I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Để đáp ứng với sự phát triển của thông tin, khoa học và công nghệ như hiện nay thì đòi hỏi ở mỗi người sự năng động sáng tạo, tích cực trong mọi tình huống. Để có thể đào tạo được những con người như vậy thì nền giáo dục giữ một vai trò vô cùng quan trọng, đặc biệt là ở nước ta, một nước đang trên đà xây dựng công nghiệp hóa hiện đại hóa. Nhiệm vụ quan trọng nhất của nền giáo dục là làm thế nào để có thể cùng một lúc cung cấp được cho người học lượng thông tin lớn phong phú và để thực hiện được nhiệm vụ này, nhà nước cùng với ngành giáo dục đã không ngừng tăng ngân sách cho giáo dục mà đặc biệt là thực hiện cải cách đổi mới chương trình SGK. Song song với việc đổi mới chương trình SGK là sự đổi mới phương pháp dạy học. Với phương hướng đã được chỉ rõ “ Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp dạy học chuyển từ việc truyền đạt kiến thức thụ động thầy giảng trò ghi, sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức. Dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách có hệ thống và có tư duy phân tích tổng hợp, tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của học sinh trong quá trình học tập, có khả năng phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lí những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn… thì sẽ tạo cho người học lòng ham học khơi dậy tiềm năng vốn có trong mỗi người. Làm được như vậy thì không những kết quả học tập được nhân lên gấp bội mà người học còn được chuẩn bị để tiếp tục tự học khi vào đời, dễ dàng thích ứng với cuộc sống, công tác, lao động trong xã hội…” Sinh học là một bộ môn khoa học thực nghiệm do đó quá trình hình thành và phát triển các kiến thức sinh học cần thiết phải dựa trên kết quả các thí nghiệm ( Phần lớn nước vào cây đi đâu, cây có hô hấp không, thân dài ra do đâu, quang hợp…) do học sinh tự làm, sưu tập và quan sát vật mẫu. Mỗi một tiết học, một kiểu bài lên lớp đòi hỏi phải có những phương pháp khác nhau, phù hợp với mục tiêu, yêu cầu của bài. Làm sao để phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của các em.
Trang 1
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI PHÒNG GD& ĐT HUYỆN VĨNH CỬU
TRƯỜNG THCS VĨNH TÂN
********
Tên sáng kiến kinh nghiệm
SỬ DỤNG NHÓM PHƯƠNG PHÁP THỰC HÀNH
TRONG DẠY HỌC SINH HỌC 6
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Để đáp ứng với sự phát triển của thông tin, khoa học và công nghệ như hiện nay thì đòi hỏi ở mỗi người sự năng động sáng tạo, tích cực trong mọi tình huống
Để có thể đào tạo được những con người như vậy thì nền giáo dục giữ một vai trò
vô cùng quan trọng, đặc biệt là ở nước ta, một nước đang trên đà xây dựng công nghiệp hóa - hiện đại hóa Nhiệm vụ quan trọng nhất của nền giáo dục là làm thế nào để có thể cùng một lúc cung cấp được cho người học lượng thông tin lớn phong phú và để thực hiện được nhiệm vụ này, nhà nước cùng với ngành giáo dục
đã không ngừng tăng ngân sách cho giáo dục mà đặc biệt là thực hiện cải cách đổi mới chương trình SGK Song song với việc đổi mới chương trình SGK là sự đổi mới phương pháp dạy học Với phương hướng đã được chỉ rõ “ Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp dạy học chuyển từ việc truyền đạt kiến thức thụ động thầy giảng trò ghi, sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức Dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách có
hệ thống và có tư duy phân tích tổng hợp, tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của học sinh trong quá trình học tập, có khả năng phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lí những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn… thì sẽ tạo cho người học lòng ham học khơi dậy tiềm năng vốn có trong mỗi người Làm được như vậy thì không những kết quả học tập được nhân lên gấp bội mà người học còn được chuẩn bị để tiếp tục tự học khi vào đời, dễ dàng thích ứng với cuộc sống, công tác, lao động trong xã hội…”
Sinh học là một bộ môn khoa học thực nghiệm do đó quá trình hình thành và phát triển các kiến thức sinh học cần thiết phải dựa trên kết quả các thí nghiệm ( Phần lớn nước vào cây đi đâu, cây có hô hấp không, thân dài ra do đâu, quang hợp…) do học sinh tự làm, sưu tập và quan sát vật mẫu
Mỗi một tiết học, một kiểu bài lên lớp đòi hỏi phải có những phương pháp khác nhau, phù hợp với mục tiêu, yêu cầu của bài Làm sao để phát huy được tính
tích cực, chủ động, sáng tạo của các em
Để đạt được những mục tiêu trên thì phương pháp thực hành có ý nghĩa to lớn
nó không chỉ giúp học sinh chiếm lĩnh các tri thức mà còn có ý nghĩa phát huy tính tích cực chủ động của các em trên cơ sở kết hợp với sự hướng dẫn, chỉ đạo của giáo viên với việc tự chiếm lĩnh tri thức của học sinh Phương pháp này còn góp phần bồi dưỡng tình cảm bộ môn, lòng say mê nghiên cứu, học tập, có hoài bão
Trang 2ước mơ đem hiểu biết và sức lao động sáng tạo của mình góp phần xây dựng quê hương đất nước, bảo vệ môi trường sống Do yêu cầu đổi mới như vậy nên tôi đi
vào tìm hiểu đề tài “Sử dụng nhóm phương pháp thực hành trong dạy học sinh học 6”
II THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA
ĐỀ TÀI
1 Thuận lợi
- Trong các môn khoa học thì sinh học được học trước vật lí, hóa học, được dành số tiết nhiều hơn vì thiên nhiên rất gần gũi với trẻ, cuốn hút sự hứng thú tìm tòi Và môn sinh học đã được học ở tiểu học điều đó tạo thuận lợi cho học sinh THCS phát triển các kiến thức sinh học ngay từ đầu cấp
- Được sự quan tâm của phòng giáo dục và xã, hiện nay cơ sở vật chất của nhà trường có thêm phương tiện phục vụ cho việc dạy và học
- Việc đổi mới dạy học đang đi vào chiều sâu, giáo viên được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, phương pháp dạy học mới, được dự các tiết dạy minh họa nên
có điều kiện tìm hiểu kĩ hơn về phương pháp dạy học mới
- Ở lứa tuổi lớp 6 học sinh hiếu động, thích khám phá những điều mới lạ Do
đó các phương pháp thực hành có tác dụng không chỉ giúp các em tự mình chiếm lĩnh các kiến thức thực vật một cách vững chắc, sâu sắc mà còn giúp các em rèn luyện kĩ năng bộ môn, gây hứng thú học tập, vận dụng kiến thức vào thực tiễn
- Đa số các em ở vùng nông thôn nên thực vật rất quen thuộc và gần gũi vì vậy việc chuẩn bị mẫu vật cho các tiết thực hành rất tốt
- Sử dụng các mẫu vật thật trong dạy học và tổ chức cho học sinh tiếp xúc trực tiếp với thiên nhiên sẽ tạo cho các em có những ấn tượng sâu sắc về thế giới thực vật, yêu thiên nhiên, bảo vệ môi trường sống
- Đề tài đã được đưa vào thử nghiệm và cho kết quả hết sức khả quan, phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh
2 Khó khăn
- Phải có đủ dụng cụ, nguyên vật liệu, thiết bị thích hợp với nội dung bài dạy theo nhóm hay cá nhân Trong khi đó mặc dù đựơc sự quan tâm giúp đỡ của phòng giáo dục và nhà trường nhưng về cơ sở vật chất và đồ dùng dạy học vẫn còn thiếu như : chuông thủy tinh, cân sinh học, hộp đồ mổ…
- Một số thí nghiệm khó thành công đòi hỏi tốn nhiều thời gian, công sức, một
số thí nghiệm tiến hành vài tiếng, vài ngày trong khi đó không có tiết thực hành riêng mà là bài lí thuyết dưới dạng thực hành
- Do học sinh ở vùng nông thôn nên không đồng đều về độ tuổi, năng lực, sự quan tâm của gia đình, đã ảnh hưởng rất lớn đến việc học tập của các em
- Số lượng học sinh trong một lớp còn đông ( 37 HS/ lớp ) nên việc tổ chức hoạt động theo nhóm và các giờ thực hành gặp khó khăn
- Do học sinh ở vùng nông thôn nên không đồng đều về độ tuổi, năng lực, sự quan tâm của gia đình, đã ảnh hưởng rất lớn đến việc học tập của các em
- Vì học sinh ở nông thôn nên chưa quan tâm nhiều đến môn học còn coi môn sinh là môn phụ, đa số học sinh chưa chuẩn bị bài trước khi đến lớp
Trang 3- Khả năng tư duy của các em còn hạn chế, việc nhận thức thừơng đi bằng con đường quy nạp từ trực quan sinh động các em chưa quen phân tích so sánh để rút
ra kết luận có tính khái quát
3 Số liệu thông kê
Trước khi bắt đầu áp dụng đề tài này tôi đã thống kê kết quả học tập của học sinh 6 lớp: 6.5, 6.6, 6.7, 6.8, 6.9, 6.10
Lớp HS TS SL Giỏi % SL Khá% SL TB% SL Yếu% SL % SLKém TB%
6.6 36 9 25 11 30.6 11 30.6 4 11.1 1 2.7 31 86.1
6.7 38 10 26.3 14 36.9 10 26.3 3 7.9 1 2.6 34 89.5
6.10 38 5 13.2 10 26.3 15 39.5 7 18.4 1 2.6 30 78.9
5 lớp 222 50 22.5 72 32.4 70 31.5 27 12.2 3 1.4 192 86.5
III NỘI DUNG ĐỀ TÀI
1 Cơ sở lí luận
- Nghị quyết TW 4 khóa 7 (1/1993) đã xác định phải : “Khuyến khích tự học” phải “Áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”
- Nghị quyết TW 2 khóa 8 (12/1996) tiếp tục khẳng định “Phải đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ 1 chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến
và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học”
- Vì “ Nói hay chưa phải là dạy, giảng dạy tốt bao giờ cũng phải là sự truyền thụ hai chiều giữa thầy và trò, được gọt dũa theo mục đích, nội dung, trình độ của người học ”
- Nâng cao chất lượng đào tạo là cải tiến nội dung đào tạo, quy trình đào tạo, phương pháp dạy học
- Phải kết hợp vận dụng các phương pháp dạy học đặc thù của Sinh học với các phương pháp dạy học khác có tác dụng kích thích năng lực tư duy tích cực độc lập sáng tạo của học sinh
- Sử dụng phương pháp thực hành tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành
và phát triển các loại kiến thức thực vật
- Giờ học bằng thí nghiệm, thực hành bao giờ cũng sinh động, cuốn hút nhận thức tích cực của trẻ ở độ tuổi này thực hành là rất cần thiết
- Sử dụng các mẫu vật thật sẽ tạo cho các em tiếp xúc trực tiếp với thiên nhiên, khám phá thế giới thực vật không gây cho học sinh sự nhàm chán, lặp đi lặp lại vì ở lớp 6 học sinh không có khả năng tập trung chú ý lâu mà dễ chán
- Giáo viên cần biết lựa chọn và biết phối hợp các phương pháp một cách khéo léo và linh hoạt phù hợp với nội dung của bài học, với trình độ của học sinh cần dẫn dắt học sinh từ kiến thức dễ đến khó và luôn tìm hiểu cái mới để lĩnh hội kiến thức mới đạt kết quả cao hơn
Trang 4- Cần tạo không khí thoải mái cho lớp học, làm cho học sinh thích thú khi đến lớp, phải mong đợi đến tiết học môn Sinh học
Với trình độ sư phạm và kinh nghiệm giảng dạy của mình giáo viên tạo được
uy tín với học sinh và làm cho các em có sự tin tưởng vào giáo viên, tạo được mối quan hệ giữa thầy và trò, tạo sự gần gũi thân mật để tổ chức và điều khiển hợp lícác hoạt động dạy học cụ thể như: hoạt động nhóm, hoạt động cá nhân Từ đó các
em tích cực năng động sáng tạo nhiều hơn trong tiết học
2 Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài
- Trong nhóm phương pháp thực hành, công tác độc lập của từng học sinh, hoặc theo nhóm nhỏ, là nguồn thông tin chủ yếu dẫn học sinh tới kiến thức mới Nếu trong phương pháp trực quan, học sinh quan sát, tri giác các phương tiện trực quan do giáo viên trình bày thì trong nhóm phương pháp thực hành, học sinh được trực tiếp thao tác trên đối tượng từ đó rút ra kiến thức mới, kĩ năng mới Bằng cách này học sinh nắm vững kiến thức hơn, đặc biệt biết rõ con đường đi tới kiến thức mới, đồng thời phát triển tư duy, phát triển kĩ năng bộ môn, gây hứng thú học tập, chuẩn bị khả năng vận dụng kiến thức học được vào thực tiễn, giáo dục ý thức lao động sáng tạo một cách có hiệu quả qua môn học
- Các phương pháp thực hành có thể vận dụng vào dạy học các kiến thức về hình thái, giải phẫu, sinh lí, sinh thái thực vật Cũng có thể áp dụng phương pháp thực hành cho các hoạt động ngoại khóa của tất cả học sinh trong lớp hoặc câu lạc
bộ sinh học, qua đó giúp các em mở rộng, đào sâu kiến thức, đặc biệt góp phần giáo dục cho các em tình cảm bộ môn và lòng yêu thiên nhiên
- Để vận dụng phương pháp thực hành có hiệu quả, giáo viên chuẩn bị chu đáo mẫu vật, làm thử, có quy trình tổ chức cho học sinh thực hành hợp lí Quy trình áp dụng phương pháp thực hành như sau:
* Chuẩn bị mẫu vật, dụng cụ thực hành: giáo viên có thể hướng dẫn học sinh chuẩn bị mẫu vật ở nhà trong tiết học trước, giáo viên làm thử trước khi lên lớp
* Hướng dẫn học sinh làm thực hành
* Trong khi học sinh thực hành, giáo viên theo dõi, sửa chữa, uốn nắn các thao tác thực hành cho học sinh, hoặc hướng dẫn thêm cho những học sinh chưa nắm được công việc của mình
* Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh rút ra các kết luận khoa học Giáo viên có thể cho học sinh vẽ, lập các biểu đồ, sơ đồ, các bảng thống kê để biểu diễn kết quả thực hành
- Sử dụng phương pháp thực hành được coi là tích cực khi nó là nguồn kiến thức để học sinh khai thác, tìm kiếm kiến thức mới dưới nhiều hình thức khác nhau
- Các phương pháp dạy học rất đa dạng về số lượng và mục đích sử dụng, muốn lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp người dạy phải biết giá trị của từng phương pháp, nội dung sử dụng nó, khi nào dùng thì cho kết quả cao Vì vậy tùy từng loại kiến thức mà sử dụng các phương pháp cho phù hợp
- Trong dạy học môn sinh học có các phương pháp thực hành sau:
* Học sinh thực hành xác định mẫu vật
* Học sinh thực hành quan sát
* Học sinh thực hành thí nghiệm
Trang 52.1 Phương pháp học sinh thực hành xác định mẫu vật.
- Phương pháp này được dùng để học các kiến thức về hình thái, phân loại trong các phần Thực vật như:
* Học sinh tập xác định các cơ quan khác nhau của cây: cơ quan sinh dưỡng ( rễ, thân, lá), cơ quan sinh sản ( hoa, quả, hạt)
* Phân biệt quả, hạt, cây một lá mầm và cây hai lá mầm
* Tập xác định các dạng lá, các loại thân, các loại rễ biến dạng, thân biến dạng, các kiểu xếp lá trên thân và cành …
* Nhận dạng một số loại thực vật, xác định vị trí phân loại của chúng
- Các nhiệm vụ này được giáo viên giao cho từng cá nhân hoặc nhóm nhỏ Sau khi hoàn thành, học sinh báo cáo kết quả trước lớp để góp phần xây dựng nội dung bài học
- Để hoàn thành bài tập xác định mẫu vật học sinh phải có kĩ năng cố định mẫu, dùng kính lúp, kính hiển vi, sử dụng dụng cụ thực hành khi cần thiết
Ví dụ 1: Bài 19: Đặc điểm bên ngoài của lá Sinh học 6 SGK/ 61.
Tập xác định các kiểu xếp lá trên thân, cành qua đó giải thích được ý nghĩa sinh học của nó
Đầu tiên giáo viên yêu cầu HS đọc mục SGK/ 63 Quan sát hình vẽ, mẫu vật thật: cây dâu, cây dừa cạn, cây dây huỳnh
Lá cây dâu Lá cây dừa cạn Lá cây dây huỳnh
Hình 19.5: Các kiểu xếp lá trên thân và cành
GV: Hướng dẫn HS quan sát mẫu vật thật: Yêu cầu học sinh xác định được vị trí của mấu thân
GV: Chú ý số lá trên mỗi mấu thân Yêu cầu HS thảo luận nhóm tìm thông tin hoàn thành bảng sau:
Có mấy lá mọc từ một mấu thân Kiểu xếp lá
- Các nhóm báo cáo kết quả thảo luận
Giáo viên yêu cầu học sinh rút ra kết luận: Có mấy kiểu xếp lá trên thân và cành
Trang 6Giáo viên yêu cầu học sinh tìm thêm ví dụ về các kiểu xếp lá trên thân và cành để khắc sâu kiến thức
Phân biệt các cách xếp lá (trên thân và cành) trong các mẫu vật thật mà GV đã mang đến lớp Qua đó học sinh có thể vận dụng để phân biệt các kiểu xếp lá trên thân và cành trong thiên nhiên
Lá ổi ( mọc đối) Húng quế ( mọc đối)
Mồng tơi ( mọc cách) Rau ngót ( mọc cách)
Lá trúc đào ( mọc vòng) dây huỳnh ( mọc vòng)
Trang 7Giáo viên yêu cầu học sinh lần lượt cầm 3 cành đã quan sát lên ( chú ý đặt cành
ở vị trí thấp để có thể nhìn từ trên xuống dưới), nhìn từ trên ngọn cành xuống, từ các phía khác nhau vào cành, có thể dùng tay kia vuốt các lá ở mấu trên xuống để
có thể so sánh vị trí với các lá ở mấu dưới
? Các lá ở mấu thân trên có nằm trên cùng đường thẳng với các lá ở mấu thân dưới không
Từ đó nhận xét gì về cách bố trí của các lá ở mấu thân trên so với mấu thân dưới trong cả 3 kiểu xếp lá
Học sinh sau khi quan sát thống nhất ý kiến trả lời
? Cách bố trí đó có lợi gì trong việc nhận ánh sáng của các lá trên cây
Ví dụ 2: Phân biệt các loại thân ở Bài 13: cấu tạo ngoài của thân SGK/ 44
GV: Treo tranh hình 13.3 SGK/ 44 Yêu cầu HS đặt mẫu vật lên bàn đối chiếu với tranh phân chia cây thành các nhóm
Gợi ý: Phân chia các nhóm thân cây dựa vào đặc điểm sau:
+ Vị trí của thân cây (nằm sát mặt đất hay cao so với mặt đất)
+ Độ cứng mềm của thân cây
+ Sự phân cành của thân (có hoặc không )
+ Thân tự đứng hay phải leo, bám vào vật khác
HS: Hoạt động nhóm, quan sát mẫu vật đối chiếu với tranh vẽ để chia nhóm thân + Thân mọc đứng: cây dâm bụt, hoa hồng, cau, dừa…
+ Thân mọc sát đất: rau má, có chỉ, …(thân mềm)
+ Cau, dừa thân không phân cành
Hình 13.3 Các loại thân
1 Cây đa 2 Cây dừa 3 Một số loại cây bìm bìm
4 Cây đậu 5 Cây rau má 6 Cây đậu hà lan 7 Cây cỏ mần trầu
Trang 8+ Thân phải leo, bám trên vật khác: mồng tơi, bầu bí, nho….
GV: Yêu cầu HS đọc thông tin SGK/ 44 Dựa vào đặc điểm khác nhau của thân cây người thường chia thân cây thành mấy loại ?
HS: Đọc thông tin SGK/ 44
Thân cây được chia làm 3 loại chính:
+ Thân đứng gồm: thân gỗ, thân cột và thân cỏ
+ Thân leo gồm: thân quấn và tua cuốn
+ Thân bò
GV:Dựa vào những đặc điểm bên ngoài của thân Hãy hoàn thành bảng SGK/45
gỗ Thân cột Thân cỏ Thân quấn Tua cuốn
Để rèn cho học sinh khắc sâu kiến thức giáo viên cho học sinh xác định các loại thân trên mẫu vật mà học sinh đã chuẩn bị.gv có thể cho hs xem một số hình ảnh và xác định các loại thân trên hình
Giáo viên yêu cầu học sinh rút ra kết luận về các loại thân
Trang 9Cây cọ (thân cột) Cây xoài (thân gỗ)
Thân cỏ
Trang 10Mùng tơi (leo bằng thân quấn) Nho (leo bằng thân quấn)
Thân leo bằng tua cuốn: mướp Rau má( thân bò)
2.2 Phương pháp học sinh thực hành quan sát:
- Phương pháp này dùng để học các kiến thức về giải phẫu, phân loại, sinh lí thực vật
- Học sinh dùng mắt thường hoặc với sự hỗ trợ của kính hiển vi, kính lúp hay nói rộng hơn là dùng các giác quan để tri giác trực tiếp và có mục đích đối tượng nghiên cứu, theo dõi, ghi chép các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên
Ví dụ: Quan sát tế bào biểu bì vảy hành dưới kính hiển vi ở Bài 6: “Quan sát
tế bào thực vật”
Hình 6.1: Các bước tiến hành
Giáo viên chuẩn bị kính hiển vi, tế bào biểu bì vảy hành đã nhuộm màu
Giáo viên kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh
Yêu cầu học sinh nhắc lại cách sử dụng kính hiển vi, vị trí đặt mắt quan sát
Phát dụng cụ thực hành cho các nhóm Yêu cầu học sinh đọc các bước tiến hành
GV: Lưu ý HS
+ Chuẩn bị bản kính sạch (có sẵn giọt nước) trước khi lấy tế bào trên mẫu vật + Phải bóc lớp biểu bì bên trong vảy hành thật mỏng mới dễ quan sát tế bào + Trải phẳng lớp tế bào biểu bì sao cho không bị đè lên nhau
+ Thực hiện đúng thao tác sao cho không có bọt khí