Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tài sản ngắn hạn được thể hiện ở các bộ phận tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản cao, các khoản phải thu và dự trữ hàng tồn kho.” Theo Jos
Trang 11
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN
NGẮN HẠN CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Một số vấn đề cơ bản về tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm tài sản ngắn hạn
Mỗi doanh nghiệp muốn tiến hành sản xuất kinh doanh ngoài TSCĐ thì một bộ phận không thể thiếu đó là TSNH TSNH sẽ đóng góp đối tượng lao động vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm tạo ra thành phẩm, hàng hóa Đã có nhiều khái niệm và quan điểm về TSNH được đưa ra bởi các nhà kinh tế học cụ thể như sau:
Theo PGS TS Lưu Thị Hương, giáo trình Tài Chính Doanh Nghiệp, Đại học
Kinh tế quốc dân, Nhà xuất bản Thống Kê, năm 2012: “Tài sản ngắn hạn là những tài sản thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tài sản ngắn hạn được thể hiện ở các bộ phận tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản cao, các khoản phải thu và dự trữ hàng tồn kho.”
Theo Josette Peyrard, giáo trình Phân Tích Tài Chính Doanh Nghiệp, Nhà xuất
bản tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, 2004: “Tài sản ngắn hạn là tập hợp tất cả các tài sản
Có, không tồn tại lâu dài trong doanh nghiệp.”
Theo Nguyễn Tấn Bình, giáo trình Quản Trị Tài Chính Ngắn Hạn, Nhà xuất bản
Thống Kê, Tp Hồ chí Minh, năm 2002: “Tài sản ngắn hạn là toàn bộ tài sản được biểu hiện bằng tiền hoặc dưới dạng hình thái vật chất có thời hạn sử dụng, thu hồi dưới một năm.”
Theo TS Nguyễn Thị Hải Sản, Quản trị tài chính doanh nghiệp, NXB Thống Kê,
Hà Nội, 2010: “Tài sản ngắn hạn là đối tượng lao động thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp được biểu hiện dưới dạng hình thái vật chất:
- Vật tư dự trữ để chuẩn bị cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục như năng lượng, nguyên vật liệu thành phẩm, sản phẩm dở dang và các tài sản ngắn hạn khác.”
Như vậy có rất nhiều khái niệm về tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp, nhưng tựu chung lại ta có thể hiểu:
Tài sản ngắn hạn là biểu hiện bằng tiền, vật tư hàng hóa, các khoản đầu tư ngắn hạn, các khoản phải thu, những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp có thời gian sử dụng, thu hồi và luân chuyển giá trị trong vòng một năm hoặc một chu kì kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 21.1.2 Đặc điểm của tài sản ngắn hạn
Luôn thay đổi hình thái biểu hiện qua các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh Tài sản ngắn hạn tồn tại ở tất cả các khâu trong hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp, từ khâu dự trữ, tiếp đến là khâu sản xuất và cuối cùng là lưu thông ngoài thị trường dưới hình thái sản phẩm Do đó, để phục vụ tốt nhất cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì TSNH tồn tại dưới các dạng hình thái vật chất khác nhau
Tài sản ngắn hạn vận động không ngừng Tài sản ngắn hạn tham gia vào hoạt
động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, luôn luôn luân chuyển qua nhiều hình thái khác nhau, tham gia vào tất các các khâu sản xuất trong quá trình tạo ra thành phầm Do đó, tài sản ngắn hạn luôn vận động không ngừng
Giá trị của TSNH đƣợc chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị hàng hóa khi kết thúc một vòng tuần hoàn sau mỗi chu kì sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp Tài sản ngắn hạn là yếu tố chính cấu thành lên hàng hóa Điều này cho thấy mọi chi phí phát sinh trong quá trình biến đổi tài sản ngắn hạn thành thành phẩm được tính vào giá thành của sản phẩm trước khi đưa ra thị trường
Tốc độ chu chuyển của tài sản ngắn hạn nhanh, thời gian để tài sản ngắn hạn
từ giai đoạn khởi đầu qua các giai đoạn khác nhau, đến giai đoạn cuối rồi trở lại với hình thái ban đầu Để tạo ra một thành phẩm hoàn chỉnh doanh nghiệp tùy thuộc vào
độ phức tạp của thành phẩm song không quá một năm hoặc một chu kì kinh doanh Nếu thành phẩm đó được đưa ra thị trường và được tiêu thụ ngay thì TSNH đã được trở lại với hình thái ban đầu là tiền Vì vậy đa số các TSNH có tốc độ chu chuyển ngắn, phản ánh từ tình hình sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Đa số các tài sản ngắn hạn có thời gian sử dụng dưới một năm, ngoài ra còn kể đến yếu tố thị hiếu của người tiêu dùng nên các doanh nghiệp luôn cố gắng rút ngắn thời gian luân chuyển tài sản ngắn hạn để bắt kịp môi trường kinh doanh thay đổi không ngừng
Tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao Thời gian luân chuyển của tài sản
ngắn hạn ngắn, thường dưới 1 năm Giúp doanh nghiệp nhanh chóng thu hồi lại bằng tiền để có thể tái đầu tư cho chu kì sản xuất kinh doanh tiếp theo Do đó, tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao
1.1.3 Vai trò của tài sản ngắn hạn
Là điều kiện tiên quyết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong bất cứ doanh nghiệp nào, tài sản ngắn hạn cũng là một phần không thể
thiếu trong cơ cấu tài sản của mình Để tiến hành sản xuất kinh doanh ngoài TSCĐ, doanh nghiệp còn phải có tiền, các nguyên, nhiên vật liệu… phục vụ cho quá trình sản xuất Nếu thiếu các yếu tố này thì hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ không thể diễn ra
Trang 33
được Như vậy, tài sản ngắn hạn là điều kiện đầu tiên để doanh nghiệp đi vào hoạt động hay nói cách khác tài sản ngắn hạn là điều kiện tiên quyết cho quá trình sản xuất kinh doanh của bất cứ doanh nghiệp nào
Là điều kiện vật chất không thể thiếu trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp Do đặc điểm của đối tượng lao động là giá trị của nó được chuyển dịch toàn
bộ một lần vào giá trị hàng hóa nên trong chu kì sản xuất kinh doanh phải thường xuyên mua sắm, dự trữ vật tư để đảm bảo quá trình tái sản xuất Lượng tài sản ngắn hạn có hợp lý, đồng bộ thì mới không làm gián đoạn quá trình sản xuất kinh doanh
Quyết định đến quy mô hoạt động Nếu một công ty có quy mô sản xuất lớn thì
quy mô về TSNH cũng phải lớn để có thể đáp ứng, cũng như đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục là tiền đề cho sự tăng trưởng cũng như sự phát triển, giúp doanh nghiệp chớp thời cơ kinh doanh và tạo lợi thế cạnh tranh
Là công cụ để phản ánh, kiểm tra, kiểm soát, đánh giá khách quan quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Tài sản ngắn hạn
tham gia vào tất cả các khâu sản xuất, kinh doanh Ở mỗi khâu thì tài sản ngắn hạn lại tồn tại dưới một hình thái khác nhau Thông qua các khâu sản xuất này sẽ phản ánh được quy mô sản xuất cũng như giúp doanh nghiệp dễ dàng kiểm tra, kiểm soát tài sản ngắn hạn của mình
Đóng vai trò quyết định đến giá thành hàng hóa sản phẩm của doanh nghiệp Trong rất nhiều yếu tố chủ yếu cấu thành nên giá thành, ta không thể nào
không nhắc đến TSNH Đó là do chính đặc điểm luân chuyển một lần vào toàn bộ giá trị sản phẩm Giá trị của hàng hóa bán ra được tính toán trên cơ sở bù đắp được giá thành sản phẩm cộng thêm một phần lợi nhuận Do vậy, TSNH đóng vai trò quyết định giá cả hàng hóa bán ra
Giúp doanh nghiệp đảm bảo khả năng thanh toán ngắn hạn Tài sản ngắn
hạn có thể nhanh chóng thu hồi về bằng tiền, có tính thanh khoản cao Từ đó giúp cho doanh nghiệp tránh khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán và chặn đứng nguy cơ phá sản doanh nghiệp
1.1.4 Phân loại tài sản ngắn hạn
1.1.4.1 Căn cứ vào quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn
Tài sản ngắn hạn trong khâu dự trữ: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong
khâu dự trữ của doanh nghiệp mà không tính đến hình thái biểu hiện của chúng, bao gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, hàng mua đang đi đường, nguyên nhiên vật liệu tồn kho, công cụ dụng cụ trong kho, hàng gửi gia công, trả trước cho người bán
Trang 4Tài sản ngắn hạn trong khâu sản xuất: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại
trong khâu sản xuất của doanh nghiệp, bao gồm: giá trị bán thành phẩm, các chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển, các khoản chi phí khác phục vụ cho quá trình sản xuất…
Tài sản ngắn hạn trong khâu lưu thông: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại
trong khâu lưu thông của doanh nghiệp, bao gồm: thành phẩm tồn kho, hàng gửi bán, các khoản nợ phải thu của khách hàng
Theo cách phân loại này giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình luân chuyển của tài sản ngắn hạn để đưa ra biện pháp quản lý thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng chúng một cách cao nhất
1.1.4.2 Căn cứ vào phạm vi sử dụng
Tài sản ngắn hạn sử dụng trong hoạt động kinh doanh chính
Đối với doanh nghiệp sản xuất thì tài sản ngắn hạn sử dụng trong trong hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu là nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm dở dang…
cụ thể như sau:
Nguyên vật liệu chính: Gồm giá trị của những loại nguyên vật liệu khi tham gia
vào quá trình sản xuất và là bộ phận cơ bản cấu thành nên sản phẩm
Vật liệu phụ: Là những loại vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất thì nó
chỉ có tác dụng phụ trong quá trình sản xuất, có thể kết hợp với vật liệu chính làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dạng bề ngoài của sản phẩm hoặc tạo điều kiện cho quá trình sản xuất diễn ra bình thường
Nhiên liệu: Thực chất là một loại vật liệu phụ nhưng có tác dụng cung cấp nhiệt
lượng cho quá trình sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho quá trình chế tạo sản phẩm diễn ra bình thường
Công cụ, dụng cụ: Là những tư liệu lao động mà doanh nghiệp sử dụng trong
quá trình sản xuất kinh doanh, chúng không đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định vì giá trị nhỏ và thời gian sử dụng tương đối ngắn Công cụ, dụng cụ sử dụng trong doanh nghiệp được chia làm hai loại:
Công cụ, dụng cụ được phân bổ một lần (phân bổ 100%): Đây là loại
công cụ, dụng cụ khi xuất kho đem sử dụng, toàn bộ giá trị của chúng được phân bổ hết vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kì của doanh nghiệp Loại công cụ này được áp dụng với các loại công cụ, dụng cụ có giá trị nhỏ, phát huy tác dụng trong thời gian ngắn, chúng không ảnh hưởng lớn đến tổng chi phí sản xuất kinh doanh trong kì của doanh nghiệp
Công cụ, dụng cụ được phân bổ nhiều lần: Là loại công cụ, dụng cụ có
giá trị lớn, thời gian sử dụng tương đối dài và hư hỏng có thể sửa chữa
Trang 55
Sản phẩm dở dang: Là những sản phẩm đang trong quá trình sản xuất chưa
được hoàn thiện, đang nằm trên các địa điểm làm việc chờ được chế biến tiếp
Tài sản ngắn hạn sử dụng trong hoạt động kinh doanh phụ
Để linh hoạt trong sử dụng tài sản trên thực tế hiện nay người ta dùng tài sản ngắn hạn để chi trả cho công tác sửa chữa Căn cứ vào đặc điểm kinh tế và kĩ thuật sửa chữa được phân thành hai loại: sửa chữa thường xuyên và sửa chữa lớn tài sản lưu động
Ngoài ra tài sản ngắn hạn còn sử dụng trong hoạt động kinh doanh phụ như: hoạt động cung cấp dịch vụ, lao vụ…
Tài sản ngắn hạn sử dụng trong công tác quản lý doanh nghiệp:
Công tác quản lý doanh nghiệp bao gồm cả quản lý kinh doanh và quản lý hành chính Tài sản ngắn hạn được sử dụng cho văn phòng bao gồm: Vật liệu cho văn phòng, cho phương tiện vận tải; công cụ, dụng cụ văn phòng phẩm: giấy, bút, mực, bàn ghế…, khoản tạm ứng: hội nghị, tiếp khách, đào tạo cán bộ
1.1.4.3 Căn cứ theo các khoản mục trên bảng cân đối kế toán
Tiền: là bộ phận tài sản ngắn hạn tồn tại dưới hình thái tiền tệ bao gồm:
Tiền mặt tại quỹ: Là số tiền mà doanh nghiệp đang giữ tại quỹ của mình bao
gồm tiền Việt Nam, ngoại tệ, ngân phiếu, các loại chứng từ, tín phiếu có giá trị như tiền, vàng bạc, kim khí quý đang được giữ tại quỹ
Tiền gửi ngân hàng: Là số tiền hiện có trên tài khoản tiền gửi ngân hàng của
doanh nghiệp tại ngân hàng, công ty tài chính nếu có Bao gồm: tiền Việt Nam, ngoại
tệ, vàng bạc, kim khí quý…
Tiền đang chuyển: Là số tiền mà doanh nghiệp đã nộp vào ngân hàng hay đã
gửi qua bưu điện, đang làm thủ tục trích chuyển tiền từ tài khoản tiền gửi của doanh nghiệp sang tài khoản tiền gửi của doanh nghiệp khác mà doanh nghiệp chưa nhận được giấy báo Có của ngân hàng
Đầu tư ngắn hạn
Bao gồm các chứng khoán ngắn hạn , các khoản đầu tư ngắn hạn khác, các khoản
dự phòng đầu tư ngắn hạn… Đây là khoản mục vừa có tính thanh khoản cao, dễ dàng chuyển đổi thành tiền mà tốn ít chi phí và có khả năng sinh lời Để đáp ứng nhu cầu thanh toán của doanh nghiệp thì doanh nghiệp sẽ bán các chứng khoán này
Các khoản phải thu
Là toàn bộ các khoản mà doanh nghiệp có nghĩa vụ phải thu từ các đối tượng khác: Phải thu khách hàng, phải thu nội bộ, các khoản thế chấp, cầm cố, kí quỹ… Trong các doanh nghiệp, việc mua bán chịu là thường xuyên xảy ra, đôi khi để thực hiện các điều khoản hợp đồng kinh tế doanh nghiệp phải trả trước một khoản nào
đó, từ đây nó hình thành nên các khoản thu của doanh nghiệp Khi các khách hàng trả
Trang 6nợ của doanh nghiệp thất bại, rủi ro trong kinh doanh là nguyên nhân làm phát sinh các khoản nợ khó đòi Vì vậy, việc trích lập các khoản dự phòng là cần thiết, nó sẽ đảm bảo cho các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành bình thường
và tương đối ổn định Khoản chi dự phòng này là một bộ phận trong khoản phải thu và
là một phần của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp
Hàng tồn kho
Hàng tồn kho bao gồm toàn bộ giá trị tồn kho của doanh nghiệp như nguyên vật
liệu, hàng hóa, thành phẩm, chi phí sản xuất dơ dang, công cụ dụng cụ và chi phí dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Tồn kho trong quá trình sản xuất là các loại nguyên liệu nằm tại từng công đoạn của dây truyền sản xuất Thông thường quá trình sản xuất của các doanh nghiệp được chia thành nhiều công đoạn, giữa những công đoạn này bao giờ cũng tồn tại những bán thành phẩm Đây là những bước đệm để quá trình sản xuất được liên tục Nếu dây truyền sản xuất càng dài và càng có nhiều công đoạn thì tồn kho trong quá trình sản xuất sẽ càng lớn
Tài sản ngắn hạn khác
Các khoản tạm ứng
Là các khoản tiền hoặc vật tư do doanh nghiệp giao cho người nhận tạm ứng để thực hiện hoạt động kinh doanh nào đó hoặc giải quyết một công việc đã được phê duyệt
Các phí trả trước
Là các khoản chi phí thực tế đã phát sinh nhưng có tác dụng đến kết quả hoạt động của nhiều kì thanh toán, cho nên chưa thể tính vào chi phí sản xuất kinh doanh một kì mà được tính cho hai hay nhiều kì hạch toán
Qua cách phân loại như trên ta thấy tình hình tài sản ngắn hạn hiện có của doanh nghiệp về hình thái vật chất cũng như đặc điểm của từng loại tài sản ngắn hạn, để có thể đánh giá việc sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp có hợp lý và hiệu quả không, từ đó phải tăng cường các biện pháp nâng cao hiểu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
1.2 Một số vấn đề cơ bản về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp
Hiệu quả sản xuất kinh doanh luôn là vấn đề mà các doanh nghiệp quan tâm, quản trị sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì doanh nghiệp mới có thể tồn tại trên thị trường Để đạt được hiệu quả đó đòi hỏi doanh nghiệp phải có nhiều cố gắng và có
Trang 7cố định, tài sản ngắn hạn cần các biện pháp linh hoạt, kịp thời phù hợp với từng thời điểm thì mới đem lại hiệu quả cao Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một trong những căn cứ đánh giá năng lực sản xuất, chính sách dự trữ, tiêu thụ sản phẩm và nó cũng ảnh hưởng lớn đến kết quả sản xuất kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp Ngoài mục tiêu sử dụng cho mua sắm, dự trữ, tài sản ngắn hạn còn được sử dụng trong thanh toán Bởi vậy, hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn còn thể hiện ở khả năng đảm bảo lượng tài sản ngắn hạn cần thiết để thực hiện thanh toán Đảm bảo đầy đủ tài sản ngắn hạn trong thanh toán sẽ giúp doanh nghiệp tự chủ hơn trong kinh doanh tạo
uy tín với bạn hàng và khách hàng
Vì vậy ta có thể hiểu, hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp
là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ, khả năng khai thác và sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích và tối thiểu hóa chi phí
1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
Để có thể tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải có một lượng tài sản nhất định và nguồn vốn tài trợ tương ứng, không có tài sản sẽ không có bất kì hoạt động sản xuất kinh doanh nào Song việc sử dụng tài sản như thế nào cho
có hiệu quả cao mới là nhân tố quyết định sự tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp Với ý nghĩa đó, việc quản lý, sử dụng và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản nói chung và tài sản ngắn hạn nói riêng là một nội dung rất quan trọng của công tác quản
lý tài chính doanh nghiệp
Lợi ích kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng một cách hợp lý, hiệu quả từng đồng tài sản ngắn hạn nhằm làm cho tài sản ngắn hạn được thu hồi sau mỗi kì sản xuất Việc tăng tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn cho phép rút ngắn thời gian chu chuyển vốn, qua đó vốn được thu hồi nhanh hơn, có thể giảm bớt được số tài sản ngắn hạn cần thiết mà vẫn hoàn thành được khối lượng sản phẩm hàng hóa bằng hoặc lớn hơn trước Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn còn có ý nghĩa quan trọng trong việc giảm chi phí sản xuất, chi phí lưu thông và hạ giá thành sản phẩm
Hơn nữa, mục tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là thu được lợi nhuận và lợi ích xã hội chung nhưng bên cạnh đó một vấn đề quan trọng đặt cho
Trang 8các doanh nghiệp là tối thiểu cần phải bảo toàn tài sản ngắn hạn Do đặc điểm tài sản ngắn hạn lưu chuyển toàn bộ một lần vào giá thành sản phẩm và hình thái tài sản ngắn hạn thường xuyên biến đổi vì vậy vấn đề bảo toàn tài sản ngắn hạn chỉ xét trên mặt giá trị Bảo toàn tài sản ngắn hạn thực chất là đảm bảo cho số vốn cuối kì đủ mua một lượng vật tư, hàng hóa tương đương với đầu kì khi giá cả hàng hóa tăng lên, thể hiện ở khả năng mua sắm vật tư cho khâu dự trữ và tài sản ngắn hạn định mức nói chung, duy trì khả năng thanh toán của doanh nghiệp Bên cạnh đó, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn còn giúp cho doanh nghiệp luôn có được trình độ sản xuất kinh doanh phát triển, trang thiết bị, kĩ thuật được cải tiến Việc áp dụng kĩ thuật tiên tiến, công nghệ hiện đại sẽ tạo ra khả năng rộng lớn để nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra sức cạnh tranh cho sản phẩm trên thị trường Đặc biệt khi khai thác được các tài sản, sử dụng tốt tài sản ngắn hạn, nhất là việc sử dụng tiết kiệm
và hiệu quả tài sản ngắn hạn trong hoạt động sản xuất kinh doanh để giảm bớt nhu cầu vay vốn cũng như việc giảm chi phí lãi vay
Từ những lý do trên, cho thấy sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Đó là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của một doanh nghiệp, xa hơn nữa là sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế
1.2.3 Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp
1.2.3.1 Phân tích quy mô và cơ cấu tài sản ngắn hạn
(1) Phân tích quy mô tài sản ngắn hạn
Quy mô tài sản ngắn hạn được hiểu là số lượng tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản của doanh nghiệp Việc so sánh quy mô tài sản ngắn hạn với quy mô tài sản dài hạn sẽ cho thấy bức tranh tổng quát về lượng vốn đầu tư cho từng loại tài sản của doanh nghiệp Quy mô tài sản ngắn hạn cao hay thấp tùy thuộc vào loại hình hoạt động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp Đối với những doanh nghiệp thương mại, chuyên phân phối hàng hóa, sản phẩm thì quy mô tài sản ngắn hạn luôn rất cao, thường chiếm đến hơn 90% tổng tài sản Mặt khác, những doanh nghiệp sản xuất hay các doanh nghiệp vận tải, xây dựng lại có quy mô tài sản ngắn hạn thấp hơn một chút do đặc điểm hoạt động của các doanh nghiệp này yêu cầu phải đầu tư nhiều hơn cho tài sản dài hạn Xem xét quy mô tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp nhằm đánh giá xem liệu lượng vốn đầu tư cho tài sản ngắn hạn có phù hợp với đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp hay không Từ đó, đưa ra những điều chỉnh trong chính sách đầu tư nhằm tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp
Việc tăng giảm quy mô TSNH phản ánh quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phát triển hay thu hẹp Muốn mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh thì cần phải đầu tư và mua sắm thêm TSNH để đáp ứng cho các khâu sản xuất, tránh tình trạng thiếu hụt đối tượng lao động dẫn tới gián đoạn quá trình sản xuất kinh doanh Đi
Trang 99
kèm với việc tăng quy mô TSNH đòi hỏi doanh nghiệp sử dụng TSNH một các có hiệu quả Từ đó giúp hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn được duy trì và nâng cao thông qua đó doanh nghiệp sẽ có xu hướng tăng trưởng bền vững Ngược lại việc thu hẹp quy mô TSNH cho thấy sự thu hẹp về quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Các doanh nghiệp đang trong tình trạng khó khăn sẽ phải cắt giảm sản xuất để tiết kiệm chi phí dẫn tới cắt giảm quy mô đầu tư TSNH Mặc dù thu hẹp quy mô TSNH nhưng hiệu quả sử dụng TSNH vẫn phải nâng cao Hiệu quả sử dụng TSNH có tốt thì mới giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí, giảm bớt gánh nặng khó khăn cho doanh nghiệp
(2) Phân tích cơ cấu tài sản ngắn hạn
Xem xét cơ cấu tài sản ngắn hạn tức là xem xét tỷ trọng từng khoản mục tài sản ngắn hạn trong tổng tài sản ngắn hạn, nó cho biết trong tổng tài sản ngắn hạn, khoản mục nào đang được doanh nghiệp đầu tư nhiều nhất, từ đó đánh giá được cơ cấu tài sản ngắn hạn đã hợp lý hay chưa
Phân tích cơ cấu tiền và các khoản tương đương tiền
Nếu tỷ trọng tiền và các khoản tương đương tiền đang chiếm phần lớn trên tổng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp thì ta có thể đưa ra kết luận rằng doanh nghiệp đấy đang dự trữ quá nhiều tiền Việc dự trữ nhiều tiền trong tài khoản sẽ tăng khả năng thanh toán của doanh nghiệp, nhưng mặt khác nó gây lãng phí do không được đưa vào quá trình đầu tư, ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp từ đó làm giảm hiệu quả
sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Ngược lại, nếu tỷ trọng tiền và các khoản tương đương tiền quá thấp thì doanh nghiệp sẽ dễ gặp phải rủi ro thanh khoản Hơn nữa, dự trữ tiền mặt trong tài khoản quá thấp cũng gây ảnh hưởng đến việc chi tiêu trong các hoạt động thường ngày của doanh nghiệp, phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là thấp
Phân tích cơ cấu các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn
Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao cho thấy doanh nghiệp đang đầu tư nhiều vào hoạt động tài chính như: mua các chứng khoán, trái phiếu, tín phiếu ngắn hạn hay đầu tư nhiều tiền nhàn rỗi vào các khoản tiền gửi có kỳ hạn trong ngân hàng, các hình thức đầu tư này đều đem lại nguồn doanh thu tài chính ổn định, do
đó hiệu quả sử dụng TSNH của doanh nghiệp là có hiệu quả Tỷ trọng các khoản đầu
tư tài chính ngắn hạn cao hay thấp phụ thuộc nhiều vào loại hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Dù tỷ trọng cao hay thấp mà đem loại kết quả đầu tư tương ứng thì cho thấy doanh nghiệp nâng cao được hiệu quả sử dụng TSNH và ngược lại Thật vậy, thường thì các doanh nghiệp không chuyên về lĩnh vực tài chính sẽ hạn chế đầu tư vào các khoản tài chính ngắn hạn để tránh rủi ro do hạn chế về mặt kiến thức của lĩnh vực
Trang 10này Những biến động của thị trường chứng khoán, tỷ lệ lạm phát hay lãi suất ngân hàng cũng ảnh hưởng rất lớn đến tỷ trọng các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn của doanh nghiệp
Phân tích cơ cấu các khoản phải thu:
Các khoản phải thu thực chất là đồng vốn mà doanh nghiệp bị đối tác (có thể là khách hàng hoặc nhà cung cấp) chiếm dụng, vì thế về nguyên tắc cơ cấu các khoản phải thu càng nhỏ sẽ càng tốt Tuy nhiên nếu quá nhỏ lại phản ánh chính sách bán hàng chặt chẽ, sẽ không thúc đẩy khách hàng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, từ
đó làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
Cơ cấu, tính chất các khoản phải thu phụ thuộc vào mỗi loại hình kinh doanh khác nhau (ví dụ kinh doanh bán lẻ phải thu sẽ thấp, bán buôn phải thu cao hơn….), phụ thuộc vào từng doanh nghiệp khác nhau, chính sách bán hàng của họ trong từng thời kỳ (tăng trưởng để chiếm thị phần hay duy trì thị phần đảm bảo hoạt động ổn định
an toàn)
Nếu doanh nghiệp có tỷ trọng các khoản phải thu trong tổng tài sản tăng trong khi doanh thu, quy mô kinh doanh không tăng, thì như vậy tình hình kinh doanh của khách hàng có nhiều biến đổi hoặc có những thay đổi trong chính sách bán hàng Trong trường hợp này cần làm việc với doanh nghiệp để xác định bản chất các khoản công nợ này, nguyên nhân và cách khắc phục:
- Vòng đời của sản phẩm đã đến thời kỳ bão hoà, suy thoái?
- Tình hình tiêu thụ sản phẩm trên thị trường có diễn ra như thường lệ không, hay xuất hiện dấu hiệu giảm sút, suy thoái làm ảnh hưởng đến kỳ hạn thanh toán của khách hàng Thời gian thu tiền bình quân của phần lớn khách hàng giảm thể hiện rõ rệt về sự sút giảm doanh thu của doanh nghiệp Sản phẩm đang tiêu thụ khó khăn do nhu cầu suy giảm hoặc xuất hiện cạnh tranh từ những sản phẩm mới, đối thủ cạnh tranh mới Vì thế cần phải đánh giá lại tình hình thị trường chung về sản phẩm, những khách hàng có sản phẩm cùng loại khác, dự đoán thị trường và tìm hiểu, đánh giá các biện pháp khắc phục giai đoạn khó khăn của doanh nghiệp, dự báo khả năng thành công và các biện pháp khắc phục rủi ro tín dụng nếu tình hình xấu xảy ra
- Xuất hiện các khoản công nợ lớn, kéo dài, tập trung tại một vài khách hàng, tìm hiểu lý do: do khách hàng cố tình dây dưa không thanh toán hay khách hàng gặp khó khăn tài chính chưa thể thanh toán Tìm hiểu các biện pháp xử
lý của khách hàng vay vốn về các khoản công nợ này, khả năng thu hồi các khoản công nợ, ảnh hưởng của việc không thu hồi được các khoản công nợ này đến tài chính của doanh nghiệp
Trang 1111
- Doanh nghiệp có những thay đổi trong chính sách bán hàng nhằm lôi kéo kích thích tiêu thụ sản phẩm như chấp nhận kéo dài thời hạn thanh toán cho khách hàng
Việc xác định các yếu tố nhằm giúp doanh nghiệp tìm ra nguyên nhân tỷ trọng các khoản phải thu tăng lên Khi đã xác định được nguyên nhân của các khoản phải thu này, doanh nghiệp cần đưa ra các chính sách nhằm thu hồi các khoản phải thu này
để tái sản xuất hay mở rộng hoạt động kinh doanh Nếu quản lý tốt cũng như thu hồi nhanh các khoản phải thu này thì sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn nói riêng cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung
Phân tích cơ cấu hàng tồn kho:
Cũng như các khoản phải thu, cơ cấu hàng tồn kho là dấu hiệu cảnh báo sớm về tình hình kinh doanh của doanh nghiệp
- Nếu dự trữ hàng tồn kho quá nhiều sẽ làm cho chi phí quản lý và chi phí lưu kho tăng, dẫn tới làm giảm thu nhập, từ đó làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
- Ngược lại, nếu dự trữ hàng tồn kho quá ít sẽ không đủ đáp ứng nhu cầu kinh doanh của doanh nghiệp, không kịp thời đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của khách hàng Hậu quả là bỏ lỡ các cơ hội kinh doanh, làm giảm thu nhập của doanh nghiệp, từ đó làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Như vậy, việc phân tích cơ cấu tài sản ngắn hạn sẽ giúp doanh nghiệp đánh giá xem lượng vốn đầu tư cho tài sản ngắn hạn và dài hạn đã phù hợp chưa Các khoản mục nhỏ cấu thành lên tài sản ngắn hạn đã chiếm tỷ trọng hợp lý với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hay chưa Từ đó, đưa ra chính sách quản
lý tài sản ngắn hạn hiệu quả
1.2.3.2 Chính sách quản lí tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp
Chính sách quản lý tài sản ngắn hạn
Chính sách tài sản ngắn hạn là mô hình tài trợ cho TSNH mà doanh nghiệp theo đuổi Chính sách quản lý tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể được nhận biết thông qua mô hình quản lý TSNH và mô hình quản lý nợ ngắn hạn của doanh nghiệp Khi kết hợp hai mô hình này, ta có thể có 3 kiểu chính sách: chính sách cấp tiến, chính sách thận trọng và chính sách dung hòa
- Chính sách quản lý cấp tiến
Sự kết hợp giữa mô hình quản lý tài sản cấp tiến và quản lý nợ cấp tiến tạo nên chính sách cấp tiến Với chính sách này, doanh nghiệp đã sử dụng một phần nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản cố định Ưu điểm của chính sách này là chi phí huy
Trang 12Sơ đồ 1.1 Chính sách quản lý tài sản ngắn hạn
(Nguồn: Nguyễn Đình Kiệm – Bạch Đức Hiền – Tài chính doanh nghiệp – NXB Học
viện Tài chính, 2008)
động vốn thấp, thời gian quay vòng tiền được rút ngắn Tuy nhiên sự ổn định của nguồn không cao do nguồn ngắn hạn được sử dụng nhiều, khả năng thanh toán ngắn hạn cũng không được đảm bảo Tóm lại, chính sách này đem lại thu nhập cao và rủi ro cao
- Chính sách quản lý tài sản ngắn hạn thận trọng
Chính sách này là sự kết hợp giữa mô hình quản lý tài sản thận trọng và quản lý
nợ thận trọng Doanh nghiệp sử dụng một phần nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho tài sản lưu động Chính sách này mang lại khá nhiều ưu điểm như: khả năng thanh toán được đảm bảo, tính ổn định của nguồn vốn cao và hạn chế các rủi ro trong kinh doanh Tuy nhiên, doanh nghiệp lại mất chi phí huy động vốn cao hơn do lãi suất dài hạn thường cao hơn lãi suất ngắn hạn, thời gian quay vòng tiền dài Tóm lại, với chính sách này, doanh nghiệp có mức rủi ro thấp nhưng mang lại thu nhập thấp, cho thấy hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp thấp
- Chính sách quản lý tài sản ngắn hạn dung hòa
Để dung hòa giữa rủi ro và thu nhập, doanh nghiệp có thể lựa chọn chính sách dung hòa: kết hợp quản lý tài sản thận trọng với nợ cấp tiến hoặc kết hợp quản lý tài sản cấp tiến với quản lý nợ thận trọng Chính sách này dựa trên cơ sở nguyên tắc tương thích: TSNH được tài trợ hoàn toàn bằng nguồn ngắn hạn và TSCĐ được tài trợ bằng nguồn dài hạn Chính sách quản lý này cân bằng giữa thu nhập và chi phí nhưng chưa đem lại được hiệu quả tối ưu, dẫn tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn không cao
Trên đây là các mô hình cơ bản về chính sách quản lý tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp có thể lựa chọn một chính sách tài sản ngắn hạn
Trang 1313
riêng và việc quản lý tài sản ngắn hạn tại mỗi doanh nghiệp sẽ mang những đặc điểm khác nhau Tuy nhiên, về cơ bản, nội dung chính của quản lý tài sản ngắn hạn vẫn là quản lý các bộ phận cấu thành nên tài sản ngắn hạn
(1 )Chính sách quản l tiền
Quản lý TSNH bằng tiền của doanh nghiệp gồm tiền mặt tại quỹ và tiền gửi ngân hàng TSNH bằng tiền là yếu tố trực tiếp quyết định khả năng thanh toán của một doanh nghiệp tương ứng với một quy mô kinh doanh nhất định đòi hỏi thường xuyên phải có một lượng tiền tương xứng mới đảm bảo cho tình hình tài chính của doanh nghiệp ở trạng thái bình thường Chính vì thế việc quản lý TSNH bằng tiền là vấn đề hết sức quan trọng trong công tác quản lý tài chính doanh nghiệp
Nội dung chủ yếu của quản lý TSNH bằng tiền bao gồm các vấn đề chính sau:
Tình hình thu – chi tiền ổn định, đều đặn
Không tính đến tiền thu trong kỳ hoạch định
Không có dự trữ tiền cho mục đích an toàn
Do thu – chi tiền mặt tại công ty là đều đặn nên lượng tiền mặt biến thiên như sau:
Hình 1.1 Mức dự trữ tiền mặt
(Nguồn: Th.S Vũ Lệ Hằng, Bài giảng Tài Chính Doanh Nghiệp 1, ĐH Thăng Long)
Trang 14Hình 1.2 Định mức dữ trữ tiền mặt tối ƣu
(Nguồn: Th.S Vũ Lệ Hằng, Bài giảng Tài Chính Doanh Nghiệp 1, ĐH Thăng Long)
Chi phí giao dịch (TrC)
T
TrC = x F
C
Trong đó: T: Tổng nhu cầu về tiền trong năm
C: Quy mô 1 lần bán chứng khoán
F: Chi phí cố định của 1 lần bán chứng khoán
Chi phí cơ hội (OC)
C
OC = x K
2
Trong đó: C/2: Mức dự trữ tiền mặt trung bình
K: Lãi suất đầu tư chứng khoán
Trang 1515
nghiệp sẽ mất khoản tiền thu được do không đầu tư chứng khoán hay gửi tiết kiệm Do
mô hình Baumol áp dụng với những giả định nhất định nên không phù hợp với các doanh nghiệp mang tính chất thời vụ, có lượng tài sản ngắn hạn bằng tiền phát sinh không đều Dưới đây là một số công việc cần làm khi sử dụng hay áp dụng mô hình quản lý tiền Baumol:
- Quản lý chặt chẽ các khoản thu chi bằng tiền doanh nghiệp cần phải xây dựng các nội quy, quy chế về quản lý các khoản thu, chi, đặc biệt là các khoản thu chi bằng tiền mặt để tránh sự mất mát, lạm dụng tiền của doanh nghiệp mưu lợi cho cá nhân
- Tất cả các khoản thu chi bằng tiền mặt phải được thông qua quỹ, không được chi tiêu ngoài quỹ
- Phải có sự phân định rõ ràng trong quản lý tiền mặt giữa nhân viên kế toán tiền mặt và thủ quỹ
- Tăng tốc quá trình thu tiền và làm chậm đi quá trình chi tiền Dự đoán được thời gian chi trả, doanh nghiệp có thể tận dụng lượng tiền mặt trôi nổi trên một
số dư tiền mặt nhỏ hơn
- Cần quản lý chặt chẽ các khoản tạm ứng tiền mặt Xác định rõ đối tượng tạm ứng, các trường hợp tạm ứng, mức độ tạm ứng và thời hạn được tạm ứng
- Thường xuyên đảm bảo khả năng thanh toán cho các khoản nợ đến hạn của doanh nghiệp
Để chủ động trong thanh toán, doanh nghiệp phải thực hiện tốt việc lập kế hoạch lưu chuyển tiền tệ, trên cơ sở đó có biện pháp thích ứng nhằm đảm bảo sự cân bằng thu chi vốn bằng tiền của doanh nghiệp và nâng cao khả năng sinh lời Vì vậy chính sách quản lý tiền mặt chặt chẽ sẽ giúp tăng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, cụ thể đó là tránh sự mất mát, lãng phí của tiền, thêm đó là tăng tính minh bạch và hợp lý trong chi và thu tiền từ đó làm giảm chi phí quản lý
(2) Chính sách quản l các hoản phải thu
Trong số các khoản mục phải thu của doanh nghiệp, phải thu khách hàng đóng vai trò quan trọng nhất Phải thu khách hàng là khoản mục xuất hiện trong quan hệ mua bán trả chậm giữa các doanh nghiệp, hay còn gọi là khoản tín dụng thương mại Khi doanh nghiệp bán hàng trả chậm cho khách hàng nghĩa là doanh nghiệp cấp tín dụng thương mại cho khách hàng Chính sách quản lý khoản phải thu tốt sẽ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp thu hồi các khoản nợ, các khoản tín dụng để tái đầu tư sản xuất ở chu kì kinh doanh tiếp theo
và tránh bị các doanh nghiệp khác chiếm dụng vốn Ngược lại, nếu chính sách quản lý khoản phải thu kém sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
Trang 16Để quản lý khoản phải thu từ khách hàng, doanh nghiệp cần chú ý các nội dung sau:
- Xác định chính sách tín dụng thương mại:
Nợ phải thu từ khách hàng của doanh nghiệp chủ yếu phụ thuộc vào khối lượng hàng hóa, dịch vụ bán chịu cho khách hàng và thời hạn bán chịu Vì vậy, để quản lý khoản phải thu trước hết cần xem xét, đánh giá các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến chính sách bán chịu của doanh nghiệp như:
Mục tiêu mở rộng thị trường, tăng doanh thu và tăng lợi nhuận của doanh nghiệp
Tính chất thời vụ trong sản xuất và tiêu thụ của một số sản phẩm (thời hạn bán chịu rất ngắn trong các ngành thực phẩm tươi sống và kỳ thu tiền bình quân rất cao trong các ngành kiến trúc, sản xuất cơ giới và ở những doanh nghiệp lớn…)
Tình trạng cạnh tranh: cần xem xét tình hình bán chịu của các đối thủ cạnh tranh để có đối sách bán chịu thích hợp và có lợi
Tình trạng tài chính của doanh nghiệp: không thể mở rộng việc bán chịu cho khách hàng khi doanh nghiệp đã có nợ phải thu ở mức cao và có sự thiếu hụt lớn vốn bằng tiền trong cân đối thu chi bằng tiền
- Phân tích khách hàng, xác định đối tượng bán chịu:
Để thẩm định độ rủi ro trong việc cấp tín dụng cho khách hàng cần có sự phân tích đánh giá khả năng trả nợ và uy tín của khách hàng, nhất là với những khách hàng tiềm năng Trên cơ sở đó quyết định hình thức hợp đồng (thực hiện trên tài khoản mua bán chịu, lệnh phiếu, hối phiếu thương mại, tín dụng thư không hủy ngang hay bán có điều kiện)
- Phân tích, đánh giá các khoản tín dụng mà khách hàng đề nghị
Sau khi phân tích năng lực tín dụng của khách hàng, doanh nghiệp sẽ xem xét các khoản tín dụng mà khách hàng đề nghị dựa vào chỉ tiêu NPV
Một số mô hình mà doanh nghiệp thường sử dụng:
Quyết định tính dụng khi xem xét một phương án cấp tín dụng:
Trang 1717
Trong đó: VC: Tỷ lệ chi phí biến đổi trên doanh thu
S: Doanh thu dự kiến mỗi kỳ
ACP: Thời gian thu tiền trung bình tính theo ngày
BD: Tỷ lệ nợ xấu trên dòng tiền vào từ bán hàng
CD: Luồng tiền ra tăng thêm của bộ phận tín dụng
T: Thuế suất cận biên của doanh nghiệp
k: Tỷ lệ thu nhập yêu cầu sau thuế
Sau khi tính toán NPV, doanh nghiệp đưa ra quyết định trên cơ sở:
Chi phí sản xuất bình quân (AC) AC0 AC1 (AC1 > AC0)
(Nguồn: Th.S Vũ Lệ Hằng, Bài giảng Tài Chính Doanh Nghiệp 1, ĐH Thăng Long)
Không cấp tín dụng khi:
NPV = P0Q0 – AC0Q0Cấp tín dụng khi:
P1Q1h NPV1 = - AC1Q1
Trang 18Bảng 1.2 Sử dụng và không sử dụng thông tin rủi ro tín dụng
Chỉ tiêu Không sử dụng thông
(Nguồn: Th.S Vũ Lệ Hằng, Bài giảng Tài Chính Doanh Nghiệp 1, ĐH Thăng Long)
Không sử dụng thông tin rủi ro:
P1Q1h NPV1 = - AC1Q1
(1+R)
Sử dụng thông tin rủi ro:
P1Q1h NPV2 = - AC1Q1 - C
(1+R) Doanh nghiệp đưa ra quyết định dựa trên cơ sở so sánh NPV1 và NPV2:
NPV1 > NPV2: Không sử dụng thông tin rủi ro tín dụng
NPV1 = NPV2: Bàng quan
NPV1 < NPV2: Sử dụng thông tin rủi ro tín dụng
- Thường xuyên kiểm soát nợ phải thu
Mở sổ theo dõi chi tiết nợ phải thu và tình hình thanh toán với khách hàng Thường xuyên kiểm soát để nắm vững tình hình nợ phải thu và tình hình thu hồi nợ
Để theo dõi các khoản nợ phải thu, doanh nghiệp có thể sử dụng 2 cách:
Thời gian thu nợ trung bình (ACP)
Dựa theo mẫu hình phải thu:
Mẫu hình phải thu là tỷ lệ % của doanh thu bán hàng trả chậm vẫn chưa thanh toán trong tháng ghi nhận doanh thu và trong những tháng tiếp theo
Do các khoản phải thu được chia nhỏ theo từng tháng phát sinh doanh thu nên theo dõi sự thay đổi trong mẫu hình phải thu giúp doanh nghiệp ghi nhận ngay sự thay đổi trong hành vi thanh toán của khách hàng
Trang 1919
Thường xuyên theo dõi và phân tích cơ cấu nợ phải thu theo thời gian Xác định
trọng tâm quản lý nợ phải thu để có biện pháp quản lý chặt chẽ
- Áp dụng các biện pháp thích hợp thu hồi nợ và bảo toàn vốn:
Chuẩn bị sẵn sàng các chứng từ cần thiết đối với các khoản nợ sắp đến kỳ hạn thanh toán Thực hiện kịp thời các thủ tục thanh toán
Thực hiện các biện pháp kịp thời thu hồi các khoản nợ đến hạn
Chủ động áp dụng các biện pháp tích cực và thích hợp thu hồi các khoản nợ quá hạn Cần xác định rõ nguyên nhân dẫn đến nợ quá hạn để có biện pháp thu hồi nợ thích hợp Có thể chia nợ quá hạn thành các giai đoạn để có biện pháp thu hồi phù hợp
Trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi để chủ động bảo toàn vốn lưu động
(3) Chính sách quản lý hàng tồn kho
Tại cùng thời điểm khi doanh nghiệp được hưởng những lợi ích từ việc sử dụng hàng tồn kho do đó các chi phí có liên quan cũng phát sinh tương ứng, bao gồm: chi phí đặt hàng, chi phí tồn trữ và chi phí thiệt hại do kho không có hàng Chính sách quản lý hàng tồn kho nếu tốt sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh do việc dự trữ hàng hóa hợp lý khi thị trường khan hiếm một loại hàng hóa nào
đó mà doanh nghiệp có thể đáp ứng đủ thì sẽ thu được lợi nhuận rất lớn Ngoài việc dữ trữ hàng hóa, doanh nghiệp còn phải quản lý tồn kho tốt nguồn nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào phục vụ sản xuất để đáp ứng sự vận hành liên tục dây chuyền sản xuất cũng như hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Từ đó có thể thấy hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn được nâng cao nếu doanh nghiệp có một chính sách quản lý hàng tồn kho hợp lý và ngược lại Để công tác quản lý hàng tồn kho được hiệu quả, doanh nghiệp cần lưu ý đến một số loại chi phí và mô hình quản lý hàng tồn kho dưới đây
- Chi phí đặt hàng
Chi phí đặt hàng bao gồm chi phí quản lý giao dịch, chi phí vận chuyển và chi phí giao nhận hàng hóa Chi phí đặt hàng được tính bằng đơn vị tiền tệ cho mỗi lần đặt hàng Chi phí cho mỗi lần đặt hàng thường bao gồm các chi phí cố định và chi phí biến đổi, bởi vì một phần tỷ lệ chi phí đặt hàng thường biến động theo số lượng hàng được mua Tuy nhiên, trong mô hình quản lý hàng tồn kho đơn giản EOQ (sẽ được trình bày
ở phần dưới đây) giả định rằng chi phí cho mỗi lần đặt hàng là cố định và độc lập với
số đơn vị hàng hóa được mua
- Chi phí tồn trữ
Chi phí tồn trữ bao gồm tất cả các chi phí lưu giữ hàng trong kho trong một khoảng thời gian xác định trước Chi phí tồn trữ được tính bằng đơn vị tiền tệ trên mỗi
Trang 20đơn vị hàng lưu kho hoặc xác định bằng tỷ phần trăm trên giá trị hàng lưu kho trong một chu kỳ Các chi phí tồn trữ bao gồm: chi phí lưu giữ, chi phí bảo hiểm, chi phí bảo quản, chi phí về thuế, chi phí đầu tư vào hàng tồn kho, chi phí hư hỏng hàng tồn kho
và chi phí thiệt hại do hàng đang có trong kho bị lỗi thời…
- Chi phí thiệt hại khi hàng tồn kho hết
Chi phí thiệt hại khi hàng tồn kho hết xảy ra bất cứ khi nào doanh nghiệp không
có khả năng giao hàng bởi vì nhu cầu hàng lớn hơn số lượng hàng sẵn có trong kho Ví
dụ, nguyên vật liệu trong kho hết thì chi phí thiệt hại sẽ bao gồm chi phí đặt hàng khẩn cấp và chi phí thiệt hại do ngừng sản xuất Khi sản phẩm dở dang tồn kho bị hết thì doanh nghiệp bị thiệt hại do kế hoạch sản xuất kinh doanh bị thay đổi, gây nên thiệt hại do ngưng trệ sản xuất và phát sinh chi phí Khi thành phẩm, hàng hóa tồn kho hết
có thể gây ra hậu quả là lợi nhuận bị mất trong ngắn hạn kho khách hàng mua sản phẩm của doanh nghiệp khác gây nên những mất mát tiềm năng trong dài hạn
- Mô hình quản lý hàng tồn kho hiệu quả - Mô hình EOQ
Mô hình EOQ hay mô hình đặt hàng kinh tế là mô hình xác định lượng đặt hàng tối ưu (Q*) sao cho tổng chi phí là thấp nhất
Các giả định của mô hình:
Nhu cầu về hàng tồn kho là ổn định;
Không có biến động giá, hao hụt, mất mát trong khâu dự trữ;
Không xảy ra thiếu hụt hàng tồn kho nếu đơn đặt hàng được thực hiện đúng hạn
Trong mô hình EOQ, tổng chi phí bao gồm:
Chi phí đặt hàng (Ordering cost):
Trang 21Điểm đặt hàng (số lượng hàng còn lại trong kho khi bắt đầu đặt hàng):
OP = Thời gian chờ hàng đặt * = S/365 + Qan toàn
(*) Nếu không có dự trữ an toàn thì Qan toàn bằng 0
- Mô hình ABC
Là mô hình quản lý hàng tồn kho dựa trên cơ sở áp dụng mức độ quản lý khác nhau với các nhóm lưu kho có giá trị cao thấp khác nhau
Phương pháp phân tích ABC chia các loại vật tư làm 3 nhóm chính:
Nhóm A: chiếm 10% về mặt số lượng nhưng chiếm 50% giá trị tiền đầu tư vào hàng lưu kho
Nhóm B: chiếm 30% về mặt số lượng nhưng chiếm 35% giá trị tiền đầu tư vào hàng lưu kho
Nhóm C: chiếm 60% về mặt số lượng nhưng chiếm 15% giá trị tiền đầu tư vào hàng lưu kho
Phương pháp phân tích ABC cho phép ra những quyết định quan trọng có liên quan đến dự trữ Những sản phẩm thuộc nhóm A sẽ là đối tượng được đầu tư, lập kế hoạch thận trọng hơn về nhu cầu, những sản phẩm thuộc nhóm B có thể kiểm soát bằng cách kiểm kê liên tục, những sản phẩm thuộc nhóm C kiểm kê định kỳ Phương pháp ABC cho phép ra những quyết định quan trọng liên quan đến nhà cung ứng Những sản phẩm thuộc nhóm A phải được mua từ nhà cung ứng có kinh nghiệm, nhóm C có thể giao cho nhà cung ứng mới Phân tích ABC còn giúp doanh nghiệp xây dựng thời gian kiểm tra dữ liệu hàng tồn kho: nhóm A 1 lần/tháng; nhóm B 1 lần /quý; nhóm C 1 lần /năm
- Phương pháp cung cấp đúng lúc (Just-in-time approach)
Nguyên tắc cơ bản của phương pháp này là doanh nghiệp chỉ sản xuất một lượng hàng hóa đúng bằng số lượng mà công đoạn tiếp theo cần đến Các nguyên vật liệu, hàng hóa cần thiết trong quá trình sản xuất và phân phối được dự báo, lên kế hoạch chi tiết sao cho quy trình tiếp theo có thể thực hiện ngay sau khi quy trình hiện thời chấm dứt Qua đó, mỗi công đoạn chỉ sản xuất ra số lượng cần thiết và cả hệ thống chỉ sản
Trang 22xuất ra đúng số lượng mà khách hàng cần Do vậy, chi phí tồn kho và dư thừa tồn kho giữa các công đoạn từ sản xuất tới phân phối được giảm xuống mức thấp nhấp có thể
1.2.3.3 Phân tích các chỉ tiêu tài chính đo lường hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một phạm trù rộng, bao hàm nhiều mặt tác động khác nhau Vì vậy khi phân tích các chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn ta cần xem xét trên nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau
(1) Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Do đặc điểm của tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao, cho nên việc sử dụng hiệu quả tài sản ngắn hạn là sự lựa chon đánh đổi giữa khả năng sinh lời với tính thanh khoản Do đó khi phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp thì người ta thường
sử dụng các chỉ tiêu sau đây:
- Hệ số thanh toán hiện hành
Đây là một trong những thước đo khả năng thanh toán của một doanh nghiệp, được sử dụng rộng rãi nhất là hệ số thanh toán hiện hành
Hệ số trên = 1 phản ánh doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán nợ ngắn hạn và tình hình tài chính bình thường Trường hợp này nợ ngắn hạn chính bằng tài sản ngắn hạn cho thấy hiệu quả sử dụng TSNH là ổn định, cân bằng được khả năng thanh toán cũng như khả năng sinh lời của doanh nghiệp Nếu khả năng thanh toán này < 1 thì doanh nghiệp có tình hình tài chính không lành mạnh, nguyên nhân là do nợ ngắn hạn lớn hơn tài sản ngắn hạn dẫn tới trường hợp doanh nghiệp không đủ khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn Khả năng thanh toán càng > 1 phản ánh khả năng thanh toán càng cao nhưng lại không hiệu quả vì không đảm bảo khả năng sinh lời của doanh nghiệp, trong trường hợp này ta thấy tài sản ngắn hạn lớn hơn nợ ngắn hạn, nếu không
có phương án đầu tư sẽ làm phát sinh thêm chi phí, thất thoát làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn Hiệu quả sử dụng TSNH của doanh nghiệp có thể ảnh hưởng không tốt nếu quá chú trọng vào khả năng sinh lời hoặc khả năng thanh toán Vì vậy hoạt động quản lý và sử dụng tài sản mất cân đối sẽ có thể dẫn đến những tác động xấu cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 23Hệ số này thường được so sánh với hệ số trung bình của ngành, thông thường khả năng thanh toán của công ty được đánh giá an toàn khi hệ số này > 1 hoặc = 1 vì công ty có thể trang trải các khoản nợ ngắn hạn mà không cần bán bớt hàng tồn kho
Có thể nhận định rằng nếu hệ số thanh toán nhanh > hoặc = 1 cho thấy hiệu quả sử dụng TSNH được nâng cao do công tác quản lý, sử dụng các loại tài sản khác có hiệu quả mà không phụ thuộc quá nhiều vào hàng tồn kho Ngược lại một doanh nghiệp có
hệ số thanh toánh nhanh nhỏ hơn 1, doanh nghiệp sẽ không đủ khả năng thanh toán ngay lập tức toàn bộ các khoản nợ ngắn hạn Lúc này doanh nghiệp sẽ phải tìm kiếm các nguồn tài trợ khác hoặc sẽ phải tính đến phương án thanh lý hàng tồn kho Trong trường hợp này cho thấy hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn yếu kém của doanh nghiệp Nguyên nhân là do doanh nghiệp có lượng hàng tồn kho lớn, trong khi các loại TSNH khác lại không thể đáp ứng ngay khả năng trả nợ khi đến hạn, nếu phải thanh lý hàng tồn kho cũng sẽ phải đợi thời gian hàng tồn kho đó được tiêu thụ hoặc sẽ bị giảm giá bán để có thể thu nhanh được tiền
- Hệ số thanh toán tức thời
Hệ số này cho biết tiền và các khoản tương đương tiền có đáp ứng được nhu cầu thanh toán cho các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp hay không Khả năng thanh toán tức thời được tính bằng:
Tiền và các khoản tương đương tiền
Hệ số thanh toán tức thời =
Nợ ngắn hạn
ĐVT: lần
Hệ số khả năng thanh toán tức thời là một chỉ tiêu đánh giá sát hơn khả năng thanh toán của doanh nghiệp Trong đó, tiền bao gồm: tiền mặt, tiền gửi, tiền đang chuyển Các khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn (dưới 3 tháng)
Trang 24có thể chuyển đổi thành tiền bất cứ lúc nào như: chứng khoán ngắn hạn, thương phiếu… Đây là các tài sản có tính thanh khoản cao, độ rủi ro thấp
Tùy thuộc vào ngành nghề kinh doanh mà tỷ số về khả năng thanh toán tức thời bằng bao nhiêu là hợp lý Thông thường, tỷ số này xấp xỉ 0,5 là tốt, tình hình thanh toán của doanh nghiệp tương đối khả quan, tiền và các khoản tương đương tiền có khả năng trả nợ ngắn hạn khi cần Trong trường hợp việc theo dõi và quản lý tiền, các khoản phải thu, các khoản tương đương tiền của doanh nghiệp là tốt, đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp Vì vậy, hiệu quả sử dụng TSNH của doanh nghiệp được nâng cao Nếu lớn hơn 0,5 cho thấy tài sản của doanh nghiệp tồn tại dưới dạng tiền nhiều làm cho hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp sẽ không cao Ngược lại, nếu tỷ số này nhỏ hơn 0,5 lại phản ánh một tình hình tài chính không lành mạnh, khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ phải trả ngay dẫn tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn kém
(2) Nhóm các chỉ tiêu hoạt động
Là hệ số đo lường khả năng hoạt động của doanh nghiệp Để nâng cao hệ số hoạt động, các nhà quản trị phải biết những tài sản nào chưa sử dụng, không sử dụng hoặc không tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp Vì thế doanh nghiệp cần phải biết cách sử dụng chúng sao cho có hiệu quả hoặc loại bỏ chúng đi Hệ số hoạt động đôi khi còn gọi là hệ số hiệu quả hoặc hệ số luân chuyển Do đó khi phân tích các chỉ tiêu hoạt động thì người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau đây:
- Vòng quay các khoản phải thu
Các khoản phải thu là các khoản bán chịu mà doanh nghiệp chưa thu được tiền
do thực hiện chính sách bán chịu và các khoản tạm ứng chưa thanh toán, các khoản trả trước cho người bán…
Doanh thu thuần Vòng quay các khoản phải thu =
Các khoản phải thu bình quân
ĐVT: vòng Vòng quay các khoản phải thu được sử dụng để xem xét việc khách hàng thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp Khi khách hàng thanh toán các khoản nợ đã đến hạn thì lúc đó các khoản phải thu đã quay được một vòng Chỉ tiêu này phản ánh tính hình các khoản phải thu của doanh nghiệp trong kì, nó cho biết số vòng quay các khoản phải thu từ khi hình thành cho đến khi thu được tiền Chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu quả sử dụng TSNH càng cao vì doanh nghiệp luôn phải theo dõi, quản lý và thu hồi các khoản phải thu càng nhanh càng tốt, tránh bị doanh nghiệp khác chiếm dụng vốn và ngược lại
Trang 2525
- Kì thu tiền bình quân
Kì thu tiền bình quân cao hay thấp phụ thuộc vào chính sách bán hàng chịu của doanh nghiệp Nếu vòng quay các khoản phải thu cao thì sẽ làm giảm sức cạnh tranh, làm giảm doanh thu
365
Kì thu tiền bình quân =
Vòng quay các khoản phải thu
ĐVT: ngày Trong phân tích tài chính, kỳ thu tiền bình quân được sử dụng để đánh giá khả năng thu tiền trong thanh toán, cũng là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng lực kinh doanh của doanh nghiệp Vì rằng nếu các khoản phải thu của doanh nghiệp không được thu hồi đủ số, đúng hạn thì không những gây ra tình trạng tồn đọng nợ cho doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng tới năng lực kinh doanh Số ngày trong kỳ bình quân thấp chứng tỏ doanh nghiệp không bị đọng vốn lâu trong khâu thanh toán, không gặp phải những khoản nợ khó đòi, tốc độ thu hồi nợ nhanh và hiệu quả quản lý TSNH cao Tính lưu động của tài sản mạnh, năng lực thanh toán ngắn hạn rất tốt, về một mức độ nào đó
có thể khoả lấp những ảnh hưởng bất lợi của tỷ suất lưu động thấp Đồng thời, việc nâng cao mức quay vòng của các khoản phải thu còn có thể làm giảm bớt kinh phí thu
nợ và tổn thất tồn đọng vốn, làm cho mức thu lợi của việc đầu tư tài sản lưu động của doanh nghiệp tăng lên tương đối Ngược lại, nếu tỷ số này cao thì doanh nghiệp cần phải tiến hành phân tích chính sách bán hàng để tìm ra nguyên nhân tồn đọng nợ Trong nhiều trường hợp, có thể do kết quả thực hiện một chính sách tín dụng nghiêm khắc, các điều kiện trả nợ hà khắc làm cho lượng sản phẩm tiêu thụ bị hạn chế, nên công ty muốn chiếm lĩnh thị trường thông qua bán hàng trả chậm hay tài trợ nên có kỳ thu tiền bình quân cao Nếu kì thu tiền bình quân cao, đồng thời có thể thu hồi được các khoản nợ này đúng hạn thì cho thấy hiệu quả sử dụng TSNH tương đối tốt, ngược lại nếu các khoản phải thu không được thu hồi đúng hạn thì doanh nghiệp sẽ bị chiếm dụng vốn dẫn tới hiệu quả sử dụng TSNH trong sản xuất kinh doanh là kém
Điều đáng lưu ý khi phân tích là kết quả phân tích có thể được đánh giá là rất tốt, nhưng do kỹ thuật tính toán đã che dấu những khuyết điểm trong việc quản trị các khoản phải thu Nên cần phải phân tích định kỳ các khoản phải thu để sớm phát hiện những khoản nợ khó đòi để có biện pháp xử lý kịp thời Vì thế chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là cao hay thấp dựa trên việc hiệu quả quản lý và thu hồi các khoản phải thu
- Vòng quay hàng tồn kho
Trang 26Vòng quay hàng tồn kho là một tiêu chuẩn để đánh giá doanh nghiệp sử dụng hàng tồn kho của mình hiệu quả như thế nào
Giá vốn hàng bán Vòng quay hàng tồn kho =
Hàng tồn kho bình quân
ĐVT: vòng Các doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất luôn phải tính đến mức dự trữ bởi doanh nghiệp không thể nào đến lúc sản xuất mới mua nguyên vật liệu
Để tránh trường hợp bị ứ đọng thì doanh nghiệp phải có trước một lượng vật tư hàng hóa vừa đủ bởi nếu dự trữ quá nhiều doanh nghiệp sẽ mất khoản chi phí để bảo quản nguyên vật liệu Nếu lượng vật tư quá ít không đủ cho sản xuất sẽ dẫn đến tình trạng tắc nghẽn ở các khâu tiếp theo
Như vậy, chỉ tiêu này rất quan trọng đối với doanh nghiệp, nó quyết định thời điểm đặt hàng cũng như mức dự trữ an toàn cho doanh nghiệp Vòng quay hàng tồn kho càng cao thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng cao
Vòng quay dự trữ, tồn kho cao thể hiện khả năng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tốt, có như vậy mới đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đặt ra Chỉ tiêu này phản ánh lượng vật tư, hàng hóa được đưa vào sử dụng cũng như được bán ra nhiều, như vậy là doanh thu sẽ tăng và đồng thời lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được cũng tăng lên Vòng quay hàng tồn kho cao hay thấp phụ thuộc vào đặc điểm của từng ngành nghề kinh doanh, phụ thuộc vào mặt hàng kinh doanh Vì vậy số vòng quay hàng tồn kho sẽ phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là cao hay thấp thông qua quản lý hàng tồn kho hiệu quả hay kém hiệu quả
- Chu kì lưu kho
365 Chu kì lưu kho =
Vòng quay hàng tồn kho
ĐVT: ngày Chỉ tiêu này cho biết số ngày lượng hàng tồn kho được chuyển đổi thành doanh thu Từ chỉ tiêu này cho biết số ngày cần thiết cho việc luân chuyển kho vì hàng tồn kho có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn ở khâu dự trữ Hệ số này càng nhỏ chứng tỏ công tác quản lý hàng tồn kho tốt, hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng cao và ngược lại
- Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn
Chỉ tiêu này cho biết mỗi đơn vị tài sản ngắn hạn trong kì đem lại bao nhiêu đơn
vị doanh thu thuần Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn
Trang 2727
càng cao Vì nếu hệ số này lớn thì chứng tỏ tài sản ngắn hạn đã được tận dụng một cách hiệu quả, chuyển đổi hết các nguồn lực của tài sản ngắn hạn vào sản xuất kinh doanh để đem lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp
Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng TSNH =
TSNH bình quân trong kì
ĐVT: lần
(3) Chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời
- Hệ số sinh lời của tài sản ngắn hạn
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tài sản ngắn hạn Nó cho biết mỗi đơn vị tài sản ngắn hạn có trong kì đem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế
Lợi nhuận sau thuế
Hệ số sinh lời của TSNH =
TSNH bình quân trong kì
ĐVT: Lần Chỉ tiêu này càng cao phản ánh lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp cao, các doanh nghiệp đều mong muốn chỉ số này càng cao càng tốt vì như vậy đã sử dụng được hết giá trị của tài sản ngắn hạn Hiệu quả của việc sử dụng tài sản ngắn hạn thể hiện ở lợi nhuận của doanh nghiệp, đây chính là kết quả cuối cùng mà doanh nghiệp đạt được Kết quả này phản ánh hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn nói riêng Với công thức trên ta thấy, nếu tài sản ngắn hạn sử dụng bình quân trong kì thấp mà lợi nhuận sau thuế cao thì hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn cao và ngược lại
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp luôn chịu sự tác động của nhiều nhân
tố Để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, ngoài việc sử dụng các chỉ tiêu trên đây ta phải nghiên cứu những nhân tố tác động, từ đó đưa ra các giải pháp để hạn chế những tác động không tốt và phát huy thêm những tác động tích cực
1.2.4.1 Các nhân tố khách quan
Đây là nhóm nhân tố nằm ngoài khả năng kiểm soát của doanh nghiệp và vì không thể tác động vào những nhân tố này mà doanh nghiệp cần phải tận dụng triệt để những thuận lợi và tự điều chỉnh để thích ứng với những khó khăn do các nhân tố này mang lại
Trang 28Nhu cầu tiêu dùng
Ở đây ta đề cập đến nhu cầu tiêu dùng của thị trường đối với sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra Yếu tố này luôn có ảnh hưởng quyết định đến quy mô và cơ cấu hàng hóa của một doanh nghiệp sản xuất ra Để đáp ứng được sự thay đổi của nhu cầu thị trường, doanh nghiệp phải tăng hay giảm lượng vật tư, nguyên liệu cũng như phải thay đổi cơ cấu hàng hóa, chuyển đổi quy trình sản xuất, tổ chức lại mạng lưới phân phối… từ đó dẫn tới những thay đổi lớn lao trong cơ cấu và quy mô tài sản ngắn hạn, đòi hỏi công tác quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn phải được thay đổi tương ứng, kịp thời và phù hợp Nếu nhu cầu tiêu dùng về hàng hóa tăng sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư trang thiết bị hiện đại nhằm rút ngắn thời gian tạo ra sản phẩm cũng như nâng cao chất lượng để cung ứng kịp thời đến người tiêu dùng Có thể thấy nhu cầu tiêu dùng tăng cũng sẽ làm cho hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn được nâng cao và ngược lại
Môi trường hoạt động kinh doanh
Các doanh nghiệp hiện nay đang hoạt động trong môi trường cạnh tranh khốc liệt Do vậy việc lập kế hoạch sản xuất, tiêu thụ hàng hóa cũng như dự trữ và tồn kho
là hết sức quan trọng Tất cả các kế hoạch này đều ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn Môi trường kinh doanh càng lành mạnh cũng như công bằng sẽ giúp cho doanh nghiệp nâng cao được hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn nhằm giúp tạo lợi thế cạnh tranh đối với các doanh nghiệp khác trên thị trường
sẽ giúp doanh nghiệp dự đoán cũng như đưa ra các chính sách quản lý TSNH một cách phù hợp, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn và ngược lại
Môi trường khoa học công nghệ
Khoa học công nghệ phát triển, doanh nghiệp có cơ hội ứng dụng những tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, giúp tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm
và chất lượng tốt hơn, đánh bại các đối thủ cạnh tranh, thu hút khách hàng từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
Chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nước
Chính sách quản lý của nhà nước có tác động với toàn bộ nền kinh tế, trong đó có
Trang 2929
tài sản ngắn hạn Các chính sách này ảnh hưởng tới công tác quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Có thể đó là các chính sách tác động làm thay đổi nguồn tài trợ tài sản ngắn hạn, hoặc có thể tác động tới kế hoạch sản xuất kinh doanh,
dự trữ tồn kho của doanh nghiệp Các chính sách của nhà nước được ban hành nhằm mục đích hỗ trợ, bảo vệ doanh nghiệp sẽ giúp các doanh nghiệp yên tâm đầu tư cũng như nâng cao được hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn từ đó hoạt động sản xuất kinh doanh tăng trưởng bền vững hơn
1.2.4.2 Các nhân tố chủ quan
Đây là những nhân tố thuộc doanh nghiệp mà doanh nghiệp có thể kiểm soát và điều chỉnh được
Đặc điểm ngành sản xuất kinh doanh
Đặc điểm ngành sản xuất kinh doanh có liên quan đến chu kì kinh doanh, mỗi ngành khác nhau thì sản phẩm, hàng hóa sản xuất ra cũng có những đặc tính khác nhau, do đó chu kì kinh doanh sản phẩm, hàng hóa cũng khác nhau Điều này ảnh hưởng tới toàn bộ quyết định có liên quan đến việc sử dụng tài sản ngắn hạn như: dự trữ nguyên vật liệu nào, trong bao lâu, duy trì lượng tiền mặt là bao nhiêu, vận dụng chính sách tín dụng thương mại như thế nào…? Nếu chu kì kinh doanh càng dài thì thời gian thu hồi vốn càng lâu, vòng quay của tài sản ngắn hạn chậm, kết quả quản lý tài sản ngắn hạn sẽ thấp từ đó dẫn tới hiệu quả sử dụng TSNH là kém hiệu quả và ngược lại
Trình độ nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là một yếu tố quan trọng chính trong bất cứ doanh nghiệp nào
Đó là một trong những yếu tố quyết định trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nhân lực chính là những người góp phần tạo dựng chính sách tín dụng, quản lý và thực hiện chích sách đó Như vậy sẽ góp phần quyết định hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn Nếu doanh nghiệp có đội ngũ nhân viên có đủ trình độ và năng lực sẽ đưa ra được những chính sách và phương pháp sử dụng tài sản ngắn hạn hiệu quả nhất
Năng lực điều hành của người lãnh đạo doanh nghiệp
Người lãnh đạo doanh nghiệp là một nhân tố quan trọng trong quá trình vận hành của doanh nghiệp, hay nói cách khác họ chính là bộ não của doanh nghiệp Họ đề ra các kế hoạch, phương án cũng như các chính sách hoạt động cho doanh nghiệp Nếu những người lãnh đạo đưa ra được các chính sách, quyết định kịp thời và hợp lý sẽ giúp doanh nghiệp phát triển cũng như đứng vững trên thị trường Do đó các doanh nghiệp muốn hoạt động hiệu quả, quản lý hoạt động sản xuất cũng như lực lượng nhân viên thì đòi hỏi đội ngũ lãnh đạo có trình độ chuyên môn cao, thường xuyên theo dõi,
Trang 30trực tiếp theo dõi, kiểm tra các khâu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Cơ sở vật chất của doanh nghiệp
Không thể phủ nhận cơ sở vật chất là một yếu tố quan trọng trong việc thay đổi hình thái vật chất của tài sản ngắn hạn, chuyển toàn bộ giá trị của chúng vào sản phẩm, hàng hóa Ở đây ta đề cập đến dây chuyền sản xuất, máy móc thiết bị… nếu những yếu tố này hiện đại, tiên tiến sẽ góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển hóa giá trị của tài sản ngắn hạn vào sản phẩm, điều này đồng nghĩa với việc rút ngắn thời gian dự trữ nguyên vật liệu, đẩy nhanh tốc độ chu chuyển tài sản ngắn han và ngược lại
Trên đây là các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn nhưng bên cạnh đó doanh nghiệp cần phải quan tâm tới các nhân tố khác như: tỉ giá, lạm phát, quan hệ khách hàng, dịch bệnh, thiên tai… nếu tác động của các nhân tố này là lớn sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn nói riêng cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và ngược lại
Trang 3131
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN
TẠI CÔNG TY TNHH ÁNH DUNG 2.1 Giới thiệu chung về Công ty TNHH Ánh Dung
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH Ánh Dung
- Thông tin chung về công ty:
Tên công ty: Công ty TNHH Ánh Dung
Tên giao dịch: Anh Dung Co.,Ltd
Quy mô tổng tài sản: 8.110.729.254 đồng tính đến 31/12/2013
- Quá trình hình thành và phát triển của công ty:
Công ty TNHH Ánh Dung được chính thức thành lập vào ngày 27 tháng 6 năm
2008 theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 2600431178 do Sở kế hoạch và đầu tư Phú Thọ cấp Vốn điều lệ là 2.000.000.000 đồng (2 tỷ đồng Việt Nam) Công ty TNHH Ánh Dung thành lập và hoạt động trong lĩnh vực chính là kinh doanh máy móc, thiết bị và phụ tùng máy dệt may, vật liệu, thiết bị lắp đặt khác trong xây dựng và vận tải hàng hóa
Năm 2009, công ty gặp nhiều khó khăn về tài chính do mới thành lập và đội ngũ lãnh đạo chưa có kinh nghiệm điều hành
Năm 2011, công ty lọt top 30 doanh nghiệp xuất sắc của tỉnh Phú Thọ
Năm 2012, công ty đổi mới dây chuyền sản xuất khi mua máy ép gỗ nóng thủy lực từ Nhật Bản
Với chức năng chuyên cung cấp các loại máy móc, thiết bị phục vụ cho các công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp, cùng với bề dày kinh nghiệm của đội ngũ quản
lý và đội ngũ nhân viên lành nghề có trình độ chuyên môn cao về năng lực, thiết bị được đầu tư hiện đại nên Công ty nhanh chóng đi vào ổn định hoạt động kinh doanh, bắt kịp những biến động của nền kinh tế
Công ty luôn chú trọng tới quyền lợi và nhu cầu của khách hàng, chính vì vậy mục tiêu chiến lược của Công ty là “Hướng tới khách hàng” Khách hàng là nhân tố quyết định sự phát triển của doanh nghiệp, do đó Ban lãnh đạo Công ty luôn đưa ra
Trang 32chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực để phục vụ tốt hơn và coi đây là nền móng để hoàn thành các mục tiêu đề ra
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH Ánh Dung
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH Ánh Dung
- Quyết định phương hướng, kế hoạch, dự án sản xuất, kinh doanh, hợp tác đầu
tư, liên doanh liên kết, tổ chức bộ máy điều hành, kế hoạch đào tạo cán bộ và
đề cử Kế toán trưởng, bổ nhiệm, bãi miễn trưởng, phó phòng công ty
- Phê chuẩn quyết toán của các đơn vị, bộ phận và tổng duyệt quyết toán của Công ty
- Báo cáo kết quả sản xất kinh doanh của Công ty và thực hiện nộp ngân sách hàng năm theo quy định của pháp luật
Phòng Kinh doanh
- Xây dựng kế hoạch bán hàng, tiêu thụ sản phẩm, công tác Marketing
- Nghiên cứu, đánh giá thị trường và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dự báo nhu cầu để chủ động đề xuất phương án kinh doanh, từng bước đưa sản phẩm tiếp cận và chiếm lĩnh thị trường
- Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch, kết quả hoạt động kinh doanh cho Giám đốc hàng tháng
Giám đốc
Phòng Hành chính
Phòng
Kế toán
Phòng Vận tải
Trang 3333
Phòng Kỹ thuật
Điều hành các công việc liên quan tới kỹ thuật – bảo hành với các nhiệm vụ cơ bản:
- Nghiên cứu sản phẩm: Phòng kỹ thuật là bộ phận trực tiếp thử nghiệm, phân
tích và đánh giá ứng dụng của từng loại, nhất là các thiết bị mới Phối hợp với từng bộ phận liên quan để tổ chức biên dịch, soạn thảo các tài liệu sử dụng, tài liệu giới thiệu… phù hợp với từng loại thiết bị
- Bảo hành sản phẩm: công tác đào tạo, huấn luyện nâng cao nghiệp vụ đội
ngũ bảo hành chuyên nghiệp thường xuyên được tiến hành Các kỹ sư luôn cố gắng hết mình trong việc chuyển giao công nghệ, trao đổi với các thành viên đại lý nhằm đảm bảo quyền lợi của khách hàng
- Cung cấp các dịch vụ sau bán hàng: Tư vấn đưa ra những định hướng để bổ
sung, sửa chữa, chọn lựa thiết bị nâng cấp sao cho phù hợp với khách hàng Đồng thời duy trì các hoạt động bảo trì, bảo dưỡng định kỳ sản phẩm thông qua các đợt khảo sát, triển khai lắp đặt và bảo hành
Phòng Vận tải
Có nhiệm vụ lập kế hoạch vật tư thiết bị, theo dõi và hướng dẫn lái xe thực hiện
công việc và các quy định của công ty
Phòng Kế toán
- Tổ chức hạch toán kinh tế về hoạt động kinh doanh của công ty, tổng hợp kết quả kinh doanh, lập báo cáo kế toán, phân tích hoạt động kinh doanh phục vụ cho việc kiểm tra thực hiện kế hoạch của công ty
- Theo dõi, đối chiếu chấm công lương hàng tháng Quản lý vận hành hệ thống phần mềm, sổ sách kế toán theo quy định, quản lý hàng hóa, làm thủ tục nhập xuất, thống kê định kì hàng hóa – sản phẩm, tài sản khác
- Thực hiện quyết toán tháng, 6 tháng, năm đúng tiến độ và phối hợp với các phòng chức năng khác của Công ty để hạch toán lỗ lãi cho từng bộ phận sản xuất kinh doanh
- Có quyền tham mưu, đề xuất với ban lãnh đạo công ty về việc thực hiện các chế độ quản lý tài chính, tiền tệ, các khoản thu, chi theo quy định của Bộ Tài chính và Ủy ban nhân dân thành phố
Phòng Hành chính
- Quản lý theo dõi tình hình chấp hành kỉ luật lao động nội quy công ty; quản lý
hồ sơ lý lịch nhân viên toàn công ty; làm thủ tục bổ nhiệm, bãi miễn, khen thưởng, tuyển dụng nhân sự, hợp đồng lao động; quản lý lao động tiền lương,
Trang 34làm thủ tục xét hết thử việc, nâng lương Tham mưu cho Ban giám đốc về tổ chức bộ máy sản xuất – kinh doanh và bố trí nhân sự phù hợp với yêu cầu của Công ty
- Có quyền đề xuất Ban giám đốc ra quyết định khen thưởng với cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong lao động sản xuất và các hoạt động khác cũng như lập biên bản xử lý và đề nghị hình thức xử lý với các trường hợp vi phạm
kỷ luật lao động và quy chế của công ty
Nhận xét:
Đây là mô hình tổ chức theo kiểu cơ cấu trực tuyến chức năng có sự điều chỉnh cho phù hợp với mô hình hoạt động của công ty nhỏ Ngoài các chức năng đã được tổ chức thành các phòng ban riêng, các chức năng khác của công ty được phân bổ một cách hợp lý vào các phòng ban, đồng thời có sự phối hợp thực hiện chức năng, những công việc quan trọng được giám đốc trực tiếp quyết định hoặc ủy quyền quyết định
Sự điều chỉnh này phù hợp với quy mô nhỏ của công ty và đặc trưng của các công ty thương mại Với cách tổ chức này, công ty có thể tinh giảm tối đa bộ máy nhưng vẫn đảm bảo được yêu cầu công việc
2.1.3 Khái quát về ngành nghề sản xuất inh doanh của Công ty TNHH Ánh Dung
Hiện nay, Công ty đang hoạt động sản xuất kinh doanh trên các ngành nghề như:
- Cưa, xẻ, bào gỗ và bảo quản gỗ
- Sản xuất gỗ dán, gỗ lạng, ván ép và ván mỏng khác
- Bán buôn máy móc, thiết bị và phụ tùng máy dệt, may, giày da
- Bán buôn máy móc, thiết bị và phụ tùng máy khác
- Bán buôn vật liệu, thiết bị lắp đặt khác trong xây dựng
- Nhận sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị và phụ tùng máy
- Bán buôn phụ liệu may mặc và giày dép
- Vận tải hàng hóa nội địa
Dù Công ty kinh doanh trên nhiều lĩnh vực nhưng nguồn thu lớn nhất cũng là lĩnh vực kinh doanh chính của Công ty là: Sản xuất gỗ ép, bán buôn máy móc, thiết bị
và phụ tùng máy; đồng thời nhận sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc thiết bị
2.1.4 Khái quát tình hình sản xuất inh doanh của Công ty TNHH Ánh Dung giai đoặn năm 2011 – 2013
2.1.4.1 Tình hình tài sản – nguồn vốn
Tình hình tài sản nguồn vốn tại công ty TNHH Ánh Dung giai đoạn năm
2011 - 2013
Trang 3535
Bảng 2.1 Tình hình tài sản tại Công ty TNHH Ánh Dung giai đoạn năm 2011 – 2013
ĐVT: Đồng
Chỉ tiêu
Năm Chênh lệch năm 2012 - 2011 Chênh lệch 2013 - 2012
Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Tuyệt đối Tương đối
đối (%) TÀI SẢN 6.403.355.264 6.012.141.266 8.110.729.254 (391.213.998) (6,11) 2.098.587.988 34,91
1 Tài sản ngắn hạn 4.202.560.051 4.091.878.217 5.837.084.895 (110.681.834) (2,63) 1.745.206.678 42,65
Tiền và các khoản tương
đương tiền 688.576.572 633.788.761 2.328.075.720 (54.787.811) (7,96) 1.694.286.959 267,33 Phải thu khách hàng 993.498.202 415.720.000 494.554.600 (577.778.202) (58,16) 78.834.600 18,96 Hàng tồn kho 2.477.264.441 2.977.700.056 3.014.454.575 500.435.615 20,20 36.754.519 1,23 Tài sản ngắn hạn khác 43.220.836 64.669.400 0 21.448.564 49,63 (64.669.400) (100,00)
2 Tài sản dài hạn 2.200.795.213 1.920.263.049 2.273.644.359 (280.532.164) (12,75) 353.381.310 18,40
Tài sản cố định 2.132.695.213 1.880.463.049 2.235.144.359 (252.232.164) (11,83) 354.681.310 18,86 Tài sản dài hạn khác 68.100.000 39.800.000 38.500.000 (28.300.000) (41,56) (1.300.000) (3,27)
(Nguồn: Bảng cân đối kế toán của công ty giai đoạn năm 2011 – 2013)
Trang 36Biểu đồ 2.1 Tình hình tài sản tại Công ty TNHH Ánh Dung giai đoạn năm 2011 -
2013
(Nguồn: Bảng cân đối kế toán của công ty giai đoạn năm 2011 – 2013)
Dựa vào bảng 2.1 và biểu đồ 2.1 ta có thể thấy tình hình tài sản tại Công ty TNHH Ánh Dung giai đoạn năm 2011 – 2013 có nhiều biến động thất thường Cụ thể tổng tài sản ngắn hạn của năm 2012 giảm so với năm 2011 Nguyên nhân của sự giảm này là do cả hai khoản mục tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn trong năm 2012 đều giảm so với năm 2011 Trong đó, tài sản ngắn hạn giảm là do khoản mục tiền và các khoản tương đương tiền cũng như các khoản phải thu đều giảm và giảm mạnh, trong khi đó hai khoản mục hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác có tăng nhưng không bù đắp được cho hai khoản mục trên
Bên cạnh đó, tài sản dài hạn trong năm 2012 cũng có sự sụt giảm là do hai khoản mục tài sản cố định và tài sản dài hạn khác đều giảm Trong năm 2012, tình hình sản xuất của công ty không thuận lợi nên công ty thanh lý một vài tài sản cố định cũ nhằm tiết kiệm chi phí cũng như thu được tiền để tái đầu tư vào các tài sản cố định hiện đại hơn Tuy nhiên đến năm 2013, tổng tài sản của công ty lại tăng mạnh so với năm 2012 Nguyên nhân của sự tăng này là do tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn cùng tăng Trong tổng tài sản ngắn hạn thì tất cả các khoản mục chính như: tiền, các khoản phải thu, hàng tồn kho đều tăng Bên cạnh đó, việc công ty tái đầu tư vào tài sản cố định nhằm nâng cao năng suất lao động nên đã làm cho tổng tài sản dài hạn năm 2013 tăng
so với năm 2012 Sự biến động thất thường của tổng tài sản trong 3 năm từ 2011 –
2013 cho thấy công tác sử dụng và quản lý chưa đạt hiệu quả cao, nếu xu hướng này vẫn tiếp tục xảy ra trong tương lai sẽ làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh cũng biến động theo, từ đó làm giảm đi hiệu quả sản xuất cũng như doanh thu của công ty
Tình hình nguồn vốn tại Công ty TNHH Ánh Dung giai đoạn năm 2011 –
2013
0 1.000.000.000
Trang 37Năm Chênh lệch năm 2012 - 2011 Chênh lệch năm 2013 - 2012
Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Tuyệt đối Tương đối
(%) Tuyệt đối
Tương đối (%) NGUỒN VỐN 6.403.355.264 6.012.141.266 8.110.729.254 (391.213.998) (6,11) 2.098.587.988 34,91
A NỢ PHẢI TRẢ 3.580.528.000 3.700.534.337 5.662.988.651 120.006.337 3,35 1.962.454.314 53,03
1 Nợ ngắn hạn 3.580.528.000 2.700.534.337 5.662.988.651 (879.993.663) (24,58) 2.962.454.314 109,70
Vay và nợ ngắn hạn 2.797.000.000 2.060.000.000 4.597.300.000 (737.000.000) (26.35) 2.537.300.000 123,17 Phải trả người bán 570.350.000 432.890.090 693.004.178 (137.459.910) (24,10) 260.114.088 60,09 Người mua trả tiền