thúc rõ ràng và thường có một số kỳ hạn
liên quan Sự thành công của người quản lý dự án thường được đánh giá bằng
khả năng có đạt được đúng thời điểm kết thúc đã được định trước (tức ngày
hoàn thành) hay không ?
Sức ép trong việc hoàn thành đúng thời hạn là rất lớn mà hậu quả có thể
dẫn đến chất lượng bị giảm Nó có thể làm nản lòng những người có liên
quan, đặc biệt là chủ đầu tư nếu như dự án hoàn thành bị chậm trễ, thậm chí
Trang 7ngay cả khgi các lý do này nằm ngoài sự kiểm soát của chủ nhiệm dự án và
đội dự án của mình (ví dụ: như thời tiết quá xấu không thể tiến hành thi công
được )
2.4 Dự án đầu tư xây dựng nhà ở có liên quan đến nhiều nguồn lực khác nhau
Việc quản lý các nguồn lực của một dự án (trong trạng thái luôn luôn
biến động) sẽ phức tạp hơn các quá trình sản xuất thường ngày (trong trạng
thái ổn định) của những đơn vị sản xuất chế tạo Điều này xuất phát từ những
lý do sau:
- Một dự án đầu tư xây dựng nhà ở thường huy động một nguồn vốn lớn,
huy động nhân lực từ các phòng ban khác nhau trong tổ chức và đôi khi đỏi
hỏi họ phải làm thêm ngoài giờ hoặc thuê mướn từ ngoài tổ chức
- Nhiều người không nắm vững các công việc theo thủ tục sẽ làm mất
thời giam và phí tổn nguồn lực
- Mỗi người phải làm việc với những người có trình độ và kỹ năng khác
với kinh nghiệm có được trước đây của mình
3 Phân loại dự án đầu tư xây dựng
Các dự án đầu tư xây dựng được phân loại như sau :
3.1 Phân loại theo tính chất và quy mô vốn đầu tư
Dự án đầu tư xây dựng được chia thành các nhóm A, B, C như sau;
- Dự án thuộc nhóm A: là những dự án quan trọng nhằm bảo vệ an ninh
quốc phòng có tính chất bí mật, có ý nghĩa chính trị - xã hội quan trọng, thành
lập và xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp: các dự án xây dựng khu nhà
ở có mức tổng vốn đầu tư trên 400 tỷ đồng và các dự án khác
- Dự án nhóm B: các dự án xây dựng nhà ở thuộc nhóm B là những dự án
có tổng vốn đầu tư từ 20 đến 400 tỷ đồng
- Dự án thuộc nhóm C: các dự án xây dựng nhà ở thuộc nhóm C là những
dự án có tổng vốn đầu tư dưới 20 tỷ đồng
3.2 Phân loại theo nguồn vốn
Theo giác độ này các dự án đầu tư xây dựng bao gồm:
- Dự án sử dụng vốn đầu tư nước ngoài:
Nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài bao gồm: nguồn viện trợ phát triển
chính thức (ODA), nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nguồn viện trợ
không chính thức, nguồn vốn vay thương mại Các nguồn vốn ODA, FDI,
Trang 8nguồn viện trợ không chính thức hầu như không được đầu tư cho các dự án
xây dựng nhà ở bởi vì nguồn vốn ODA thường tập trung cho đầu tư vào các
công trình làm động lực cho cải cách kinh tế như giao thông, thuỷ lợi ;
nguồn vốn FDI thường tập trung vào các dự án nhanh thu lại lợi nhuận, phát
triển quy mô lớn và vừa; nguồn viện trợ không chính thức chủ yếu tập trung
tài trợ nhân đạo và một ít đầu tư cơ sở hạ tầng nhỏ nông thôn nên ít có điều
kiện tranh thủ tài trợ cho phát triển nhà ở đô thị Riêng đối các dự án có sử
dụng vốn vay thương mại: đây là nguồn vốn mà doanh nghiệp tự vay tự trả
thông qua bảo lãnh vay Tuy lãi suất thương mại nhìn chung thấp so với lãi
suất vay nội tệ trong nước nhưng việc xác định vay và trả như thế nào là vấn
đề cần cân nhắc kỹ lưỡng Đây là nguồn vốn mà nước ta có thể thu hút để
thực hiện các dự án xây dựng nhà ở đô thị bởi lãi suất và thời hạn vay thuận
lợi cho phát triển nhà ở
- Dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước và các quỹ của các ngành và
doanh nghiệp
Các dự án sử dụng nguồn vốn này chủ yếu để đầu tư:
+ Xây dựng quỹ nhà mới để bán và cho thuê;
+ Cấp vốn cho các doanh nghiệp phát triển và kinh doanh nhà ở;
+ Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng gắn liền với các khu nhà ở;
+ Nguồn vốn này còn dùng để hỗ trợ thanh toán đền bù giải phóng mặt
bằng, xây dựng các căn nhà giá rẻ để bán và cho thuê Xây dựng và cải tạo
các khu nhà ổ chuột
- Dự án đầu tư xây dựng không sử dụng vốn ngân sách Nhà nước (dự án
của tư nhân, tổ chức kinh tế không thuộc doanh nghiệp Nhà nước)
Trong nền kinh tế thị trường, tự chủ kinh doanh là động lực và môi
trường tạo điều kiện để các doanh nghiệp vươn ra tự cân đối đủ vốn cho xây
dựng kinh doanh nhà ở Đặc biệt vốn cho xây dựng nhà đô thị thường có thời
gian đầu tư dài, khối lượng đầu tư lớn, thu hồi vốn chậm Vì vậy, xu hướng
huy động đa dạng nguồn vốn cho các dự án đầu tư xây dựng nhà ở là “xu thế
mở” đối với các doanh nghiệp xây dựng phát triển nhà ở đô thị Với các hình
thức như sau:
+ Hình thức liên doanh nhiều chủ đầu tư để huy động vốn cổ phần:
+ Các doanh nghiệp tự vay, tự trả vốn nước ngoài, vốn vay của ngân
hàng;
Trang 9+ Huy động vốn của khách hàng mua nhà: ký hợp đồng mua bán nhà
trong tương lai, vốn thu trước một phần và bàn giao nhà ở sau khi xây dựng
xong
3.3 Theo hình thức đầu tư
Theo giác độ này bao gồm các loại dự án đầu tư xây dựng sau:
- Dự án xây dựng các khu tập trung do một chủ đầu tư chính với nhiều
chủ đầu tư thứ phát của các dự án thành phần như: khu đô thị mới; khu công
nghiệp tập trung
- Dự án hoặc công trình riêng lẻ: do một chủ đầu tư thực hiện
Đối với các dự án đầu tư xây dựng nhà ở riêng lẻ do một chủ đầu tư thực
hiện thường xảy ra đối với các công trình xây dựng nhà ở của tư nhân
4 Nội dung chủ yếu của dự án đầu tư xây dựng
Nội dung của dự án đầu tư xây dựng là một vấn đề cực kỳ quan trọng của
hoạt động đầu tư, vì nó quyết định chất lượng và kết quả của hoạt động này
Nội dung chủ yếu của dự án đầu tư xây dựng được thể hiện qua báo cáo
nghiên cứu tiền khả thi và khả thi
4.1 Nội dung của báo cáo nghiên cứu nghiên cứu tiền khả thi
Tương ứng với báo cáo nghiên cứu tiền khả thi là dự án nghiên tiền khả
thi Dự án tiền khả thi là dự án được nghiên cứu trước khi đi vào nghiên cứu
dự án khả thi và do nghiên cứu tiền khả thi đảm nhiệm; đó là bước đi tất yếu
trước khi chuyển sang nghiên cứu khả thi, tức là chỉ khi dự án đã có những
dấu hiệu cơ bản chứng tỏ là có thể chấp nhận được, mới đi vào nghiên cứu
khả thi Sở dĩ phải phân chia như vậy là để đảm bảo chất lượng của dự án,
tránh đi ngay vào cụ thể kèm theo các chi phí nghiên cứu rất tốn kém để tránh
lãng phí, nếu như nửa chừng phát hiện ra sự bất hợp lý của dự án
Nội dung của báo cáo nghiên cứu tiền khả thi bao gồm các vấn đề sau
đây:
4.1.1 Nghiên c ứu về sự cần thiết phải đầu tư, các điều kiện thuận lợi và khó
kh ăn
• Các căn cứ, cơ sở xác định sự cần thiết của nghiên cứu dự án đầu tư
- Các căn cứ: tài nguyên, các điều kiện tự nhiên, các quy hoạch kế hoạch
dài hạn, các chính sách kinh tế xã hội và các chủ trương của các cấp chính
quyền và điều kiện kinh tế - xã hội
Trang 10- Phân tích dự báo: về thị trường, khả năng thâm nhập thị trường, nhu
cầu tăng thêm sản phẩm và dịch vụ
• Các thuận lợi và khó khăn
4.1.2 D ự kiến quy mô đầu tư
Bao gồm: mục tiêu của dự án; sơ bộ phân tích các phương án sản phẩm
và dịch vụ; đề xuất các phương án về hình thức đầu tư: lựa chọn cải tạo, mở
rộng, đầu tư mới; tính toán đề xuất quy mô (sản xuất và dịch vụ) tăng thêm
hoặc xây dựng mới
4.1.3 Ch ọn khu vực địa điểm xây dựng và dự kiến nhu cầu sử dụng đất trên
c ơ sở giảm tới mức tối đa việc sử dụng đất có ảnh hưởng về môi trường, xã
h ội và tái định cư (nếu có)
Trong phần này phải tiến hành phân tích, đề nghị khu vực địa điểm và dự
kiến địa điểm cụ thể Cần có từ hai phương án trở lên để so sánh, lựa chọn
Mỗi phương án cần phân tích các mặt sau:
- Các yêu cầu về mặt bằng cần thoả mãn dự kiến nhu cầu sử dụng đất
- Các đánh giá tổng quát về các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí xây dựng
và các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm
- Mối quan hệ trong quy hoạch tổng thể ngành và vùng lãnh thổ
- Các mặt xã hội của địa điểm: những đặc điểm của chính sách liên quan
đến đầu tư phát triển khu vực Hiện trạng của địa điểm, những thuận lợi và
khó khăn trong việc sử dụng đất đai và mặt bằng, những vấn đề về phong tục
tập quán và ý kiến của nhân dân địa phương có liên quan đến việc chọn địa
điểm (các tài liệu liên quan ở mức khái quát)
- Các yêu cầu cần quan tầm về môi trường, xã hội và tái định cư (có phân
tích đánh giá cụ thể)
4.1.4 Phân tích, l ựa chọn sơ bộ về công nghệ được đề xuất và các điều kiện
cung c ấp vật tư, thiết bị, nguyên liệu, năng lượng, dịch vụ, cơ sở hạ tầng
Bao gồm các vấn đề:
- Giới thiệu khái quát các phương án công nghệ được đề xuất lựa chọn,
các ưu nhược điểm của các phương án về mặt kỹ thuật, kinh tế, an toàn, bảo
vệ môi trường
Trang 11- Các phương hướng giải quyết về nguồn vốn và điều kiện cung cấp
trang bị chuyển giao công nghệ, khả năng tiếp nhận
- Các nhu cầu cung cấp yếu tố đầu vào cho dây chuyền công nghệ, yêu
cầu về cơ sở hạ tầng và dịch vụ liên quan
- Trên cơ sở các phân tích trên sẽ lựa chọn phương án cuối cùng
Trang 124.1.5 Phân tích l ựa chọn sơ bộ phương án xây dựng
Bao gồm các vấn đề: yêu cầu về điều kiện địa hình và địa chất công
trình; các yêu cầu về đặc điểm xây lắp; sơ bộ dự kiến các giải pháp kiến trúc,
kết cấu và tổ chức thi công
4.1.6 Xác định sơ bộ tổng mức đầu tư, phương án huy động vốn và trả nợ, thu lãi
Bao gồm các vấn đề: xác định sơ bộ tổng mức đầu tư tối đa có phân ra
vốn cố định, vốn lưu động; xác định sơ bộ các nguồn vốn, điều kiện tạo
nguồn vốn và khả năng nguồn vốn; ước tính chi phí sản xuất, dự trù doanh
thu, lỗ lãi, khả năng hoàn vốn, trả nợ được tính theo phương pháp đơn giản
nhất
4.1.7 Tính toán s ơ bộ hiệu quả đầu tư về mặt kinh tế - xã hội
Bao gồm: ước tính các chỉ tiêu: giá trị gia tăng, đóng góp cho ngân sách
Nhà nước ; ước tính các lợi ích xã hội: tăng việc làm và tăng thu nhập cho
người lao động
4.1.8 Xác định tính độc lập khi vận hành, khai thác của dự án thành phần
ho ặc tiền dự án (nếu có)
4.2 Nội dung của báo cáo nghiên cứu khả thi
Nghiên cứu khả thi là bước sàng lọc lần cuối cùng để lựa chọn được dự
án tối ưu ở giai đoạn này phải khảng định cơ hội đầu tư có khả thi hay
không? Có vững chắc, có hiệu quả hay không?
Báo cáo nghiên cứu khả thi bao gồm các nội dung sau:
4.2.1 Nh ững căn cứ để xác định sự cần thiết phải đầu tư
Bao gồm các vấn đề sau:
- Xuất xứ và các căn cứ pháp lý
- Nguồn gốc tài liệu sử dụng
- Phân tích kết quả điều tra cơ bản về tự nhiên, tài nguyên, kinh tế - xã hội
- Các chính sách kinh tế xã hội có liên quan đến phát triển ngành, những
ưu tiên được phân định
- Các đặc điểm về quy hoạch phát triển kinh tế
- Mục tiêu đầu tư:
- Phân tích thị trường: căn cứ về thị trường gồm:
Trang 13+ Đánh giá nhu cầu hiện tại, dự báo nhu cầu tương lai về các mặt số
lượng, chất lượng, giá cả Các khả năng đáp ứng hiện có Dự báo về mức độ
gia tăng cung cấp sản phẩm trong tương lai, sự thiếu hụt so với nhu cầu thị
trường
+ Các căn cứ về khả năng phát triển, khả năng sản xuất: quy mô, năng
lực hiện của ngành và năng lực huy động Đánh giá tình trạng hoạt động và
nhịp độ tăng trưởng tương lai (số lượng, chất lượng, tiêu thụ, các yếu tố hạn
chế)
- Sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm được lựa chọn (đặc điểm, tính năng, tác
dụng, quy cách, tiêu chuẩn)
4.2.2 L ựa chọn hình thức đầu tư
- Phân tích các điều kiện và lợi ích của việc đầu tư theo chiều sâu, mở
rộng các cơ sở hiện có so với đầu tư xây dựng mới (áp dụng đối với các
doanh nghiệp nhà nước), từ đó để lựa chọn phương án đầu tư
- Phân tích các điều kiện, các yếu tố để lựa chọn, tổ chức đầu tư (công ty
cổ phần, công ty liên doanh, doanh nghiệp nhà nước )
4.2.3 Ch ương trình sản xuất và các yếu tố phải đáp ứng (đối với các dự án có
s ản xuất)
Sản xuất hay dịch vụ do dự án cung cấp, các nhu cầu đầu vào và các biện
pháp bảo đảm, chương trình cung cấp nguyên vật liệu cho sản xuất, chương
trình bán hàng
4.2.4 Các ph ương án địa điểm cụ thể (hoặc vùng địa điểm, tuyến công trình)
- Địa danh hành chính của địa điểm, vĩ độ và kinh độ (đối với dự án lớn)
- Với các công trình đã có dự án tiền khả thi, thì ở bước nghiên cứu khả
thi chỉ cần lựa chọn địa điểm cụ thể, phải đề xuất ít nhất hai phương án để so
sánh
- Phương án địa điểm phải dựa trên các tài liệu điều tra cơ bản, các tài
liệu khảo sát đủ tin cậy, các giải pháp hạn chế tới mức tối thiểu các ảnh hưởng
xấu đến môi trường, xã hội
- Phương án địa điểm phải phù hợp với quy hoạch chung
- Các vấn đề phải phân tích khi chọn địa điểm:
+ Điều kiện tự nhiên: khí tượng, thuỷ văn, nguồn nước, địa chất, địa chất
công trình, địa hình, hiện trạng đất đai và tài nguyên, môi trường sinh thái
Trang 14+ Điều kiện xã hội, kinh tế và kỹ thuật: tình hình dân sinh, phong tục tập
quán, các chính sách khu vực, các hoạt động kinh tế và trình độ kỹ thuật, các
điều kiện về cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội (đường xá, điện nước, thông
4.2.5.Ph ương án giải phóng mặt bằng, kế hoạch tái định cư (nếu có)
Bao gồm các nội dung:
- Các yêu cầu về giải phóng mặt bằng:
+ Số chủng loại các đối tượng và số lượng mỗi chủng loại phải di dời
khỏi mặt bằng
+ Các phương án di dời (trong trường hợp phức tạp)
+ Chi phí và tiến độ di dời
- Các yêu cầu về tái định cư (nếu có): số lượng hộ gia đình phải di dân,
chi phí đền bù cho di dân và xây dựng khu tái định cư (nếu có), tiến độ di dân
4.2.6 Phân tích l ựa chọn phương án kỹ thuật, công nghệ
Bao gồm các nội dung:
4.2.6.1 Công nghệ
- Các phương án công nghệ chính xác được đề xuất để lựa chọn, quy
trình sản xuất có thể được chấp nhận, đánh giá mức độ hiện đại, tính thích
hợp về kinh tế các ưu nhược điểm của phương án công nghệ được lựa chọn
(thông qua việc so sánh một số chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật như quy cách, chất
lượng, năng suất, lao động, giá thành )
- Nội dung chuyển giao công nghệ và sự cần thiết phải chuyển giao công
nghệ, giá cả, phương thức thanh toán, các điều kiện tiếp nhận, chuyển giao,
Trang 154.2.6.2 Thiết bị
- Các phương án thiết bị được nêu phải có các nội dung sau: danh mục
thiết bị; phương án mua sắm thiết bị; tổng chi phí mua sắm thiết bị
4.2.6.3 Đánh giá tác động và biện pháp xử lí
- Tác động của dự án đến môi trường sinh thái và giải pháp xử lí, khả
năng gây ô nhiễm hoặc làm biến đổi môi trường do dự án gây nên (môi
trường nước, không khí, đất đai, tiếng ồn ) và các hậu quả có thể có
- Các giải pháp chống ô nhiễm và bảo vệ môi trường, điều kiện thực hiện
và chi phí
- Các giải pháp xử lí chất thải: loại chất thải, các phương tiện và chi phí
xử lí
4.2.7 Các ph ương án kiến trúc, giải pháp xây dựng, thiết kế sơ bộ của các
ph ương án đề nghị lựa chọn, giải pháp quản lí và bảo vệ môi trường
Bao gồm các nội dung sau:
*Thiết kế quy hoạch, kiến trúc và kết cấu:
- Phương án quy hoạch tổng thể mặt bằng (có bản vẽ kèm theo)
- Xác định tiêu chuẩn của công trình xây dựng
- Phương án kiến trúc (kèm theo bản vẽ mặt cắt, mặt bằng, phối cảnh nếu
cần)
- Khối lượng các hạng công trình và chi phí xây dựng có phụ biểu kèm
theo
- Các biện pháp xây dựng có liên quan đến chữa cháy, vệ sinh công
nghiệp, an toàn sản xuất và lao động cho xí nghiệp
* Phần thiết kế tổ chức thi công xây dựng
- Khối lượng công việc phải thực hiện
- Các giải pháp công nghệ chủ yếu
- Các dự kiến về tổng mặt bằng thi công chủ yếu
- Thời gian và tiến độ thi công
+ Giải pháp cung cấp nguyên vật liệu chính
+ Giải pháp về công trình phụ trợ
+ Giải pháp về tuyển mộ lao động chính
+ Giải pháp về công trình tạm phục vụ thi công
* Các giải pháp chính về bảo vệ môi trường trong thời gian thi công
Trang 16Các giải pháp chính về bảo vệ môi trường trong thời gian thi công gồm
có: vệ sinh công trường, bảo vệ các công trình hiện có và lân cận, chống ô
nhiễm tiếng ồn, bụi trong thời gian xây dựng
4.2.8 Ph ương án về vốn và hoàn trả vốn đầu tư
Bao gồm các nội dung sau:
- Xác định các loại nguồn vốn, lãi suất, khả năng cấp vốn
- Xác định tổng mức đầu tư và nhu cầu cầu theo tiến độ:
+ Tổng mức đầu tư bao gồm chi phí cho các khâu: chuẩn bị đầu tư,
chuẩn bị thực hiện đầu tư, thực hiện đầu tư (xây dựng công trình);
+ Nhu cầu về vốn theo các giai đoạn, các nguồn đáp ứng
+ Các hình thức vốn : bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ
- Các bảng biểu thống kê nhu cầu về vốn
- Khả năng hoàn vốn đầu tư
4.2.9 Ph ương án quản lý khai thác dự án và sử dụng lao động
Bao gồm các nội dung:
- Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý: sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý; sơ
đồ cơ cấu tổ chức sản xuất; sơ đồ tổ chức tiêu thụ
- Nhu cầu về nhân lực: nhu cầu về nhân lực cho bộ phận quản lý; nhu cầu
lao động trực tiếp
Các nhu cầu trên có phân biệt cho từng thời kỳ
- Các chi phí có liên quan đến nhân lực và quản lý: chi phí cho nhân lực
của bộ máy quản lý chung của doanh nghiệp; chi phí cho nhân lực của bộ máy
quản lý phân xưởng; các chi phí quản lý khác; tổng chi phí cho công nhân
viên; chi phí đào tạo (nếu có), chi phí bảo hiểm
4.2.10 Phân tích hi ệu quả đầu tư
Nội dung của phân tích hiệu quả đầu tư của dự án gồm có:
- Phân tích tài chính;
- Phân tích kinh tế - xã hội
Những vấn đề này được trình bày ở mục III
4.2.11 Các m ốc thời gian chính thực hiện dự án
Bao gồm các nội dung sau:
- Các mốc thời gian thực hiện theo ba giai đoanh đầu tư;
Trang 17- Thời gian khởi công (chậm nhất), thời hạn hoàn thành đưa công trình
vào khai thác sử dụng (chậm nhất)
- Dự kiến kế hoạch đấu thầu cho dự án nhóm C, cho các dự án nhóm A,B
có thể dự kiến kế hoạch đầu thầu sau khi có quyết định đầu tư
4.2.12 Ki ến nghị áp dụng hình thức quản lý thực hiện dự án
4.2.13 Xác định chủ đầu tư
4.2.14 M ối quan hệ và trách nhiệm của các cơ quan có liên quan đến dự án
4.3 Sự khác nhau giữa nghiên cứu tiền khả thi và nghiên cứu khả thi
Nghiên cứu tiển khả thi có một số đặc điểm khác với nghiên cứu khả thi
như sau:
- Nghiên cứu tiền khả thi sử dụng các thông tin về thị trường, công nghệ,
giá cả có độ chính xác không cao bằng nghiên cứu khả thi
- Các giải pháp về công nghệ, kỹ thuật, tổ chức và tài chính trong nghiên
cứu tiền khả thi chưa được sâu bằng nghiên cứu khả thi
- Khi phân tích hiệu quả tài chính ở bước nghiên cứu tiền khả thi không
tiến hành cho tất cả các năm của đời dự án, mà thường chỉ nghiên cứu cho
một năm đại diện của dự án; trong khi đó nghiên cứu khả thi phải tiến hành
phân tích tính toán cho tất cả các năm của đời dự án
- Nghiên cứu tiền khả thi chưa tính đến sự biến động của các chỉ tiêu
kinh tế theo các năm của đời dự án (phân tích mang tính chất tĩnh), còn
nghiên cứu khả thi lại có chú ý đến sự biến động các chỉ tiêu (phân tích mang
tính chất động)
Nghiên cứu tiền khả thi và khả thi thường đỏi hỏi các chi phí tương đối
lớn để đảm bảo chất lượng của dự án đầu tư Do đó trong Quy chế quản lý
đầu tư và xây dựng đã quy định rõ các trường hợp phải tiến hành cả hai hoặc
chỉ một loại nghiên cứu trên:
+ Đối với dự án nhóm A tiến hành hai bước: nghiên cứu tiền khả thi và
nghiên cứu khả thi loại trừ những trường hợp đặc biệt được Thủ tướng Chính
phủ cho phép chỉ lập báo cáo nghiên cứu khả thi
+ Đối với một số dự án nhóm B xét thấy cần thiết mới tiến hành hai bước
nghiên cứu tiền khả thi và nghiên cứu khả thi
+ Đối với các dự án còn lại được thực hiện một bước nghiên cứu khả thi
Trang 18II Nội dung tổ chức thực hiện các dự án đầu tư xây dựng nhà ở
1 Khảo sát, thiết kế xây dựng dự án
1.1 Điều tra khảo sát thu thập thông cần thiết
Khảo sát về điều kiện tự nhiên môi trường xung quanh: nhằm mục đích
có được những số liệu để dự kiến bố trí, quy hoạch, xây dựng công trình trên
tổng thể mặt bằng xây dựng cho hợp lý với cảnh quan xung quanh, chọn giải
pháp xây dựng bảo vệ công trình Đồng thời ngăn chặn những ảnh hưởng xấu
có thể xảy ra trong quá trình thi công và khi đưa vào sử dụng;
- Điều tra khảo sát địa hình: để xem xét hiện trạng khu đất trước đây như
thế nào để phục vụ công tác thi công san lấp tạo mặt bằng xây dựng
Các công trình xây dựng hiện có trên diện tích xây dựng có thể lợi dụng
những lợi thế sẵn có vào việc phục vụ cho thi công công trình Ví dụ các trục
đường giao thông đi qua, các công trình nhà ở của dân, diện tích đất canh tác,
mạng lưới cung cấp điện, nước sinh hoạt cho dự án khi đi vào hoạt động
Những yếu tố này là cần thiết trong lập dự án xây dựng nhà ở Bởi nó ảnh
hưởng trực tiếp đến phương án giải toả mặt bằng, đền bù, di dân, xây dựng
phương án cung cấp điện nước sinh hoạt cho dân khi công trình nhà ở được
khánh thành và đưa vào sử dụng
- Điều tra khảo sát địa chất công trình và địa chất thuỷ văn nhằm biết
được cấu tạo địa chất khu đất, nguồn nước cung cấp chủ yếu của khu vực,
phân tích chất lượng nước cũng như thành phận hoá học của nước từ đó hạn
chế tối đa những ảnh hưởng xấu đến công tác thi công xây dựng Các cán bộ
thiết kế phải dựa vào căn cứ này để đưa ra phương án xây dựng công trình
Ngoài ra còn phải dựa vào bản đồ vẽ địa hình sẵn có như: phân tích bình đồ,
bản đồ quy hoạch đất kiểm tra xem xét giữa các bản vẽ thu thập được trắc địa
mặt bằng độ cao, tạo độ các lớp đất đá cấu tạo của từng lớp
1.2 Thiết kế xây dựng công trình
Sau khi có được báo cáo nghiên cứu khả thi thì phải tiến hành thiết kế
công trình trước khi đi vào thi công
Thiết kế công trình xây dựng là việc hình dung tạo ra các bản vẽ kĩ thuật,
các tài liệu thuyết minh, các bảng, các chỉ tiêu tính toán vẽ xây dựng công
trình phù hợp với chủ trương đầu tư Kết quả của quá trình này là đồ án thiết
kế ra đời Đồ án thiết kế là một hệ thống các bản vẽ và các chỉ tiêu tính toán
Trang 19có cơ sở khoa học để thuyết minh sự hợp lý đúng đắn về kinh tế kỹ thuật của
công trình được xây dựng nhằm thực hiện chủ trương đầu tư đã đề ra với chất
lượng hiệu quả cao
1.2.1 Các c ăn cứ để thiết kế xây dựng công trình
Để thiết kế xây dựng công trình căn cứ vào các tài liệu hợp pháp có sự
xác nhận bằng văn bản, bằng dấu của cơ quan có thẩm quyền: dựa vào báo
cáo nghiên cứu khả thi đã được phê duyệt, các tài liệu về thăm dò, khảo sát
địa hình, địa chất, thuỷ văn, khí tượng và các tài liệu khác khi dùng để thiết kế
xây dựng các công trình phải do các tổ chức có tư cách pháp lý về các lĩnh
vực nêu trên cung cấp Việc thiết kế xây dựng phải tuân theo quy định chuẩn
xây dựng, trên chuẩn kỹ thuật xây dựng do Nhà nước ban hành
1.2.2 Trình t ự thiết kế
Nếu coi việc tạo ra một công trình xây dựng là một quá trình từ khâu
chuẩn bị đầu tư cho đến khi kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác sử
dụng thì thiết kế xây dựng gồm ba giai đoạn:
- Giai đoạn một: Thiết kế sơ bộ
thiết kế sơ bộ được tiến hành trong lập báo cáo nghiên cứu khả thi Nội
dungđược thực hiện trên cơ sở phương án công nghệ tạm thời lựa chọn, quy
mô và kiến trúc công trình
- Giai đoạn hai: Thiết kế chính thức
Sau khi dự án có quyết định đầu tư và xác định được nhà nước cung cấp
thiết bị, cung cấp thiết kế công nghệ, việc thiết kế xây công trình được thực
hiện như sau:
+ Đối với công trình có yêu cầu kỹ thuật cao, địa chất phức tạp thì phải
thực hiện thiết kế kỹ thuật (thiết kế triển khai) trước khi thiết kế bản vẽ thi
công (thiết kế chi tiết)
+ Đối với công trình kỹ thuật đơn giản hoặc đã có thiết kế mẫu, xử lý nền
móng không phức tạp thì chỉ thực hiện bước thiết kế kỹ thuật- thi công
Thực hiện thiết kế kỹ thuật phải căn cứ vào mục tiêu đầu tư và các nội
dung yêu cầu trong quyết định đầu tư, quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật được
đáp ứng
Trang 20Trong trường hợp đặc biệt, nếu phải thay đổi thiết kế thì phải trình lại
báo cáo nghiên cứu khả thi và được sự chấp thuận của người có thẩm quyền
quyết định đầu tư
- Giai đoạn ba: Hậu thiết kế
Trong quá trình thi công nếu phát hiện những sai lệch xét thấy cần thiết
thì vẫn phải sửa chữa chỉnh lý cho phù hợp
1.2.3 T ổ chức thiết kế
Công tác thiết kế phải do tổ chức, cá nhân có chuyên môn thực hiện Tuỳ
điều kiện cụ thể của dự án, chủ đầu tư có thể ký kết hợp đồng với các tổ chức
tư vấn thiết kế hoặc nhà thầu xây dựng thực hiện các bước thiết kế
Mỗi đồ án thiết kế phải có người chủ trì thiết kế, đồ án thiết kế lớn
(nhóm A,B) phải có chủ nhiệm đồ án, người chủ trì thiết kế hoặc chủ nhiệm
đồ án phải chịu trách nhiệm cá nhân về chất lượng và tính đúng đắn của đồ án
thiết kế, giải pháp kỹ thuật nêu ra và tiên lượng thiết kế
2 Chuẩn bị mặt bằng xây dựng
- Việc chuẩn bị mặt bằng xây dựng bao gồm: giải phóng mặt bằng và làm
công tác chuẩn bị
- Trước khi giải phóng mặt bằng cần phải:
+ Xác định mạng lưới cọc mốc toạ độ và cao độ của khu đất xây dựng
+ Xác định các công trình và cây xanh hiện có cần được giữ lại
- Công tác giải phóng mặt bằng phải làm toàn bộ hoặc từng phần trên
khu đất xây dựng theo thiết kế tổ chức xây dựng bao gồm: chặt cây, phá dỡ
công trình cũ, di dân chuyển các hệ thống kỹ thuật (điện, nước, thông tin )
- Công tác chuẩn bị mặt bằng thi công gồm: san, đắp mặt bằng, xây dựng
các công trình phục vụ thi công: kho, xưởng, bãi, đường đi, điện nước công
tác chuẩn bị mặt bằng thi công phải phù hợp với thiết kế tổ chức thi công
- Khi tổ chức đền bù giải phóng mặt bằng cần phối hợp với UBND địa
phương để thống nhất phương án đền bù, kế hoạch giải phóng mặt bằng, kinh
phí, tiến độ và việc thanh quyết toán giải phóng mặt bằng để UBND địa
phương tổ chức thực hiện việc đền bù, giải phóng mặt bằng xây dựng theo
tiến độ và bàn giao mặt bằng xây dựng cho nhà thầu xây dựng
- Khi nghiệm thu mặt bằng xây dựng phải tiến hành theo các bước sau:
Trang 21+ Sau khi phá dỡ các công trình và hệ thống kỹ thuật ngầm phải san bằng
và đầm nén chặt các hào và hố đào theo độ chặt yêu cầu;
+ Hệ thống thoát nước tạm thời phải đảm bảo thoát nước tốt, mặt bằng
không bị đọng nước;
+ Công tác san, lấp phải được hoàn thành đúng thiết kế, bảo đảm độ chặt
và cao độ thiết kế
3 Tổ chức thi công xây dựng
3.1 Xác định tiến độ thi công
Trước khi bước vào thi công xây dựng cần phải xác định tiến độ thi công,
đó là căn cứ rất cơ bản để tổ chức thi công xây dựng công trình, người điều
hành sản xuất trên công trường luôn luôn lấy việc thực hiện đúng tiến độ làm
mục tiêu hoạt động Thực hiện đúng tiến độ thi công sẽ đạt được hiệu quả
kinh tế - xã hội của cả doanh nghiệp và của cả nhà nước
Tiến độ thi công công trình bao gồm tổng tiến độ thi công và tiến độ thi
công từng giai đoạn Tổng tiến độ thi công là tổng tiến số thời gian xây dựng
công trình, đây cũng là thời hạn bắt đầu đưa công trình vào khai thác sử dụng
Dựa vào tổng tiến độ thi công mà xác định những nhu cầu cơ bản phải đáp
ứng cho xây dựng ở từng giai đoạn như phân phối vốn cho từng giai đoạn thi
công, xác định nhu cầu vật tư, nhân lực và thiết bị cần sử dụng ở mỗi giai
đoạn Tiến độ thi công ở từng giai đoạn là hạn định lượng thời gian cho phép
thi công ở mỗi giai đoạn, từ giai đoạn chuẩn bị đến giai đoạn hoàn thiện công
trình Từ khối lượng công việc, tính chất công việc và thời hạn thi công cho
phép lựa chọn các biện phép thi công thích hợp
Tiến độ thi công có thể lập theo sơ đồ mạng, dựa vào thiết kế kỹ thuật và
xác định khối lượng công việc cụ thể cho từng giai đoạn, từ đó chỉ rõ tên và
khối lượng của công việc, phân đoạn thi công, trình tự của công tác thi công
và các nhu cầu vật chất khác
3.2 Tổ chức thi công
3.2.1 T ổ chức quá trình lao động
Tổ chức quá trình lao động trong thi công xây dựng công trình bao gồm
những nội dung sau :
Trang 22- Bố trí nơi làm việc: nơi làm việc của công nhân xây dựng là vị trí có
không gian cần thiết để họ thực hiện các thao tác xây dựng hoặc lắp đặt các
chi tiết công trình Nơi làm việc phụ thuộc vào cấu tạo công trình
- Bố trí các tổ đội sản xuất trong thi công
- Xác định lượng lao động cho mỗi loại công việc
3.2.2 T ổ chức quá trình thi công chính
- Lựa chọn phương án tổ chức thi công: thực chất của việc lựa chọn
phương án thi công là lựa chọn các giải pháp kỹ thuật cụ thể để tổ chức xây
lắp đạt hiệu quả tốt nhất về mặt thời gian, về chất lượng công trình và chi phí
thi công phải thấp nhất Vì vậy phải xây dựng được nhiều phương án tổ chức
thi công khác nhau cho cùng một phần việc hay một giai đoạn thi công Trên
cơ sở đó mà lựa chọn lấy phương án tối ưu về mặt kỹ thuật, về mặt tổ chức sử
dụng những yếu tố nguồn lực đầu vào và chi phí thi công phải thấp nhất
+ Xét về mặt kỹ thuật để lựa chọn phương án: nghiên cứu kỹ thiết kế kỹ
thuật để xác định điểm dừng thi công của từng công việc, trên cơ sở đó mà
xác định các giai đoạn thi công Lựa chọn những thiết bị phù hợp về tính
năng, tác dụng và có thể hoạt động được trong mặt bằng thi công cho phép
Phương án phải thể hiện rõ yêu cầu của các tiêu chuẩn, quy chuẩn chất lượng
công trình và sau cùng là thời gian cần thiết cho thi công là bao lâu
+ Về mặt tổ chức thi công và tổ chức sử dụng những yếu tố nguồn lực
đầu vào: nội dung của các phương án phải thể hiện trình tự xây dựng công
trình từng thời điểm phải hoàn thành mỗi bộ phận kết cấu, phải thể hiện được
các điều kiện bảo đảm cho thiết bị thi công có thể hoạt động bình thường Thể
hiện được những điều kiện cụ thể có thể cung cấp vật liệu, cung cấp điện
nước và thoả mãn nhu cầu về thông tin liên lạc hợp lý nhất, thuận lợi nhất
- Xác định các yếu tố đầu vào phục vụ quá trình tổ chức thi công
+ Yêu cầu sử dụng vật liệu xây dựng chủ yếu cho công trình xuất phát từ
thiết kế kiến trúc và kết cấu công trình quyết định, ngoài ra các giải pháp tổ
chức kỹ thuật thi công cũng chi phối nhiều đến chủng loại và lượng tiêu hao
vật liệu
Lượng vật tư cần dùng cho thi phụ thuộc vào khối lượng công tác thi
công và định mức tiêu hao vật tư cho một đơn vị khối lượng tính bằng hiện
vật
Trang 23Lượng vật tư cần dùng
Khối lượng công tác thi công tính bằng hiện vật theo thiết kế kỹ thuật
x
Định mức tiêu hao vật tư cho 1 đơn vị công việc
Trong thực tế, bất cứ lượng vật tư nào cũng có một lượng hao hụt nhất
định do quá trình vận chuyển, quá trình bảo quản và quá trình sử dụng gây
nên Lượng vật tư hao hụt thường được xác định bằng tỷ lệ phần trăm so với
lượng vật tư cần dùng
Lượng vật tư cần cung cấp bao gồm lượng vật tư cần dùng và lượng vật
tư hao hụt
Lượng vật tư cần
cung cấp = Lượng vật tư cần dùng +
Lượng vật tư hao hụt
tự nhiên
+ Yêu cầu sử dụng máy móc thiết bị phục vụ thi công: chỉ tiêu này chủ
yếu xác định số ca máy cần dùng cho thi công, số ca máy phục thuộc vào khối
lượng công việc phải thi công bằng máy và định mức sản lượng của mỗi ca
máy hay định mức thời gian làm bằng máy cho mỗi đơn vị khối lượng công
việc
+ Yêu cầu sử dụng lao động cho quá trình thi công công trình
- Xây dựng các xưởng và các công trình phục vụ như: hệ thống kho bãi
để cất chứa vật liệu, trạm trộn bê tông Xây dựng các công trình tạm phục vụ
cho làm việc, ăn ở và sinh hoạt của cán bộ, công nhân trên công trường
Trên đây là các công việc chuẩn bị cho quá trình thi công Tiếp theo là
giai đoạn thi công xây lắp Đây là giai đoạn cơ bản trực tiếp tính tư thời điểm
khởi công xây dựng đến khi hoàn tất công việc xây lắp cuối cùng Đây là giai
đoạn có tính chất quyết định đến chất lượng, kỹ mỹ thuật công trình, đến giá
thành, đến thời gian xây dựng đến kết quả và lợi nhuận của công ty Trước hết
phải phân tích đặc điểm thi công các kết cấu nhằm tìm hiểu kỹ về đặc điểm
chịu lực của toàn công trình, nắm chắc kỹ thuật thi công Trên cơ sở nghiên
cứu và tìm hiểu này để đưa ra các khả năng thực hiện sao cho công trình được
hoàn thành theo đúng tiến trình xây lắp, đảm bảo cho các bộ phận công trình
phát triển đến đâu là ổn định và bền chắc đến đó
Trang 243.3 Quản lý chất lượng công trình xây dựng
Thực hiện quản lý chất công trình xây dựng nhằm đảm bảo đúng tiến độ
thi công, đảm bảo chất lượng của công trình được thực hiện
Chủ đầu tư chịu trách nhiệm quản lý chất lượng công trình ngay từ giai
đoạn chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư cho đến khi kết thúc xây dựng đưa
công trình vào khai thác sử dụng Nội dung chủ yếu của quản lý chất lượng
công trình xây dựng gồm:
- Thực hiện đầy đủ các quy định hiện hành của Nhà nước về lập, thẩm
định và trình duyệt báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, nghiên cứu khả thi, thiết
kế kỹ thuật và tổng dự toán, tổ chức đấu thấu hoặc lựa chọn nhà thầu
- Tuyển chọn tổ chức tư vấn, cung cấp vật tư thiết bị, xây lắp có tư cách
pháp nhân và có đủ năng lực phù hợp để nhận các công việc chuẩn bị đầu tư
thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán, cung cấp vật tư thiết bị, xây lắp và giám sát
chất lượng công trình
- Kiểm tra chất lượng các loại vật liệu, cấu kiện xây dựng, thiết bị lắp đặt
đúng yêu cầu thiết kế và tiêu chuẩn kỹ thuật được duyệt
- Đối với những công việc không đạt chất lượng theo quy định của thiết
kế và tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng thì chủ đầu tư có quyền yêu cầu thực hiện
sửa chữa, thay thế đối với những việc này hoặc từ chối nghiệm thu
3.4 Tổ chức bảo đảm tài chính dự án
Dự án đầu tư xây dựng muốn tiến hành cần phải có vốn đầu tư Nguồn
vốn có thể là vốn tự có của chủ đầu tư, vốn huy động từ khách hàng và các
nguồn vốn huy động hợp pháp khác
Để đảm bảo tiến độ thực hiện đầu tư của dự án, vừa để tránh ứ đọng vốn,
nên các nguồn tài trợ cần được xem xét không chỉ về mặt số lượng mà về cả
thời điểm nhận được tài trợ Các nguồn vốn dự kiến này phải đảm bảo chắc
chắn Sự đảm bảo này phải có cơ sở pháp lý và cơ sở thực tế Chẳng hạn nếu
nguồn tài trợ là ngân sách cấp hoặc cho vay thì phải có sự cam kết của các cơ
quan bằng văn bản sau khi các cơ quan này đã ký vào biên bản hồ sơ thẩm
định dự án Nếu là vốn tự có thì phải có bản giải trình và tình hình hoạt động
sản xuất kinh doanh của cơ sở ba năm trước đây và hiện tại chứng tỏ cơ sở đã,
đang và tiếp tục hoạt động có hiệu quả, có tích luỹ và do đó đảm bảo có vốn
thực hiện được dự án
Trang 25Sau khi xác định được nguồn vốn cho dự án cần xác định cơ cấu nguồn
vốn của dự án Có nghĩa là tính toán tỷ lệ từng nguồn vốn chiếm trong tổng
mức vốn đầu tư dự kiến Trên cơ sở nhu cầu vốn, tiến độ thực hiện các công
việc đầu tư và cơ cấu nguồn vốn, lập tiến độ huy động vốn hàng năm cho dự
án Tiến độ huy động vốn phải tính tới lượng tiền thực cần huy động hàng
năm trong từng trường hợp có biến động giá cả và lạm phát
4 Tổ chức tiêu thụ
- Phương án kinh doanh: khi xây dựng phương án kinh doanh bao giờ
người ta cũng xây dựng hai hay nhiều phương án kinh doanh, sau đó tiến
hành phân tích ưu nhược điểm của từng phương án, từ đó đưa ra nhận xét xem
phương án nào sẽ đảm bảo hiệu quả đầu tư đồng thời đảm bảo nguồn vốn cho
quá trình thực hiện dự án, sau đó quyết định lựa chọn phương án kinh doanh
có lợi nhất
- Xác định giá bán: đối với các dự án xây dựng nhà để bán thì cơ cấu giá
bán được xác định như sau:
Các chi phí cấu thành nên giá bán bao gồm:
+ Chi phí xây lắp bao gồm: chi phí xây dựng các hạng mục công trình:
phần móng, công trình chính, hạ tầng ngoài nhà , chi phí lắp đặt thiết bị
+ Chi phí thiết bị bao gồm: thang máy, máy phát điện, hệ thống phòng
cháy chữa cháy
+ Chi phí khác bao gồm: chi phí chuẩn bị đầu tư, chi phí thực hiện đầu tư
và chi phí dự phòng; chi phí kết thúc xây dựng và đưa dự án vào khai thác sử
III Đánh giá hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng nhà ở
Hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng là rất quan trọng, nó là một trong
những căn cứ để xác định xem dự án có được thực hiện hay không Hiệu quả
của dự án đầu tư xây dựng là toàn bộ mục tiêu đề ra của dự án được đặc trưng
Trang 26bằng các chỉ tiêu có tính chất định tính thể hiện ở các loại hiệu quả đạt được
và bằng các chỉ tiêu định lượng thể hiện quan hệ lợi ích và chi phí của dự án
1 Các quan điểm đánh giá hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng
Các dự án đầu tư luôn luôn phải được đánh giá theo các giác độ lợi ích
của chủ đầu tư, lợi ích của quốc gia, lợi ích của dân cư địa phương nơi đặt dự
án đầu tư
- Quan điểm của chủ đầu tư
Khi đánh giá dự án đầu tư, các chủ đầu tư luôn luôn xuất phát trước hết
từ lợi ích trực tiếp của họ, tuy nhiên các lợi ích này phải nằm trong khuôn khổ
lợi ích chung của quốc gia, thể hiện trước hết ở các luật có liên quan đến đầu
tư xây dựng và bảo vệ môi trường, an toàn xã hội Các tổ chức tài trợ cho các
dự án đầu tư cũng xuất phát trước hết từ lợi ích của chính họ có tính đến lợi
ích chung và các hạn chế của pháp luật
- Quan điểm của Nhà nước
Khi đánh giá các dự án đầu tư, Nhà nước phải xuất phát từ lợi ích tổng
thể của quốc gia và xã hội, kết hợp hài hoà giữa lợi ích giữa Nhà nước, xã hội
và các doanh nghiệp; kết hợp giữa lợi ích ngắn hạn và dài hạn, bảo đảm tăng
cường vị trí của đất nước và dân tộc trên trường quốc tế Nhà nước phải xem
xét các dự án đầu tư trên quan điểm vĩ mô toàn diện theo các mặt: kỹ thuật,
kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội, bảo vệ môi trường và an ninh quốc phòng
- Quan điểm của địa phương
Khi đánh giá các dự án đầu tư xây dựng, chính quyền địa phương lẽ dĩ
nhiên phải xuất phát từ lợi ích của chính địa phương nơi đặt dự án Tuy nhiên,
lợi ích này phải nằm trong khuôn khổ lợi ích chung của quốc gia, kết hợp hài
hoà lợi ích Nhà nước, địa phương và doanh nghiệp đảm bảo phát triển kinh tế,
chính trị, văn hoá xã hội, bảo vệ môi trường cảnh quan thiên nhiên và an ninh
quốc phòng của địa phương
2 Hiệu quả các dự án đầu tư xây dựng nhà ở
Khi phân tích đánh giá các dự án đầu tư xây dựng được tiến hành qua các
giai đoạn: nghiên cứu tiền khả thi và nghiên cứu khả thi của dự án Trong
phân tích, đánh giá dự án có hai phần chủ yếu có tính chất tổng hợp, đó là:
- Phân tích tài chính (đứng trên quan điểm lợi ích trực tiếp của doanh
nghiệp)
Trang 27- Phân tích kinh tế - xã hội (đứng trên quan điểm lợi ích của nền kinh tế
quốc dân và cộng đồng người được hưởng lợi từ dự án)
2.1 Phân tích tài chính của dự án đầu tư xây dựng
2.1.1 ý ngh ĩa của việc phân tích tài chính
Phân tích tài chính dự án đứng trên quan điểm lợi ích của chủ đầu tư lấy
mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận kết hợp với an toàn kinh doanh là chính để đánh
giá dự án, giúp ta làm rõ một số vấn đề như: một phương án đầu tư nào đó có
lợi hay không có lợi về kinh tế (có đáng giá không ?) Lợi đến mức độ nào?
Đầu tư ở quy mô nào là hợp lý nhất? Nên chọn những án nào? Mức độ an
toàn của hoạt động đầu tư
Thông qua kết quả phân tích tài chính, chủ đầu tư có thể lựa chọn để “ra
quyết định” đầu tư sao cho có lợi nhất theo “một tiêu chuẩn hiệu quả”nào đó
(được thiết lập từ mục tiêu đầu tư) trong những điều kiên “ràng buộc” nhất
định
2.1.2 Các ch ỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án
* Thời gian thu hồi vốn đầu tư (T)
Thời gian thu hồi vốn đầu tư là khoảng thời gian khai thác dự án (thường
tính bằng năm) mà các khoản thu nhập có thể bù đắp đủ toàn bộ vốn đầu tư
của dự án
Thường có hai cách dựa vào thu nhập để tính thời gian thu hồi vốn đầu
tư
Một là, dựa vào lãi ròng (P)
Hai là, dựa vào lãi ròng và khấu hao (P + D)
Cách thứ 2, dựa vào lãi ròng và khấu hao phản ánh chính xác bản chất
thời gian thu hồi vốn, nên được sử dụng phổ biến
Công thức đơn giản nhất tính thời gian thu hồi vốn bình quân (T) được
tính như sau:
D P
I T
+
= (1)
Trong đó:
T: thời gian hoàn vốn bình quân (tính bằng năm)
I: vốn đầu tư của dự án
P + D: lãi ròng và mức khấu hao hàng năm trong thời gian khai thác
Trang 28Trong thực tế mức lãi ròng và khấu hao hàng năm thường không bằng
nhau thậm chí chênh lệch nhau rất lớn, đòi hỏi phải tính thời gian thu hồi vốn
bình quân là khoảng thời gian đảm bảo điều kiện sau:
∑
=
=+
T
t
D P
0
(2)
Trong đó:
t: thời gian năm khai thác dự án
Nếu khoản lãi ròng, khấu hao hàng năm và vốn đầu tư được chiết khấu
thì thời gian thu hồi vốn đầu tư (T) được tính theo công thức:
D P
1 1
1
Trong đó:
Ik: vốn đầu tư thực hiện tại năm t
i: lãi suất chiết khấu
* Chỉ tiêu giá trị hiện tại ròng NPV(Net Present Value)
Là giá trị của tổng lãi ròng đã chỉ ra trong quá trình thực hiện dự án được
xây dựng bằng hiệu số của giá trị doanh thu ở năm t trừ đi chi phí bỏ ra ở năm t
( ) ( 1 + ) ≥ 0
t t ti
C B
n: Tuổi thọ quy định của dự án
NPV là chỉ tiêu hiệu quả được các nhà đầu tư rất quan tâm NPV cho biết
quy mô hiện giá tiền lời là lớn hay nhỏ, sau khi đã hoàn trả đủ vốn đầu tư
Nếu NPV > 0: Dự án có lời, có thể đầu tư
Trang 29IRR là lãi suất chiết khấu, mà ứng với nó giá trị hiện tại ròng (NPV) = 0
Công thức (5) được suy ra từ công thức (4), trong đó i được thay thế =
IRR
Suất thu hồi nội bộ là chỉ tiêu hiệu quả thường được sử dụng để đánh giá
các dự án đầu tư dựa vào vốn vay
Nếu IRR = r (suất thu lợi tối thiểu) thì dự án vẫn có lãi, nhưng vừa đủ trả
tiền lãi vay, nhà đầu tư chưa thu được lợi Nếu IRR càng lớn hơn r, dự án
càng có hiệu quả cao Tuy nhiên, IRR chưa cho biết thời gian hoàn vốn và tỷ
suất sinh lợi Vì vậy, nó phải dựa vào các chỉ tiêu khác mới đánh giá hiệu
quả một cách toàn diện
* Tỷ số lợi ích trên chi phí B/C (Benefit/Cost)
Tỷ số lợi ích trên chi phí là tỷ số hiện giá thu nhập và hiện giá chi phí,
được tính theo công thức sau:
( ) ( )
n
t
t t
i C
i B C
Nếu B/C > 1: thu nhập > chi phí, dự án có lãi (hiệu quả)
Nếu B/C = 1: thu nhập = chi phí, dự án không có lãi
Nếu B/C < 1: thu nhập < chi phí, dự án bị lỗ
Ưu điểm của chỉ tiêu B/C cho thấy mức thu nhập của một đồng chi phí,
nhưng nhược điểm của nó là không cho biết tổng số lãi ròng thu được (có dự án
B/C lớn, nhưng tổng lãi ròng vẫn nhỏ) và việc tính suất chiết khấu i phức tạp
2.2 Phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án đầu tư xây
dựng nhà ở
Phân tích tài chính xem xét dự án đầu tư theo giác độ lợi ích trực tiếp của
chủ đàu tư Trong khuôn khổ đề tài này, các dự án mà chúng ta đang nói tới là
dự án đầu tư vào kinh doanh nhà ở khu chung cư đang được thực hiện tại
Công ty, vì vậy mục đích chính của đầu tư là lợi nhuận Khả năng sinh lời của
dự án là thước đo chủ yếu quyết định sự chấp nhận một việc làm mạo hiểm
của chủ đầu tư
0
0 1
n
t t t t
B C NPV
Trang 30Tuy nhiên, không phải mọi dự án có khả năng sinh lời cao đều tạo ra
những ảnh hưởng tốt cho nền kinh tế và xã hội Do đó trên góc độ quản lý vĩ
mô phải xem xét đánh giá việc thực hiện dự án đầu tư có tác động gì đối với
việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, có nghĩa là phải xem xét
khía cạnh kinh tế xã hội của dự án Phân tích kinh tế - xã hội đánh giá dự án
xuất phát từ lợi ích của toàn bộ nền kinh tế quốc dân và toàn xã hội Phân tích
kinh tế - xã hội rất cần thiết vì:
- Trong nền kinh tế thị trường, tuy chủ trương đầu tư phần lớn là do các
doanh nghiệp tự quyết định xuất phát từ lợi ích trực tiếp của doanh nghiệp,
nhưng nó không được trái với pháp luật và phải phù hợp với đường lối phát
triển kinh tế - xã hội chung của toàn đất nước, trong đó lợi ích của Nhà nước
và doanh nghiệp được kết hợp chặt chẽ Những yêu cầu này phải được thể
hiện thông qua phần phân tích kinh tế - xã hội
- Phân tích kinh tế - xã hội đối với nhà đầu tư đó là căn cứ chủ yếu để
thuyết phục Nhà nước, các cơ quan có thẩm quyền chấp thuận dự án, các ngân
hàng cho vay vốn và nhân dân địa phương nơi đặt dự án ủng hộ chủ đầu tư
thực hiện dự án
- Đối với các tổ chức viện trợ dự án, phân tích kinh tế - xã hội là căn cứ
quan trọng để họ chấp thuận viện trợ
- Đối với dự án phục vụ lợi ích công cộng do Nhà nước trực tiếp bỏ vốn
thì phân tích kinh tế - xã hội có vai trò chủ yếu trong phân tích dự án, vì hiện
nay ở nước ta loại dự án này khá phổ biến và chiếm nguồn vốn khá lớn
Đối với dự án là công trình nhà ở, mục tiêu kinh tế xã hội của dự án chủ
yếu là:
- Mức đóng góp vào ngân sách của dự án cho Nhà nước
- Mức tăng thu nhập cho người lao động của Công ty và ngoài Công ty
- Nâng cao mức sống của người dân cụ thể là nâng cao điều kiện sinh
hoạt, điều kiện sống Thông qua các số liệu: số phòng, căn hộ dự án sẽ đóng
góp vào quỹ nhà ở cho thành phố
- Giảm thất nghiệp, giải quyết việc làm không chỉ lao động trong Công ty
mà còn cho các lực lượng gián tiếp khác Đây là một trong những mục tiêu
chủ yếu của chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước ta
- Tận dụng quỹ đất bỏ trống, khai hoang đất
Trang 31- Các tác động đến môi trường: các tác động này có thể là tác động tích
cực, nhưng cũng có thể là tiêu cực Tác động tích cực như: góp phần cải tạo
mỹ quan đô thị và môi trường sống tại khu vực ngày càng văn minh hiện đại
Các tác động tiêu cực như: mức ô nhiễm của nước thải sinh hoạt, bụi và tiếng
ồn Đối với những tác động tiêu cực cần có các biện pháp khắc phục, giảm
thiểu tác động tiêu cực của dự án đến môi trường
Trang 32Chương II: Tình hình thực hiện các dự án đầu tư xây
dựng nhà ở tại công ty Cổ phần lilama hà nội
I Giới thiệu chung về công ty và tình hình thực hiện các dự án đầu tư xây
dựng nhà ở tại công ty trong những năm qua
1 Giới thiệu chung về Công ty
1.1 Quá trình hình thành, phát triển của Công ty
Tổng công ty Lắp Máy Việt Nam ( LILAMA) là Doanh nghiệp nhà nước
trực thuộc Bộ Xây dựng được thành lập từ năm 1960 - tên giao dịch quốc tế là
LILAMA Corporation Hoạt động kinh doanh chính của Tổng công ty thuộc
các lĩnh vực lắp mắy , xây dựng công trình thuỷ điện, công trình cơ sở hạ
tầng, các công trình giao thông, xây dựng công nghiệp, dân dụng, đường dây
và trạm, sản xuất vật liệu xây dựng, xuất nhập khẩu, vật tư, thiết bị, công nghệ
xây dựng cùng nhiều lĩnh vực kinh doanh khác
Hiện nay Tổng công ty có 10 Ban quản lý, ban điều hành dự án; 14 Công
ty là đơn vị sản xuất kinh doanh hạch toán độc lập; 3 đơn vị sản xuất kinh
doanh hạch toán phụ thuộc; 4 đơn vị sự nghiệp; 5 công ty liên doanh và 34
Công ty cổ phần Công ty lắp máy và xây dựng Hà Nội là một trong những
đơn vị thành viên của Tổng công ty
Công ty lắp máy và xây dựng Hà Nội là đơn vị thành viên của Tổng
công ty, đơn vị hạch toán phụ thuộc, được thành lập theo Quyết định số
17TCT/VPTH ngày 12 tháng 9 năm 2000 của Hội đồng quản trị Tổng công ty
trên cơ sở các Ban quản lý dự án Khu đô thị Mỹ Đình - Mễ Trì Hà Nội
Để nâng cao hiệu quả hoạt động của các Doanh nghiệp nhà nước, Chính
phủ có chủ trương chuyển một số doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ
phần (theo Nghị định số 64/2002/NĐ-CP ngày 19/6/2002) Vì vậy, Bộ xây
dựng căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức do Chính
phủ quy định, căn cứ vào đề đơn nghị của Ông Chủ tịch Hội đồng quản trị
Tổng công ty LILAMA và theo đơn đề nghị của Ban quản lý đổi mới và phát
triển doanh nghiệp Bộ Xây dựng, đã quyết định chuyển Công ty Công ty lắp
máy và xây dựng Hà Nội thành công ty cổ phần theo Quyết định số
946/QĐ-BXD ngày 08 tháng 07 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng Công ty được
thành lập trên cơ sở cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước theo hình thức bán
Trang 33một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu thu hút
thêm vốn để phát triển doanh nghiệp
Công ty có:
- Tên giao dịch quốc tế: Tên giao dịch quốc tế: LILAMA HANOI JOINT
STOCK COMPANY
- Tên viết tắt: LILAMA
- Trụ sở chính đặt tại : 52 Đường Lĩnh Nam – Phường Mai Động – Quận
Hoàng Mai – Hà Nội
1.2 Nhiệm vụ chính của Công ty
Công ty cổ phần LILAMA Hà Nội có nhiệm vụ chính là:
- Tư vấn, đầu tư, lập và thực hiện các dự án đầu tư xây dựng, kinh doanh
nhà ở, khu đô thị và khu công nghiệp
- Kinh doanh khai thác các dịch vụ về nhà ở, khu đô thị và khu công
nghiệp
- Lắp máy ,thi công xây lắp các công trình dân dụng và công nghiệp
- Tư vấn thiết kế kỹ thuật, quy hoạch chi tiết khu đô thị và khu công
nghiệp, tư vấn thiết kế công trình dân dụng, công nghiệp, sản xuất và kinh
doanh vật liệu xây dựng, thiết bị nội thất
- Kinh doanh bất động sản hàng hoá và dịch vụ khác
- Kinh doanh dịch vụ khách sạn, nhà hàng
1.3 Cơ cấu tổ chức quản lý
Trang 35Thuyết minh sơ đồ
* Hội đồng quản trị
Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý Công ty, quyết định mọi vấn đề liên
quan đến mục đích, quyền lợi của Công ty (trừ những vấn đề thuộc thẩm
quyền của Đại hội đồng cổ đồng)
Hội đồng quản trị có 5 thành viên gồm 1 chủ tịch và các uỷ viên trong đó
Giám đốc (Tổng giám đốc) là uỷ viên đương nhiên
* Ban kiểm soát
Ban kiểm soát là người thay mặt cổ đông để kiểm soát mọi hoạt động
kinh doanh quản trị và điều hành của Công ty
Ban kiểm soát có 3 thành viên gồm 1 Trưởng ban kiểm soát và 2 uỷ viên,
do Đại hội đồng cổ đông bầu và bãi miễn
* Ban Giám đốc
Gồm có: Tổng giám đốc điều hành và 3 Phó tổng giám đốc gồm: Phó
tổng giám phụ trách công tác đầu tư; Phó tổng giám phụ trách công tác kế
hoạch - kỹ thuật; Phó tổng giám đốc phụ trách công tác nội chính
Tổng giám đốc là người đại diện pháp nhân của Công ty trong mọi giao
dịch kinh doanh; là người điều hành mọi hoạt động kinh doanh của Công ty;
chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và Đại hội đồng cổ đông về điều
hành Công ty
Giúp việc Tổng giám đốc là các Phó Tổng giám đốc
* Các phòng chức năng
- Phòng kế hoạch - kỹ thuật: Là phòng chức năng tham mưu giúp Hội
động quản trị và Tổng giám đốc công ty trong lĩnh vực :
+ Công tác kỹ thuật: quản lý kỹ thuật chất lượng; quản lý, xây dựng kế
hoạch và tổ chức thực hiện các dự án do công ty trực tiếp thực hiện; ứng
dụng các công nghệ mới, tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất; quản lý công
tác bảo hộ lao động; quản lý cơ giới, máy móc thiết bị thi công
+ Công tác kế hoạch: công tác Kế hoạch và báo cáo thống kê; công tác
kinh tế; công tác Hợp đồng kinh tế; công tác quản lý và thực hiện đấu thầu
xây lắp; công tác quản lý các dự án đầu tư
- Phòng kinh doanh: là phòng chức năng tham mưu giúp Hội đồng quản
trị và Tổng giám đốc trong các lĩnh vực: công tác quảng cáo, tiếp thị, bán
hàng; công tác xây dựng phương án kinh doanh và hồ sơ bán hàng; công tác
Trang 36tổ chức và quản lý bán hàng; công tác quản lý kinh doanh dịch vụ; công tác
kinh doanh trang thiết bị nội thất
- Phòng tài chính - kế toán:
Là phòng chức năng tham mưu giúp Hội động quản trị và Tổng giám đốc
công ty trong lĩnh vực: tổ chức bộ máy Tài chính kế toán từ Công ty đến các
đơn vị thành viên và đội trực thuộc; tổ chức chỉ đạo thực hiện toàn bộ công
tác Tài chính kế toán, tín dụng, thông tin kinh tế và tổ chức hạch toán kinh tế
trong toàn bộ Công ty theo đúng chế độ, chính sách pháp luật của Nhà nước
về quản lý Kinh tế - Tài chính tín dụng, Pháp lệnh kế toán thống kê của Nhà
nước và quy chế Tài chính của Tổng công ty ; quản lý, tìm kiếm nguồn vốn
và luân chuyển vốn đầu tư của toàn bộ Công ty đảm bảo hiệu quả đúng với
quy định của pháp luật và của Công ty; giúp Tổng giám đốc kiểm tra, kiểm
soát toàn bộ hoạt động kinh tế, tài chính của Công ty và các đơn vị phụ thuộc
- Phòng đầu tư:
Là phòng chức năng tham mưu giúp Hội động quản trị và Tổng giám đốc
công ty về công tác Quản lý đầu tư và xây dựng của công ty bao gồm: lập,
thẩm định và trình duyệt các dự án đầu tư, các dự án liên doanh, liên kết góp
vốn cổ phần, mua một phần hoặc toàn bộ tài sản của doanh nghiệp khác với
mục đích phát triển sản xuất kinh doanh của công ty; theo dõi, kiểm tra, giám
sát quá trình thực hiện các giai đoạn đầu tư đối với các dự án đầu tư của công
ty và của các đơn vị thành viên; chủ trì thẩm định các dự án đầu tư của công
ty
- Phòng tổ chức hành chính:
Là phòng chức năng giúp việc cho Hội động quản trị và Tổng giám đốc
điều hành các công việc chủ yếu sau đây: công tác tổ chức cán bộ; công tác
tuyển dụng lao động, quản lý và sử dụng lao động; công tác đào tào; công tác
báo cáo thống kê; công tác tiền lương; giải quyết các chế độ, chính sách cho
người lao động; khen thưởng, kỷ luật (tham gia trong thành phần Hội đồng thi
đua khen thưởng); văn thư, lưu trữ; quản trị hành chính, phục vụ; bảo vệ nội
bộ, an ninh cơ quan
* Các ban quản lý:
Là đơn vị thay mặt Công ty thực hiện các công việc quản lý đầu tư xây
dựng các dự án do Công ty đầu tư Gồm có
- Ban quản lý các dự án đô thị Hà Nội
Trang 37- Ban quản lý các dự án Quảng Ninh
- Ban quản lý các dự án Hà Tây
- Ban quản lý các dự án Yên Bái
* Các xí nghiệp trực thuộc:
- Xí nghiệp tư vấn đầu tư và thiết kế xây dựng:
Chức năng nhiệm vụ chủ yếu: trong công tác tư vấn đầu tư: phối hợp lập
và thực hiện các dự án đầu tư xây dựng; tư vấn thiết kế kỹ thuật, quy hoạch
chi tiết đô thị và khu công nghiệp; tư vấn thiết kế công trình xây dựng dân
dụng và công nghiệp
- Xí nghiệp kinh doanh và khai thác dịch vụ đô thị:
Chức năng nhiệm vụ chủ yếu: trực tiếp quản lý, kinh doanh khai thác các
dịch vụ tại các khu đô thị do công ty đầu tư xây dựng và một số trụ sở, khu
dân cư của Tổng công ty; bảo hành, bảo trì, duy tu, bảo dưỡng các công trình
xây dựng trong khu đô thị của công ty đầu tư; tổ chức quản lý, bảo vệ an ninh
trật tự các khu ở và các khu đô thị
2 Tình hình thực hiện các dự án đầu tư xây dựng nhà ở của Công ty
trong những năm qua
Công ty Cổ phần LILAMA Hà Nội là doanh nghiệp thuộc Tổng công ty
Lắp máy Việt Nam LILAMA - Bộ Xây dựng có chức năng chính là lắp máy
công nghiệp, kinh doanh, phát triển nhà và hạ tầng đô thị, đầu tư vào các khu
công nghiệp Trong những năm vừa quan, Công ty đã được UBND Thành phố
Hà Nội và Tổng công ty giao cho làm chủ đầu tư một số dự án phát triển nhà
và các khu đô thị Công ty đã hoàn thành một số dự án có quy mô vừa và nhỏ:
Dự án toà nhà cao tầng Nhân Chính có qui mô 1.890m2, diện tích sàn nhà ở
4.207m2, tổng vốn đầu tư 14,3 tỉ đồng Mục tiêu của dự án này là: Xây dựng
một chung cư cao tầng với những căn hộ đồng bộ khép kín, hệ thống thông tin
liên lạc hiện đại, cơ sở hạ tầng đồng bộ đạt tiêu chuẩn chung cư chất lượng
cao; tầng 1 là khu kinh doanh, tầng 2 - 9 xây dựng những căn hộ đồng bộ
phục vụ cho các đối tượng sau: đối tượng tái định cư cán bộ công nhân viên
Tổng Công ty và cán bộ công nhân viên khác trong đơn vị và các đối tượng
khác Công ty đã hoàn thành quyết toán công trình lô 2B của dự án khai thác
khu đất 62 Trường Chinh Lô 2B này được dùng để xây dựng nhà ở liền kề,
với qui mô 1.804m2 (23 căn hộ), diện tích sàn xây dựng là 4.120,3m2 Ngoài
Trang 38ra Công ty còn hoàn thành quyết toán xong công trình các dự án: Dự án Nhà ở
6/343 Đội Cấn với diện tích là 980 m2, mức đầu tư là 7 tỷ đồng; Trung tâm
giới thiệu bán sản phẩm công nghiệp và nhà ở chung cư Ba La có diện tích
240 m2, tổng mức đầu tư là 3 tỷ đồng
Từ những kinh nghiệm kế thừa trong đầu tư và quản lý dự án của Tổng
công ty LILAMA và những kinh nghiệp thu được trong khi thực hiện các dự
án phát triển nhà có qui mô vừa và nhỏ phù hợp với xu thế chung về yêu cầu
phát triển những dự án lớn có hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã
hội đồng bộ, tạo thành các khu phố mới hiện đại, Công ty đã đảm nhận việc
phát triển các khu đô thị mới có quy mô lớn hơn tại phía Tây - Nam Thành
phố
- Dự án khu đô thị mới Mỹ Đình - Mễ Trì
Khu đô thị mới Mỹ Đình - Mễ Trì nằm phía Tây - Nam của Thành phố
Hà Nội, thuộc địa bàn hai xã Mỹ Đình và Mễ Trì, huyện Từ Liêm, Hà Nội
Dự án có quy mô 36,86 ha với tổng vốn đầu tư dự kiến trên 300 tỷ đồng (chỉ
tính phần hạ tầng) Việc đầu tư xây dựng khu đô thị mới Mỹ Đình - Mễ Trì
đồng bộ và hoàn chỉnh, nhằm dành một phần quỹ nhà đất để phục vụ cho nhu
cầu nhà ở của cán bộ nhân viên của Tổng công ty, phần lớn diện tích còn lại
phục vụ cho công việc kinh doanh phát triển nhà và tạo quỹ đất phục vụ giãn
dân, giải phóng mặt bằng các trục đường giao thông trong thành phố
Trong tổng số 36,86 ha của khu đô thị mới Mễ Đình - Mễ Trì, đất đường
thành phố và khu vực chiếm 60.238m2, đất công cộng khu ở: 21.499m2, đất
hỗn hợp: 20.951m2, đất trường trung học: 10.270m2, đất hàng lang cách ly
công trình hạ tầng kỹ thuật: 15.715m2, đất khác: 13.521m2 Đất đơn vị ở
chiếm 226.372m2, trong đó đất ở là 126.553m2, đất công cộng đơn vị ở:
4.190m2, đất cây xanh đơn vị ở: 25.822m2, còn lại là đất xây dựng nhà trẻ,
mẫu giáo, đất giao thông đơn vị ở, đất xây dựng chợ và đất khu miếu Đình Thôn
Trong tổng diện tích đất ở 126.553m2, đất ở nhà cao tầng có tổng diện
tích 75.854m2, chiếm 60% diện tích đất ở Khu nhà cao tầng gồm 7 ô đất:
CT1, CT2, CT3, CT4, CT5, CT6, CT7 Khu đất CT1 và CT2 dành để phục vụ
di dân giải phóng mặt bằng huyện Từ Liêm
Đất nhà ở thấp tầng có tổng diện tích 50.699m2, bao gồm 2 khu: biệt thự
có diện tích: 44.507m2 và thấp tầng khoảng 6.192m2 dành riêng để phục vụ
Trang 39di dân giải phóng mặt bằng huyện Từ Liêm Chủ yếu được xây dựng tại lõi
của khu vực giáp đường 21,25m và đường 13,5m
Các công trình công cộng thiết yếu như: trường tiểu học, nhà trẻ và các
công trình dịch vụ được bố trí ở phía bên trong trục đường nội bộ rộng 13,5
và 21,25m của khu đô thị mới, với diện tích khoảng 17.054m2
Khu vực đất dành cho cây xanh của dự án chiếm tới 25.822m2
Bãi đỗ xe của công trình hỗn hợp và nhà ở cao tầng được bố trí tại tầng
hầm và tại chân các công trình Tổng diện tích dành cho bãi đỗ xe là
8.880m2
Với diện tích 36,86ha khu đô thị mới Mỹ Đình - Mễ Trì là một số trong
các dự án nhà ở có quy mô lớn ở Hà Nôị Tổng số hộ của dự án khu đô thị
mới Mỹ Đình đạt được 1.775 hộ (khoảng 7.100 người), trong đó, khu nhà ở
chung cư cao tầng có 1.541 hộ và khu nhà ở thấp tầng: 234 hộ Chính vì vậy,
việc triển khai khu đô thị này có ý nghĩa vô cùng quan trọng: cung cấp đáng
kể nhà ở cho người dân Hà Nội, góp phần giảm mật độ dân cư trong khu vực
nội thành, góp phần cải tạo cảnh quan đô thị của Thành phố Hà Nội, hạn chế
việc xây nhà ở không theo quy hoạch
* Dự án khai thác khu đất 62 - Trường Chinh, phường Phương Liệt,
quận Thanh Xuân
Dự án 62 Trường Chinh có tổng vốn đầu tư gần 57 tỷ đồng, có diện tích
xây dựng là 2607 m2 và được chia làm 4 lô: lô 1A, 2A, 2B và lô 3 Lô 1 được
dùng để xây dựng nhà chung cư với tổng diện tích sàn xây dựng là 3.147,88
m2, trong đó diện tích sử dụng là 1494 m2 Lô 2A để xây dựng văn phòng làm
việc Lô 2B được dùng để xây dựng nhà ở liền kề với diện tích đất xây dựng
là 1.042 m2, tầng cao trung bình nhà là 3,5 tầng Lô 3 để xây dựng nhà ở
chung cư cao tầng và trạm xá cơ quan
Bên cạnh các công trình, hạng mục công trình đã bàn giao và đưa vào sử
dụng, các dự án đang thi công thì hiện nay Công ty còn rất nhiều dự án mới
chỉ trong giai đoạn giải phóng mặt bằng, chuẩn bị thực hiện đầu tư và thực
hiện đầu tư như: Khu đô thị An Khánh với diện tích khoảng 400 ha; Dự án
khu đô thị mới Yên Mỹ - Hưng Yên với diện tích khoảng 150 ha và tổng mức
đầu tư hoàn chỉnh cả dự án khoảng 1.156 tỉ đồng; Khu đô thị dọc đường Trần
Hưng Đạo - Hoà Bình; Dự án Khách sạn Hạ Long với diện tích 5ha và tổng
Trang 40mức đầu tư hoàn chỉnh cả dự án khoảng 480 tỉ đồng và Công ty vẫn tiếp tục
tìm kiếm cơ hội đầu tư các dự án tại Đông Anh, Hà Tây
Dự án chung cư cao tầng CT5 nằm trong khu đô thị mới Mỹ Đình - Mễ
Trì Dự án có tổng diện tích là 11.706 m2, việc xây dựng chung cư này có ý
nghĩa quan trọng nhằm hình thành một chung cư cao tầng có đủ tiêu chuẩn
đáp ứng nhu cầu nhà ở, sinh hoạt, làm việc và nghỉ ngời của mọi đối tượng là
người dân có nhu cầu nhà ở; góp phần thực hiện thành công chiến lược phát
triển kinh tế xã hội của Thủ đô Hà Nội sẽ có thêm những nhân tố kích thích,
những kinh nghiệm đầu tư và mô hình quản lý đô thị hiện đại
II Dự án chung cư cao tầng CT5
Công ty Cổ phần LILAMA Hà Nội được Tổng công ty giao nhiệm vụ
làm chủ đầu tư dự án khu đô thị mới Mỹ Đình - Mễ Trì để xây dựng một khu
đô thị mới hoàn chỉnh, đồng bộ về kiến trúc, công trình hạ tầng xã hội, hạ
tầng kỹ thuật phù hợp với quy hoạch được duyệt
Khu đô thị mới Mỹ Đình - Mễ Trì nằm ở phía Tây Nam thành phố thuộc
địa bàn hai xã Mỹ Đình và Mễ Trì thuộc huyện Từ Liêm, Thành phố Hà Nội
Các công trình hạ tầng kỹ thuật: hệ thống cấp thoát nước, hệ thống điện, hệ
thống thông tin liên lạc, hệ thống đường giao thông, cây xanh các công trình
xã hội: trường học, chợ, nhà trẻ sẽ được đầu tư xây dựng mới đồng bộ hiện
đại
1 Sự cần thiết phải đầu tư xây dựng khu đô thị mới Mỹ Đình - Mễ Trì
Hà Nội có quỹ nhà ở đứng thứ 2 cả nước (chiếm khoảng 15% tổng quỹ
nhà ở cả nước, trong đó gần 40% nhà ở thuộc sở hữu nhà nước), song bình
quân diện tích nhà ở trên đầu người của Hà Nội không chỉ thấp hơn mức bình
quân của cả nước, mà còn có xu hướng giảm từ năm 1954 đến năm 1992, và
tăng rất chậm trong thời gian qua Năm 1994, bình quân nhà ở đô thị toàn
quốc là 5,8 m2/người, riêng thành phố Hồ Chí Minh là 7,3m2/người, còn mức
của nhiều đô thị các nước khu vực là 10 ÷ 12 m2/người, thì Hà Nội chỉ đạt
mức 4,8m2/người (có khoảng 30% dân số đô thị có mức bình quân diện tích
nhà ở dưới 3m2/người, trong đó có tới 300 nghìn người có mức bình quân
diện tích nhà ở dưới 2m2/người), so với mức 6,7m2/người năm 1954, mức
4,6m2/người năm 1990, mức 4,5m2/người năm 1992 và năm 2000 khoảng