1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phối hợp các phương pháp tích cực vào dạy học định lí hình học 8

12 306 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 345,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Như chúng ta đã biết định lí cùng các khái niệm toán học tạo thành nội dung cơ bản của môn toán, làm nền tảng cho việc rèn luyện kỹ năng bộ môn, đặc biệt là kỹ năng suy luận và chứng minh, phát triển năng lực trí tuệ chung, rèn luyện tư tưởng, phẩm chất và đạo đức. Chính vì thế mà vai trò của người truyền thụ kiến thức được nâng lên. Do đó để thực hiện dạy học có hiệu quả đòi hỏi người giáo viên phải biết tự mình đổi mới phương pháp dạy học, biết cách tận dụng những ưu thế của từng phương pháp dạy học, biết lựa chọn phương pháp phù hợp với nội dung dạy học, phù hợp với đặc điểm và điều kiện của giáo viên, học sinh và của nhà trường nhằm phát huy được tính tích cực chủ động học tập của học sinh, làm cho người học không cảm thấy nhàm chán và sợ môn toán. Nhưng sử dụng như thế nào còn tùy thuộc vào tính cách, kinh nghiệm, trình độ... của giáo viên. Chính vì lí do đó đã thôi thúc tôi đưa ra một sáng kiến kinh nghiệm nhỏ về cách phối hợp các phương pháp tích cực vào dạy học định lí hình học 8 , để học sinh hiểu và tiếp thu bài tốt hơn, kết quả học tập khả quan hơn. Kính mong quý thầy, cô đóng góp ý kiến để phương pháp dạy học tốt hơn .

Trang 1

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Như chúng ta đã biết định lí cùng các khái niệm toán học tạo thành nội dung

cơ bản của môn toán, làm nền tảng cho việc rèn luyện kỹ năng bộ môn, đặc biệt là

kỹ năng suy luận và chứng minh, phát triển năng lực trí tuệ chung, rèn luyện tư tưởng, phẩm chất và đạo đức Chính vì thế mà vai trò của người truyền thụ kiến thức được nâng lên Do đó để thực hiện dạy học có hiệu quả đòi hỏi người giáo viên phải biết tự mình đổi mới phương pháp dạy học, biết cách tận dụng những ưu thế của từng phương pháp dạy học, biết lựa chọn phương pháp phù hợp với nội dung dạy học, phù hợp với đặc điểm và điều kiện của giáo viên, học sinh và của nhà trường nhằm phát huy được tính tích cực chủ động học tập của học sinh, làm cho người học không cảm thấy nhàm chán và sợ môn toán Nhưng sử dụng như thế nào còn tùy thuộc vào tính cách, kinh nghiệm, trình độ của giáo viên Chính

vì lí do đó đã thôi thúc tôi đưa ra một sáng kiến kinh nghiệm nhỏ về cách phối hợp các phương pháp tích cực vào dạy học định lí hình học 8 , để học sinh hiểu và tiếp thu bài tốt hơn, kết quả học tập khả quan hơn

Kính mong quý thầy, cô đóng góp ý kiến để phương pháp dạy học tốt hơn

II THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI:

1.Thuận lợi:

- Được sự quan tâm giúp đỡ tận tình của Phòng Giáo Dục, của Ban Giám Hiệu nhà trường, của tổ chuyên môn, giáo viên bộ môn…

- Trang thiết bị cung cấp cho môn hình tương đối đầy đủ.

- HS đã khá quen với phương pháp dạy học định lí hình học ở lớp 7 và các em

sớm tiếp cận với máy vi tính nên rất thuận lợi cho việc dạy học

- Một số phần mềm bổ trợ giảng dạy môn hình học: Phần mềm Powerpoint của

Microsoft office, Violet, GSP, Cabri, phần mềm bản đồ tư duy Mindjet

MindManager hoặc iMindMap …

2 Khó khăn:

- Cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy còn hạn chế.

- Nội dung kiến thức một số bài quá dài mà thời lượng chỉ có 45’.

- Kỹ năng soạn giáo án điện tử của giáo viên còn mới mẻ.

- Một số HS không chuẩn bị bài ở nhà nên phần phân tích định lí để tìm hướng

chứng minh còn khó khăn

3 Số liệu thống kê:

Trước khi làm đề tài tôi tiến hành khảo sát các học sinh khối 8 với câu hỏi :

Là học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường em nhận thấy rằng môn toán là môn học như thế nào ?

và thu được kết quả như sau:

Trang 1

Trang 2

Nội dung đáp án Số lượng(200HS) Tỉ lệ %

a Khô khan, nhàm chán

b Khó, căng thẳng dẫn đến mệt mỏi

c Bình thường

d Hấp dẫn, lôi cuốn

36 67 89 8

18 33.5 44.5 4

Qua bảng trên cho thấy hầu hết học sinh nhận thấy rằng môn toán là một môn học căng thẳng, dẫn đến mệt mỏi (33,5%), đây là điều hết sức đáng buồn, vì

đó là điều kiện, là động lực phát sinh ý nghĩ sai lầm của học sinh “ xem môn toán

là một môn học bắt buộc không có gì hứng thú” Nhưng thực ra môn toán cũng là một trong những môn học không kém phần lôi cuốn hấp dẫn nếu như chúng ta có

sự đam mê” còn căng thẳng, mệt mỏi là điều không thể tránh vì bản chất của môn toán là phải tư duy mà !

III NỘI DUNG ĐỀ TÀI:

1 Cơ sở lí luận:

Luật giáo dục, điều 24.2 đã ghi : “ phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm đem lại niềm vui, hứng thú học tập của học sinh”

Cho nên sử dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy là rất cần thiết Giáo viên có thể thiết kế những tiết dạy vô cùng lôi cuốn, tạo hứng thú cho các em xây dựng bài mới một cách nhiệt tình

2 Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài:

Để dạy một định lí tôi thường sử dụng những phương pháp dạy học sau :

Phương pháp 1: Sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông như công cụ

dạy học

Tôi thường dùng công nghệ thông tin để thay đổi hình dạng các hình vẽ của nội dung từng định lí để học sinh được nhìn thấy một cách trực quan, từ đó khẳng định nội dung định lí là hoàn toàn chính xác với mọi trường hợp, giúp học sinh tin tưởng tuyệt đối hơn Bên cạnh đó còn sử dụng cắt ghép hình để học sinh nhìn trực quan hơn, nhận thấy được kết quả nhanh hơn, trong khi đó thao tác thực hành thủ công rất mất thời gian, ngoài ra còn sử dụng phương pháp này vào việc tổ chức trò chơi cho tiết học sinh động, hứng thú hơn

Đặc biệt tôi còn thiết kế bản đổ tư duy nhằm giúp các em sâu chuỗi lại nội dung kiến thức vừa học để các em nhớ bài kỹ hơn

Tuy nhiên đây chỉ là phương tiện hỗ trợ bài giảng, chỉ sử dụng khi cần thiết, không nên lạm dụng quá nhiều Chính vì vậy mà ngoài phương pháp trên tôi còn

Trang 3

phải sử dụng thêm những phương pháp tích cực sau để phần nào tạo hứng thú học tập cho các em

Phương pháp 2: Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

Để dạy một định lí theo tôi điểm xuất phát là tạo ra những tình huống có vấn đề mà vấn đề đó phải gợi nhu cầu nhận thức của học sinh, gợi nhu cầu thấy cần thiết, hứng thú và mong muốn giải quyết vấn đề đó, gây niềm tin cho học sinh

để học sinh tích cực suy nghĩ và hi vọng có thể giải quyết vấn đề đó, tạo động lực cho học sinh bắt tay vào giải quyết vấn đề

Tuy nhiên, việc đặt ra và giải quyết vấn đề có 4 cấp độ khác nhau nhưng do chất lượng học tập của học sinh lớp còn hạn chế nên tôi chỉ sử dụng hai mức sau:

+ Mức độ 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề Học sinh

thực hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của giáo viên khi cần Giáo viên

và học sinh cùng đánh giá kết quả

+ Mức độ 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý học sinh tìm cách giải quyết vấn

đề Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên Giáo viên và học sinh cùng đánh giá kết quả

Chính vì vậy mà phương pháp này tôi sử dụng xuyên suốt tiến trình dạy học một định lí

Phương pháp 3: Phương pháp vấn đáp

Với phương pháp này tôi sử dụng xuyên suốt tiến trình dạy một định lí, nhằm đặt ra những câu hỏi gợi mở để học sinh từng bước tiếp cận và hình thành kiến thức mới, củng cố kiến thức vừa học

Phương pháp 4: Phương pháp suy luận phân tích

Xuất phát từ vấn đề cần chứng minh giáo viên đặt câu hỏi để học sinh cùng giáo viên hình thành hướng giải quyết, và hướng giải quyết này phải đi đến giả thiết có Từ đó học sinh có thể xây dựng được lời giải của mình một cách dễ dàng

Phương pháp 5: Phương pháp hợp tác theo nhóm

Tùy theo mức độ khó hay dễ, số lượng công việc giải quyết nhiều hay ít mà giáo viên có thể lựa chọn phương pháp hoạt động nhóm có ấn định thời gian cụ thể để các em hợp tác hoàn thành công việc nhanh hơn

Để tiến hành dạy một định lí tôi thực hiện hai bước với sự lồng ghép các phương pháp trên như sau:

BƯỚC 1: GIÚP HỌC SINH PHÁT HIỆN ĐỊNH LÍ VÀ CHỨNG MINH ĐỊNH LÍ

Với bước này tôi thường dùng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, phương pháp vấn đáp, phương pháp suy luận phân tích, phương pháp hợp tác theo nhóm lồng ghép với nhau.

BƯỚC 1.1: PHÁT HIỆN ĐỊNH LÍ:

Để giúp học sinh phát hiện định lí tôi thường sử dụng một trong hai cách sau:

Trang 3

Trang 4

Cách 1: Dự đoán nhờ nhận xét trực quan, nhờ thực hành hoặc hoạt động thực tiễn.

Thực hành đo đạc, cắt ghép giúp học sinh có thể tiếp cận định lí mới một cách tự nhiên, nhẹ nhàng mà không áp đặt kiến thức đối với học sinh Tuy nhiên trong quá trình thực hành còn rèn luyện cho học sinh các kỹ năng đo dạc, tính toán, cẩn thận trong thao tác cắt ghép hình Sau đây là ví dụ minh họa

Ví dụ 1: dạy định lí: “TỔNG CÁC GÓC CỦA MỘT TỨ GIÁC BẰNG

360 0

A

D

C

B

E

F

G

H

GV: Vẽ hai tứ giác có hình dạng và kích thước

khác nhau sẵn

Hỏi: Em có nhận xét gì về hình dáng và kích thước của hai tứ giác trên ?

HS: khác nhau

GV Đặt vấn đề: Những tứ giác có hình dáng khác nhau, số đo các góc cũng có thể khác nhau chăng Vấn đề đặt ra ở đây là tổng số đo bốn góc của tứ giác này có bằng tổng số đo bốn góc của tứ giác kia không ? và tổng số đo của bốn góc tứ giác là bao nhiêu độ ?

GV: Yêu cầu mỗi học sinh vẽ vào vở mình một tứ giác bất kì Rồi thực hiện các yêu cầu sau: đo các góc của tứ giác, tính tổng các góc từ đó rút ra nhận xét

Cùng thời điểm đó cho hai học sinh lên bảng thực hiện các yêu cầu như trên với hình vẽ của giáo viên chuẩn bị sẵn

Tiếp theo GVcho HS dưới lớp đọc kết quả của mình để so sánh kết quả trên bảng GV: chốt lại các kết quả của học sinh: các kết quả đo được của các góc có sự chênh lệch nhau tuy nhiên ta có thể dự đoán tổng số đo các góc của một tứ giác là bao nhiêu độ ?

HS: Dự đoán: tổng các góc của một tứ giác bằng 3600

Ví dụ 2: dạy định lí: “ĐƯỜNG TRUNG BÌNH CỦA HÌNH THANG SONG SONG VỚI HAI ĐÁY VÀ BẰNG NỬA TỔNG HAI ĐÁY”

GV: Độ lớn đường trung bình của tam giác được tính bằng cách lấy cạnh song song với nó chia cho hai, còn đường trung bình của hình thang được tính như thế nào

? GV: Yêu cầu mỗi học sinh vẽ vào vở mình đường trung bình của hình thang bất kì Rồi thực hiện các yêu cầu sau:

a) Đo AB, CD, EF rồi so sánh EF với AB + CD

b) Đo góc AEF, ADC rồi rút ra nhận xét về vị trí tương đối của đường trung bình

Trang 5

của hình thang với hai đáy của hình thang.

Cùng thời điểm đó cho một học sinh lên bảng thực hiện các yêu cầu với hình vẽ của giáo viên chuẩn bị sẵn

Tiếp theo GV bài cho HS dưới lớp đọc kết quả của mình để so sánh kết quả trên bảng

GV: chốt lại các kết quả của học sinh: các kết quả đo được của các góc có sự chênh lệch nhau tuy nhiên ta có thể dự đoán gì về đường trung bình của hình thang ?

HS: Dự đoán: độ dài đường trung bình của hình thang song song với hai đáy và bằng nửa tổng hai đáy

Cách 2: Khai thác kiến thức cũ đặt vấn đề cho kiến thức mới

Ví dụ 3: dạy định lí: “DIỆN TÍCH TAM GIÁC BẰNG NỬA TÍCH CỦA MỘT CẠNH VỚI CHIỀU CAO ỨNG VỚI CẠNH ĐÓ”.

A

B H C

A

C

B H

A

B C H

HÌNH 2

GV: Diện tích tam giác vuông bằng nửa tích hai cạnh góc vuông, mà cạnh góc vuông cũng đóng vai trò

là đường cao Vậy nếu cạnh góc vuông này đóng vai trò là đường cao, cạnh góc vuông kia là cạnh ứng với đường cao thì diện tích tam giác vuông có thể phát biểu như thế nào ?

GV đưa ra hai loại tam giác nhọn( hình 2), tam giác tù( hình 3) có sẵn đường cao liệu định lí còn đúng với hai trường hợp này không, ta phải chứng minh

Ví dụ 4: dạy định lí: “TỔNG CÁC GÓC CỦA MỘT TỨ GIÁC BẰNG

360 0

A

D

C

B

GV: Một tam giác bất kỳ đều có tổng các góc bằng 1800 , Bây giờ một tứ giác bất kỳ, liệu ta có thể nói gì về tổng các góc trong của nó ? liệu tổng các góc trong của nó có phải là một hằng số tương tự như tam giác hay không ?

BƯỚC 1.2: TÌM GIẢI PHÁP ĐỂ CHỨNG MINH ĐỊNH LÍ:

Để giúp học sinh tìm giải pháp để giải quyết vấn đề tôi thường sử dụng một trong hai cách sau:

Cách 1: Dùng phương pháp vấn đáp

Ví dụ 1: dạy định lí: “TỔNG CÁC GÓC CỦA MỘT TỨ GIÁC BẰNG

360 0

Trang 5

Trang 6

D

C

B

GV: Ta biết cách chứng minh định lí về tổng các góc của tam giác, liệu ta có thể đưa trường hợp tứ giác ABCD về trường hợp tam giác không ? làm thế nào để xuất hiện tam giác

HS: Kẻ đường chéo AC GV: tiếp theo ta sẽ tính số đo các góc của hình nào?

HS: của hai tam giác

GV: Tổng số đo các góc của tứ giác có mối liên hệ như thế nào với số đo các góc của hai tam giác ?

HS: Tổng số đo các góc của tứ giác bằng tổng số đo các góc của hai tam giác

Ví dụ 2: dạy định lí: “DIỆN TÍCH TAM GIÁC BẰNG NỬA TÍCH CỦA MỘT CẠNH VỚI CHIỀU CAO ỨNG VỚI CẠNH ĐÓ”.

A

B H C

A

C

B H

A

B C H

HÌNH 2

GV: Ta đã biết cách tính diện tích của ABC vuông rồi Để tính diện tích của

ABC

 không vuông thì ta

có thể quy về tính diện tích của tam giác vuông nào ? HS: Diện tích của hai tam giác vuông ABH , ACH

GV: Diện tích hai tam giác vuông ABH , ACH có mối qua hệ như thế nào với

ABC

HS: Tổng diện tích hai tam giác vuông ABH , ACH bằng diện tích ABC

Cách 2: Dùng phương pháp suy luận phân tích

Kết hợp phương pháp suy luận phân tích với phương pháp vấn đáp giữa giáo viên và học sinh Từ đó giáo viên hình thành giải pháp dưới dạng sơ đồ phân tích

Ví dụ 3: dạy định lí: “TỔNG CÁC GÓC CỦA MỘT TỨ GIÁC BẰNG 360 0 ”

A

D

C

B

    360 0

D C B A

D ACD

B BCA BAC

ADCABC

Giả thiết

Trang 7

Ví dụ 4: dạy định lí: “DIỆN TÍCH TAM GIÁC BẰNG NỬA TÍCH CỦA MỘT CẠNH VỚI CHIỀU CAO ỨNG VỚI CẠNH ĐÓ”.

A

B H C

A

C

B H

A

B C H

HÌNH 2

Hình 3:

SABC =

SABC = SBHA - SCHA 

SBHA = SCHA =

Giả thiết và định lí về diện tích tam giác vuông Hình 2: SABC =

SABC = SBHA + SCHA 

SBHA = SCHA =

Giả thiết và định lí về diện tích tam giác vuông Ví dụ 5: dạy định lí: “TRONG HÌNH THANG CÂN, HAI CẠNH BÊN BẰNG NHAU”. Sơ đồ phân tích: “Trường hợp AB < CD” A B C D O * Nối AD cắt BC tại O AD = BC 

OD – OA = OC – OB 

OD = OC OA = OB  

ODC cân tại O OAB cân tại O

 Giả thiết và định nghĩa tam giác cân

Ví dụ 6: dạy định lí: “TRONG TAM GIÁC, ĐƯỜNG PHÂN GIÁC CỦA MỘT GÓC CHIA CẠNH ĐỐI DIỆN THÀNH HAI ĐOẠN THẲNG TỈ LỆ VỚI HAI CẠNH KỀ HAI ĐOẠN ẤY”.

Trang 7

A

B D

C

HÌNH 2

A

D

HÌNH 1

C

A

D

B

HÌNH 3

Trang 8

B

C D

E

Gv: Em hãy cho biết có

kiến thức nào giúp ta chứng

minh hai đoạn thẳng này

tương ứng tỉ lệ với hai đoạn

thẳng khác không

HS: Hệ quả của định lí ta let

GV: Ta phải vẽ yếu tố phụ

như thế nào để có được

đường thẳng cắt đường nối

dài hai cạnh và song song

với cạnh thứ ba của tam giác

HS: Qua B vẽ đường thẳng

song song với AC cắt đường

nối dài AD tại E

Giáo viên cùng học sinh hình

thành sơ đồ phân tích

* Sơ đồ phân tích:

Ví dụ 7: ĐỊNH LÍ “TRONG HÌNH BÌNH HÀNH: CÁC CẠNH ĐỐI BẰNG NHAU, CÁC GÓC ĐỐI BẰNG NHAU, HAI ĐƯỜNG CHÉO CẮT NHAU TẠI TRUNG ĐIỂM CỦA MỖI ĐƯỜNG”.

Tính chất c: Hai đường

chéo cắt nhau tại trung

điểm của mỗi đường

* Sơ đồ phân tích:

C

D

O O

O

Gv: Em hãy để chứng minh các đoạn thẳng bằng nhau ta quy về chứng minh điều gì?

HS: AOBCOD

BE = AB

cân tại B

GT, Hệ quả định lí Ta lét, định nghĩa tam giác cân

Giả thiết và định nghĩa hình bình hành, tính chất a, b

AOB COD

OA=OC, OB=OD

Trang 9

BƯỚC 1.3: TRÌNH BÀY GIẢI PHÁP:

Sau khi thực hiện xong bước tìm giải pháp, tùy theo mức độ khó hay dễ, khối lượng công việc giải quyết nhiều hay ít của định lí mà giáo viên có thể cho

HS chứng minh định lí theo theo một trong hai cách sau:

Cách 1: Dùng phương pháp hoạt động cá nhân

Ví dụ 1 : dạy định lí: “TỔNG CÁC GÓC CỦA MỘT TỨ GIÁC BẰNG 360 0

Sau khi tìm giải pháp xong

GV: mời một bạn lên bảng trình bày, còn lại làm vào vở

Sau đó HS khác nhận xét, giáo viên hoàn chỉnh bài chứng minh

Cách 2: Dùng phương pháp hoạt động nhóm

Ví dụ 2: dạy định lí: “DIỆN TÍCH TAM GIÁC BẰNG NỬA TÍCH CỦA MỘT CẠNH VỚI CHIỀU CAO ỨNG VỚI CẠNH ĐÓ”.

Sau khi tìm giải pháp xong

GV: Cho các em hoạt động nhóm có ấn định thời gian: 2 nhóm chứng minh

trường hợp tam giác nhọn, 2 nhóm chứng minh trường hợp tam giác tù và yêu cầu

HS hoàn thành chứng minh trên bảng phụ GV đã chuẩn bị

Sau đó các nhóm nhận xét chéo và giáo viên cho điểm các nhóm

BƯỚC 2: GIÚP HỌC SINH CỦNG CỐ ĐỊNH LÍ:

Để giúp học sinh củng cố định lí tôi thường sử dụng công nghệ thông tin

để hỗ trợ cho bước này

Sau khi cùng HS hoàn chỉnh lập luận chứng minh xong tôi thường tiến hành làm những việc sau :

+ Sử dụng powerpoint cắt ghép các hình hoặc phần mềm GSP thay đổi hình dạng

của các hình để một lần nữa học sinh giúp học sinh tin tưởng tuyệt đối vào nội dung định lí mình chứng minh là hoàn toàn đúng

+ Cho các em nhắc lại nội dung định lí.

+ Củng cố định lí: Sử dụng phần mềm Violet, phần mềm Powerpoint của

Microsoft offic để xây dựng các câu hỏi trắc nghiệm trên phần mềm Violet, tổ chức trò chơi “đoán ô chữ” trên powerpoint, “ chiếc nón kì diệu”…

Ví dụ 1: Sử dụng phần mềm Violet, xây dựng các câu hỏi trắc nghiệm bằng nhiều

hình thức:

Cách 1 : Chọn đáp án đúng nhất.

Cách 2: Trắc nghiệm đúng, sai (chú ý nếu đáp án sai – HS cho biết đáp án

đúng)

Ví dụ 2: Sử dụng phần mềm Powerpoint của Microsoft office, tổ chức trò chơi

đoán ô chữ để tiết học sôi nỗi hơn( lưu ý câu hỏi nên củng cố kiến thức vừa

học).Nhưng phải có ý nghĩa tích cực đối với học sinh như: ô chữ nói đến

Trang 9

Trang 10

nhiệm vụ quan trọng của học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường, ngày kỉ niệm trong tháng các em đang học, sự kiện nỗi bậc hiện nay…

Sau đó giáo viên thuyết trình sơ lượt các vấn đề liên quan đến ô chữ cũng như nhắc nhở, động viên các em hướng, làm theo những gì tốt đẹp mà xã hội chấp nhận.

Ví dụ 3: Sử dụng phần mềm Powerpoint của Microsoft office, tổ chức trò chơi

chiếc nón kì diệu để tiết học sôi nỗi hơn( lưu ý câu hỏi nên củng cố kiến thức

vừa học).

TRÒ CHƠI Ô CHỮ 1

O

H

TRÒ CHƠI Ô CHỮ 2

26

40

10

60

-20

L

30 7 0

-5 0

5

0

TỔ 1

TỔ 2

TỔ 3

TỔ 4

1 2 3 4 5

Ngày đăng: 11/06/2015, 14:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w