1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CẠNH TRANH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP

127 396 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“ Cạnh tranh là một quátrình kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế quốc gia, ngành hoặc Doanh nghiệpganh đua với nhau để chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cùng các điềukiện sản

Trang 1

CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT CẠNH TRANH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN

VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1

1.1 Cạnhtranh và sự cần thiết phải nângcaonănglực cạnhtranhcủa Doanhnghiệp 1

1.1.1 Khái niệm và phân loại cạnh tranh 1

1.1.2 Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế 6

1.1.3 Các công cụ cạnh tranh của Doanh nghiệp 8

1.1.4 Khái niệm và sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp 16

1.2 Phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp 19

1.2.1 Thương hiệu và thị phần của doanh nghiệp 19

1.2.2 Chi phí sản xuất 22

1.2.3 Tỷ suất lợi nhuận 23

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 24

1.3.1 Những nhân tố bên trong 24

1.3.2 Các nhân tố bên ngoài 28

1.4 Một số kinh nghiệm trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp 32

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CẠNH TRANH CỦA TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN NHÀ HÀ NỘI 37

2.1 Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội và những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Tổng công ty 37

2.1.1 Khái quát về Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội 37

2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội 65

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG, MỤC TIÊU VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN NHÀ HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2020 79

3.1 Các quan điểm phát triển 79

Trang 2

nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Tổng Công ty đến năm 2015 80

3.2.1 Tầm nhìn đến năm 2020 của Tổng Công ty Đầu tư và Phát triẻn nhà Hà Nội 80

3.2.2 Sứ mệnh của Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội 80

3.2.3 Các giá trị và phương châm hành động 81

3.2.4 Các mục tiêu phát triển của Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội đến năm 2015 82

3.3 Các giải pháp chiến lược nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Tổng Công ty HANDICO 87

3.3.1 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực 87

3.3.2 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực 97

3.3.2 Giải pháp phát triển thị trường và đa dạng hóa lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh 101

3.3.3 Giải pháp huy động vốn kinh doanh và quản lý tài chính 105

3.3.4 Giải pháp xây dựng văn hóa doanh nghiệp 107

3.3.5 Giải pháp phát triển thương hiệu HANDICO 108

3.3.6 Giải pháp đầu tư và phát triển công nghệ 114

3.3.7 Giải pháp khác 115

PHẦN KẾT LUẬN 119

KẾT LUẬN 120

Tµi liÖu tham kh¶o 122

Trang 3

Bảng 2.1: Các chỉ tiêu đạt được giai đoạn 2004- 2009 39

Bảng 2.2 40

Bảng 2.3 Tóm tắt một số chỉ tiêu trên bảng cân đối kế toán từ năm 2007 – 2010 41

Bảng 2.4: Kết cấu tài sản và nguồn vốn 66

Bảng 2.5: Một số chỉ tiêu tài chính tổng quát 67

Bảng 2.6: Tình hình đầu tư tài sản cố định trong 3 năm 2008-2010 69

Bảng 2.7: Tình hình lao động của Tổng Công ty trong 3 năm 2003 - 2005 71

Bảng 3.1: Các chỉ tiêu phát triển cụ thể theo lộ trình qua các năm như sau: 85

Trang 4

CHƯƠNG 1

LÝ THUYẾT CẠNH TRANH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN

VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP

1.1.Cạnhtranhvà sự cần thiết phải nângcaonănglực cạnhtranhcủa Doanhnghiệp

Nền kinh tế thị trường được xem là mô hình kinh tế năng động nhất trong tất

cả các mô hình kinh tế, nền kinh tế thị trường mang lại nhiều thành tựu kinh tếgóp phần đáng kể cho sự phát triển văn minh nhân loại Kinh tế thị trường vậnđộng dưới sự tác động tổng hợp của các quy luật kinh tế khách quan, trong đó phảinói đến quy luật cạnh Quy luật cạnh tranh đòi hỏi các Doanh nghiệp phải tự thíchnghi với những vận động, biến đổi của nền kinh tế để tồn tại và phát triển Cạnhtranh đã, đang và sẽ là vấn đề được nhiều tổ chức, cá nhân quan tâm nghiên cứu cảtrên phương diện lý luận và trong thực tiễn xã hội, nhằm tìm ra và vận dụng ngàycàng hiệu quả quy luật này phục vụ cho sự phát triển của mỗi doanh nghiệp vàmỗi quốc gia

1.1.1 Khái niệm và phân loại cạnh tranh.

a Khái niệm cạnh tranh.

Cạnh tranh là một thuật nghữ đã được xã hội loài người nhắc đến từ rất lâu,song trong những năm gần đây chúng ta thấy thuật nghữ này đuợc nhắc đến nhiềuhơn, đặc biệt là ở Việt Nam Bởi trong nèn kinh tế mở như hiện nay, khi xu hướng

tự do hóa thương mại ngày càng phổ biến thì cạnh tranh là phương thức để đứngvững và phát triển của doanh nghiệp nhưng trong thực tế “cạnh tranh là gì?” thì vẫnđang là một khái niệm chưa được thống nhất, các nhà nghiên cứu kinh tế đã đưa racác khái niệm về cạnh tranh khác nhau dưới nhiều góc độ khác nhau

Ví dụ như:

Theo diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của tổ chức Hợp tác và Pháttriển Kinh tế OECD, thì cạnh tranh là “ Cạnh tranh là khả năng các Doanh nghiệp,ngành, quốc gia và vùng tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnhtranh quốc tế” Định nghĩa trên đã cố gắng kết hợp cả hoạt động cạnh tranh củaDoanh nghiệp, của ngành của quốc gia và vùng lãnh thổ

Trong khi đó Ủy ban cạnh tranh Công nghiệp của Tổng thống Mỹ đưa ra kháiniệm cạnh tranh đối với một quôc gia là: “Cạnh tranh đối với một quốc gia thể hiện

Trang 5

trình độ sản xuất hàng hóa dịch vụ đáp ứng được đòi hỏi của thị trường quốc tế,đồng thời duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của nhân dân nước đó trongnhững điều kiện thị trường tự do và công bang xã hội” trong khái niệm cạnh tranhnày người ta nhấn mạnh đến vai trò của các điều kiện cạnh tranh là “ Tự do và côngbằng xã hội.”

Như vậy, xét trên góc độ vĩ mô các khái niệm về cạnh tranh đều cho thấy mụctiêu chung của hoạt động cạnh tranh là thỏa mãn tối đa nhu cầu của thị trường trongnước và quốc tế , tạo thêm việc làm và và thu nhập cao hơn cho nền kinh tế

Trong khi đó các nhà kinh tế của trường phái cổ điển cho rằng “ Cạnh tranh làmột quá trình bao gồm các hành vi phản ứng Quá trình này tạo ra cho mỗi thành viênthị trường một dư địa hoạt động nhất định và mang lại cho mỗi thành viên một phầnxứng đáng so với khả năng của mình” Theo quan niệm này cạnh tranh chủ yếu là cạnhtranh về giá cả, chính vì vậy lý thuyết giá cả gắn chặt với lý thuyết cạnh tranh

Khi Các - Mác nghiên cứu về cạnh tranh Tư bản chủ nghĩa, Mác đã đưa kháiniệm về cạnh tranh như sau “ Cạnh tranh tư bản là sự ganh đua, sự đấu tranh gaygắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất vàtiêu thụ hàng hóa nhằm thu lợi siêu ngạch.” Như vậy cạnh trạnh là hoạt động củacác doanh nghiệp trong nền sản xuất hàng hóa với mục đích ganh đua với nhau đểchiếm lĩnh thị trường nhằm mục đích thu lợi nhuận cao

Nhằm kế thừa những nghiên cứu mang tính khoa học của các tư tưởng, kháiniệm về cạnh tranh trước đây, bài viết luận văn cho rằng để đưa ra một khái niệmđầy đủ cần chỉ ra được chủ thể cạnh tranh, tính chất, phương thức và mục đích củaquá trình cạnh tranh Và từ đó chúng ta có thể khái quát “ Cạnh tranh là một quátrình kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ( quốc gia, ngành hoặc Doanh nghiệp)ganh đua với nhau để chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cùng các điềukiện sản xuất và tiêu thụ sản phẩm có lợi nhất nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận”Như vậy chúng ta có thể nói về bản chất, cạnh tranh là mối quan hệ giữangười với người trong việc giải quyết các lợi ích kinh tế Bản chất kinh tế của cạnhtranh thể hiện ở mục đích lợi nhuận và quyền chi phối thị trường Trong khi đó bảnchất xã hội của cạnh tranh được thể hiện đạo đức kinh doanh, uy tín kinh doanh củamỗi chủ thể cạnh tranh trong quan hệ với những người lao động trực tiếp tạo ra sứccạnh tranh cho doanh nghiệp và được thể hiện trong mối quan hệ của người tiêudùng và đối thủ cạnh tranh khác

Trang 6

Cạnh tranh là một trong những quy luật của nền kinh tế thị trường, nó chịu nhiềuchi phối của quan hệ sản xuất và nó giữ vị trí thống trị trong xã hội, quy luật lưu thôngtiền tệ, quy luật cung cầu, đây là một đặc trưng gắn với bản chất của cạnh tranh Quyluật cạnh tranh chỉ ra cách thức làm cho giá trị cá biệt thấp hơn giá trị xã hội, do đó nólàm giảm giá cả thị trường, nó tạo ra sức ép làm gia tăng hiệu quả sử dụng các yếu tốxuất, và từ đó nó chỉ ra ai là người sản xuất kinh doanh thành công nhất.

b Phân loại cạnh tranh.

+ Căn cứ tính chất cạnh tranh trên thị trường

- Cạnh tranh hoàn hảo là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường có rất nhiềungười bán và rất nhiều người mua những sản phẩm tương tự, mỗi người bán chỉcung ứng một lượng hang rất nhỏ trong toàn bộ tổng cung của thị trường Họ luônbán hết số hàng mà họ mang ra bán với giá cả thị trường Bất cứ doanh nghiệp nàogia nhập hoặc rút lui khỏi thị trường cũng không gây ảnh hưởng tới giá cả thịtrường Để tối đa hóa lợi nhuận họ chỉ còn có thể tìm mọi cách giảm tối đa chi phísản xuất Trong thị trường này mọi thông tin đều đầy đủ chính xác và không có hiệntượng cung cầu giả tạo trên thi trường Khi chi phí cận biên của doanh nghiệp giảmxuống bằng với giá cả thị trường doanh nghiệp sẽ đạt lợi nhuận tối đa

- Cạnh tranh không hoàn hảo là hình thức cạnh tranh mà ở đó mỗi Doanhnghiệp đều có sức mạnh thị trường, họ có quyền quyết định giá bán của mình, vàqua đó nó tác động đến giá cả thị trường

- Cạnh tranh độc quyền, là trên thị trường có nhiều người bán và cũng cónhiều người mua, sản phẩm của các doanh nghiệp có thể thay thế cho nhau ở mộtmức độ nào đó Bằng các các biện pháp công nghệ, doanh nghiệp có thể thay đổimẫu mã, chất lượng, kiểu dáng, quảng bá, tiếp thị…các doanh nghiệp cố gắng khácbiệt hoá sản phẩm của mình để cạnh tranh và thu hút khách hàng về phía mình.Trong thị trường này, bên cạnh các biện pháp khác biệt hóa sản phẩm, chiến lượcgiá cả và chính sách đối với khách hàng là các vấn đề mà mỗi doanh nghiệp luônphải quan tâm để đảm bảo kha năng cạnh tranh của mình

- Độc quyền tập đoàn là trường hợp mà trên thị trường chỉ có một số hãng lớnsản xuất và bán các sản phẩm đồng nhất hoặc không đồng nhất Họ gần như kiểmsoát toàn bộ lượng cung hàng hóa trên thị trường nên họ có sức mạnh lớn trên thịtrường, họ có thể đièu tiết thị trường theo ý muốn Các hãng trong tập đoàn có tính

Trang 7

phụ thuộc lẫn nhau nên quyết định giá và sản lượng của mỗi hãng đều ảnh hưởngtrực tiếp đến hãng khác trong tập đoàn và giá cả thị trường, chính vì vậy mà họthường liên kết với nhau nhằm thu được lợi siêu ngạch.

Sự hình thành thị trường cạnh tranh không hoàn hảo nguyên nhân chính là doquá trình phấn đấu tối đa hóa lợi nhuận của các doanh nghiệp, cạnh tranh thúc đẩyquá trình tích tụ và tập trung tư bản diễn ra không đều ở một số ngành, lĩnh vựckinh tế khác nhau Mặc dù vậy, cạnh tranh độc quyền lại có tác động tích cực, tạođộng lực cho sản xuất phát triển, nó làm lợi cho xã hội nhiều hơn là gây thiệt hại

- Cạnh tranh độc quyền là hình thái hoàn toàn đối lập với cạnh tranh hoàn hảo.Chỉ có một người bán hoặc một người mua duy nhất trên thị trường, hàng hóa đượcbán là hàng được bán là hàng hóa độc nhất vô nhị và không có hàng hóa thay thếnên họ có sức mạnh thị trường rất lớn Doanh nghiệp độc quyền luôn có quyềnquyết định giá bán và sản lượng sao cho họ thu được lợi nhuận siêu ngạch Nguyênnhân của độc quyền là do họ đạt được các lợi thế kinh tế nhờ vào quy mô (độcquyền tự nhiên), hoặc do cấu kết, thôn tính, kiểm soát được đầu vào Độc quyềnluôn có tác động xấu đến kinh tế xã hội như sản lượng bán ra trên thị trường luônthấp hơn nhu cầu tiêu dùng của xã hội, giá bán luôn ở mức quá cao làm thiệt hại chongười tiêu dùng và gây bất công xã hội Ở một số nước phát triển đã áp dụng luậtchống độc quyền nhằm đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng và các lợi ích kinh

tế xã hội

+ Căn cứ chủ thể tham gia thị trường

Đây là sự cạnh tranh trong khâu lưu thông hàng hóa nhằm tối đa hóa lợi íchcho những chủ thể tham gia cạnh tranh

- Thứ nhất: Cạnh tranh giữa người bán và người mua với những đặc trưng nổibật của quan hệ này là người bán luôn muốn bán giá cao và người mua lại luônmuốn mua giá thấp, do vậy hai lực lượng này hình thành hai phía cung cầu trên thịtrường, và kết quả của sự cạnh tranh đó là hình thành giá cân bằng của thị trường,

đó là giá mà cả bên bán và bên mua đều chấp nhận được

- Thứ hai: Cạnh tranh giữa những người mua với nhau, đó là sự cạnh tranh doảnh hưởng của quy luật cung cầu Khi trên thị trường một lượng cung hàng hóa thấphơn nhiều so với lượng cầu, làm cho những người mua phải cạnh tranh nhau để muađược hàng hóa mà mình cần, dẫn đến đẩy giá bán tăng cao Kết quả là người bán

Trang 8

thu được một khoản lợi nhuận rất cao, còn người mua phải bỏ thêm một khoản tiềnlớn Như vậy sự cạnh tranh này sẽ làm cho người bán thu được lợi, còn người muathì bị thua thiệt.

- Thứ ba: Cạnh tranh giữa những người bán với nhau, đó là sự cạnh tranhnhằm tăng sản lượng bán hàng Khi sản xuất ngày càng phát triển do áp dụng khoahọc công nghệ, thị trường mở cửa, lượng cung hàng hóa trên thị trường tăng nhanh,trong khi đó lượng cầu hàng hóa đó tăng chậm, dẫn đến những người bán hàng phảicạnh tranh nhau khốc liệt để giành lấy thị trường và khách hàng, dẫn đến giá bánkhông ngừng được giảm xuống Kết quả là người mua được lợi, còn Doanh nghiệpnào thắng trong cuộc cạnh tranh này thì mới có thể tồn tại và phát triển

+ Căn cứ cấp độ cạnh tranh Đây là sự cạnh tranh trong lĩnh vực sản xuất

- Cạnh tranh giữa các sản phẩm là sự cạnh tranh về mẫu mã, kiểu dáng, chấtlượng, giá cả, phương thức bán hàng, cách thức tiếp cận, sản phẩm nào phù hợpnhất với yêu cầu của khách hàng thì sản phẩm đó sẽ đảm bảo được khả năng tiêuthụ, kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm và là điều kiện thu thêm nhiều lợi nhuận choDoanh nghiệp

- Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có cùng ngành nghề, là sự cạnh tranh giữacác doanh nghiệp cùng sản xuất một loại hàng hóa mà doanh nghiệp nào cũng nhằmđến thu được lợi nhuận siêu ngạch Trong nền kinh tế thị trường, theo quy luật,doanh nghiệp nào có hao phí lao động cá biệt nhỏ hơn hao phí lao lao động xã hộicần thiết sẽ thu được lợi nhuận siêu ngạch Các doanh nghiệp sẽ áp dụng các biệnpháp như cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng xuất lao động, giảm tối

đa chi phí sản xuất, nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm Doanh nghiệp nào

có nhiều sản phẩm có sức cạnh tranh cao sẽ cạnh tranh thắng lợi trong ngành và sẽthu được lợi nhuận siêu ngạch

Như vậy chúng ta có thể khẳng định rằng cạnh giữa các doanh nghiệp trongnội bộ ngành sẽ làm giảm chi phí sản xuất và giá cả hàng hóa, là động lực thúc đẩyphát triển lực lượng sản xuất và tiến bộ khoa hoc kỹ thuật Nếu không có cạnh tranhnội bộ ngành thì ngành đó, lĩnh vực sản xuất đó không thể phát triển và kinh tế sẽ bịtrì trệ lạc hậu

- Cạnh tranh giữa các ngành là sự cạnh tranh mà các doanh nghiệp sản xuất ởcác ngành khác nhau nhằm tìm nơi đầu tư thuận lợi nhất để có thể thu được lợi

Trang 9

nhuận siêu ngạch Giữa các ngành kinh tế, do điều kiện tự nhiên, điều kiện kỹ thuật

và một số điều kiện khách quan khác như: Văn hóa, tâm lý, thị hiếu, kỳ vọng, mức

độ quan trọng…dẫn đến việc cùng với một lượng vốn nhưng đầu tư vào ngành này

sẽ mang lại tỷ suất lợi nhuận cao hơn ngành khác Các doanh nghiệp sản xuất ở cácngành có tỷ xuất lợi nhuận thấp có xu hướng chuyển dịch các nguồn lực sang ngành

có tỷ suất lợi nhuận cao Kết quả là trong những ngành sản xuất có tỷ suất lợi nhuậncao sẽ có thêm nhiều doanh nghiệp tham gia sản xuất, dẫn đến lượng cung hàng hóatăng cao vượt quá lượng cầu,cạnh tranh về giá, giá giảm dẫn đến tỷ suất lợi nhuận củangành giảm ngược lại, với những ngành có nhiều doanh nghiệp rút lui, sản xuất toànngành giảm, lúc đó trên thị trường sẽ xuất hiện lượng cung hàng hóa nhỏ hơn lượngcầu, hàng hóa khan hiếm, giá tăng và tỷ suất lợi nhuận của ngành tăng

Việc di chuyển nguồn lực giữa các ngành kéo theo sự biến động của tỷ suấtlợi nhuận diễn ra cho đến khi với một số vốn nhất định dù đầu tư vào ngành nàocũng sẽ thu được tỷ suất lợi nhuận như nhau (Đó là tỷ suất lợi nhuận bình quân).Như vậy có thể nói cạnh tranh giữa các ngành sẽ tạo ra sự cân bằng cung cầusản phẩm trong mỗi ngành và bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận, đảm bảo sự bìnhđẳng cho việc đầu tư nguồn vốn giữa các ngành, tạo nhân tố tích cực cho sự pháttriển kinh tế

- Cạnh tranh giữa các quốc gia là các hoạt động nhằm duy trì cải thiện vị trícủa nền kinh tế của mỗi quốc gia trên thị trường thế giới một cách lâu dài để thuđược lợi ích ngày càng cao cho nền kinh tế của quốc gia đó Tuy nhiên chủ thể trựctiếp tham gia cạnh tranh là những doanh nghiệp của quốc gia đó Do vậy quốc gianào có nhiều doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao thì quốc gia đó có năng lựccạnh tranh tốt hơn những quốc gia khác

1.1.2 Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế

Trong lịch sử kinh tế thế giới, các nhà nhà kinh tế học đã nghiên cứu và chỉ ravai trò quan trọng của cạnh tranh Từ thế kỷ 18, nhà kinh tế học cổ điển Anh với tácphẩm “ Của cải của các dân tộc” ông đã chỉ ra vai trò quan trọng của cạnh tranhtrong quá trình phát triển kinh tế, Ông cho rằng với sức ép của cạnh tranh buộc mỗi

cá nhân phải cố gắng làm công việc của mình một cách chính xác và do đó tạo ra sự

cố gắng lớn nhất

Kết quả của sự cố gắng đó là lòng hăng say lao động, sự phân phối các yếu tố

Trang 10

sản xuất một cách hợp lý và tăng của cải cho xã hội Hiện nay, cạnh tranh được coi

là phương thức hoạt động để tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp, nếu không

có cạnh tranh thì không có tăng trưỏng và phát triển kinh tế Vai trò cạnh tranh cũng

có hai mặt, tích cực và tiêu cực và được thể hiện như sau

+ Tích cực.

- Đối với nền kinh tế, cạnh tranh làm sống động nền kinh tế, thúc đẩy quátrình lưu thông và các yếu tố sản xuất Thông qua cạnh tranh, các nguồn tài nguyênđược phân phối một cách hợp lý hơn, dẫn đến sự điều chỉnh kết cấu ngành, cơ cấulao động được thực hiện mau chóng và tối ưu

Cạnh tranh là đòn bẩy mạnh mẽ nhất của quá trình luân chuyển vốn, luânchuyển các yếu tố sản xuất, phân phối lại tài nguyên, tập chung sản xuất và tíchluỹ tư bản Đồng thời cạnh tranh còn là cơ chế điều tiết việc phân phối lợi nhuậngiữa các ngành và trong nền kinh tế, do chịu ảnh hưởng của quy luật bình quânhóa lợi nhuận

- Cạnh tranh đối với doanh nghiệp kinh doanh, do động lực tối đa hóa lợinhuận và áp lực bị phá sản nếu dừng lại, cạnh tranh buộc các chủ thể kinh tế phảikhông ngừng tăng cường thực lực của mình bằng các biện pháp đầu tư mở rộng sảnxuất, đầu tư cho nghiên cứu khoa học, sáng tạo và thường xuyên cải tiến kỹ thuật,công nghệ, tăng năng xuất lao động, tăng chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sảnxuất Qua đó cạnh tranh nâng cao trình độ mọi mặt của người lao động, nhất là độingũ quản trị kinh doanh, đồng thời chọn lọc và đào thải những chủ thể kinh tếkhông thích nghi được với sự khắc nghiệt của thị trường

- Cạnh tranh đối với người tiêu dùng, qua cạnh tranh cho thấy trên thị trường,những hàng hóa nào phù hợp nhất với yêu cầu sử dụng và khả năng thanh toán củangười tiêu dùng, bởi cạnh tranh làm cho giá cả có xu hướng ngày càng giảm, lượnghàng hóa được bán trên thị trường ngày càng tăng, chất lượng ngày một tốt hơn,hàng hóa đa dạng phong phú Chính vì vậy cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích chongười tiêu dùng Bên cạnh đó cạnh tranh còn đảm bảo rằng cả người sản xuất vàngười tiêu dùng đều không thể dùng sức mạnh áp đặt ý muốn chủ quan cho ngườikhác Nói cách khác cạnh tranh còn có vai trò là một lực lượng điều tiết thị trường.Như vậy, chúng ta thấy cùng với tác động của các quy luật kinh tế kháchquan khác, cạnh tranh đã giúp cho các doanh nghiệp trả lời được câu hỏi, đó là: Sảnxuất cái gì? Sản xuất cho ai? Và sản xuất như thế nào? một cách thỏa đáng nhất

Trang 11

Vận dụng quy luật cạnh tranh Nhà nước và doanh nghiệp có điều kiện hoạch địnhcác chiến lược phát triển một cách khoa học mà vẫn đảm bảo được tính thực tiễn,chủ động hơn trong công tác đối phó với mọi biến động của thị trường.

+ Hạn chế.

Bên cạnh những tích cực mà quy luật cạnh tranh mang lại, là những tiêu cực, đó

là do chạy theo lợi nhuận nên cạnh tranh có tác dụng không hoàn hảo, nó vừa lá độnglực tăng trưởng kinh tế vừa bao hàm sức mạnh tàn phá mù quáng Sự đào thải khôngkhoan nhượng những doanh nghiệp kinh doanh không có hiệu quả Tuy rằng sự đàothải đó là phù hợp với quy luật kinh tế khách quan, nhưng nó lại gây ra những hậuquả về kinh tế xã hội to lớn, như nạn thất nghiệp ra tăng, mất ổn định xã hội…

Cạnh tranh là quá trình kinh tế mà các chủ thể sử dụng mọi biện pháp trong đó

có cả những thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh để giành chiến thắng trên thươngtrưòng như gian lận, quảng cáo lừa gạt khách hàng, tình trạng cá lớn nuốt cá bé,lũng loạn thị trường Như vậy lợi ích người tiêu dùng bị xâm hại, và cuối cùng cạnhtranh có xu hướng dẫn đến độc quyền làm cho nền kinh tế phát triển theo chiềuhướng không tốt

Với những đóng góp của cạnh tranh trong quá trình tăng trưởng và phát triểnkinh tế, cạnh tranh đã, đang và sẽ luôn là phương thức hoạt động hữu hiệu của nềnkinh tế thị trường, chúng ta cần nhận thức được các vai trò quan trọng của nó cũngnhư những mặt tích cực, tiêu cực của cạnh tranh mang lại để chúng ta vận dụng quyluật này sao cho hiệu quả nhất cho nền kinh tế

1.1.3 Các công cụ cạnh tranh của Doanh nghiệp.

Trong nền kinh tế hoạt động cạnh tranh trên thị trường doanh nghiệp có thể sửdụng các công cụ cạnh tranh khác nhau để chiếm lĩnh thị trường, tăng tốc độ tiêuthụ sản phẩm, tăng thị phần…Các công cụ thường được các doanh nghiệp sự dụng

là chất lượng sản phẩm, giá cả, hệ thống phân phối, và quảng bá thương hiệu

a Chất lượng sản phẩm

Để có thể sử dụng công cụ chất lượng sản phẩm nhằm cạnh tranh có hiệu quảcần làm rõ thế nào là chất lượng sản phẩm Cách hiểu và nhận biết về chất lượngsản phẩm ảnh hưởng trực tiếp đến quản lý chất lượng sản phẩm, bởi chất lượng sảnphẩm là một phạm trù khá rộng lớn và phức tạp phản ánh tổng hợp các nội dungkinh tế, kỹ thuật và xã hội

Trang 12

Đối với khách hàng hoặc người tiêu dùng chất lượng sản phẩm được xem là

sự phù hợp và thỏa mãn nhu cầu hoặc mục đính sử dụng mang lại họ

Về phía doanh nghiệp hoặc nhà sản xuất thì chất lượng sản phẩm là sự hoànhảo, tiện ích và sự phù hợp của sản phẩm với một tập hợp các yêu cầu hoặc tiêuchuẩn, quy phạm, quy cách đã được quy định trước

Nếu chúng ta chỉ xét từng loại sản phẩm một cách riêng biệt, thì chất lượngsản phẩm được phản ánh bởi các thuộc tính đặc trưng của sản phẩm đó Chất lượngsản phẩm phụ thuộc vào số lượng và chất lượng các thuộc tính được các nhà nghiêncứu thiết kế đưa vào sản phẩm đó tước khi sản xuất Những thuộc tính đó phản ánhcông năng hoặc giá trị sư dụng của sản phẩm và được biểu hiện ở những chỉ tiêuchất lượng cụ thể

Nếu xét trên góc độ giá trị, chất lượng sản phẩm được hiểu là đại lượng đolường giữa tỷ số lợi ích thu được từ tiêu dùng của sản phẩm với chi phí phải bỏ ra

để người sử dụng có được lợi ích đó

Qua nghiên cứu và dựa trên các định nghĩa về chất lượng, tổ chức quốc tế vềtiêu chuẩn hóa gọi tắt là ISO đã đưa ra định nghĩa cụ thể về chất lượng sản phẩmtrong bộ tiêu chuẩn ISO - 9000 như sau: “ Chất lượng sản phẩm là một tập hợp cácthuộc tính của sản phẩm, tạo cho sản phẩm đó khả năng thỏa mãn yêu cầu đã nêu rahoăcc tiềm ẩn.” Định nghĩa trên cho thấy sự thống nhất giữa các thuộc tính của sảnphẩm, các nhu cầu của khách hàng, giữa các yêu cầu của người sản xuất và ngườitiêu dùng, giữa nhu cầu hiện tại và những kỳ vọng tương lai của khách hàng về sảnphẩm Cũng chính vì sự khái quát của định nghĩa này, mà nó được chấp nhận và sửdụng rộng rãi trong các hoạt động kinh tế hiện nay trên phạm vi toàn cầu

Chất lượng sản phẩm có vai trò đặc biệt quan trọng trong cạnh tranh của mỗidoanh nghiệp, một trong những căn cứ quan trọng khi người tiêu dùng quyết địnhlựa chọn và sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp là chất lượng của sản phẩm Theonhà nghiên cứu kinh tế M.Porter thì năng lực cạnh tranh của mỗi Doanh nghiệpđược thể hiện thông qua hai chiến lược cơ bản đó là phân biệt hóa sản phẩm (chấtlượng) và chi phí thấp Chính vì vậy chất lượng sản phẩm trở thành một trongnhững công cụ quan trọng nhất làm gia tăng năng lực cạnh tranh cho Doanh nghiệp.Chất lượng sản phẩm thể hiện khả năng đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu kháchhàng của doanh nghiệp, tốc độ tiêu thụ sản phẩm sẽ gia tăng cùng với sự gia tăng

Trang 13

mức độ sản phẩm đó thỏa mãn nhu cầu của khách hàng Đặc biệt là hiện nay khitrình độ xã hội ngày càng cao, xã hội ngày càng văn minh, thì thị hiếu của ngườitiêu dùng đòi hỏi những sản phẩm có chất lượng cao về mọi mặt chứ không chỉ đơnthuần là Tốt - Bền - Đẹp như trước kia nữa Như vậy có thể nói chất lượng và cạnhtranh là hai phạm trù luôn đi cùng và gắn bó chặt chẽ với nhau, chất lượng sẽ làmgia tăng năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp và ngược lại năng lực cạnh tranh cao

sẽ bán được nhiều sản phẩm, tạo lợi nhuận siêu ngạch cho doanh nghiệp, nâng cao

cơ sở tài chính và vật chất cần thiết để đầu tư nghiên cứu khoa học, đổi mới côngnghệ nhằm ngày càng tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao phục vụ nhu cầu thịtrường

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, khi tham gia các tổ chức thương mạiquốc tế như (AFTA, WTO…) cùng với những cơ hội kinh doanh trên thị trường lớn

là việc các nước thành viên đều phải dỡ bỏ rất nhiều những hàng rào thuế quan đểcho hàng của các nước tràn vào cạnh tranh tự do ngay trên sân nhà Tuy vậy, khôngmột quốc gia nào lại không tìm cách để bảo hộ nền sản xuất trong nước, để hạn chếhàng ngoại tràn vào và khi đó một số hàng rào mới lại được dựng lên, đó là nhữngtiêu chuẩn khắt khe về chất lượng sản phẩm, như giấy chứng nhận về mức độ phóng

xạ cho phép đói với hàng thực phẩm, chất lượng đóng gói bao bì, nhãn mác, giấychứng nhận xuất sứ hàng hóa …Việc các doanh nghiệp đầu tư nâng cao chất lượngsản phẩm không những đảm bảo cạnh tranh giành thắng lợi trên sân nhà mà còn xâydựng chiến lược đem sản phẩm của mình ra nước ngoài để cạnh tranh với thị trườngquốc tế

Để sử dụng có hiệu quả công cụ chất lượng sản phẩm trong cạnh tranh, cácdoanh nghiệp cần làm tốt công tác quản lý chất lượng sản phẩm Quản lý chất lượng

là các hoạt động có tổ chức phối hợp nhằm định hướng và kiểm soát một quy trìnhchặt chẽ về chất lượng sản phẩm Nói theo cách khác quản lý chất lượng sản phẩmbao gồm toàn bộ các hoạt động từ việc xây dựng các quy trình đảm bảo chất lượng,thiết lập các văn bản xác định trình tự và tương tác các quy trình, đảm bảo nguồnlực và thông tin cần thiết, theo dõi kiểm tra và phân tích các quá trình, nhằm đảmbảo mục tiêu chất lượng đề ra, và hệ thống quản lý chất lượng là một hệ thống đểđịnh hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng đã đề ra, và hệ thống quản lýchất lượng này là một hệ thống để định hướng và kiểm soát một tổ chức về chấtlượng, đây là một hệ thống không thể thiếu đối với mỗi doanh nghiệp để phát huyđược tối đa lợi ích cạnh tranh đích thực từ sản phẩm

Trang 14

Trên cơ sở nhận thức đầy đủ hơn về vai trò của chất lượng sản phẩm và quản

lý chất lượng, các doanh nghiệp cần xây dựng và tổ chức triển khai các hoạt độngđẩy nhanh quá trình cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm, tận dụng tốt nhấtcông cụ này cho nâng cao năng lực cạnh tranh

b Giá cả sản phẩm.

Giá cả của hàng hóa là một phạm trù kinh tế khách quan phát sinh, phát triểncùng với lịch sử ra đời và phát triển của nền kinh tế sản xuất hàng hóa Ngày nay,giá cả hiện diện trong tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội, các ngành,các khu vực của nền kinh tế, các lĩnh vực của đời sống xã hội Giá cả không chỉ là

sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa, nó còn biểu hiện tổng hợp các quan hệkinh tế như cung cầu hàmg hóa, tích luỹ tiêu dùng…Vì vậy giá cả hình thành thôngqua quan hệ cung cầu hàng hóa, thông qua sự thỏa thuận giữa người mua và ngườibán, khi giá được chấp thuận là giá mà cả người mua và người bán đều thấy có lợi.Trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì giá bán sản phẩm là một trongnhững công cụ quan trọng thường được sử dụng Bởi giá bán sản phẩm có ảnhhưởng trực tiếp đến sự hấp dẫn của sản phẩm và sản lượng tiêu thụ trên thị trường

Ví dụ: hai hàng hóa có cùng công dụng và có chất lượng tương đương nhau, kháchhàng sẽ lựa chọn hàng hóa nào có giá bán thấp hơn Trong thực tế có nhiều chínhsách giá khác nhau được doanh nghiệp sử dụng nhằm đáp ứng và phù hợp với sảnphẩm, mục tiêu, tình hình thị trường và khả năng thanh toán của khách hàng Trongquá trình hình thành và xây dựng giá bán sản phẩm, doanh nghiệp có thể tham khảomột số chính sách xây dựng giá như sau:

+ Chính sách xây dựng giá thấp, là chính sách mà doanh nghiệp xây dựng giábán sản phẩm thấp hơn giá cả thị trường, có hai cách áp dụng chính sách này

- Doanh nghiệp xây dựng giá thấp hơn giá thị trường đối với sản phẩm cùngloại, nhưng vẫn cao hơn giá thành sản xuất Đây là trường hợp doanh nghiệp ápdụng khi sản phẩm mới thâm nhập thị trường, doanh nghiệp cần thu hút khách hàng,cạnh tranh với sản phẩm cùng loại để chiếm lĩnh thị phần, trong trường hợp nàydoanh nghiệp sẽ nhanh chóng chiếm được thị phần mà lợi nhuận vẫn đạt được mặc

dù không lớn

- Doanh nghiệp chấp nhận xây dựng giá sản phẩm thấp hơn giá thị trường vàthấp hơn giá thành sản xuất, đây là trường hợp mà doanh nghiệp chấp nhận thua lỗ

Trang 15

tạm thời để phát triển thị trường, chiếm lĩnh thị phần, đẩy nhanh tốc độ tiêu thụhàng hóa, tăng nhanh vòng quay của đồng vốn, Tạo tiền đề cho chiến lược xây dựnggiá bán cao cho sản phẩm sau này.

+ Chính sách xây dựng giá bán cao

Đây là chính sách mà doanh nghiệp định giá bán sản phẩm của mình cao hơngiá thị trường và cao hơn giá thành sản phẩm Trong trường hợp này áp dụng chonhững sản phẩm mới lần đầu được tung ra thị trường, chưa có sản phẩm cạnh tranh,người tiêu dùng chưa biết rõ về sản phẩm và chưa có điều kiện để so sánh về giá cả

và chất lượng Giai đoạn này doanh nghiệp tranh thủ chiếm lĩnh thị trường sau đó sẽdần giảm giá để tương đương với giá thị trường, nhưng vẫn đảm bảo cao hơn giáthành sản phẩm Doanh nghiệp vẫn thu được lợi nhuận như mong muốn

- Chính sách ổn định giá, theo đó doanh nghiệp sẽ xây dựng và đưa ra mộtmức giá phù hợp và sẽ được áp dụng trong một thời gian dài để tạo uy tín và củng

cố niềm tin của khách hàng về sự ổn định của thị trường đối với sản phẩm Nó giúpsản phẩm có những nét độc đáo, khác biệt, nhằm phân biệt với những sản phẩmcùng loại của đối thủ cạnh tranh, từ đó có điều kiện mở rộng thị trường và chiếmlĩnh thị phần của sản phẩm

- Chính sách bán phá giá, là chính sách mà doanh nghiệp dùng biện pháp hạgiá bán ở mức rất thấp, doanh nghiệp chấp nhận thua lỗ trong một thời gian nhấtđịnh, nhằm làm cho đối thủ cạnh tranh không thể bán sản phẩm cùng loại trong mộtthời gian, từ chỗ thua lỗ do không cạnh tranh được về giá đối thủ cạnh tranh buộcphải rút khỏi thị trường Khi đó doanh nghiệp độc chiếm thị trường, độc quyền vớisản phẩm và lúc đó doanh nghiệp sẽ chủ động nâng giá lên cao và thu lại lợi nhuận.Chính sách bán phá giá được coi là rất mạo hiểm, nó là con dao hai lưỡi do vậy ítdoanh nghiệp sử dụng chính sách này để bán hàng, và hiện nay chính sách bán phágiá được coi là phương thức cạnh tranh không lành mạnh, và bị cấm ở một số quốcgia trên thế giới

Chính sách phân biệt giá, đó là chính sách xây dựng và đưa ra những mức giákhác nhau đối với cùng một loại sản phẩm khi bán cho các đối tượng khách hàngkhác nhau, cho các khu vực thị trường khác nhau, khách hàng mua với số lượnghàng hóa khác nhau hoặc trong những thời điểm khác nhau Với chính sách nàydoanh nghiệp sẽ làm thỏa mãn được nhiều đối tượng khách hàng có nhu cầu khácnhau, có điều kiện tài chính khác nhau, tạo nên sự linh hoạt về giá nhằm hấp dẫn

Trang 16

khách hàng đồng thời vẫn đảm bảo được lợi ích cho doanh nghiệp khi sản xuấtnhững sản phẩm có chất lượng cao hơn, hoặc phải vận chuyển sản phẩm đến nhiềuđịa điểm khác nhau.

Tóm lại, việc nghiên cứu và vận dụng chính sách để xây dựng giá bán sảnphẩm là một vấn đề hết sức phức tạp, nó đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải luôn linhhoạt và sáng tạo bởi vì giá cả sản phẩm không chỉ vào được quyết định bởi giá trịhàng hóa mà nó còn phụ thuộc số lượng và khả năng thanh toán của khách hàng vànhiều yếu tố khác Do vậy để mỗi doanh nghiệp có thể vận dụng thắng lợi chiếnlược giá cả trong cạnh tranh chúng ta cần lưu ý một số vấn đề như sau

+ Việc xây dựng giá bán sản phẩm chỉ là một yếu tố trong chiến lược tổnghợp nhằm đem lại doanh thu, lợi nhuận và đảm bảo nâng cao sức cạnh tranh chodoanh nghiệp nên không nhất thiết phải giảm giá hoặc tăng giá trong những trưònghợp thị trường có biến động

+ Việc xây dựng giá bán sản phẩm phải gắn liền với chính sách chiếm lĩnh thịtrường, chiếm giữ thị phần, mà phải coi việc chiếm giữ thị phần là mục tiêu chiếnlược và nhiệm vụ xây dựng giá bán sản phẩm phải nhằm đạt được mục tiêu này.+ Việc xây dựng giá bán sản phẩm phải gắn liền với chiến lược cắt giảm chiphí, mặc dù việc xây dựng giá bán sản phẩm dựa trên nhiều căn cứ khác nhau songchi phí vẫn là một yếu tố rất quan trọng để xây dựng giá bán sản phẩm cho phù hợp.+ Việc xây dựng giá bán sản phẩm phải dựa trên chiến lược cạnh tranh, vì vậydoanh nghiệp cần quan tâm thích đáng đến sự thay đổi giá và chính sách giá của cácđối thủ cạnh tranh

+ Chiến lược xây dựng giá bán sản phẩm phải gắn liền với phân khúc thịtrường để có thể áp dụng một cách linh hoạt những chính sách giá khác nhau chophù hợp với điều kiện thực tế của thị trường

+ Trên thực tế, một số nhóm khách hàng sẵn sàng chấp nhận mua sản phẩmvới giá cao để được sử dụng những sản phẩm có chất lượng cao và nhãn hiệu nổitiếng chính vì vậy doanh nghiệp nên thực hiện chính sách định giá cao đối vớinhững sản phẩm này để củng cố uy tín cho sản phẩm của mình, không bỏ lỡ cơ hộităng lợi nhuận nhưng cần đảm bảo cung cấp cho người tiêu dùng đầy đủ những gì đã hứahẹn trong sản phẩm, tạo lòng tin đối với khách hàng

+ Trong chiến lược cạnh tranh, mỗi doanh nghiệp cần xây dựng một hệ thống đolường để đánh giá kết quả công tác xây dựng giá bán sản phẩm trong từng thời kỳ, từng

Trang 17

giai đoạn Đây là hoạt động không thể thiếu để đánh giá hiệu quả công tác xây dựng giábán sản phẩm của doanh nghiệp, qua đó để xem xét đánh giá và đưa ra những điềuchỉnh một cách linh hoạt, kịp thời, đáp ứng mọi sự biến động của thị trường.

Như vậy, chiến lược giá cả là một công cụ cạnh tranh sắc bén của mỗi doanhnghiệp, nó ảnh hưởng không nhỏ đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.chính vì vậy mỗi doanh nghiệp cần nghiên cứu, xây dựng và hoạch định chiến lược

về giá bán sản phẩm của mình, sao cho phù hợp với những biến động của thị trường vàmục tiêu xây dựng và phát triển củadoanh nghiệp

c Hệ thống phân phối

Chúng ta có thể hiểu kênh phân phối là một tập hợp các cá nhân hoặc tổ chứctham gia vào quá trình làm cho sản phẩm bán ra tới được tay khách hàng, do vậynếu doanh nghiệp lựa chọn kênh phân phối không hợp lý có thể sẽ làm giảm sảnlượng tiêu thụ sản phẩm, dẫn đến hàng hóa ế ẩm, không tiêu thụ được và Doanhnghiệp sẽ thất bại trong cạnh tranh Đặc biệt là hiện nay các kênh phân phối càng thểhiện được vai trò quan trọng của mình trên thị trường bởi vì

+ Chi phí vận chuyển thường tăng lên sau mỗi lần biến động giá nhiên liệu,điều đó đặt ra cho mỗi doanh nghiệp phải tìm ra cho mình những phương thức vậnchuyển hợp lý nhất, tiết kiệm nhất trong lưu thông cho sản phẩm của mình

+ Với tốc độ phát triển khoa học kỹ thuật nhanh như hiện nay những doanhnghiệp chỉ dựa vào lợi thế về công nghệ để cạnh tranh thì khó tồn tại lâu, bởi đốithủ rất rễ bắt trước hoặc họ đầu tư những công nghệ thế hệ sau sẽ hiện đại hơn Hơnnữa hiệu quả sản xuất không thể tăng vô hạn, khi đó nó gần như đã đạt điểm tối đanên các doanh nghiệp khó có thể hy vọng vượt trội ở mặt này, do vậy các doanhnghiệp cạnh tranh phần lớn đặt nhiều hy vọng vào kênh phân phối của minh

+ Hiện nay các sản phẩm ngày càng đa dạng và phong phú về mẫu mã, chấtlượng, kích cỡ, chính vì vậy các doanh nghiệp sẽ rất dễ gặp khó khăn trong thờihạn giao sản phẩm có chất lượng của mình cho khách hàng đúng hẹn, và nhiệm vụquan trọng này doanh nghiệp lại tin tưởng đặt lên vai của những nh phân phối.+ Trong thời buổi công nghệ thông tin phát triển như hiện nay, các doanhnghiệp sản xuất đã có nhiều thay đổi lớn trong phương pháp quản lý hàng tồn kho.Nếu để số lượng hàng hóa tồn kho lớn sẽ làm tăng chi phí bảo quản, lưu kho và làmgiảm chất lượng của sản phẩm Khi đó các doanh nghiệp có xu hướng giảm hàng

Trang 18

tồn kho xuống mức cần thiết thấp nhất để giảm chi phí giá thành Điển hình nhấttrong phương pháp quản lý này là phương pháp quản lý “ vừa kịp lúc” của Nhật bảnchính phương pháp quản lý này đã giúp cho các doanh nghiệp Nhật bản có được lợithế cạnh tranh rất lớn trên thương trường và đã thắng được các doanh nghiệp Mỹ.

Để thực hiện hiệu quả phương pháp quản lý này không gì tốt hơn là các Doanhnghiệp phải lựa chọn được kênh phân phối hợp lý nhất và tốt nhất cho mình

+ Trên thực tế để xây dựng hoặc thay đổi được một kênh phân phối cần rấtnhiều thời gian và công sức bởi nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khách quan khácchứ không đơn thuần là mong muốn chủ quan của doanh nghiệp sản xuất Để lựachọn và tiến hành xây dựng một kênh phân phối vận hành một cách trơn tru có khidoanh nghiệp phải mất nhiều năm, chính vì vậy nếu Doanh nghiệp chọn được kênhphân phối có chất lượng tốt sẽ đảm bảo khả năng tiêu thụ sản phẩm, duy trì và nângcao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Trên thực tế có rất nhiều hình thức tiêu thụ sản phẩm, như bán hàng trực tiếp,bán hàng thông qua các công ty bán buôn của mình, hoặc các hãng bán buôn độclập, sử dụng mạng lưới bán lẻ của hãng, bán qua các cửa hàng, các hãng bán lẻ độclập hoặc bán hàng qua điện thoại, bán hàng qua mạng Internet Nhưng tùy vào từngloại sản phẩm hàng hóa, như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, hàng tiêudùng…mà doanh nghiệp có thể lựa chọn cho doanh nghiệp mình một hình thức saocho phù hợp nhất, việc lựa chọn và xây dựng kênh phân phối phải dựa trên các kếtquả nghiên cứu kỹ lưỡng các đặc điểm của thị trường bao gồm, đặc điểm của nhómkhách hàng ( Cá nhân, tổ chức, khách hàng mục tiêu, khách hàng tiềm năng, ) đặctính của sản phẩm như ( tính dễ hư hỏng, tính thời vụ, đặc điểm kỹ thuật của sảnphẩm, ) đặc điểm môi trường như (điều kiện kinh tế, khả năng quản lý, các dàngbuộc pháp lý, hoặc điều kiện địa lý)

Trong những năm gần đây khi công nghệ thông tin phát triển mạnh ở mọi nơi,

hệ thống giao thông được cải thiện đáng kể thì các doanh nghiệp đã có nhiều thayđổi trong vịêc lựa chọn kênh phân phối sản phẩm, trong đó các Doanh nghiệp cóđều xu hướng chọn kênh phân phối trực tiếp Sự lựa chon hình thức này cho phépdoanh nghiệp phát triển các quan hệ hợp đồng và hệ thống các đơn hàng cá biệt.Với hình thức này việc thực hiện lịch giao hàng theo quy định sẽ tạo điều kiện chokhách hàng giảm được lượng hàng dự trữ tồn kho Điều đó cũng là tiền đề để pháttriển sản xuất kinh doanh có tính đến yêu cầu cụ thể của khách hàng (với điều nàydoanh nghiệp đã trả lời được câu hỏi, sản xuất cho ai?)

Trang 19

1.1.4 Khái niệm và sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

a Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Như chúng ta đã nghiên cứu ở phần trên các định nghĩa về cạnh tranh, để cóthể cạnh tranh thắng lợi trước các đối thủ mỗi doanh nghiệp phải có năng lực cạnhtranh nhất định Vậy năng lực cạnh tranh là gì? với câu hỏi này thật khó trả lời mộtcách chính xác, hiện nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa đưa ra một định nghĩa chínhxác cho vấn đề này

Trên thương trưòng khi các chủ thể cạnh tranh với nhau để giành thắng lợi vềphía mình, các chủ thể đó phải áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp nhằm duy trì vàphát triển vị thế của doanh nghiệp mình trên thương trường đó Các biện pháp màdoanh nghiệp áp dụng thể hiện một sức mạnh nào đó, một khả năng nào đó hoặcmột năng lực nào đó của chủ thể, và nó được gọi là năng lực canh tranh của chủ thể

đó Khi muốn chỉ một sức mạnh, một khả năng duy trì được vị trí của một hàng hóanào đó trên thị trường người ta cũng dùng thuật ngữ năng lực cạnh tranh của hànghóa, thuật ngữ đó cũng là để chỉ mức độ hấp dẫn của hàng hóa đó đối với kháchhàng Một tác giả sau khi đã nghiên cứu phân tích bản chất năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp cho rằng “ Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện thực lực vàlợi thế so sánh của nó so với đối thủ khác trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏicủa khách hàng để thu lợi ích ngày càng cao cho doanh nghiệp mình.”

Một số quan điểm cho rằng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả nănggiành được và duy trì thị phần trên thị trường với việc thu lợi nhuận nhất định.Tất cả các nghiên cứu mặc dù xuất phát từ nhiều góc độ khác nhau, nhưng đềucho thấy năng lực cạnh tranh đều liên quan đến hai khía cạnh đó làchiếm lĩnh thịtrường và lợi nhuận mang lại Như vậy có thể nói năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp là “ Khả năng tồn tại, duy trì hoặc gia tăng lợi nhuận, chiếm lĩnh thị phầntrên thị trường của các sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp”

Với những nghiên cứu ở trên chúng ta cần phân biệt năng lực cạnh tranh củahàng hóa, dịch vụ, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh củaquốc gia

Trong đó năng lực cạnh tranh hàng hóa dịch vụ có thể hiểu khái quát là tổngthể các yếu tố gắn liền với hàng hóa, dịch vụ đó cùng với các điều kiện, công cụ vàbiện pháp cấu thành khả năng cạnh tranh được chủ thể dùng để ganh đua với nhau

Trang 20

nhằm chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng và đem lại nhiều lợi ích hơn chochủ thể tham gia cạnh tranh.

Đối với năng lực cạnh tranh quốc gia, diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) chorằng “ Khả năng cạnh tranh của một quốc gia là khả năng đạt và duy trì được mứctăng trưởng trên cơ sở các chính sách thể chế vững bền tương đối và các đặc trưngkinh tế khác”

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản phẩmhàng hóa, dịch vụ khác nhau ở chỗ Doanh nghiệp là một tổ chức chặt chẽ, có thểđồng thời sản sản nhiều mặt hàng với năng lực cạnh tranh khác nhau Năng lực cạnhtranh của sản phẩm được thể hiện năng lực của sản phẩm đó có thể thay thế một sảnphẩm khác đồng nhất hoặc khác biệt, có thể do đặc tính chất lượng sản phẩm hoặcgiá cả sản phẩm Do vậy năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa dịch vụ là mộttrong những yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh chung cho Doanh nghiệp

Trong khi đó cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có thể diễn ra khi họ cung ứng trêncùng một thị trường những sản phẩm hàng hóa, dịch vụ hoàn toàn giống nhau hoặc khácnhau, nhưng có thể thay thế cho nhau Trong cùng một thời gian nếu doanh nghiệp nàobán được nhiều sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của mình hơn và ngày càng chiếm được thịphần nhiều hơn so với các đối thủ cạnh tranh khác thì doanh nghiệp đó được đánh giá là

có năng lực cạnh tranh cao hơn

Còn năng lực cạnh tranh quốc gia là tổng hợp năng lực cạnh tranh của cácdoanh nghiệp trong quốc gia đó Chính vì vậy nâng cao năng lực cạnh tranh chodoanh nghiệp là một vấn đề đặc biệt quan trọng của mỗi quốc gia Trong giai đoạnhiện nay, trong xu thế chúng ta đang chủ động hội nhập kinh tế quốc tế ngày mộtsâu rộng, để tồn tại và phát triển bền vững mỗi doanh nghiệp nói riêng và quốc gianói chung cần quan tâm chú trọng đầu tư toàn diện để nâng cao năng lực cạnh tranh,chủ động giành phần thắng lợi về mình trước những đối thủ cạnh tranh khác

b Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp.

Trong giai đoạn hiện nay, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang thúc đẩymạnh mẽ, sâu sắc quá trình chuyên môn hóa và hợp tác quốc tế, lực lượng sản xuấtlớn mạnh đang được dần quốc tế hóa Cuộc cách mạng công nghệ thông tin đanglàm cho nền kinh tế thế giới gắn bó, ràng buộc lẫn nhau dẫn tới không một quốc gianào, một nền kinh tế, một dân tộc nào muốn phát triển mà có thể tách rời khỏi hệ

Trang 21

thống kinh tế thế giới, không hòa nhập vào sự vận động chung của cả nền kinh tếthế giới Sự hội nhập kinh tế quốc tế là sự gắn kết nền kinh tế của nước mình vàovới nền kinh tế khu vực và thế giới, là tham gia vào sự phân công lao động quốc tế,chúng ta gia nhập các tổ chức kinh tế song phương và đa phương, là chúng ta chấpnhận và tuân thủ những quy định chung được hình thành trong quá trình hợp tác vàđấu tranh giữa các thành viên của tổ chức.Trong quá trình hội nhập, các nước thamgia đều phải tuân thủ những quy ước chung, những luật chơi chung khá phức tạpđược thể hiện trong nhiều điều ước quốc tế.

Một là: Khái niệm thương mại đã được mở rộng, không chỉ gồm thương mạicác hàng hóa và dịch vụ thông thường mà còn bao gồm cả các lĩnh vực đầu tư bảnquyền, tư vấn, sở hữu trí tuệ…Hoặc nói cách khác các sản phẩm hàng hóa được muabán hiện nay không chỉ bao gồm phần cứng mà còn có cả phần mềm, và hiện nay hànghóa phần mềm ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn

Hai là: Khi gia nhập các tổ chức kinh tế quốc tế, các quốc gia đều phải giảmthiểu và dần tiến tới gỡ bỏ toàn bộ hàng dào thuế quan chẳng hạn như trong khuônkhổ AFTA, các nước thành viên cam kết phải cắt giảm thuế quan xuống mức từ 0%đến 5% theo một lộ trình nhất định Hoặc trong khuôn khổ tổ chức thương mại thếgiới (WTO) quy định, các nước công nghiệp phát triển cắt giảm thuế xuất nhậpkhẩu hàng công nghiệp xuống mức 3% đến 4%, đối với hàng nông sản mức thuế là6%, còn các nước đang phát triển được duy trì mức thuế xuất cao hơn, khoảng từ10% đến 12%

Ba là: Thống nhất giảm dần tiến tới xóa bỏ hàng dào thuế quan, khi đó các nướcthành viên chỉ được áp dụng một số biện pháp hạn chế nhằm để bảo vệ môi trường, vệsinh, bản sắc văn hóa, an ninh quốc phòng Hiện nay với sự bùng nổ của khoa học côngnghệ, chất xám chiếm tỷ trọng ngày càng trong các sản phẩm, vì vậy việc bảo hộ bảnquyền sở hữu trí tuệ, nhãn mác sản phẩm được quy định rất chặt chẽ

Bốn là: Trong sản xuất nhà nước không được bao cấp cho doanh nghiệp, chỉđối với sản xuất hàng nông sản nhà nước được phép hỗ trợ ở một số khâu nhất định.Năm là: Các nước thành viên phải mở cửa thị trường cho tất cả các doanhnghiệp nước ngoài vào đầu tư kinh doanh, tạo sân chơi bình đẳng cho tất cả cácdoanh nghiệp trong và ngoài nước Tất cả các hệ thống luật pháp về kinh tế - thươngmại phải rõ ràng, công khai minh bạch

Trang 22

Sáu là: Các thành viên là các nước đang phát triển hoặc các nền kinh tế đangchuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường được hưởng một

số ưu dãi nhất định trong cam kết và thời gian, lộ trình thực hiện

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp và sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp có sự quan hệ mật tiết nótác động qua lại và hỗ trợ lẫn nhau

+ Nâng cao năng lực cạnh tranh giúp cho doanh nghiệp phát triển và hội nhập

Nó thúc đẩy tiến trình phát triển của doanh nghiệp bởi năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp tỷ lệ thuận với tốc độ phát triển của doanh nghiệp Nó giúp cho doanhnghiệp chủ động hội nhập kinh tế quốc tế một cách sâu, rộng

+ Khi cạnh tranh thắng lợi, doanh nghiệp sẽ đứng vững và phát triển khôngngừng, đó là tiền đề tác động ngược trở lại cho doanh nghiệp nâng cao hơn nữanăng lực cạnh tranh của mình Những thành tựu của sự phát triển sẽ tạo đà giúp chodoanh nghiệp có thêm nhiều cơ hội kinh doanh mới Khi doanh nghiệp có đủ khảnăng nguồn lực về vốn, con người doanh nghiệp sẽ dễ dàng tiếp cận với công nghệmới, phương thức quản lý tiên tiến, hiện đại, từ đây những sản phẩm mới có chấtlượng cao được ra đời góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.Tóm lại, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay vấn đề có tínhchất quyết định là mỗi doanh nghiệp phải nhận thức được và luôn cố gắng nâng caonăng lực của mình, sẵn sàng nắm lấy cơ hội để vươn lên, chuẩn bị đủ mọi điều kiện

để đủ khả năng đối mặt với những thách thức trong quá trình hội nhập để doanhnghiệp có thể tồn tại và phát triển bền vững

1.2 Phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp.

Để lựa chọn các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp chúng ta cần có các tiêu chí định lượng và định tính để đo lường vàđánh giá năng lực cạnh tranh Có rất nhiều tiêu chí có thể sử dụng để đánh giá, trong

đó tiêu chí được sử dụng phổ biến nhất và có thể phản ánh tương đối đầy đủ và sátthực về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đó là: Thương hiệu, thị phần, chi phísản xuất, tỷ xuất lợi nhuận

1.2.1 Thương hiệu và thị phần của Doanh nghiệp.

Trong lịch sử của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, quá trình sản xuất và lưu

Trang 23

thông, các nhà sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ đã mặc định hàng hóa của mìnhbằng cách sử dụng những dấu hiệu dưới hình thức nào đó để thể hiện Những dấuhiệu đó được gọi là thương hiệu, được nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp dịch vụ sửdụng trong thương mại nhằm ám chỉ sự liên quan giữa hàng hóa và dịch vụ vớingười có quyền sử dụng dấu hiệu đó với tư cách là người chủ sở hữu hoặc đăng kýthương hiệu.

Có rất nhiều quan điểm về thương hiệu nhưng theo Hiệp hội Maketting Hoa

kỳ “ Thương hiệu là một cái tên, một từ ngữ, một dấu hiệu, một biểu tượng, mộthình vẽ hoặc tổng hợp tất cả các yếu tố trên nhằm xác định một sản phẩm hoặc dịch

vụ của một ( hoặc một nhóm người ) và phân biệt sản phẩm dịch vụ đó với các đốithủ cạnh tranh” Có thể nói thương hiệu là hình thức thể hiện bên ngoài tạo ra ấntượng, thể hiện cái bên trong cho sản phẩm hoặc doanh nghiệp Thương hiệu tạo ranhận thức và niềm tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ

mà doanh nghiệp cung ứng Giá trị của một thương hiệu là triển vọng lợi nhuận màthương hiệu đó có thể đem lại cho nhà sản xuất trong tương lai Hoặc nói cách khácthương hiệu là tài sản vô hình của doanh nghiệp Chẳng hạn khi nói đến nước giảikhát người ta sẽ nói ngay là Coca-Cola, hoặc nói đến xe máy người ta sẽ nói ngay làHoda, hay khi nói đến Ôtô người ta sẽ nói ngay đến Toyota…Tên của hàng hóa gắnliền với thương hiệu và trở thành một cụm từ dễ nhớ và làm cho khách hàng nhớđến doanh nghiệp

Việc xây dựng được một thương hiệu là vấn đề đòi hỏi thời gian, khả năng tàichính và ý chí không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ Một doanhnghiệp có năng lực cạnh cao cũng có nghĩa là doanh nghiệp đó đã xây dựng đượcmột thương hiệu mạnh, thương hiệu đó luôn được khách hàng nhớ đến và nhận biếtmột cách dễ dàng những sản phẩm mà doanh nghiệp cung ứng Một thương hiệumạnh là một thương hiệu có thể tạo được sự thích thú cho khách hàng mục tiêu, làmcho họ tiêu dùng và sẽ tin tưởng để tiếp tục tiêu dùng nó Trên thực tế nếu kháchhàng đã đam mê thích thú một thương hiệu, họ sẽ trung thành với thương hiệu đó vànhư vậy doanh nghiệp đã đạt được mục tiêu cạnh tranh của mình

Qua quá trình xây dựng thành công một thương hiệu người ta có thể đánh giá

về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đó vì

+ Thương hiệu đó làm cho khách hàng tin tưởng vào hình thức và chất lượng,yên tâm tin dùng và tự hào khi sử dụng thương hiệu đó

Trang 24

+ Thương hiệu mạnh giúp cho việc tạo dựng hình ảnh tốt cho doanh nghiệp,thu hút được nhiều khách hàng mới, thu hút nhân tài, và thu hút được nhiều nguồnvốn đầu tư.

+ Một thương hiệu mạnh sẽ giúp các kênh phân phối sản phẩm dễ dàng hơn, vàthuận lợi trong việc mở rộng thị trường, hoặc dễ dàng thâm nhập vào thị trường mới.+ Thương hiệu mạnh giúp nâng cao uy tín doanh nghiệp tạo dựng lòng tin,lòng trung thành của khách hàng đối với sản phẩm, đem lại lợi thế cạnh tranh chodoanh nghiệp, giúp cho việc triển khuếch trương sản phẩm dễ dàng hơn, đồng thờilàm giảm chi phí quảng cáo tiếp thị, giúp cho doanh nghiệp có điều kiện phòng thủ,chống lại các tác động của thị trường và sự cạnh tranh quyết liệt về giá

+ Một thương hiệu của người bán khi đã đăng ký là bao hàm sự bảo hộ củapháp luật đối với những tính chất độc đáo của sản phẩm, trước những sản phẩm bịđối thủ cạnh tranh bắt trước hoặc làm nhái

Để sở hữu một thương hiệu mạnh doanh nghiệp phải xây dựng một chiến lược

về thương hiệu nằm trong chiến lược Maketting tổng thể, dựa trên các kết quả vềnghiên cứu thị trường, đồng thời phải đăng ký bản quyền thương hiệu trong vàngoài nước Như vậy thương hiệu mới trở thành một tài sản thực sự có giá trị củadoanh nghiệp

Bên cạnh thương hiệu, thị phần cũng là một chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp Thì phần của doanh nghiệp được tính dựa trên tỷ trọnggiữa số sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ của doanh nghiệp được cung ứng trên thịtrường so với tổng số sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ được cung ứng trên thịtrường trong cùng một khoảng thời gian nhất định Hoặc là tỷ trọng được tính giữadoanh thu của doanh nghiệp về một loại sản phẩm hàng hóa, dịch vụ nào đó so vớitổng doanh thu của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đó trên toàn thị trường Nếu nóithị phần tương đối là tỷ lệ so sánh giữa doanh thu của một doanh nghiệp với đốithủ cạnh tranh mạnh nhất Nó đánh giá và cho biết vị thế, chỗ đứng của doanhnghiệp trên thị trường Doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao sẽ chiếm đượcthị phần tương ứng với năng lực cạnh tranh đó và có nhiều khả năng thị phần sẽđược tăng lên

Thị phần là một loại tài sản vô hình của doanh nghiệp, nếu muốn giành và giữvững được thị phần của mình trên thị trường, doanh nghiệp phải phấn đấu và nỗ lực

Trang 25

không ngừng trong việc nghiên cứu và sản xuất đủ số lượng sản phẩm đáp ứng yêucầu của thị trường, làm tốt công tác quảng bá maketting, đặc biệt phải duy trì đảmbảo chất lượng chất lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ như đã cam kết.

Ví dụ điển hình như công ty P/S: Năm 1997, kem đánh răng P/S đã có mặt ởViệt Nam và chiếm khoảng 80% đến 90% thị phần kem đánh răng ở nước ta, khiP/S tham gia liên doanh góp vốn với 8 triệu USD, trong đó tài sản cố định hữu hình

là đất và nhà xưởng cùng máy móc trang thiết bị được định giá là 3,5 triệu USD,còn tài sản vô hình là thương hiệu và thị phần trên thị trường Việt Nam được địnhgiá là 4,5 triệu USD Điều đó cho thấy, P/S có năng lực cạnh tranh cao và năng lựccạnh tranh đó giúp P/S chiếm được thị phần đáng kể, nó thực sự trở thành tài sản và làthế mạnh cạnh tranh của P/S trên thị trường Việt Nam

1.2.2 Chi phí sản xuất.

Doanh nghiệp cạnh tranh thắng lợi trên thị trường, hoặc nói cách khác là cónăng lực cạnh tranh cao được thể hiện ở kết quả tuyệt đối là tăng lợi nhuóngiêungạch cho doanh nghiệp Trong điều kiện hiện nay, giá cả sản phẩm hàng hóa, dịch

vụ có xu hướng điều chỉnh linh hoạt theo thị trường, để tăng lợi nhuận doanhnghiệp phải tìm mọi cách giảm chi phí tối ưu trong sản xuất Chi phí sản xuất chomột đơn vị sản phẩm là toàn bộ các chi phí về nguyên vật liệu, lao động, máy mócthiết bị và các chi phí khác doanh nghiệp phải bỏ ra để sản xuất ra một đơn vị sảnphẩm Một loại sản phẩm có chất lượng tương đương có thể thay thế cho nhau, nếudoanh nghiệp nào sản xuất với chi phí thấp hơn có thể bán với giá thấp hơn mà vẫnđảm bảo được mục tiêu lợi nhuận thì doanh nghiệp đó sẽ thắng lợi Trong trườnghợp phải cạnh tranh gay gắt về giá thì doanh nghiệp nào có chi phí sản xuất thấp sẽ

có lợi thế, đặc biệt là đối với những sản phẩm nhạy cảm về giá

Giảm chi phí sản xuất là quá trình doanh nghiệp tìm mọi biện pháp về kỹthuật, công nghệ, quản lý, tổ chức để làm cho hao phí cá biệt của doanh nghiệp nhỏhơn hao phí xã hội Đặc biệt là hoạt động đầu tư cho máy móc thiết bị và công nghệ,trong quá trình đầu tư nếu lựa chọn đúng và thực hiện tốt một dây chuyền sản xuất

sẽ có tác dụng giảm chi phí sản xuất một cách hiệu quả và lâu dài, ngược lại, nếuquyết định đầu tư thiếu tính toán, sai lầm sẽ tăng thêm gánh nặng chi phí cho doanhnghiệp và sẽ rất khó khắc phục, nhiều trường hợp dẫn đến phá sản Do vậy, quátrình này đòi hỏi phải có những nỗ lực thực sự bởi để thực hiện cắt giảm chi phínhằm mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp phải xem xét nghiên

Trang 26

cứu kỹ và cắt giảm chi phí đúng lúc, đúng chỗ Những chi phí nào là tạo ra giá trịgia tăng cho doanh nghiệp thì không thể cắt giảm, những chi phí nào là bất hợp lýkhông tạo ra giá trị gia tăng cho doanh nghiệp thì phải cắt giảm triệt để Điều nàyđòi hỏi doanh nghiệp phải quản lý rất tốt tổng chi phí và kết cấu chi phí trong doanhnghiệp.

Vậy để đạt được hiệu quả sản xuất kinh doanh một cách bền vững doanhnghiệp phải đảm bảo các mối quan hệ trong sản xuất đó là duy trì tốc độ tăng nănglực sản xuất luôn luôn lớn hơn tốc độ tăng chi phí đầu tư hoặc đảm bảo duy trì đượcmối tương quan mức biến động doanh thu phải luôn lớn hơn mức biến động chi phí

1.2.3 Tỷ suất lợi nhuận

Trong các phương pháp tính toán để lượng hóa được hiệu quả sản xuất kinhdoanh người ta thường sử dụng các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận

- Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận / Vốn kinh doanh = Lợi nhuận trước (hoặc sauthuế)/ Vốn kinh doanh cho biết mức sinh lời của một đồng vốn bỏ ra từ đó đánh giáhiệu quả sử dụng vốn kinh doanh Tỷ suất lợi nhuận cần bù đắp được chi phí cơ hộicủa việc sử dụng vốn Thông thường một đồng vốn được coi là sử dụng có hiệu quảnếu tỷ lệ nói trên cao hơn mức sinh lời khi đầu tư vào các cơ hội khác, hoặc ít nhấtphải cao lãi suất ngân hàng

- Chỉ tiêu Tỷ suất lợi nhuận / Vốn lưu động = Lợi nhuận trước (hoặc sau thuế)/ Vốn lưu động cho thấy mức sinh lời của vốn lưu động

- Chỉ tiêu Tỷ suất lợi nhuận / Vốn cố định = Lợi nhuận trước (hoặc sau thuế) /Vốn cố định cho thấy mức sinh lời của vốn cố định

- Chỉ tiêu Tỷ suất lợi nhuận/ Doanh thu = Lợi nhuận trước (hoặc sau thuế)/Doanh thu giúp Doanh nghiệp biết được trong một đồng doanh thu của Doanhnghiệp được bao nhiêu đồng lợi nhuận

- Chỉ tiêu Tỷ suất lợi nhuận / Vốn chủ sở hữu = Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ

sở hữu cho thấy hiệu quả sử dụng những đồng vốn chủ sở hữu

Tùy thuộc yêu cầu phân tích có thể lựa chọn sử dụng các chỉ tiêu thích hợp đểđánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp

Đồng thời có thể so sánh tỷ suất lợi nhuận giữa các năm để thấy được sự giatăng lợi nhuận một cách tổng quát Nếu tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp tương

Trang 27

đương hoặc cao hơn tỷ suất lợi nhuận của ngành thì doanh nghiệp đó được coi là cónăng lực cạnh tranh cao.

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Năng lực cạnh tranh mà doanh nghiệp có được coi là do sự phấn đấu bền bỉ vàlâu dài của doanh nghiệp Nó là kết quả của rất nhiều hoạt động thực tiễn được thựchiện theo một chiến lược cạnh tranh đã đề ra và phụ thuộc vào nhiều những nhân tốbên trong và bên ngoài doanh nghiệp

1.3.1 Những nhân tố bên trong

a Về tài chính

Trong một doanh nghiệp, nguồn lực tài chính là vấn đề không thể không nhắcđến bởi nó đóng vai trò đặc biệt quan trọng và nó quyết định đến chiến lược cạnhtranh của doanh nghiệp Trước hết, nguồn lực tài chính của doanh nghiệp được thểhiện ở quy mô vốn tự có, khả năng huy động các nguồn vốn khác phục vụ sản xuấtkinh doanh và sử dụng các nguồn vốn đó một cách có hiệu quả Quy mô vốn tự cóphụ thuộc vào tiền vốn đóng góp ban đầu và quá trình tích lũy hàng năm của doanhnghiệp Nếu doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, lợi nhuận hàng năm cao, phần lợinhuận để lại tái đầu tư cho sản xuất kinh doanh sẽ lớn và quy mô sẽ tăng Doanhnghiệp có quy mô vốn tự có lớn cho thấy khả năng tự chủ về tài chính và chiếmđược lòng tin của nhà cung cấp, nhà đầu tư và khách hàng Doanh nghiệp nên có kếhoạch tăng vốn tự có lên một mức nhất định đủ để đảm bảo khả năng thanh toánnhưng vẫn đủ kích thích để doanh nghiệp tận dụng đòn bẩy tài chính khi cần thiếtnhằm làm tăng lợi nhuận

Trong sản xuất kinh doanh, để đáp ứng các yêu cầu về đồng vốn, doanhnghiệp có thể huy động vốn từ rất nhiều nguồn, chiếm dụng tạm thời của các nhàcung cấp, hoặc khách hàng, vay các tổ chức tài chính hoặc huy động vốn trên thịtrường chứng khoán Khả năng huy động vốn của doanh nghiệp phụ thuộc vào chỉ

số tín nhiệm, niềm tin, mối quan hệ của doanh nghiệp với các bên cung ứng vốn và

sự phát triển của thị trường tài chính Nếu thị trường tài chính phát triển mạnh, tạođược nhiều kênh huy động với những công cụ phong phú sẽ mở ra nhiều cơ hội đầu

tư phát triển cho doanh nghiệp Lựa chọn phương thức huy động vốn hợp lý hiệuquả sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp tăng cường sức mạnh tài chính để thực hiệnchiến lược cạnh tranh

Trang 28

Bên cạnh đó, để đánh giá năng lực tài chính của một doanh nghiệp cũng cầnxem xét kết cấu vốn cố định và vốn lưu động của doanh nghiệp Nếu kết cấu vốnhợp lý sẽ có tác dụng đòn bẩy góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Có nhữngdoanh nghiệp có quy mô vốn lớn nhưng vẫn không mạnh, đó là do kết cấu tài sản vànguồn vốn không phù hợp với quy mô và đặc điểm sản xuất kinh doanh, doanhnghiệp đó chưa biết cách khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính củamình Ngược lại, có những doanh nghiệp có quy mô vốn không lớn nhưng vẫn đượccoi là mạnh vì doanh nghiêp đó đã duy trì được tinh trạng tài chính tốt, biết cáchhuy động được những nguồn tài chính thích hợp để sản xuất ra những sản phẩm cóchất lượng đáp ứng nhu cầu của thị trường mục tiêu Một doanh nghiệp có tiềm lựctài chính mạnh sẽ có điều kiện thuận lợi trong việc đầu tư đổi mới công nghệ, muasắm trang thiết bị, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, do vậy sẽ giữ vững

và nâng cao được sức cạnh tranh và củng cố vị thế của doanh nghiệp trên thị trường

b Công nghệ kỹ thuật và máy móc thiết bị.

Công nghệ kỹ thuật và máy móc thiết bị là một bộ phận chủ yếu và quan trọngnhất trong tài sản cố định, nó là những cơ sở vật chất kỹ thuật chủ yếu quyết địnhnăng lực sản xuất của doanh nghiệp, là nhân tố đảm bảo năng lực cạnh tranh Nếucông nghệ kỹ thuật, máy móc thiết bị lạc hậu, trình độ thấp kém sẽ ảnh hưởng trựctiếp đến năng suất, chất lượng sản phẩm làm tăng các chi phí sản xuất, sản phẩmcủa doanh nghiệp sẽ không đạt các yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh môitrường, chất lượng sản phẩm sẽ không đồng đều, kém tính thống nhất, do vậy sẽ rấtkhó khăn trong cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại trong nước và hàng ngoạinhập, doanh nghiệp sẽ phải thua ngay trên sân nhà, sản phẩm không thể xuất khẩu,tham gia vào thị trường khu vực và thế giới

Để đánh giá về năng lực công nghệ kỹ thuật, máy móc thiết bị có thể dựa vàomột số đặc tính như sau:

- Tính hiện đại của công nghệ kỹ thuật: Biểu hiện ở các thông số như hãng sảnxuất, năm sản xuất, công nghệ thiết kế, giá trị còn lại của thiết bị

- Tính đồng bộ: Thiết bị đồng bộ là điều kiện đảm bảo sự phù hợp giữa côngnghệ, thiết bị với phương pháp sản xuất, với chất lượng và độ phức tạp của sảnphẩm do công nghệ đó sản xuất ra

- Tính hiệu quả: Thể hiện trình độ sử dụng máy móc thiết bị công nghệ sẵn có

Trang 29

để phục vụ chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp.

- Tính đổi mới: Trong hoạt động sản xuất kinh doanh luôn có nhiều biến động,máy móc thiết bị công nghệ phải thích ứng được với yêu cầu, nhiệm vụ sản xuấtkinh doanh của từng giai đoạn, từng phương án sản xuất kinh doanh, nếu máy mócthiết bị công nghệ không được sử dụng một cách linh hoạt và chậm đầu tư đổi mớithì sẽ không đảm bảo được năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp

Cùng với máy móc thiết bị, công nghệ là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đếnnăng lực canh tranh của doanh nghiệp Theo M Porter mỗi doanh nghiệp phải làmchủ hoặc ít ra là có khả năng tiếp thu các công nghệ có ảnh hưởng trực tiếp tới chấtlượng sản phẩm Không chỉ đơn giản là việc có được công nghệ tốt mà điều quantrọng hơn là khả năng áp dụng và làm chủ được công nghệ, đó mới là nguồn gốccủa lợi thế cạnh tranh Để dáp dụng và làm chủ được công nghệ, các doanh nghiệpphải kết hợp nhiều yếu tố khác nữa Người đi đầu vào thị trường công nghệ mớichưa chắc là người chiến thắng Người chiến thắng là ngưởi biết biết làm thế nào đểđưa công nghệ đó áp dụng rộng rãi trong doanh nghiệp

Vậy có thể khẳng định một doanh nghiệp với hệ thống công nghệ kỹ thuật,máy móc thiết bị tiến tiến hiện đại, cộng với khả năng quản lý tốt sẽ tạo ra nhữngsản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ và đảm bảo được lợi thế cạnh tranh chodoanh nghiệp trên thị trường

c Nguồn nhân lực

Trong sản xuất kinh doanh yếu tố con người là vô cùng quan trọng đối vớihoạt động của mỗi doanh nghiệp, để quản lý tốt các hoạt động sản xuất kinh doanhtrước hết phải làm tốt công tác về quản lý nguồn nhân lực Nguồn nhân lực khôngđảm bảo về số lượng và chất lượng là nguyên nhân dẫn đến làm giảm sút năng suất

và chất lượng sản phẩm Nếu làm tốt công tác quản lý nguồn nhân lực là con đườngdẫn tới thành công của các doanh nghiệp bởi quản lý nguồn nhân lực giúp doanhnghiệp khai thác được mọi tiềm năng của người lao động đóng góp vào sự tồn tại vàphát triển của doanh nghiệp đó, sử dụng chi phí tiền lương một cách hiệu quả nhất,ngăn chặn mọi sự di chuyển lao động ra khỏi doanh nghiệp làm ảnh hưởng đến hoạtđộng của bộ máy

Nguồn nhân lực của doanh nghiệp cần đáp ứng được các yêu cầu về chuyênmôn, nghiệp vụ, trình độ đối với từng vị trí làm việc

Trong đó, yêu cầu đối với đội ngũ lãnh đạo và quản trị viên các cấp không chỉ

Trang 30

cần giỏi về trình độ chuyên môn nghiệp vụ mà còn phải có khả năng sáng tạo, tinhthần trách nhiệm, sự nhanh nhẹn, linh hoạt trong thu thập và xử lý thông tin, sángsuốt dự báo và ứng phó với các biến động của thị trường Chất lượng nguồn nhânlực của doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả sản xuất kinh doanh và nănglực cạnh tranh của doanh nghiệp đó, nếu một doanh nghiệp có đội ngũ nhân lực chấtlượng cao thì doanh nghiệp đó có năng lực cạnh tranh cao trên thị trường.

Ban lãnh đạo doanh nghiệp: Là những người vạch ra các chiến lược kinhdoanh, trực tiếp điều hành và tổ chức sản xuất kinh doanh, quyết định sự thành cônghay thất bại của một doanh nghiệp Những thành viên của ban lãnh đạo cần có kinhnghiệm, biết cách động viên sức mạnh tập thể cùng phấn đấu cho sự nghiệp pháttriển chung của doanh nghiệp

- Cán bộ quản trị cấp trung gian và cấp cơ sở: Là những người trực tiếp điềuhành và thực hiện các kế hoạch, phương án, chiến lược kinh doanh do ban lãnh đạo

đề ra Họ góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp của doanh nghiệp Họ cần thànhthạo chuyên môn nghiệp vụ và có kinh nghiệm quản lý, năng động, có khả năng raquyết định và tham mưu tốt cho ban lãnh đạo

- Đội ngũ công nhân: Để đứng vững trên thị trường không chỉ cần đội ngũ cán

bộ lãnh đạo giỏi mà cần có đội ngũ công nhân lành nghề, trung thực, sáng tạo vàhăng say với công việc Họ là những người trực tiếp tạo ra những sản phẩm hànghóa, dịch vụ có chất lượng, lòng hăng say nhiệt tình làm việc có trách nhiệm của họ

là yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

d Khả năng liên doanh liên kết của Doanh nghiệp.

Liên doanh liên kết là sự kết hợp hai hay nhiều pháp nhân kinh tế khác nhau

để tạo ra một pháp nhân mới có sức mạnh tổng hợp về kinh nghiệm, máy móc thiết

bị, công nghệ và nguồn tài chính Đây là một trong những yếu tố đánh giá năng lựccủa doanh nghiệp Nhất là đối với những doanh nghiệp thường tham gia thực hiệncác dự án với quy mô lớn, nhưng trên thực tế những yêu cầu đôi khi vượt quá khảnăng của một doanh nghiệp đơn lẻ trong cạnh tranh Để đáp ứng được các đòi hỏicủa thị trường, tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, vấn đề mở rộng cácquan hệ liên doanh liên kết dưới nhiều hình thức thích hợp là giải pháp quan trọng

và cần thiết Qua đó doanh nghiệp có thể đáp ứng một cách toàn diện những yêu cầucủa khách hàng hoặc của dự án có quy mô lớn và có mức độ phức tạp cao

Trang 31

Liên doanh liên kết có thể thực hiện theo chiều ngang, tức là doanh nghiệp sẽliên kết với các Doanh nghiệp cùng ngành để đảm nhận và thực hiện các đơn hànghoặc dự án lớn Liên kết theo chiều dọc là hình thức liên kết với các doanh nghiệpsản xuất nguyên vật liệu đầu vào hoặc các đơn vị cung cấp trang thiết bị cho sảnxuất, nhờ đó có thể tạo ra sự ổn định trong sản xuất và làm giảm giá thành của sảnphẩm Dù liên doanh, liên kết dưới bất cứ hình thức nào thì các Doanh nghiệp đềudựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi.

Liên doanh liên kết tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể chủ động trong sảnxuất, minh bạch trong chi tiêu và góp phần phân công lao động theo hướng chuyênmôn hóa sâu, đăc biệt là khai thác được những thế mạnh, khắc phục những điểm yếu,thích ứng nhanh với cơ chế thị trường, thúc đẩy ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật,công nghệ vào sản xuất, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp

1.3.2 Các nhân tố bên ngoài

Nếu các nhân tố bên trong làm ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp thì các nhân tố bên ngoài cũng có tác động không nhỏ đến năng lưccạnh tranh của họ, những nhân tố bên ngoài ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đếncác hoạt động cạnh tranh của doanh nghiệp đó là khách hàng (người mua), nhà cungcấp, đối thủ cạnh tranh, môi trường vĩ mô

a Khách hàng

Thị trường hay nói chính xác là khách hàng là nơi bắt đầu và cũng là nơi kếtthúc quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp Căn cứ vào nhu cầu của khách hàng,doanh nghiệp đưa ra các quyết định sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? và khiquá trình sản xuất kết thúc, những sản phẩm đó của doanh nghiệp lại được đưa rathị trường để đáp ứng các nhu cầu của khách hàng Số lượng khách hàng quyết địnhquy mô thị trường sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp Nếu quy mô thịtrường lớn, doanh nghiệp có thể tăng đầu tư để sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hóa,dịch vụ nhằm chiếm lĩnh thị trường và tăng sản lượng bán

Bên cạnh đó, khả năng thanh toán của khách hàng sẽ quyết định sức mua hànghóa, dịch vụ của doanh nghiệp Nếu khách hàng có khả năng tài chính, thị trường cótính thanh khoản cao, thì đó là một thị trường tiềm năng, doanh nghiệp có điều kiệnđầu tư để tăng cường cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm đẩy mạnhcông tác xúc tiến thương mại để mở rộng thị trường Để lựa chọn và quyết định

Trang 32

phương án sản xuất kinh doanh, Doanh nghiệp luôn phải căn cứ vào nhu cầu thực tế

và sức mua của thị trường Đặc tính của nhu cầu tiêu dùng có vai trò quyết địnhhình thành đặc tính của sản phẩm và tạo ra những áp lực để nâng cao chất lượng,gia tăng giá trị sử dụng và phát triển sản phẩm mới

Khách hàng hoặc người mua của mỗi doanh nghiệp có thể là người tiêu dùng(nếu sản xuất hàng tiêu dùng), có thể là các doanh nghiệp, tổ chức (nếu sản xuấtnguyên vật liệu,máy móc thiết bị) Mặc dù đối tượng có thể khác nhau song ngườimua nói chung có xu hướng muốn tối đa hóa lợi ích của mình với chi phí thấp nhấtnên họ luôn tìm cách gây áp lực để doanh nghiệp giảm giá sản phẩm hàng hóa, dịch

vụ của mình, khách hàng có thể đòi hỏi, mặc cả để có được những sản phẩm chấtlượng tốt hơn và được phục vụ chu đáo hơn Cơ sở để đưa ra quyết định mua bán làhoàn toàn bình đẳng, đôi bên cùng có lợi nhưng do sức ép cạnh tranh doanh nghiệpluôn phải đối mặt với những đòi hỏi ngày một cao của khách hàng Để chủ độngứng phó trước những sức ép đó, việc phải xem xét và lựa chọn nhóm khách hàngmục tiêu là một quyết định rất quan trọng đảm bảo sự tồn tại và phát triển củadoanh nghiệp

Hơn nữa không chỉ đơn giản là đáp ứng tốt nhất mọi nhu cầu khi khách hàngcần, doanh nghiệp cần phải xây dựng được mối quan hệ bền vững với khách hàng,nhất là xây dựng mối quan hệ bạn hàng tin cậy với những khách hàng lớn, có nhucầu sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp một cách ổn định và lâu dài Việc doanhnghiệp sử dụng linh hoạt các chính sách ưu đãi về giá cả, thời gian giao hàng,phương tiện vận chuyển, khuyến mại… với những khách hàng lớn, khách hàngtruyền thống tạo sức hấp dẫn và củng cố sự tin cậy lẫn nhau trong kinh doanh Nhờvậy duy trì được thị phần hiện có và tăng khả năng mở rộng thị phần cho doanhnghiệp Giữ được khách hàng cũ, tăng thêm khách hàng mới là một yếu tố thể hiệnnăng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp

b Nhà cung cấp

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp không thể thiếuđược các yếu tố đầu vào, đó là vật tư, máy móc thiết bị, vốn, vai trò của nhà cungcấp đối với doanh nghiệp thể hiện ở áp lực về giá của các yếu tố đầu vào Giữa nhàcung cấp và doanh nghiệp thường diễn ra các cuộc thương lượng về giá cả, chấtlượng và thời gian giao hàng Nhà cung cấp có nhiều cách để tác động đến khả năngthu lợi nhuận của các doanh nghiệp như nâng giá, giảm tiêu chuẩn chất lượng vật tư

Trang 33

kỹ thuật mà họ cung ứng, không đảm bảo tiến độ giao hàng theo yêu cầu, gây ra sựkhan hiếm giả tạo.

Do vậy, để ổn định sản xuất, duy trì được chất lượng sản phẩm, đáp ứng đượcnhu cầu của thị trường về số lượng, doanh nghiệp có thể xem xét và lựa chọn nhàcung cấp mang tính lâu dài, bạn hàng truyền thống, điều đó sẽ tạo ra sức cạnh tranhtrên thị trường yếu tố đầu vào, có tác dụng làm giảm chi phí đầu vào cho doanhnghiệp Thế mạnh của nhà cung cấp tăng lên nếu số lượng nhà cung cấp ít, không

có hàng thay thế, giá cả bấp bênh, doanh nghiệp không phải là khách hàng quantrọng của nhà cung cấp hoặc loại vật tư được cung ứng là yếu tố đầu vào quan trọngquyết định chất lượng sản phẩm hoặc hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp, Do đó, nhà cung cấp nói chung có ảnh hưởng không nhỏ đến năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp

c Đối thủ cạnh tranh

Trên thị trường đối thủ cạnh tranh là nhân tố bên ngoài có tác động trực tiếpđến doanh nghiệp Trong một ngành nào đó mà tồn tại một hoặc một số Doanhnghiệp thống lĩnh (mang tính độc quyền) thì mức độ cạnh tranh ít hơn và khi đódoanh nghiệp thống lĩnh thị trường sẽ đóng vai trò chỉ đạo giá Trong trường hợpnày nếu Doanh nghiệp nào không ở vị trí thống lĩnh thì sức cạnh tranh là rất kém.Nhưng nếu tồn tại nhiều doanh nghiệp có thế lực và quy mô tương đương nhau thìcạnh tranh trong ngành sẽ rất gay gắt Cần phải coi trọng và phát huy lợi thế so sánhcủa mình để biến nó thành lợi thế cạnh tranh, trên thị trường nếu dDoanh nghiệpnào có nhiều lợi thế cạnh tranh thì doanh nghiệp đó có năng lực cạnh tranh cao hơn.Trong thị trường tự do cạnh tranh, gần như không có rào cản cho các thànhviên mới gia nhập thị trường, ở đó luôn có các đối thủ tiền ẩn, sẵn sàng tham gia thịtrường bất cứ lúc nào Sự xuất hiện của đối thủ mới có thể gây ra những cú sốcmạnh cho các doanh nghiệp hiện tại vì thông thường những người đi sau thường cónhiều căn cứ lựa chọn để đưa ra những quyết định đúng đắn hơn và các chiêu bàicủa họ thường có tính bất ngờ

Để chống lại các đối thủ tiềm ẩn, doanh nghiệp phải thường xuyên củng cốnăng lực cạnh tranh của mình bằng cách không ngừng đầu tư, cải tiến kỹ thuật, hoànthiện sản phẩm, bổ sung những đặc tính mới ưu việt hơn cho sản phẩm, luôn phấnđấu giảm chi phí giá thành để sẵn sàng tham gia các cuộc cạnh tranh về giá

Trang 34

d Môi trường vĩ mô

Môi trường vĩ mô của mỗi doanh nghiệp bao gồm ba yếu tố: thực trạng nềnkinh tế xã hội, hệ thống pháp luật và bối cảnh chính trị xã hội

Một nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao ổn định, thu nhập quốc dân tínhtrên đầu người cao sẽ tạo điều kiện tăng tích lũy, tăng đầu tư cho sản xuất, thịtrường có sức mua lớn tạo môi trường thuận lợi để Doanh nghiệp phát triển

Hệ thống pháp luật và các chế độ chính sách của Nhà nước sẽ có tác dụng tạođiều kiện hoặc kìm hãm sự phát triển của các doanh nghiệp Trong nền kinh tế thịtrường, Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo dựng môi trường cạnhtranh lành mạnh cho tất cả các doanh nghiệp

Nhà nước thúc đẩy và tăng sức cạnh cho doanh nghiệp thông qua các chínhsách như:

- Nhà nước ưu tiên đầu tư cho công tác giáo dục, đào tạo nâng cao trình độcho nguồn nhân lực Hỗ trợ nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ, đầu tư cơ sở

hạ tầng kỹ thuật Tạo điều kiện về cơ sở vất chất và các yếu tố đầu vào

Thực hiện các chính sách kích cầu để mở rộng và tăng dung lượng thị trườngđầu ra cho doanh nghiệp Đồng thời với công cụ chi tiêu Chính phủ, Nhà nước cũng

là người mua với nhu cầu đa dạng

- Nhà nước đầu tư quy hoạch và tạo điều kiện phát triển các ngành côngnghiệp phụ trợ giúp doanh nghiệp có điều kiện chuyên môn hóa sâu từ đó tăng nănglực cạnh tranh

Một trong những bộ phận của yếu tố chính trị ảnh hưởng đến hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp là hệ thống luật pháp Mức độ ổn định của hànhlang pháp lý sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển Ngược lại doanh nghiệp

sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi phải đối diện với hệ thống pháp luật không ổn định,chính sách thay đổi, điều đó sẽ làm suy yếu năng lực cạnh tranh Nhà nước cần xâydựng khuôn khổ pháp luật đồng bộ, phù hợp các nguyên tắc kinh doanh thương mạiquốc tế, đảm bảo cho sự cạnh tranh công bằng, bình dẳng Những chính sách đóphải giữ đúng vai trò là môi trường kinh doanh lành mạnh, tránh can thiệp sâu vàohoạt động kinh doanh, giảm tính tự chủ của doanh nghiệp Luật “ Chống độcquyền” của Mỹ, đạo luật về “ Độc quyền và Hợp nhất” ở Anh đều nhấn mạnh khíacạnh quan trọng là đảm bảo cạnh tranh công bằng giữa các doanh nghiệp

Trang 35

Yếu tố thứ ba của môi trường vĩ mô là các yếu tố chính trị xã hội Một quốcgia có nền chính trị ổn định sẽ giúp doanh nghiệp phát triển thuận lợi, các nhà đầu

tư trong và ngoài nước tin tưởng, yên tâm đầu tư cho sản xuất kinh doanh Các nhân

tố về xã hội như bản sắc văn hóa, phong tục tập quán, mức sống, dân số, quyết địnhthái độ tiêu dùng và khả năng thanh toán của khách hàng mục tiêu Khoảng cáchgiàu nghèo, trình độ dân số là một trong những tác động đến trình độ văn hóa vàchất lượng nguồn nhân lực

Tóm lại, bằng các hoạt động và chính sách Nhà nước có thể tạo điều kiệnthuận lợi cũng có thể tạo ra những rào cản, khó khăn cho các hoạt động cạnh tranhcủa Doanh nghiệp

1.4 Một số kinh nghiệm trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường như hiện nay việc củng cố và nâng cao năng lựccạnh tranh là vấn đề mà mỗi doanh nghiệp luôn quan tâm Những doanh nghiệp nổitiếng đều là những doanh nghiệp đã thành công trong việc sử dụng các biện phápnâng cao năng lực cạnh tranh Các biện pháp họ đã sử dụng dù thành công nhiềuhay ít đều trở thành những bài học quý báu cho các doanh nghiệp khác học tập, rútkinh nghiệm Có thể kể đến những bài học quý báu của một số doanh nghiệp trênthế giới đã thành công như sau:

Thứ nhất: Bài học về độc lập công nghệ và công tác nghiên cứu phát triển.

Samsung Electonics là tập đoàn điện tử của Hàn Quốc đã thành công trongcuộc cạnh tranh với tập đoàn Sony của Nhật Bản Vào thời điểm lợi nhuận của Sonygiảm xuống còn 2.5% thì lợi nhuận của Samsung tăng lên 12% Nếu như tổng vốncủa Sony dừng ở mức 30 tỷ đô la thì Samsung mà các nhà phân tích đưa ra, đó là họ

có được thành công nhờ độc lập về công nghệ và đã có những đầu tư, đó là họ cóđược thành công nhờ độc lập về công nghệ và đã có những đầu tư thích đáng chohoạt động nghiên cứu phát triển (R&D) Trong 15 năm liền, Samsung tích cực đầu

tư vào thiết bị sản xuất dây chuyền sản xuất, dần dần họ đã độc lập về công nghệ.Hiện nay, Samsung chẳng phải mua gì của ai, họ đã tự sản xuất được tất cả, ngay cảcác sản phẩm điện tử từ màn hình, bộ nhớ, mạch điện, bộ giải mã, phần mềm, đĩacứng, bộ xử lý.Bằng chính sách độc lập công nghệ, Samsung đã mua tận gốc và bántận ngọn Hiện nay Samsung có 25 nhà máy trên thế giới, họ không chỉ bán sảnphẩm cho người tiêu dùng mà còn bán cho cả đối thủ cạnh tranh Dell là tập đoàn

Trang 36

sản xuất máy tinh cá nhân của Mỹ, từ lâu đã mua màn hình vi tinh LCD củaSamsung Bên cạnh đó, Samsung còn đặc biệt quan tâm đến hoạt động nghiên cứu –phát triển bởi chỉ có hàng công nghệ cao mới giúp cho hàng hóa của Samsungkhông bị làm nhái và như vậy mới có thể thu lợi nhuận cao Lãnh đạo Samsung đưa

ra khẩu hiệu: “ Hoặc cách tân hoặc phá sản” và quyết định đầu tư ồ ạt vào hoạt độngnghiên cứu - phát triển, tăng số kỹ sư thiết kế từ 150 lên 300 người chỉ riêng tạiSeoul Chiến lược phát triển này của Samsung nhận được 17 giải thưởng IDEAdanh giá do công ty thiết kế công nghiệp của Mỹ trao tặng Điện thoại di động củaSamsung trở thành mặt hàng mà mọi người đều ưa chuộng vì chúng đẹp về kiểudáng, vượt trội về công nghệ Trong năm 2003, Samsung đã tung ra 40 model điệnthoại đời mới, trong khi Nokia chỉ tung ra được 25 model Thành công đó giúpSamsung gia nhập câu lạc bộ các tập đoàn công nghiệp là ăn tốt nhất thế giới

Thứ hai: Bài học về việc sử dụng lợi thế cạnh tranh về giá.

Wipro là tập đoàn công nghiệp thông tin nổi tiếng của Ấn Độ Năm 2000, giátrị xuất khẩu các sản phẩm phần mềm của công ty là 6,2 tỷ đô la, năm 2001 là 9,3 tỷ

đô la, năm 2002 là 13.5 tỷ đô la Azim Premji, chủ tịch tập đoàn này đã tính toán,

do chi phí sản xuất tại Ấn Độ rất thấp giúp cho các công ty nội địa cạnh tranh đượcvới các công ty nước ngoài về giá và tinh năng sử dụng Nhờ đó sản phẩm củaWipro được nhiều công ty đặt hàng và cho đến nay, khách hàng thường xuyên củatập đoàn là 300 công ty xuyên quốc gia hàng đầu về các lĩnh vực điện thoại, hàngkhông, phần mềm Theo các chuyên gia, bí quyết thành công của Wipro là biết sử dụnglợi thế cạnh tranh về giá nhờ tận dụng ưu điểm về chi phí thấp

Thứ ba: Bài học về vấn đề thương hiệu

Hãng điện tử Samsung không chỉ thành công khi chọn biện pháp cách tân vàđổi mới công nghệ cạnh tranh, họ còn đang theo đuổi chiến lược đưa thương hiệuSamsung trở thành một trong những thương hiệu danh tiếng, chinh phục cả hànhtinh Đây là một cuộc chiến lâu dài do đó Chủ tịch tập đoàn Jung Yong Yun yêu cầu75.000 nhân viên của mình bằng mọi giá phải chiến thắng, xây dựng được mộtthương hiệu Samsung nổi tiếng thế giới Ngân sách hàng năm cho tiếp thị bằng 5%tổng doanh thu của cả tập đoàn, khoảng 2,5 tỷ đô la Đường lối đúng đắn xây dựngthương hiệu đã giúp Samsung vươn lên vị trí thứ 25 năm 2003 so với vị trí 34 năm

2002, vượt qua cả Nokia, Kodak, Dell trong bảng xếp hạng 100 thương hiệu danh giánhất thế giới do InterBrand phối hợp với tạp chí Business Week tổ chức đánh giá

Trang 37

Thứ tư: Bài học về sử dụng nhân lực, cần phải biết đánh thức khả năng sáng

tạo của cán bộ công nhân viên trong Doanh nghiệp

General Electric là một tập đoàn quốc tế khổng lồ sản xuất và kinh doanh chủyếu trong lĩnh vực điện máy Sự nổi tiếng của tập đoàn luôn gắn liền với tên tuổicủa Jack Welch, nhà lãnh đạo tài ba của tập đoàn Ông nổi tiếng là người có tàinăng tổ chức và quản lý, đặc biệt là trong điều hành nhân sự Jack Welch đã bác bỏquan điểm cần giám sát và kiểm tra Thay vào đó, ông luôn động viên khuyến khíchnhân viên dưới quyền làm việc, phát huy sáng tạo Các nhân viên đã thực hiệnnhững công việc mà trước đây họ không dám làm và thu được kết quả mà họ khôngbao giờ dám mơ ước tới Jack Welch luôn trọng dụng người có tài đồng thời cũngrất cứng rắn Chỉ trong 5 năm, ông đã sa thải 118.000 nhân viên, tương đương ¼ sốnhân viên của cả tập đoàn Sau 5 năm, cả tập đoàn thoát khỏi tinh trạng trì trệ và trởthành một tập đoàn hùng mạnh nhất thế giới Bí quyết lãnh đạo của ông la một mặttạo ra áp lực về cạnh tranh, mặt khác ông điều tiết áp lực, giải tỏa tâm lý, đánh thứctiềm năng sáng tạo của nhân viên, chỉ cho họ thấy kết quả thu được to lớn khôngngờ của họ đã tạo ra

Thứ năm: Bài học về sự thất bại do thiếu thông tin về đối thủ cạnh tranh và

thị trường

Trong xu thế toàn cầu hóa, chúng ta đang chủ động hội nhập kinh tế quốc tếmột cách sâu rộng, thì các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay còn rất yếu về luật phápquốc tế và thiếu nhiều thông tin về đối thủ cạnh tranh và thị trường

Các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay cần có những hiểu biết cần thiết về thịtrường trong nước cũng như quốc tế Tình trạng phổ biến của các doanh nghiệp hiệnnay là hiểu biết về luật pháp quốc tế và thiếu thông tin thị trường càn thiết, chưaquan tâm tìm hiểu kỹ thuật và năng lực cạnh tranh của các Doanh nghiệp sản xuấtcác sản phẩm cùng loại ở trong nước và thế giới nên gặp rất nhiều khó khăn trongviệc đánh giá đối thủ cạnh tranh để lựa chọn chiến lược cạnh tranh cho phù hợp.Việt Nam là nước xuất khẩu gạo từ 4 triệu tấn năm 1999 lên 6 triệu tấn năm 2009 và6,6 triệu tấn năm 2011, từ 500.000 cà phê năm 2000 lên 980.000 tấn năm 2009 và1,1 triệu tấn năm 2010, làm cho cung về gạo và cà phê đã vượt cầu dẫn tới giá liêntục giảm Mặt khác chất lượng gạo của ta còn kém gạo Thài Lan và loại cà phê ViệtNam xuất khẩu không phải là loại cà phê được ưa chuộng và được giá trên thế giớinên kim ngạch xuất khẩu thu về không cao so với sản lượng xuất khẩu

Trang 38

Năm 2006 Tổng công ty hàng không Việt Nam (VietNam Airliner) đã phảimất 5,2 triệu Euro tiền phạt trả cho công ty Falcomar ( Italy) do thua kiện Đây làbài học đắt giá cho việc thiếu hiểu biết về luật pháp quốc tế, cũng như thiếu cácthông tin cần thiết của thị trường.

Hoặc trường hợp cá basa của Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ, trong khi đó trênthị trường Mỹ cũng có những người sản xuất cá da trơn tương tự Việt Nam Do cábasa của Việt Nam rẻ hơn, thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường Mỹ với thị phầnkhoàng 2 % đã đặt người nuôi cá basa của Mỹ trước nguy cơ phá sản Người nuôi cácủa Mỹ đã khởi kiện Việt Nam bán phá giá cá da trơn và đòi chính phủ Mỹ bảo vệngười nuôi cá da trơn trên đất Mỹ Vụ việc này đã gây tổn thất rất lớn về kinh tế chocác doanh nghiệp nuôi trồng và doanh nghiệp xuất khẩu cá da trơn của Việt Nam.Một số ví dụ trên cho thấy việc thu thập thông tin, nghiên cứu thị trường, luậtpháp quốc tế, xác định dung lượng thị trường cũng như đánh giá đúng đối thủ cạnhtranh là một vấn đề quan trọng trong các hoạt động nhằm nâng cao năng lực cạnhtranh cho doanh nghiệp

Thứ sáu: Bài học về chính sách vĩ mô.

Nhà nước cần xây dựng chiến lược phát triển và có các chính sách hỗ trợ chocác doanh nghiệp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nướccũng như thị trường ngoài nước Trong các thời kỳ phát triển của kinh tế Nhật Bảngiai đoạn 1955 - 1973 là một trong các thời kỳ đặc biệt được các nhà nghiên cứu gọi

là giai đoạn thần kỳ hoặc thời đại phát triển cao độ Kinh tế tăng trưởng bình quân10%/năm và kéo dài gần 20 năm Sự khó khăn mà Nhật Bản gặp phải trong nhữngnăm đầu của thập niên 50 của thế kỷ trước cũng gần giống như Việt Nam hiện nay.Bắt buộc phải mở cửa kinh tế, phải hội nhập kinh tế để phát triển nhưng họ đã đưa

ra được những chiến lược nâng đỡ để nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanhnghiệp trong nước, đảm bảo được sự tồn tại của các doanh nghiệp trong nước trước

xu thế hội nhập mạnh mẽ Nhật Bản đã từng bước thực hiện tự do hóa mậu dịch vàbảo hộ sản xuất để tăng dần năng lực cạnh tranh cho các ngành công nghiệp Họ đãrất thận trọng vả tỷ mỉ khi đưa ra các chương trình tự do hóa nhập khẩu bắt đầu từnhững ngành có lợi thế so sánh hoặc ít bị áp lực xã hội Đồng thời họ cải cách luậtthuế, đưa ra mức thuế quan tùy theo tùy theo năng lực cạnh tranh và công bố lộtrình, thời gian cắt giảm dần thuế quan tạo áp lực cho các doanh nghiệp trong nước

tự nỗ lực vươn lên và không cần nhà nước bảo hộ

Trang 39

Để mở cửa và hội nhập có hiệu quả, Nhật Bản biết rằng phải tăng năng lựccạnh tranh quốc tế của các ngành công nghiệp Họ đã chọn những ngành có lợi thế

so sánh động Đó là những ngành có khả năng tăng năng suất lao động nhanh,những ngành mà Nhật Bản có thể hấp thu công nghệ một cách có hiệu quả, hoặcnhững ngành nhu cầu sẽ tăng cao khi lợi nhuận tăng Những ngành được chọn hầuhết là những ngành công nghiệp nặng và ngành có công nghệ cao Sau khi đưa rachính sách nuôi dưỡng ngành hóa dầu ra đời vào tháng 7/1955, Luật chấn hưngcông nghiệp điện tử tháng 6/1957, hầu hết các luật này chỉ có hiệu lực đến năm

1971, một thời gian đủ dài để các ngành phát triển

Trong xu thế toàn cầu hóa đang xuất hiện ngày càng rõ một thị trường hànghóa dịch vụ có tính chất thế giới, một thị trường đầu tư chung, một thị trường tàichính tiền tệ chung Trong đó thương mại luôn là lĩnh vực đi trước Toàn cầu hóathương mại đòi hỏi phải xóa bỏ rào cản, chấp nhận tự do buôn bán Mỗi nước phải

mở cửa thâm nhập thị trường quốc tế đồng thời cũng phải chấp nhận mở cửa chohàng hóa nước ngoài tràn vào Tất yếu các doanh nghiệp Việt Nam phải trực tiếptham gia cuộc cạnh tranh gay gắt thị trường trong nước và quốc tế với rất nhiều đốithủ cạnh tranh hoạt động trong mọi lĩnh vực và ở mọi nơi trên thế giới Do vậy cácDoanh nghiệp phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh của mình Dựa trên

hệ thống lý thuyết về cạnh tranh, các Doanh nghiệp cần nghiên cứu và vận dụngkhéo léo vào thực tế đơn vị mình Như vậy để nâng cao năng lực cạnh tranh khôngchỉ cần nắm chắc các lý thuyết mà còn phải hiểu rõ điều kiện và khả năng thực tếcủa thị trường, của đơn vị mình, các mặt mạnh, các điểm yếu, mục tiêu phát triển,các cơ hội và thách thức Sự phối hợp áp dụng chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tếcùng với các bài học kinh nghiệm trong nước và ngoài nước sẽ giúp Doanh nghiệpđưa ra được những giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho đơn

vị mình đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển bền vững của mỗi Doanh nghiệp

Trang 40

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CẠNH TRANH CỦA TỔNG CÔNG TY

ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN NHÀ HÀ NỘI

2.1 Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội và những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Tổng Công ty.

2.1.1 Khái quát về Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội.

2.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội.

Tổng công ty Đầu tư và Phát triển Nhà Hà Nội (HANDICO) được thành lậpngày 21 tháng 9 năm 1999 theo mô hình Tổng công ty 90 Đây là Tổng Công ty 90đầu tiên của thành phố Hà Nội Mục tiêu của UBND thành phố Hà Nội là sắp xếp

và tách chức năng quản lý doanh nghiệp của các sở, ngành, quận, huyện, để tậptrung xây dựng một tổ chức kinh tế mạnh có quy mô lơn, chính quy hoạt động tronglĩnh vực xây dựng Đồng thời thực hiện các nhiệm vụ quan trọng khác của thànhphố, đáp ứng yêu cầu đổi mới lĩnh vực phát triển nhà và đô thị của Thủ đô trongtình hình mới

Khác với rất nhiều Tổng Công ty Nhà nước khác, Tổng Công ty đầu tư vàphát triển nhà Hà Nội (HANDICO) được thành lập trên cơ sở sát nhập 17 doanhnghiệp trực thuộc các Sở khác nhau của Hà Nội như Xây Dựng; Sở Địa chính - Nhàđất; Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn; Liên hiệp các công ty lương thực, vàcác công ty phát triển nhà thuộc các Quận, Huyện: Ba Đình; Hoàn Kiếm; Hai BàTrưng; Thanh Trì,.v.v Đây là những công ty có quy mô khác nhau, nhưng đều có

bề dày và nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý đầu tư xây dựng, đã từng thựchiện thi công xây lắp và thực hiện các dự án lớn, trọng điểm của Hà Nội và trênkhắp các tỉnh thành trong cả nước

Từ năm 2007, được sự đồng ý của UBND thành phố, Tổng Công ty chuyểnhướng sang hoạt động theo mô hình Công ty Mẹ - Công ty Con nhằm đổi mớiphong cách điều hành quản lý, phát huy cao vai trò đầu tầu của Công ty mẹ trongviệc định hướng, hỗ trợ các Công ty Con, các đơn vị thành viên về công nghệ, vốn,thị trường và thương hiệu, với mục đích sử dụng tối đa các nguồn lực hiện có

Ngày đăng: 11/06/2015, 09:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thanh Bình (2005), “Gánh nặng đầu vào- nỗi lo của các doanh nghiệp”, tạp chí Thông tin Tài chính, (số 12), trang 4-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Gánh nặng đầu vào- nỗi lo của các doanh nghiệp”
Tác giả: Thanh Bình
Năm: 2005
2. Bộ Kế Hoạch Và Đầu Tư, Trung tâm Thông tin Kinh tế Xã hội Quốc Gia (2004), “Doanh nghiệp Việt Nam với vấn đề thương hiệu trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế”, nhà xuất bản Thống Kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Doanh nghiệp Việt Nam với vấn đề thương hiệu trong quá trình hộinhập kinh tế quốc tế”
Tác giả: Bộ Kế Hoạch Và Đầu Tư, Trung tâm Thông tin Kinh tế Xã hội Quốc Gia
Nhà XB: nhà xuất bản Thống Kê
Năm: 2004
3. Bộ Tài Chính (2005), “Yêu cầu khắt khe của chất lượng tăng trưởng”, trang tin điệntử http://www.mof.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Yêu cầu khắt khe của chất lượng tăng trưởng”
Tác giả: Bộ Tài Chính
Năm: 2005
4. Chu Văn Cấp (2003), Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta trongquá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Chu Văn Cấp
Nhà XB: nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia
Năm: 2003
5. Bạch Thụ Cường (2002),Bàn về cạnh tranh toàn cầu, nhà xuất bản Thông Tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về cạnh tranh toàn cầu
Tác giả: Bạch Thụ Cường
Nhà XB: nhà xuất bản Thông Tấn
Năm: 2002
6. Lê Đăng Doanh (2005), bài dịch “Đánh giá của diễn đần kinh tế thế giới về năng lực cạnh tranh của Việt nam”, Vietnam Economic Review, (số 72), trang 43-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đánh giá của diễn đần kinh tế thế giới vềnăng lực cạnh tranh của Việt nam”
Tác giả: Lê Đăng Doanh
Năm: 2005
7. Nguyễn Quốc Dũng (2000), “Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”, luận án Tiến sỹ Kinh tế, Học Viện Chính Trị Quốc Gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường ở ViệtNam”
Tác giả: Nguyễn Quốc Dũng
Năm: 2000
8. Trang Đan (2003), “Yếu tố nào hạn chế khả năng cạnh tranh khi hội nhập”, tạp chí Đầu tư chứng khoán, (số 186), trang 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Yếu tố nào hạn chế khả năng cạnh tranh khi hội nhập”
Tác giả: Trang Đan
Năm: 2003
9. Bùi Hữu Đạo (2003), “Hệ thống Quản lý Chất Lượng- Công cụ để nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp”,tạp chí Thương Mại, (số 17), trang 6-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hệ thống Quản lý Chất Lượng- Công cụ để nâng caosức cạnh tranh của doanh nghiệp”
Tác giả: Bùi Hữu Đạo
Năm: 2003
10. Trần Bảo Giốc (2006), “Làm thiết bị toàn bộ thực hiện tiến trình nội địa hoá”, tạp chí Cơ Khí Việt Nam, (số 108), trang 10-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Làm thiết bị toàn bộ thực hiện tiến trình nội địa hoá”
Tác giả: Trần Bảo Giốc
Năm: 2006
11. Hoàng Nguyên Học (2004), “Cơ chế và giải pháp tài chính nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp”, tạp chí Tài Chính, (số 1), trang 48-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cơ chế và giải pháp tài chính nâng cao hiệu quảvà khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp”
Tác giả: Hoàng Nguyên Học
Năm: 2004
12. Phạm Hùng (2006), Để phát triển mô hình tổng thầu EPC”, báo Công Nghiệp Việt Nam, (số 28), trang 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để phát triển mô hình tổng thầu EPC”
Tác giả: Phạm Hùng
Năm: 2006
13. Nguyễn Thị Hường (2004), “Phân biệt sức cạnh tranh của hàng hóa, của doanh nghiệp và của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”, tạp chí kinh tế và phát triển, (số 83),trang 41-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân biệt sức cạnh tranh của hàng hóa, củadoanh nghiệp và của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”
Tác giả: Nguyễn Thị Hường
Năm: 2004
14. Đoàn Khải (2005), “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trước khi gia nhập WTO”, tạp chí Giáo Dục Lý Luận, (số 7), trang 20-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp Việt Nam trước khi gia nhập WTO”
Tác giả: Đoàn Khải
Năm: 2005
15. Phillip Kotler, (1994), “Quản Trị Marketting”, nhà xuất bản Thống Kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quản Trị Marketting”
Tác giả: Phillip Kotler
Nhà XB: nhà xuất bản Thống Kê
Năm: 1994
16. Hà Văn Lê (2001), “Đổi mới quản lý nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập quốc tế của Xi Măng Việt Nam”, luận án Tiến sỹ Kinh Tế, Học Viện Chính Trị Quốc Gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đổi mới quản lý nhằm nâng cao khả năng cạnh tranhtrong quá trình hội nhập quốc tế của Xi Măng Việt Nam”
Tác giả: Hà Văn Lê
Năm: 2001
17. Đặng Thành Lê (2003), “Tác động của rào cản trong cạnh tranh đối với khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam”, Tạp chí nghiên cứu kinh tế, (số 9), trang 32-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tác động của rào cản trong cạnh tranh đối với khảnăng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam”
Tác giả: Đặng Thành Lê
Năm: 2003
18. Đào Phan Long (2005), “Công nghiệp cơ khí trong quá trình đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020”, tạp chí Cơ Khí Việt Nam, (số 104), trang 14-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Công nghiệp cơ khí trong quá trình đưa nước ta trởthành một nước công nghiệp vào năm 2020”
Tác giả: Đào Phan Long
Năm: 2005
19. Hoàng Xuân Long (2005), “Về đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp ở nước ta”, tạp chí Hoạt động khách hàng, (số 5), trang 27-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Về đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp ởnước ta”
Tác giả: Hoàng Xuân Long
Năm: 2005
20. Vũ Tiến Lộc (2003), “Về chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản , (số 12),trang 24-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp Việt Nam”
Tác giả: Vũ Tiến Lộc
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Các chỉ tiêu đạt được giai đoạn 2004- 2009. - CẠNH TRANH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
Bảng 2.1 Các chỉ tiêu đạt được giai đoạn 2004- 2009 (Trang 42)
Bảng 2.3. Tóm tắt một số chỉ tiêu trên bảng cân đối kế toán từ năm 2007 – 2010 - CẠNH TRANH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
Bảng 2.3. Tóm tắt một số chỉ tiêu trên bảng cân đối kế toán từ năm 2007 – 2010 (Trang 44)
Bảng 2.2 cho thấy nợ phải trả của Tổng Công ty chiếm trên 73,5% tổng nguồn vốn vào năm 2009, dẫn tới hệ số nợ tương đối cao 0,73 - CẠNH TRANH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
Bảng 2.2 cho thấy nợ phải trả của Tổng Công ty chiếm trên 73,5% tổng nguồn vốn vào năm 2009, dẫn tới hệ số nợ tương đối cao 0,73 (Trang 70)
Bảng 2.6: Tình hình đầu tư tài sản cố định trong 3 năm 2008-2010 - CẠNH TRANH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
Bảng 2.6 Tình hình đầu tư tài sản cố định trong 3 năm 2008-2010 (Trang 72)
Bảng 2.7 Tình hình lao động của Tổng Công ty trong 3 năm 2003 - 2005 - CẠNH TRANH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
Bảng 2.7 Tình hình lao động của Tổng Công ty trong 3 năm 2003 - 2005 (Trang 74)
Bảng 3.1: Các chỉ tiêu phát triển cụ thể theo lộ trình qua các năm như sau: - CẠNH TRANH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
Bảng 3.1 Các chỉ tiêu phát triển cụ thể theo lộ trình qua các năm như sau: (Trang 88)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w