Cùng với sự phát triển của điện tửcông suất và kỹ thuật công nghệ phát hiện đại các vấn đề còn vướng mắc của truyền tảiHVDC không còn trở ngại lớn và đang dần được khắc phục, mang lại cá
Trang 1Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TRUYỀN TẢI MỘT CHIỀU CAO ÁP 1.1 Đặt vấn đề
1.1.1 Tại sao phải truyền tải một chiều?
Trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ngày càng hiện đại hóa, ngàynay cùng với việc đáp ứng nhu cầu năng lượng quốc gia mà còn cần phải nâng cao chấtlượng, giảm tổn hao và tiết kiệm năng lượng và giảm giá thành sản phẩm đang là xu thếphát triển mới đặc biệt là ngành điện một ngành công nghiệp quan trọng hàng đầu hiệnnay
Để xây dựng ngành điện toàn diện bền vững đáp ứng các tiêu chí trên, cần có một
hệ thống điện đủ lớn Hệ thống truyền tải phải tin cậy, ổn định nâng cao chất lượng điệnnăng Xu thế ngành năng lượng điện trong giai đoạn mới tập trung vào những điểm sau:
- Đa dạng hóa các nguồn năng lượng bằng việc xây dựng các nguồn năng lượngmới, năng lượng tái tạo (như năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng sinh khối,năng lượng sóng biển …)
- Thành lập thị trường điện
- Liên kết giữa các vùng, các quốc gia
- Do đặc thù của nguồn năng lượng sơ cấp lên các nhà máy điện nói chung và hầuhết các nhà máy điện chính được thiết kế xa phụ tải Như vậy vấn đề truyền tải đã mộtlượng công suất điện lớn đã được đặt ra từ lâu, có hai phương pháp chính thường được sửdụng là HVAC và HVDC để giải quyết bài toán trên Nhưng vấn đề không những phảitruyền tải một công suất lớn với độ tin cậy và độ ổn định cao giữa các vùng miền xa hơn
là giữa các quốc gia mà còn tính tới các giải pháp đồng bộ giữa các nguồn điện phân tánkhác nhau hay các hệ thống điện có khác nhau về điện áp và tần số… Vì vậy vấn đềtruyền tải HVDC hay UHVDC được nghiên cứu trong đồ án này
Trang 2Vấn đề truyền tải HVDC đã được thực hiện từ thế kỷ 20 nhưng còn hạn chế nhiềumặt, không tạo ra được nhiều ưu điểm so với HVAC Cùng với sự phát triển của điện tửcông suất và kỹ thuật công nghệ phát hiện đại các vấn đề còn vướng mắc của truyền tảiHVDC không còn trở ngại lớn và đang dần được khắc phục, mang lại các giải pháp chonhững bài toán tối ưu hóa truyền tải điện năng đi xa.
Những đường truyền tải một chiều đầu tiên đã được xây dựng từ năm 1950 (ởNga) với chiều dài 116km, điện áp 200 kV
Hiện nay trên thế giới có nhiều quốc gia đã xây dựng đường dây truyền tải mộtchiều, công suất đến 3000 MW ( Brazin, Canada ), chiều dài từ 64 km ( Anh ) đến 1700
km (Zaire ), điện áp từ 42 kV ( Mỹ ) đến ± 500 kV ( Mỹ, Ấn Độ )
Bảng 1.1: Một số đường dây truyền tải cao áp một chiều:
HVDC Supplier Year Com Rating (MVDC Voltange (kV) Line and / or Cable (km)Location
14401600
± 400
1362 U.S.A
Trang 32x125
Nelson River II
1985
9001800
197919801993cst
150300600
125250
Trang 4Pac Intertie upgrade A 1984 2000 ± 500 1362 U.S.A
200300
6001200
500
± 500
1000 China
Trang 5Konti-Skan II A 1988 300 285 150 Sweden-Denmark
*Gía thành
Gía cả
Khoảng cách
Hình 1.1: So sánh chi phí giữa dòng xoay chiều với một chiều
1.1.2 Ưu nhược điểm của truyền tải một chiều
a) Lý do kinh tế
- Suất đầu tư cho đường dây truyền tải một chiều thấp hơn xoay chiều do thiết kế cột củađường dây một chiều gọn nhẹ hơn Thông thường khi tính toán kinh tế đối với các dự ántruyền tải, suất đầu tư cho đường dây một chiều bằng 0,8 lần đường dây xoay chiều cùngđiện áp
- Hành lang tuyến của đường dây HVDC nhỏ hơn HVAC: Do thiết kế cột gọn nhẹ hơn,
số mạch ít hơn và ảnh hưởng của điện trường tĩnh đến sức khỏe con người như từ trườngtrái đất và không cần được tính toán kỹ như đường dây xoay chiều lên hành lang tuyếncủa đường dây DC nhỏ hơn AC, chi phí cho đền bù , giải phóng mặt bằng thấp hơn
- Tổn thất công suất trên đường dây truyền tải của hệ thống DC thấp hơn AC cùng điện
áp
Điểm cân bằng
AC
DC
Trang 6- Chi phí đầu tư cho trạm chuyển đổi AC-DC và DC-AC cao hơn rất nhiều so với chi phíxây dựng trạm biến áp xoay chiều, chi phí này cần được bù đắp bởi chi phí giảm đượccủa đường dây một chiều và tổn thất điện năng Khoảng cách càng dài thì truyền tải mộtchiều càng có lợi, từ đó xuất hiện một điểm cân bằng , tại đó 2 hệ thống DC và AC cótổng chi phí tương đương Điểm cân bằng thường được tính theo chiều dài và khoảngcách từ 600-800 km Đối với hệ thống HVDC sử dụng cáp vượt biển thì khoảng cách củađiểm cân bằng ngắn hơn nhiều so với đường dây trên không.
b) Lý do kỹ thuật:
- Đường dây cao ápmột chiều không có công suất phản kháng chỉ truyền tải công suất tácdụng nên không gặp các vấn đề về quá điện áp trên đường dây dài như hệ thống xoaychiều
- Liên kết 2 hệ thống không đồng bộ: Hệ thống HVDC có thể giúp trao đổi công suấtgiữa các hệ thống điện khác nhau về tần số, điều độ vận hành, thậm chí có thể liên kếtgiữa hệ thống điện mạnh với hệ thống điện yếu hơn nhiều mà không làm ảnh hưởng đếnnhau
- Đối với những đường cáp biển có chiều dài trên 50km thì truyền tải bằng đường cápxoay chiều là không khả thi, trong đó cáp HVDC có thể truyền tải hàng trăn km ( lên đến
600 km )
- Hệ thống HVDC có khả năng cách ly sự cố trên lưới và tăng độ ổn định hệ thống điện.Nhiều hệ thống HVDC có khả năng phát ra công suất phản kháng độc lập với công suấttác dụng, do đó có tác dụng như nguồn áp, có thể cấp điện cục bộ cho những hệ thốngđiện yếu, tăng ổn định hệ thống điện
Trang 7- Giảm chi phí HVDC cần dây dẫn ít và không cần hỗ trợ nhiều giai đoạn (bù dọc)
- Tạo thuận lợi cho truyền dẫn giữa các quốc gia khác nhau mà sử dụng điện áp AC khácnhau về giá trị và tần số
- Đồng bộ hóa AC sản xuất bằng các nguồn năng lượng tái tạo
- HVDC là chưa đáng tin cậy và có khả năng thấp hơn so với các hệ thống AC, chủ yếu
do các thiết bị chuyển đổi Hệ thống đơn cực đã có sẵn của khoảng 98,5%, với khoảngmột phần ba thời gian chết là do lỗi đột xuất
1.2 Quá trình phát triển của công nghệ truyền tải
1.2.1 Lịch sử phát triển công nghệ truyền tải điện
- Thomas Alava Edison (1847-1931) đã phát minh ra điện một chiều, hệ thống truyền tảiđiện đầu tiên là hệ thống dòng điện một chiều Tuy nhiên, ở điện áp thấp không thểtruyền tải công suất điện một chiều đi khoảng cách xa Đầu thế kỷ 20 với sự phát triểncủa công nghệ máy biến áp và động cơ cảm ứng truyền tải điện xoay chiều dần trở lênphổ biến
- Năm 1929 các kỹ sư của công ty ASEA (Thụy Điển) đã nghiên cứu và phát triển hệthống Valve hồ quang thủy ngân điều khiển mạng lưới đa diện cực sử dụng trong truyềntải điện một chiều với công suất và điện áp cao Các thử nghiệm đầu tiên được tiến hànhtai Thụy Điển và Mỹ năm 1930 để kiểm tra hoạt động của cac Valve hồ quang thủy ngântrong quá trình chuyển đổi chiều truyền tải và thay đổi tần số
Trang 8- Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhu cầu điện năng tăng cao đã khuyến khíchnghiên cứu truyền tải điện một chiều, nhất là khi phải truyền tải công suất đi xa hoặc bắtbuộc phải sử dụng cáp ngầm Năm 1950 đường dây truyền tải một chiều thử nghiệm điện
áp 200kV, chiều dài 116 km được đưa vào vận hành Đường dây cao áp một chiều đầutiên được đưa vào vận hành thương mại năm 1954 tại Thụy Điển, truyền tải 20 MW điện
áp 100 Kv, chiều dài 98 km sử dụng cáp ngầm vượt biển nối giữa đảo và đất liền
- Công nghệ truyền tải điện một chiều luôn gắn liền với công nghệ điện tử công suất.Những năm 1960 hệ thống Valve thể rắn trở thành hiện thực khi ứng dụng Thyristor vàotruyền tải điện một chiều Năm 1972 các Vale thể rắn đã được ứng dụng lần đầu tiên tạiCanada với công suất 320 MW điện áp 80 kV Điện áp vận hành lớn nhất hiện nay củađường dây truyền tải một chiều là 600 kV, truyền tải công suất 6300 MW, chiều dài 796km
- Ngày nay truyền tải dòng điện một chiều điện áp cao là phần không thể thiếu trong hệthống điện của nhiều quốc gia trên thế giới Truyền tải điện cao áp một chiều luôn đượccân nhắc khi phải tải lượng công suất lớn đi khoảng cách xa, liên kết giữa các hệ thốngđiện không đồng bộ hoặc xây dựng đường cáp điện vượt biển Với lượng công suất đủlớn, khoảng cách đủ xa, truyền tải cao áp một chiều sẽ chiếm ưu thế về chi phí đầu tư vàtổn thất truyền tải so với dòng điện xoay chiều 3 pha truyền thống
1.2.2 Các thành tựu mới đạt được của công nghệ truyền tải điện
Từ những năm 1980 trở lại đây, sự phát triển của khoa học công nghệ đã làm chocông nghệ truyền tải điện điện có những bước tiến vượt bậc
a) Công nghệ siêu dẫn
- Công nghệ siêu dẫn nhiệt độ cao đang có xu hướng phát triển nhanh chóng Dây dẫn sửdụng vật liệu siêu dẫn chịu nhiệt có thể cho phép dẫn dòng lớn gấp 2-3 lần dây dẫnthường Vật liệu siêu dẫn hiện được sử dụng trong cáp điện, điện áp lên đến 138 kV.Đường dây cáp siêu dẫn dài nhất hiện nay là 600 m, điện áp 138 kV tải 574 MVA
Trang 9- Các đường dây trên không sử dụng dây nhôm lõi composite có thể thay thế dây nhômlõi thép thông thường nhưng công suất truyền tải gấp 2 lần rất phù hợp cho việc cải tạo hệthống truyền tải điện trong các thành phố lớn và những nơi hạn chế về hành lang tuyến.
b) Xu hướng thu nhỏ quy mô hệ thống điện
- Ở khu vực Bắc Mỹ tổng công suất hệ thống liên kết phía Đông là 600.000 MW, côngsuất hệ thống liên kết phía Tây là 130.000 MW Khi một phía bị sự cố trên lưới sẽ cónhiều khả năng lan truyền sang phía bên kia Hiện đang có xu hướng chia hệ thống lớnthành các hệ thống điện nhỏ hơn giúp cho việc quản lý vận hành tốt hơn Các hệ thốngnhỏ sẽ liên kết với nhau bằng các đường dây cao áp một chiều
- Hiện nay công ty ABB của Thụy Sỹ đã phát triển thành công hệ thống truyền tải điệnmột chiều quy mô nhỏ cỡ vài chục MW ( HVDC Light ) với chi phí có thể chấp nhậnđược Hệ thống HVDC Light sử dụng công nghệ Transitor hai cực cổng cách ly (IGBT)
có chi phí thấp hơn nhiều so với việc sử dụng Thyristor truyền thống Công nghệ IGBTcòn sử dụng trong các trạm chuyển đổi có vai trò như nguồn áp, giúp giảm các sự cố hệthống xoay chiều như dao động điện áp, sống hài, bù công suất phản kháng
c) Máy biến đổi tần số (VFT)
- Hãng GE Energy đã phát triển máy biến tần có khả năng thay đổi tần số và góc pha điện
áp một cách liên tục Cùng với ứng dụng của HVDC, máy biến tần quay có thể sử dụng
để liên kết hai hệ thống điện không đồng bộ Hiện máy biến tần quay đang sử dụng đểliên kết hai hệ thống điện không đồng bộ
- Ngoài liên kết các hệ thống không đồng bộ, hiện máy biến tần quay đang phát triểncông nghệ ứng dụng truyền tải công suất giữa các hệ thống điện đồng bộ, trong trườnghợp này VFT đóng vai trò như bộ điều chỉnh góc pha
d) Điều khiển dòng sự cố
- Cùng với sự gia tăng của quy mô hệ thống điện dòng ngắn mạch cũng tăng lên dẫn đếnyêu cầu cần phải thay thế thiết bị đang vận hành Điều này đòi hỏi chi phí lớn Có mộtcách khác để không phải nâng cấp hay thay thế thiết bị đó là sử dụng các bộ giơi hạn
Trang 10dòng sự cố ( Fault current limiter- FCL ) là sự phối hợp hoạt động giữa cuộn dây cảmkháng thấp và cáp siêu dẫn chịu nhiệt
- Các công ty sản xuất vật liệu điện siêu dẫn của Mỹ cũng đang phát triển loại cáp điện sửdụng bộ ổn định trở kháng cao Loại cáp này có đặc điểm khi ở trạng thái bình thườngdòng điện được chạy trong lớp vật liệu siêu dẫn nhưng khi xảy ra sự cố lớp trở kháng cao
sẽ hoạt động và cách ly sự cố, khi hết sự cố lớp siêu dẫn lại hoạt động như bình thường
- Nhìn chung sự phát triển của công nghệ điện tử công suất có ảnh hưởng rất lớn tới côngnghệ truyền tải điện và quan niệm truyền tải Truyền tải điện 1 chiều đang dần được chú
ý vì những ưu điểm trong cách ly sự cố xoay chiều, liên kết các hệ thống điện khôngđồng bộ, khả năng tải công suất lớn, ít hành lang tuyến và chi phí đầu tư ngày càng giảm
- Hiện nay công nghệ truyền tải điện 1 chiều đang được nỗ lực phát triển
1.2.3 Siêu cao áp một chiều
a) Dòng điện siêu cao áp một chiều giúp phát huy tiềm năng thủy điện
Khai thác năng lượng từ các nguồn tái tạo, từ sức mạnh tự nhiên của dòng nước, làmột trong các niềm hy vọng mà thế giới, (đặc biệt là Trung Quốc và Ấn Độ), đang đặtvào nhằm đáp ứng nhu cầu điện năng trong tương lai, khi mà việc giảm sự phụ thuộc vàonhiên liệu hoá thạch và cắt giảm phát thải cacbon điôxit ngày càng được chú trọng hơn
Tuy nhiên cho đến nay, vẫn có trở ngại đáng kể ngăn cản việc phát huy tiềm năngthuỷ điện, đó là khoảng cách Những nguồn thuỷ năng tốt nhất nhiều khi ở cách xa cáctrung tâm dân cư và công nghiệp hàng mấy trăm kilômét, là nơi nhu cầu điện năng tăngtrưởng mạnh nhất Cho tới tận gần đây, đưa điện năng từ các nhà máy điện vượt quakhoảng cách trên 1.000 km hoặc xa hơn vẫn là bất khả thi về kinh tế bởi tổn hao truyềntải là quá lớn
Trang 11Công nghệ UHVDC hứa hẹn làm thay đổi tất cả những vấn đề đó, vì nó cho phéptruyền tải có hiệu quả điện năng đi xa tới 3.000 km
Hình ảnh tia lửa phóng điện với điện áp trên 2000 kV, chiều dài hơn 10m
b) Nâng điện áp lên cao hơn nữa để giảm tổn hao
Công nghệ UHVDC nâng điện áp lên một bước đáng kể, từ mức HVDC tiêuchuẩn ±500 kV được sử dụng ở châu Á và đã được đưa vào áp dụng trên hai thập kỷ nay,lên ±800 kV, và giảm tổn thất truyền tải từ mức điển hình là 10% xuống còn 7%
Việc cắt giảm mạnh tổn thất truyền tải này – tương đương 192 MW đối với đườngdây công suất 6.400 MW, tức là bằng 96 chiếc tuabin gió công suất 2 MW - khiến choviệc sản xuất điện năng tại những vùng xa xôi hẻo lánh ở Trung Quốc, Ấn Độ, Braxin vàchâu Phi, giờ đây đã trở thành khả thi Đó là những vùng có các nguồn thuỷ điện khổng
lồ cho đến nay vẫn chưa khai thác được
Các nước chính được hưởng lợi từ công nghệ UHVDC sẽ là Trung Quốc và Ấn
Độ bởi vì các quốc gia này đang phải vật lộn để đảm bảo nguồn năng lượng tin cậy Ấn
Độ có kế hoạch trong 10 năm tới sẽ xây dựng 5 đường dây UHVDC, công suất truyền tảimỗi đường dây từ 6.000 đến 8.000 MW Trung Quốc đang có kế hoạch trong 10 năm tới
sẽ xây dựng mỗi năm một đường dây UHVDC, công suất mỗi đường dây từ 5.000 đến6.400 MW Đường dây đầu tiên dự kiến sẽ đưa vào vận hành thương mại vào năm 2011
Trang 12Ngoài ra ở Braxin và Nam châu Phi cũng có kế hoạch xây dựng các đường dây UHVDC
Hơn nữa, UHVDC tiết kiệm đáng kể về tài chính, khoảng 30%, so với công nghệ
500 kV một chiều hoặc công nghệ 800 kV xoay chiều truyền thống Sở dĩ tiết kiệm đượcnhư vậy là vì giảm được tổn hao đường dây và từ đó tiết kiệm được cho trạm biến đổiđiện và thiết bị đóng cắt điện xoay chiều có liên quan
Một khoản tiết kiệm nữa không thể bỏ qua đối với UHVDC, đó là nhờ giảm đáng kểnhu cầu về hành lang tuyến, bởi vì khi đó có thể giảm xuống chưa bằng một nửa so vớicác phương pháp truyền tải điện thay thế Với UHVDC, chiều rộng của tuyến đường dây(tức là hành lang truyền tải) là nhỏ nhất Để truyền dẫn cùng một công suất, các phươngpháp truyền tải truyền thống sẽ yêu cầu từ hai đường dây trở lên, hành lang truyền tải sẽrộng hơn rất nhiều
Khác với đường dây truyền tải điện xoay chiều, đường dây HVDC có trường từ hầunhư không dao động Điều đó có nghĩa là đường dây HVDC, khác với đường dây xoaychiều cùng cấp, có thể dễ dàng đáp ứng các yêu cầu nghiêm ngặt hơn về trường từ (<0,4μT) được áp dụng ngày càng rộng rãi tại các thị trường phát triển
Cần lưu ý rằng cũng có thể nâng công suất truyền tải điện xoay chiều bằng cách sử dụngdòng công nghệ khác mang tên FACTS (flexible AC transmission system - hệ thốngtruyền tải điện xoay chiều linh hoạt) Các công nghệ này có thể sử dụng để duy trì hoặcnâng cao độ ổn định điện áp và độ tin cậy lưới điện, giảm tổn thất chung về điện năng
Trang 13Chương 2 PHƯƠNG PHÁP TRUYỀN TẢI MỘT CHIỀU CAO ÁP
21 Nguyên lý truyền tải một chiều
2.1.1 Sơ đồ khối hệ thống truyền tải HVDC
2.1.2 Sơ đồ nguyên lý
Trang 14Hình 2.1: Hình dạng sóng điện áp và dòng điện trong quá trình chuyển đổi
Quá trình chuyển mạch:
Là qúa trình chuyển từ chỉnh lưu sang nghịch lưu của các bộ chuyển đổi công suấtcao áp một chiều dựa trên quá trình chuyển mạch tự nhiên Các vale hoạt động nhưnhững thiết bị chuyển mạch sao cho điện áp xoay chiều đầu vào lần lượt được đóng mở
để có đầu ra là điện áp q chiều Đồng thời với quá trình chuyển mạch của bộ chuyển đổi ở
Trang 152 đầu ra trạm nghịch lưu đấu nối vào hệ thống AC pải là điện áp xoay chiều 3 pha sạch( không sóng hài ).
Khi 1 vale được mở nó sẽ bắt đầu dẫn dòng trong khi vale tiếp theo có dòng giảmdần về 0 và đóng Trong quá trình chuyển mạch dòng điện sẽ lần lượt chạy qua đồng thời
2 vale xác định Dòng điện chạy qua vale không thể thay đổi đột ngột vì sự chuyển mạchphải qua cuộn dây máy biến áp Điện kháng của cuộn đây máy biến áp đóng vai trò làđiện kháng chuyển mạch Trong quá trình chuyển mạch, dòng điện không phải hình sin
sẽ được sinh ra ở bộ chỉnh lưu, đồng thờikhông hình sin cũng sẽ cung cấp cho hệ thốngxoay chiều phía nghịch lưu
Cả 2 trường hợp này dòng điện đều chậm pha hơn so với điện áp xoay chiều Các dòngđiện không sin này gồm cả dạng sóng tần số cơ bản và các sóng hài có tần số cao hơn.Các sóng hài cần phải được loại bỏ khi vào hệ thống điện xoay chiều Điều này được thựchiện nhờ các bộ lọc phía xoay chiều, cho phép điện áp ra hầu như không có sóng hài(ULr,
ULi) Đối với đường dây liên kết 1 chiều sử dụng phương thức chuyển mạch tự nhiên thìdòng công suất chỉ có thể truyền theo 1 hướng cùng với hướng của dòng điện Các Valvechỉ cho phép dẫn dòng theo 1 chiều nhất định Hướng công suất chỉ có thể đổi chiều khithay đổi cực tính của điện áp 1 chiều Để có phương thức vận hành trao đổi công suấttheo 2 chiều (tức là chuyển đổi vai trò của bộ chỉnh lưu và nghịch lưu) thì cần tác độngvào hệ thống điều khiển xung kích hoạt valve ở cả 2 đầu chỉnh lưu
Qúa trình nghịch lưu: Làm việc vơi góc mở 900 < α < 1800
Hệ thống điện xoay chiều 3 pha của lưới điện sau MBA sẽ cung cấp điện áp xoay chiều
3 pha đặt lên các vale của bộ nghịch lưu Điện áp xoay chiều này sẽ đặt lên thyristor cácđiện áp thuận và điện áp ngược gây ra quá trình chuyển mạch giữa các vale giống như làphía chỉnh lưu Điều kiện để các vale mở và dẫn dòng là giá trị tuyệt đối của điện áp trênđường dây 1 chiều phải lớn hơn trị số tuyệt đối của trị trung bình điện áp chuyển mạchphía nghịch lưu
2.1.3 Cấu hình hệ thống HVDC
Các kết nối DC được phân làm ba loại chính:
Trang 16•Kết nối đơn cực
•Kết nối lưỡng cực
•Kết nối đồng cực
a) Cấu hình đường dây và trạm chuyển đổi
Căn cứ vào hiệu quả tối ưu trong từng trường hợp cụ thể, các cầu chỉnh lưuHVDC và đường dây truyền tải có thể được lựa chọn xắp xếp theo 1 trong 2 cấuhình: đơn cực và lưỡng cực
- Cấu hình đơn cực (Monopolar configuration):
Cấu hình cơ bản của một kết nối đơn cực được trình bày trong hình H.2.2 Hệthống này dùng một dây dẫn, thường có cực tính âm Đường trở về có thể dùng đất haynước Các khảo sát về chi phí thường đi đến việc dùng hệ thống này nhất là truyền tải
Trang 17bằng cáp ngầm Cấu hình này là giai đoạn thứ nhất của việc phát triển sang cấu hìnhlưỡng cực.
Hình 2.2: Cấu hình đơn cực Thay vì dùng đường trở về qua đất, có thể dùng đường trở về bằng kim loại trongtrường hợp điện trở đất quá lớn và có thể gây nhiễu loạn đến các công trình ngầm bằngkim loại khác Dây dẫn kim loại tạo đường về có điện áp thấp
Kết nối lưỡng cực được trình bày trong H 2.3 Kết nối này có hai dây, một dương vàmột âm Mỗi đầu có đều có bộ biến đổi có điện áp định mức bằng nhau mắc nối tiếp vềphía điện một chiều Điểm nối giữa hai bộ biến đổi được nối đất Lúc bình thường,dòng điện trên hai cực bằng nhau, dòng qua đất bằng không Hai cực có thể vận hànhđộc lập nhau Nếu một cực bị cô lập do sự cố trên dây dẫn, cực kia vẫn có thể hoạt độngvới đất là đường trở về và mang một nửa tải
Hình 2.3 : Cấu hình đơn cực, sử dụng bộ chỉnh lưu 12
xungTrong sơ đồ đơn cực, chỉ cần 1 đường dây dẫn điện nối giữa 2 trạm chuyển đổi,dòng về qua đất Mỗi đường dây trên không 500kV DC hiện nay có khả năng tải
1500 MW Sơ đồ này có ưu điểm gọn nhẹ, chi phí đường dây ít, có thể mở rộng sangcấu hình 2 cực, tuy nhiên, sơ đồ đơn cực có độ tin cậy cung cấp điện không cao
Trang 18- Cấu hình lưỡng cực (bipolar configuration):
Hình2.4: Cấu hình lưỡng cực, sử dụng bộ chỉnh lưu 12 xung
Trong cấu hình lưỡng cực (hai cực âm – dương), các trạm chuyển đổi đượcnối với nhau bởi 2 dây dẫn có điện thế trái dấu, điểm trung tính được nối đất Ở cấp điện
áp ± 500 kV, khả năng tải của đường dây trên không một chiều hiện nay khoảng
3000 MW
Theo quan điểm chống sét, đường dây lưỡng cực được xem như hiệu quả tươngđương với đường dây xoay chiều hai mạch Trong vận hành bình thường có ít nhiễu dohọa tần đến các công trình lân cận so với đường đơn cực Việc đảo chiều công suấtđược thực hiện bằng cách thay đổi cực tính của hai cực thông qua điều khiển
Trong trường hợp dòng điện tản qua đất không được thuận lợi hay không thựchiện tốt việc nối đất do điện trở đất quá cao thì có thể dùng một dây dẫn thứ ba làmđường trở về cho dòng điện khi có một cực ngừng hoạt động hoặc khi có sự không cânbằng lúc vận hành hai cực Dây dẫn thứ ba yêu cầu mức cách điện thấp và còn đượcdùng làm dây bảo vệ chống sét đối với đường dây trên không
Ưu điểm của cấu hình này là tính phổ biến, có độ tin cậy cung cấp điện cao,công suất truyền tải lớn Hầu hết các đường dây truyền tải 1 chiều hiện nay đều làđường dây lưỡng cực, khi sự cố 1 mạch thì hệ thống hoạt động như cấu hình đơn cực,
Trang 192- Kiểu truyền tải giữa 2 trạm:
Được sử dụng khi phương án xây dựng đường dây truyền tải cao áp 1 chiềutỏ ra kinh tế nhất khi đấu nối 2 trạm chuyển đổi ở 2 vị trí cách xa nhau Đây làkiểu truyền tải 1 chiều phổ biến nhất hiện nay Mỗi mạch đường dây một chiều
±500 kV (2 cực – bipole) có khả năng tải khoảng 3000 MW, thông thường sửdụng đường dây trên không, tải lượng công suất lớn đi khoảng cách rất xa.Các đường cáp ngầm cao áp một chiều thường dùng để truyền tải điện quabiển
Trang 20Loại cáp phổ biến nhất là cáp dầu (oil-filled cable) và cáp đặc (solid cable).Trong nhiều trường hợp, cáp đặc sẽ kinh tế hơn vì chất cách điện được cấutạo từ các lớp giấy tẩm dầu có độ nhớt cao Ngày nay có thể thiết kế cho cápđặc ở độ sâu khoảng 1000m và không gặp giới hạn về khoảng cách Loạicáp dầu có chất cách điện là dầu có độ nhớt thấp điền đầy trong cáp và luônlàm việc với 1 áp suất nhất định Khoảng cách lớn nhất cho loại cáp dầukhoảng 60 km.
Đối với khoảng cách rất dài và đặc biệt là truyền tải điện năng ra biển, với mộtđường truyền tải và khép mạch qua điện cực mặt đất / biển sẽ là giải pháp khả thinhất
Trong nhiều trường hợp, cơ sở hạ tầng hiện có hoặc hạn chế môi trường khókhăn trong việc sử dụng các điện cực đất Trong trường hợp này sử dụng mô hìnhthứ 2 dùng một đường cáp kim lại nhỏ hơn để khép mạch mặc dù tăng chi phí vàtổn thất
Trang 213- Kiểu truyền tải giữa nhiều trạm:
Khi có từ 3 trạm chuyển đổi trở lên ở các vị trí địa lý khác nhau đấu vào cùngmột hệ thống 1 chiều, có thể đấu nối tiếp hoặc song song Khi tất cả các trạm
có cùng điện áp đấu nối thì gọi là kiểu đấu song song, sử dụng khi công suấttrạm lớn hơn 10% tổng công suất trạm chỉnh lưu Nếu một hoặc nhiều bộchuyển đổi được đấu nối tiếp vào một hay cả 2 cực thì ta có kiểu đấu nối tiếp,ứng dụng khi công suất trạm nhỏ hơn 10% tổng công suất trạm chỉnh lưu.Chi phí dành cho các trạm thêm vào là rất lớn, do đó kiểu truyền tải nhiềutrạm rất khó đạt được các chỉ tiêu kinh tế
4- Kiểu nối bộ tổ máy:
Hệ thống truyền tải 1 chiều được đấu nối vào ngay đầu ra của máy phát điện,thích hợp với các máy phát thủy điện và tua bin gió vì có thể đạt hiệu suất caonhất Điện năng xoay chiều nhận được phía nghịch lưu sẽ có tần số cơ bản
50 Hz (hoặc 60 Hz) không phụ thuộc vào tốc độ tuabin
5- Kiểu chỉnh lưu Diode:
Ứng dụng khi công suất điện 1 chiều chỉ truyền theo 1 hướng duy nhất, hệ thốngValve chỉnh lưu chỉ cần dùng Diode thay vì Thyristor, công suất truyền tải sẽđược điều khiển ở phía Nghịch lưu, đặc biệt có lợi đối với kiểu nối bộ tổ máyphát vì có thể điều khiển dòng công suất dựa vào điều khiển điện áp xoay chiềuthông qua hệ thống kích từ máy phát Kiểu đấu nối này cần sử dụng loại máycắt xoay chiều tốc độ cao giữa máy phát và bộ chỉnh lưu để bảo vệ quá dòng choDiode khi có ngắn mạch trên đường dây 1 chiều
Trang 22Hình 2.5 : Các kiểu đấu nối hệ thống truyền tải điện 1 chiều
2.1.4.Các phần tử cơ bản của hệ thống truyền tải một chiều
Các phần tử chính của hệ thống HVDC được trình bày trong hình (H.2.6)
Hình2.6: Sơ đồ nguyên lý hệ thống HVDC lưỡng cực, các phần tử chính
Bộ biến đổi: Biến đổi AC/DC (chỉnh lưu) hay DC/AC (nghịch lưu), gồm các van
mắc cầu và máy biến áp có đầu phân áp Cầu van gồm các van cao áp mắc theo
Trang 23sơ đồ 6 xung hay 12 xung Các máy biến áp biến đổi cung cấp nguồn điện áp bapha với điện áp thích hợp cho cầu các van Với cuộn dây máy biến áp phía vankhông nối đất, hệ thống điện một chiều có thể được tạo nối đất riêng, thường làbằng cách nối đất đầu dương hay đầu âm của một cầu bộ biến đổi van.
Vale thyristor: Cấu trúc của vale thyristor tùy thuộc vào ứng dụng và nhà sản xuất,thường thì vale thyristor có cấu trúc 12 xung, ba nhóm 4 vale Mỗi vale thyristor gồm
1 số thyristor nhất định nối tiếp cùng với mạch phụ của chúng ( mạch điều khiển, bảo
vệ, …) Giao tiếp giữa thiết bị điều khiển ở điện áp thấp và mỗi thyristor ở điện áp caobằng cáp quang Các vale được làm mát bằng nước, dầu, khí hay Freon
Hình 2.7: Cấu hình nhóm valeMáy biến áp: chuyển đổi tương ứng mức điện áp AC thành DC và chúng góp phần vàođiện kháng chuyển mạch, thường dùng loại đơn pha 3 cuộn dây tùy thuộc vào côngsuất và yêu cầu vận chuyển
Trang 24
Hình 2.8: a) MBA HVDC truyền tải ngầm 500 MW
b) MBA 2000MW điện áp 500kV Cuộn kháng bằng phẳng: Đây là các cuộn kháng lớn có điện cảm đến 1 H mắc nối tiếp
với mỗi cực của mỗi trạm biến đổi Công dụng của chúng bao gồm:
• Giảm các họa tần điện áp và dòng điện trên đường dây một chiều;
• Tránh sự cố chuyển mạch trong nghịch lưu;
• Tránh dòng điện trở nên không liên tục khi mang tải thấp;
Trang 25• Giới hạn dòng điện trong chỉnh lưu khi xảy ra ngắn mạch trên đường một chiều.
Bộ lọc họa tần: Bộ biến đổi sinh ra họa tần điện áp và dòng điện ở cả hai phía xoay
chiều và một chiều Họa tần gây phát nóng tụ điện và máy phát gần đó, còn gây nhiễulên hệ thống thông tin Mạch lọc do đó phải được dùng ở cả hai phía một chiều vàxoay chiều
Nguồn cung cấp công suất kháng: Như trình bày ở các mục kế tiếp, bộ biến đổi một
chiều thực chất có tiêu thụ công suất kháng Trong vận hành bình thường, lượng côngsuất kháng tiêu thụ bằng khoảng 50% lượng công suất tác dụng tải qua Trongtình trạng quá độ yêu cầu về công suất kháng có thể nhiều hơn Đối với hệ thốngxoay chiều lớn, công suất kháng được tạo ra bằng tụ bù ngang Phụ thuộc vào yêucầu đặt ra cho kết nối một chiều và trên hệ thống xoay chiều mà một phần nguồn côngsuất kháng có thể là máy bù đồng bộ hay máy bù tĩnh Các tụ điện trong mạch lọc cũngcung cấp một phần công suất kháng yêu cầu
Điện cực: Phần lớn các trạm HVDC dùng đất làm vật dẫn trung tính trong một thời
gian ngắn Kết nối với vật dẫn đất cần một bề mặt rộng để tối thiểu bề mật độ dòng vàgiảm điện áp bề mặt Để giới hạn dòng điện chảy vào đất dùng vật dẫn kim loại chodòng trở về Dùng điện cực đất là phương án rẻ nhất
Điểm trung tính phía bên cuộn dây đấu sao MBA chuyển đổi được nối vàođiểm trung tính của trạm Do dòng DC trên 2 cực trong trạm HVDC lưỡng cựckhông cân bằng nhau, thay vì điều khiển cân bằng dòng thì cho dòng chảy vàođất từ điểm trung tính của trạm Điểm trung tính nối đất của trạm thường đượcđặt ở xa trạm khoảng 10 – 50 km bằng các điện cực đất đặc biệt
Thiết kế các điện cực đất: Điện cực Anode và Cathode được thiết kế khácnhau trong hệ thống truyền tải HVDC cáp ngầm dưới biển
Điện cực đất nằm ngang: Bề mặt diện tích đất đủ rộng, bằng phẳng, chất đấttương đối đồng nhất, điện cực đất nằm ngang là dạng kinh tế nhất
Trang 26Hình 2.9: Mặt cắt điện cựcHình 2.9 mô tả mặt cắt của 1 điện cực đất làm bằng sắt, nằm ngang độ sâu trong đấtkhoảng 2m được nhúng trong 1 nền than cốc diện tích 0.5 x 0.5 m2
Trang 27
Hình 2.11: Mặt cắt của điện cực
Thiết kế và xây dựng các điện cực Cathode ngầm dưới biển cho hệ thốngHVDC đơn cực cáp ngầm không có bất kỳ trở ngại nào do không có sự ăn mònkim loại
Chiều dài cáp được thiết kế sao cho mật độ dòng trên bề mặt của nó gây ra 1điện trường < 3 V/m, an toàn cho người bơi lặn trong vùng nước xung quanh.Một điện cực ngầm dạng đường thẳng cho vận hành Anode Các module điệncực được làm sẵn và được đặt thấp hơn đáy biển sau đó nối vào feed cáp Cácđiện cực ngầm được phân thành các khu và được nối vào trạm HVDC bằngfeed cáp riêng biệt khi đó từ đất liền có thể giám sát được các điện cực
Hình 2.12: Mặt cắt điện cực
Trang 28Đường dây một chiều: Là đường dây trên không hay cáp ngầm Ngoại trừ số dây dẫn
và khoảng cách giữa các dây, đường dây DC trông rất giống đường dây AC
Máy cắt điện xoay chiều: Để loại trừ sự cố trong máy biến áp cũng như để đưa kết
nối DC ra khỏi vận hành, máy cắt được đặt ở phía xoay chiều Chúng không dùng đểgiải trừ sự cố phía một chiều vì những sự cố này có thể được loại trừ nhanh chóngbằng cách điều khiển bộ biến đổi
2.1.5 Bộ biến đổi và các phương trình
2.1.5.1 Mạch biến đổi
Bộ biến đổi thực hiện biến đổi AC/DC hay ngược lại và cung cấp phương tiện
để điều chỉnh dòng công suất qua đường HVDC (H.14.5.) Các phần tử là cầu vanđiện tử và máy biến áp biến đổi
a) Các đặc tính của van
Van trong bộ biến đổi là khóa điện tử có điều khiển, cho phép dẫn điện theo một chiều
từ anod sang cathod
Hình 2.1.1: Mạch cầu toàn sóng ba pha
b) Mạch đổi điện
Phần tử cơ bản của bộ biến đổi HVDC là mạch cầu ba pha toàn sóng Máy biến ápđổi điện có đầu phân áp dưới tải Cuộn dây phía xoay chiều mắc Y nối đất, cuộn
Trang 29dây phía van mắc ∆ hay Y không nối đất Mạch cầu toàn sóng ba pha được dùngphổ biến trong bộ biến đổi HVDC vì tương thích tốt với máy biến áp biến đổi và cóđiện áp ngược thấp đặt lên các van khi ngừng dẫn Điện áp ngược là một trongnhững yếu tố quan trọng để chọn các thông số định mức của van.
2.5.2 Phân tích mạch cầu toàn sóng ba pha
* Các giả thiết:
- Hệ thống xoay chiều bao gồm máy biến áp biến đổi được biểu diễn bằng mộtnguồn áp lý tưởng có điện áp, tần số không đổi nối tiếp với điện kháng tản của máybiến áp
- Dòng một chiều Id không đổi và không gợn sóng do có cuộn kháng lọc Ld làmbằng phẳng đặt về phía DC
- Các van điện là khóa lý tưởng có điện trở bằng không khi dẫn và bằng vôcùng khi ngưng
Điện áp pha của nguồn điện áp:
ea = Emcos(t+600)
eb = Emcos(t–600) (2.1)ec= Emcos(t–1800)
Trang 302.1.6 Phân tích giả thiết bỏ qua điện kháng nguồn
a) Góc kích trễ bằng không
Hình2.1.2: Mạch tương đương của mạch của mạch biến đổi ba pha toàn sóng
- Mỗi van dẫn 1200
- Khi dẫn, dòng điện qua van là Id
- Dòng điện trong mỗi pha phía nguồn xoay chiều gồm các dòng điện chạy quahai van có nối với pha đó
Hình 2.2.3(a) trình bày dạng sóng điện áp và dòng điện với các van được đánh
số theo thứ tự kích dẫn Van 1 dẫn khi t trong khoảng –1200 đến 00, van 2 dẫnkhi t giữa –600 và 600 H.2.2.3(b) cho thấy chu kỳ dẫn của các van, độ lớn vàthời gian (góc) dòng điện đi qua Dòng điện trong pha a của nguồn xoay chiều(trong cuộn dây nối nguồn xoay chiều) của máy biến áp được trình bày trong2.2.3(c)
Trang 31Hình2.1.3: Dạng sóng điện áp và dòng điện của mạch cầu
a) Điện pha và điện áp dây của nguồn xoay chiều
b) Dòng điện qua các van và chu kỳ dẫn
c) Dòng điện pha a
Điện áp DC trung bình cho bởi công thức :
Vdo = 3√3
π Em = 1.65 Em (2.3 )
Em: Trị số đỉnh của điện áp pha
Tính theo điện áp hiệu dụng pha ( ELN ) và điện áp dây hiệu dụng ( ELL )
Vdo = 3√6
π ELN = 2.34 ELN (2.3a) = 3√2
π ELL = 1.35 ELL (2.3b )
Trang 32b) Với góc kích trễ
Gọi α là góc kích trễ tương ứng với thời gian trễ ω α giây Góc trễ giới hạn bằng 1800
Điện áp trung bình Vd khi có góc trễ :
Vd = Vdo cosα (2.4 )
Vì có thể thay đổi từ 0 đến 1800, cos thay đổi từ –1 đến 1, Vd thay đổi từ –Vdo đếnVdo
Số âm của Vd ứng với chế độ nghịch lưu.
Hình 2.1.4: Dạng sóng điện áp và dòng điện qua các van với góc kích trễ
c) Các quan hệ về dòng điện và góc pha
Khi góc trễ tăng, góc lệch pha giữa điện áp và dòng xoay chiều cũng thay đổi Điềunày được minh họa trong H.2.11 đối với pha a Dạng sóng dòng điện xoay chiều bao
Trang 33gồm nhiều xung hình chữ nhật tương ứng với dòng điện qua các van 1 và 4 Dòngđiện một chiều giả thiết không đổi bằng Id (cuộn kháng Ld trong H.2.8 làm cho Id
không thay đổi) Vì mỗi van dẫn trong trong khoảng thời gian ứng với 1200 điện,dòng điện xoay chiều của đường dây bao gồm các xung chữ nhật có biên độ bằng Id
và kéo dài 1200 hay 2π /¿3 rad (H2.12)
Với giả thiết không có chồng chập chuyển mạch thì dạng của dòng điện dây xoaychiều độc lập với
Trị số đỉnh của thành phần tần số cơ bản của dòng điện xoay chiều đường dây:
IL M = π2√3 I d = 1 1 1 Id ( 2 5 a )Trị số hiệu dụng dòng điện của thành phần dòng điện cơ bản:
IL I = √6
π Id= 0 7 8 Id ( 2 5 b )Bỏ qua tổn thất trong bộ biến đổi, công suất phía xoay chiều phải bằng với công suấtphía một chiều:
3ELNILIcosφ = VdId = Vd0cosαId
Thay Vd0 từ (2.4) và (2.7) có:
(3ELN√6
π Id)cosφ = (3√6
π ELNId)cosα
Suy ra: cosφ = cosα (2.6)
Bộ biến đổi hoạt động như một thiết bị biến đổi dòng xoay chiều ra một chiều (hay
ngược lại) sao cho tỷ số dòng điện không đổi trong khi tỷ số điện áp thay đổi tùy
theo góc kích (xem (2.3), (2.4) và (2.5))
Trang 34Hình 2.1.5: Sự thay đổi góc lệch pha giữa điện áp và dòng điện theo góc
kích trễ
Hình 2.1.6: Dạng sóng dòng điện dây
Trang 352.1.7 Ảnh hưởng của góc chồng chập chuyển mạch
Do điện cảm LC của nguồn xoay chiều, dòng điện trong các pha không thểthay đổi tức thời Sự chuyển tiếp dòng điện từ pha này sang pha khác đòi hỏi mộtthời gian nhất định gọi là thời gian chuyển mạch hay thời gian chồng chập Gócchuyển mạch (góc chồng chập) ký hiệu là µ
Trong vận hành bình thường, góc chồng chập nhỏ hơn 600, trị số tiêu biểu lúcđầy tải thay đổi từ 150 đến 250 Với 00 < µ < 600, trong thời gian chuyển mạch có
ba van dẫn đồng thời, tuy vậy giữa các lần chuyển mạch chỉ có hai van dẫn Mộtlần chuyển mạch bắt đầu ở mỗi 600 và kéo dài một góc µ Do đó góc khi hai vandẫn điện với góc kích trễ = 0 là 600 – µ Trong mỗi thời kỳ chuyển mạch, dòngđiện trong van được đưa vào dẫn điện tăng từ 0 đến Id trong khi dòng điệntrong van sắp ngưng dẫn điện giảm từ Id về 0 Sự chuyển mạch bắt đầu khi t = vàchấm dứt khi t = +µ = , gọi là góc tắt (extinction angle)
π I d L c=R c I d
Với Rc= 3π Lc = 3π Xc (2.9)