TÊN CHUYÊN ĐỀ: MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP Ở HỌC SINH TRONG GIỜ HỌC HÓA 9 I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Hóa học là môn khoa hoc thực nghiệm đòi hỏi HS phải biết vận dụng kiến thức để giải các bài tập,đồng thời biết vận dụng kiến thức vào thực tế để giải thích các hiện tượng, các quá trình xảy ra trong tự nhiên xung quanh ta. Qua giảng dạy môn hóa học 9 tôi nhận thấy phần lớn HS còn yếu kém môn hóa. Ở đây không phải là do các em không chịu học mà các em thường nói môn hóa là môn khó hiểu và khó tiếp thu. Thực tế môn hóa là môn khoa học, nhưng các em được tiếp cận muộn nhất so với các môn ở THCS. Những khái niệm, những tính chất về chất các em còn mơ hồ do mới tiếp cận ở lớp 8. Vì vậy lên lớp 9 các em tiếp thu bài rất chậm, thậm chí có em còn chán nản,ngại học. Để giải tỏa được tâm lí trên, nhằm tăng hứng thú học tập của học sinh, giúp học sinh chiếm lĩnh kiến thức một cách chủ động, sáng tạo nên tôi đã chọn đề tài: “ Một số phương pháp tạo hứng thú học tập ở học sinh trong giờ học hóa 9”. II. THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI: 1. Thuận lợi. Trong đời sống ở địa bàn các em gặp rất nhiều hiện tượng liên quan đến hóa học, kích thích sự tò mò tìm hiểu qua bộ môn hóa học hơn. Cơ sở, vật chất được trang bị đầy đủ: Có phòng chức năng và phòng thực hành riêng,dụng cụ hóa chất tương đối đầy đủ. Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại sách tham khảo về bài tập hóa học, qua đó giúp học sinh tự bồi dưỡng cho mình kĩ năng, kĩ xảo để giải bài tập hóa học. Chương trình sách giáo khoa 9 mới được tăng cường tiết thực hành thí nghiệm góp phần tạo hứng thú học tập ở học sinh. 2. Khó khăn: HS trong 1 lớp sức học chưa đồng đều. Đội ngũ GV dạy bộ môn hóa của trường còn non trẻ nên số năm kinh nghiệm còn ít. Kiến thức hóa học là một loại kiến thức mới đối với học sinh trung học cơ sở, các em chưa quen nên việc nắm bắt chưa đạt hiệu quả. Bài tập hóa học có nhiều dạng nên dễ làm học sinh lẫn lộn các dạng với nhau. 3. Số liệu thống kê: Trước khi thực hiện đề tài tôi đã khảo sát ở HS lớp 9 chất lượng như sau: Lớp Số HS Giỏi Khá Tb Yếu kém SL % SL % Sl % SL % 91 32 4 12.5 6 18.7 10 31.3 12 37.5 92 33 6 18.2 7 21.2 9 27.3 11 33.3 93 33 7 21.2 8 24.2 8 24.2 10 30.4 94 30 4 13.3 6 20 8 26.7 12 40 Tổng 128 21 16.4 27 21.1 35 27.3 45 35.2 III.NỘI DUNG ĐỀ TÀI
Trang 1Thực tế môn hóa là môn khoa học, nhưng các em được tiếp cận muộn nhất so với các môn
ở THCS Những khái niệm, những tính chất về chất các em còn mơ hồ do mới tiếp cận ở lớp 8 Vì vậy lên lớp 9 các em tiếp thu bài rất chậm, thậm chí có em còn chán nản,ngại học Để giải tỏa được tâm lí trên, nhằm tăng hứng thú học tập của học sinh, giúp học sinh chiếm lĩnh kiến thức một cách chủ động, sáng tạo nên tôi đã chọn đề tài: “ Một số phương pháp tạo hứng thú học tập ở học sinh trong giờ học hóa 9”
II TH ỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI:
- HS trong 1 lớp sức học chưa đồng đều.
- Đội ngũ GV dạy bộ môn hóa của trường còn non trẻ nên số năm kinh nghiệm còn ít
- Kiến thức hóa học là một loại kiến thức mới đối với học sinh trung học cơ sở, các emchưa quen nên việc nắm bắt chưa đạt hiệu quả
- Bài tập hóa học có nhiều dạng nên dễ làm học sinh lẫn lộn các dạng với nhau
3 Số liệu thống kê:
Trước khi thực hiện đề tài tôi đã khảo sát ở HS lớp 9 chất lượng như sau:
III.NỘI DUNG ĐỀ TÀI
Trang 21 Cơ sở lí luận
Trong thực trạng đất nước đang trên đường Công Nghiệp Hóa – Hiện Đại Hóa thì đòi hỏimỗi người phải được trang bị một hệ thống kiến thức vững chắc, mà giáo dục đóng vai tròhết sức quan trọng vì thế Luật giáo dục điều 24.2 đã ghi rõ: “Phương pháp giáo dục phổthông phải phát huy được tính tích cực tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh, phù hợpvới đặc điểm của từng lớp học, từng môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩnăng vận dụng kiến thức vào thực tiễn tác động đến tình cảm đem lại niềm vui, hứng thúhọc tập cho học sinh”
Nhưng để có thể đạt được những điều trên thì đòi hỏi người giáo viên phải không ngừngđổi mới phương pháp dạy học, phải làm thế nào để các em có được hứng thú với môn học.Khi đã tạo được hứng thú học tập ở các em nghĩa là ta đã giúp các em say mê với môn học,
đó cũng là nền tảng giúp các em chiếm lĩnh cả một kho tàng kiến thức hóa học dễ dàng
2 Nội dung và biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài.
Từ thực trạng cần thiết phải có sự đổi mới trong phương pháp dạy và học.Với kinh nghiệmgiảng dạy của bản thân, qua học tập, trao đổi với đồng nghiệp và qua quá trình nghiên cứutôi đã đưa ra một số phương pháp nhằm tạo hứng thú học tập cho HS như sau:
2.1 Tạo hứng thú học tập cho HS bằng cách đưa hiện tượng thực tế vào bài giảng:
Là GV trực tiếp giảng dạy bộ môn hóa, tôi nhận thấy rằng ở học sinh dù khả năng tư duycủa các em có cao tới bao nhiêu đi nữa thì vẫn rất ngại những bài học khô khan mang tính
lí thuyết mà trái lại các em tỏ ra hứng thú với những bài giảng có tính thực tế cao, mỗi khigiáo viên đặt ra những hiện tượng thực tế trong đời sống hàng ngày xung quanh mình các
em tỏ ra tò mò, hiếu kì muốn tìm ngay lời giải đáp và tập trung vào bài học rất cao
Việc đưa hiện tượng thực tế vào bài giảng thì tùy theo mỗi bài mà giáo viên có thể đưa vàothời gian nào cho phù hợp:
+ Đưa vào đầu bài giảng: Tiết dạy có gây sự chú ý của học sinh hay không nhờ vàongười hướng dẫn là giáo viên rất nhiều, trong đó phần đầu đặc biệt quan trọng, nếu ta biếtđặt một tình huống thực tiễn hoặc một tình huống giả định yêu cầu học sinh cùng tìm hiểu,giải thích qua bài học sẽ cuốn hút được sự chú ý của học sinh, kích thích năng lực khámphá lôi kéo học sinh vào bài giảng
+ Đưa vào trong từng phần của bài giảng : Tính chất vật lí, tính chất hoá học, ứng dụng, điều chế ….Học sinh thấy hứng thú và dễ nhớ bài hơn nếu trong quá trình dạy và học giáoviên luôn có định hướng liên hệ thực tế giữa các kiến thức sách giáo khoa với thực tiễn đờisống hàng ngày Rất nhiều kiến thức hoá học gắn liền với các hiện tượng tự nhiên xungquanh ta
+ Đưa vào sau khi kết thúc bài giảng: Khi học xong vấn đề gì học sinh thấy có ứngdụng thực tiễn cho cuộc sống thì các em sẽ chú ý hơn, tìm tòi, chủ động tư duy để tìmhiểu,dễ nhớ hơn,đồng thời nắm bài chắc hơn
Muốn vậy GV phải chuẩn bị các bước sau:
- Bước 1: Tìm các hiện tượng thực tế tương ứng với mỗi bài trong chương trình Hoá học 9.
- Bước 2: Giải thích các hiện tượng thực tế trong phạm vi kiến thức của học sinh trung
học cơ sở ( Vì cấp độ bộ môn Hoá ở THCS chưa tìm hiểu sâu quá trình diễn biến của sựviệc hay hiện tượng.)
- Bước 3: Soạn giáo án đưa các hiện tượng thực tế đã tích hợp được vào bài giảng cho phù
hợp
Trang 3VD khi giảng dạy trong chương I của hóa 9 tôi đưa hiện tượng thực tế vào những bài sau
để thu hút HS vào bài giảng
Ví dụ 1: BÀI 2: MỘT SỐ OXIT BAZƠ QUAN TRỌNG
* Bước 1: Tìm hiện tượng
- Hiện tượng tôi vôi
- Tại sao để bảo quản vôi ta lại cho vôi vào các túi kín ?
- Tại sao CaO được dùng để khử chua đất trồng trọt ?
* Bước 2 : Giải thích hiện tượng
- Hiện tượng tôi vôi
“ Cho vôi sống vào nước, CaO tan dần có phản ứng xảy ra:
CaO + H2O → Ca(OH)2
Phản ứng toả rất nhiều nhiệt nên làm nước sôi lên và bốc hơi đem theo cả những hạtCa(OH)2 rất nhỏ tạo thành như khói mù trắng Do nhiệt toả ra lớn nên cần tránh xa hố vôimới tôi gây nguy hiểm đến tính mạng.”
- Tại sao để bảo quản vôi ta lại cho vôi vào các túi kín?
“ Để vôi sống ngoài không khí CaO phản ứng với oxit axit CO2 trong không khí tạothành muối CaCO3 làm mất đi tính chất vôi : ”
CaO + CO2 → CaCO3
- Tại sao CaO được dùng để khử chua đất trồng trọt ?
“ Trong đất chua có chứa axit Muốn khử chua đất trồng trọt cần bón CaO vào đất
Gv : ? Em hãy mô tả lại hiện tượng tôi
vôi diễn ra như thế nào ?
Gv: ? Hiện tượng gì xảy ra khi để lâu
CaO một thời gian mà không sử dụng?
Trang 4HOẠT ĐỘNG II: TÌM HIỂU VỀ
Ví dụ 2: BÀI 4: MỘT SỐ AXIT QUAN TRỌNG
* Bước 1: Tìm hiện tượng
Cách xử lí khi bị axit rơi vào da
* Bước 2 : Giải thích hiện tượng
Khi bị axit rơi vào da người ta thường dùng nước vôi loãng, nước xà phòng, kemđánh răng để ngâm, rửa hoặc bôi lên vết bỏng để trung hòa axit.Vì các chất trên có tínhkiềm
*Bước 3 : Đưa vào bài giảng:
Phần củng cố:
Gv : ? Khi bị axit rơi vào tay ta xử lí bằng cách nào.
Hs : Dựa vào tính chất hoá học của axit vừa học trong bài tìm đáp an tối ưu nhất
Gv: Vậy nếu uống phải axit loãng ta có dùng những chất đó để trung hòa axit không ?Hs: Trả lời
Gv: Nhận xét và bổ sung
Gv : Lưu ý an toàn khi sử dụng axit trong quá trình thí nghiệm và trong thực tế
Ví dụ 3: BÀI 8: MỘT SỐ BAZƠ QUAN TRỌNG (t1)
* Bước 1: Tìm hiện tượng
- Tại sao cầm một nắm xà phòng trong tay ướt chúng ta sẽ cảm thấy nóng
- Tại sao NaOH khi để trong không khí thì sẽ bị chảy rửa
* Bước 2 : Giải thích hiện tượng
- Tại sao cầm một nắm xà phòng trong tay ướt chúng ta sẽ cảm thấy nóng ?
“ Vì trong thành phần của xà phòng vẫn còn dư NaOH trong quá trình điều chế khi xà
phòng tan trong nước thì NaOH cũng tan ra đồng thời toả nhiệt làm cho tay chúng ta cảmthấy nóng.”
- Tại sao NaOH khi để trong không khí thì sẽ bị chảy rửa ?
“ Vì NaOH hút nước trong không khí và sẽ hòa tan vào lượng nước đó nên nó sẽ chảy ra”
* Bước 3 : Đưa vào bài giảng:
Phần bài mới :
Trang 5HOẠT ĐỘNG GV VÀ HS NỘI DUNG
“NaOH là chất tan nhiều trong nước và
tỏa nhiều nhiệt”
Gv: Tại sao NaOH khi để trong không
khí thì sẽ bị chảy rửa
Hs: Vì NaOH hút nước trong không khí
và sẽ hòa tan vào lượng nước đó nên nó
sẽ chảy ra
Gv: Vậy NaOH nếu để trong không khí
ẩm thì có khả năng làm không khí khô
lại không
Hs: Trả lời và rút ra kết luận :
“NaOH có tính hút ẩm”
I TÍNH CHẤT VẬT LÍ CỦA NaOH
Ví dụ 4: BÀI 8: MỘT SỐ BAZƠ QUAN TRỌNG (t1)
* Bước 1: Tìm hiện tượng
Trên bề mặt hố vôi tôi có một lớp ván
* Bước 2 : Giải thích hiện tượng
Vì vôi tôi Ca(OH)2 có thể tác dụng với oxit axit CO2 có trong không khí tạo thànhchất rắn CaCO3
Gv: Tại sao trên bề mặt hố vôi tôi có
Trang 6Gv: Tại sao lớp ván chỉ có trên bề mặt
hố vôi tôi
Hs: giải thích
Gv: Nhận xét và bổ sung
Ví dụ 5: BÀI 9: TÍNH CHẤT HOÁ HỌC CỦA MUỐI
* Bước 1: Tìm hiện tượng
Bánh mì tại sao lại rất xốp
* Bước 2 : Giải thích hiện tượng
(NH4)2CO3 được dùng làm bột nở vì khi trộn thêm vào bột mì, lúc nướng bánh thì(NH4)2CO3 sẽ bị phân huỷ thành các chất khí bay hơi nên làm cho bánh xốp và nở hơn (NH4)2CO3 →t0 NH3 ↑+ CO2 ↑ + H2O ↑
*Bước 3 : Đưa vào bài giảng:
Gv: Thông báo cho hs các sản phẩm
khi muối này bị phân hủy bởi nhiệt
Gv : Yêu cầu hs giải thích
Hs : giải thích
Gv: Nhận xét và bổ sung
Gv : Yêu cầu hs viết phương trình
Hs: Viết phương trình
I TÍNH CHẤT HÓA HỌC CỦA MUỐI
5 Phân hủy bởi nhiệt
(NH4)2CO3 →t0 NH3 ↑+ CO2 ↑+ H2O ↑
Ví dụ 6: BÀI 10: MỘT SỐ MUỐI QUAN TRỌNG
* Bước 1: Tìm hiện tượng
- Tại sao muối ăn lại hay bị chảy nước?
- Vì sao nước mắt lại mặn?
- Tại sao khi bảo quản cá ta lại cho cá vào thùng đá có bỏ thêm tí muối ?
Trang 7* Bước 2 : Giải thích hiện tượng
- Tại sao muối ăn lại hay bị chảy nước?
“ Muối ăn khi khai thác từ nước biển, mỏ muối, hồ muối thường có lẫn nhiều tạp chất nhưMgCl2 , CaCl2 …Là những chất ưa nước nên làm cho muối dễ bị ướt ”
- Vì sao nước mắt lại mặn?
“Vì trong nước mắt có 6 g muối Nước mắt được sinh ra từ tuyến lệ có tác dụng bôi trơnnhãn cầu làm cho nhãn cầu không bị khô, bị xước và vì có muối nên có tác dụng hạn chếbớt sự phát triển của vi khuẩn trong mắt Và cũng vì vậy mà thuốc đau mắt có thành phầnmuối NaCl.”
- Tại sao khi bảo quản cá ta lại cho cá vào thùng đá có bỏ thêm tí muối
“Vì muối có thể làm hạ thấp nhiệt độ của đá xuống – 80C, - 100C thậm chí – 180C”
*Bước 3 : Đưa vào bài giảng:
Phần bài mới :
HOẠT ĐỘNG I : TÌM HIỂU
MUỐI NATRI CLORUA
Gv : ? Tại sao khi bảo quản cá ta lại
cho cá vào thùng đá có bỏ thêm tí
? Tại sao muối ăn lại hay bị chảy nước
Trả lời : Muối ăn khi khai thác từ nước biển, mỏ muối, hồ muối thường có lẫn nhiều tạpchất như MgCl2 , CaCl2 … Là những chất ưa nước nên làm cho muối dễ bị ướt
? Vì sao nước mắt lại mặn
Trả lời : Vì trong nước mắt có 6 g muối Nước mắt được sinh ra từ tuyến lệ có tác dụng bôitrơn nhãn cầu làm cho nhãn cầu không bị khô, bị xước và vì có muối nên có tác dụng hạnchế bớt sự phát triển của vi khuẩn trong mắt Và cũng vì vậy mà thuốc đau mắt có thànhphần muối NaCl
Ví dụ 7: BÀI 11: PHÂN BÓN HOÁ HỌC
* Bước 1: Tìm hiện tượng
- Tại sao khi trồng cây ta lại bón phân
- Tại sao khi nông nghiệp phát triển thì các vi khuẩn, nấm, giun tròn sống trong đất,nước giảm đi rất nhiều thậm trí nhiều nơi không còn nữa
7
Trang 8* Bước 2 : Giải thích hiện tượng
- Tại sao khi trồng cây ta lại bón phân
“Cung cấp chất dinh dưỡng giúp cây phát triển tốt hơn”
- Tại sao khi nông nghiệp phát triển thì các vi khuẩn, nấm, giun tròn sống trong đất,nước giảm đi rất nhiều thậm trí nhiều nơi không còn nữa
“Một số phân bón có thể tiêu diệt các loại sinh vật có hại này”
*Bước 3 : Đưa vào bài giảng:
Phần mở bài :
Gv : ? Tại sao khi trồng cây ta lại bón phân
Hs : Cung cấp chất dinh dưỡng giúp cây phát triển tốt hơn
Gv : “Vậy những loại phân bón hoá học có vai trò và thành phần như thế
nào đối với cây trồng bài học ngày hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu và có câu trả lời ”
Phần củng cố :Tại sao khi nông nghiệp phát triển thì các vi khuẩn, nấm, giun tròn sống
trong đất, nước giảm đi rất nhiều thậm trí nhiều nơi không còn nữa
Hs : Một số phân bón có thể tiêu diệt các loại sinh vật có hại này.
2.2 Tạo hứng thú học tập cho HS bằng cách ứng dụng công nghệ thông tin vào bài dạy:
Ngày nay việc ứng dụng công nghệ thông tin vào bài dạy là rất phổ biến ở các bộ môn nóichung và bộ môn hóa học nói riêng ở THCS, đồng thời cũng là phương pháp tạo nhiềuhứng thú học tập ở HS Tuy nhiên việc sử dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy hóa nhưthế nào cho đạt hiệu quả, theo tôi GV nên lựa chọn những nội dung, những bài dạy để đưavào công nghệ thông tin sao cho phù hợp mà không mang tính chất lạm dụng.Vì vậy tôithường ứng dụng CNTT để thực hiện các nội dung sau:
*Sử dụng công nghệ thông tin để trình chiếu những thí nghiệm ảo mà trên thực tế GV
và HS thí nghiệm khó thành công hay mang tính chất độc hại.
VD 1: Bài 16: Tính chất hóa học của kim loại.
Thí nghiệm sắt cháy trong khí clo
VD 2: Bài 25: Tính chất của phi kim
Thí nghiệm hiđrô cháy trong khí Clo
Trang 9=> do khí clo có tính độc nên GV có thể sử dụng CNTT cho HS quan sát thí nghiệm
ảo, từ đó giúp HS rút ra được hiện tượng thí nghiệm và viết được PTHH, tạo hứng thú học tập cho HS
* Sử dụng công nghệ thông tin khi kiểm tra bài cũ, trong bài mới hay vào phần củng
cố để trình chiếu những bài tập có nội dung dài: giúp GV tiết kiệm được thời gian và
HS dễ theo dõi,vận dụng được nhiều bài tập
VD: Bài 4: Một số axit quan trọng
Sau khi học xong bài: Một số axit quan trọng, giáo viên cho học sinh làm thêm một số bài tập vận dụng trên CNTT
? Hãy hoàn thành các phương trình hóa học sau:
a 2HCl + → CuCl2 +
b H2SO4 + Na2SO3 → Na2SO4 + +
c H2SO4 + → MgSO4 +
d .+ H2SO4 đặc → CuSO4+ +
?Có những chất sau: Cu, Na2SO3, H2SO4
a Viết phương trình hóa học để điều chế SO2 từ các chất trên
b Cần điều chế n mol SO2 hãy chọn chất nào để tiết kiệm được H2SO4 Giải thích cho sự lựa chọn đó
*Sử dụng công nghệ thông tin để trình chiếu những hình ảnh trong SGK và những hình ảnh, hay đoạn phim GV muốn đưa thêm vào để phục vụ cho bài dạy: giúp GV
tiết kiệm thời gian chuẩn bị tranh ảnh bên ngoài mà không cồng kềnh, đồng thời làm tăng hứng thú học tập cho HS
VD 1: Bài 4: Một số axit quan trọng
Khi tìm hiểu về ứng dụng của axit sunfuric GV yêu cầu HS quan sát hình ảnh sau để rút ra
những ứng dụng :
9
Trang 10VD 2: Bài 26: Clo
Khi tìm hiểu cách điều chế khí clo trong phòng thí nghiệm GV cho HS quan sát hình 3.5
để HS nêu cách tiến hành và viết PTHH
VD 3: Bài 31: Sơ lược về bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học
GV cho HS quan sát hình 3.22, từ đó HS rút ra được ý nghĩa của ô nguyên tố
VD 4: Bài 40: Dầu mỏ và khí thiên nhiên
Từ hình 4.16 sau khi quan sát HS sẽ rút ra được cấu tạo của mỏ dầu và cách khai thác dầu
Trang 112.3 Tạo hứng thú học tập cho HS bằng cách tăng cường sử dụng thí nghiệm để khai thác kiến thức mới:
Hóa học là môn khoa học thực nghiệm đòi hỏi GV và HS phải trực tiếp tiến hành thí nghiệm, thông qua thí nghiệm học sinh tự mình rút ra được tính chất hóa học của chất Nhưvậy phương pháp này không những giúp học sinh đóng vai trò như một nhà khoa học mà còn tạo hứng thú học tập ở các em
Trước đây do dụng cụ, hóa chất chưa đầy đủ, bàn ghế chưa phù hợp nên GV thường ngại khi sử dụng các thí nghiệm vào bài dạy Vì vậy HS cảm thấy môn hóa khô khan do đó không gây được hứng thú học tập ở các em Nhưng ngày nay trên con đường đổi mới giáo dục theo hướng hiện đại, mọi phương tiện đều đầy đủ để phục vụ cho giảng dạy Vì vậy đối với môn hóa thì việc tăng cường sử dụng thí nghiệm để khai thác kiến thức mới là rất quan trọng.Tuy nhiên tùy theo mỗi thí nghiệm mà ta có thể sử dụng theo các hình thức sau:
*Thí nghiệm do HS trực tiếp tiến hành: Đây là hình thức thí nghiệm được ưu tiên hàng
đầu Tuy nhiên số lượng HS trong một lớp khá đông, vì vậy GV nên cho HS tiến hành thí nghiệm theo nhóm, mỗi lớp thường chia thành 4 nhóm Dụng cụ hóa chất do GV chuẩn bị trước cho HS, muốn kết quả thí nghiệm thành công GV phải thử trước Công việc tiến hành thí nghiệm cần thực hiện được các bước sau:
- HS hiểu và nắm vững thí nghiệm cần thực hiện
- Chuẩn bị dụng cụ - hóa chất
- Quan sát trạng thái,màu sắc của chất trước khi thí nghiệm
- Tiến hành thí nghiệm và quan sát hiện tượng
- Giải thích hiện tượng
- Viết PTHH và rút ra kết luận
11