Hoàn thiện vận dụng chuẩn mực kế toán quốc tế về BCTC vào Việt Nam
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Báo cáo tài chính (BCTC) là một công cụ trình bày và thể hiện vềtình hình thực trạng tài chính của doanh nghiệp, nó cung cấp những thôngtin tổng quát nhất về tình hình tài chính của doanh nghiệp cho những ngườiquan tâm, phục vụ cho quản lý, đầu tư và ra quyết định cũng như quản lý
vỹ mô nền kinh tế của nhà nước Chính vì thế, việc lập và trình bày cácthông tin trên BCTC cần được quy định cụ thể và thống nhất trên các vănbản pháp quy của lĩnh vực quản lý tài chính nói chung và kế toán nóiriêng.Trong xu thế hội nhập nền kinh tế thế giới, việc hoàn thiện các chuẩnmực kế toán Việt Nam sao cho phù hợp với các chuẩn mực được công nhậnrộng rãi trên thế giới về BCTC được đặt ra ngày càng cấp thiết
Trong quá trình học tập và nghiên cứu, nhận thức được những bất
cập của BCTC, chúng em đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “ Bàn về vấn đề áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế về BCTC vào Việt Nam” làm đề tài
nghiên cứu khoa học của mình
Chúng em mong muốn làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về chuẩnmực kế toán quốc tế về BCTC Trên cơ sở đó, nghiên cứu rõ thêm nhữngvấn đề có liên quan đến chế độ kế toán Việt Nam hiện nay Từ đó, đưa ranhững giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện chuẩn mực kế toán
về BCTC ở Việt Nam
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 phần:
Phần I: Chuẩn mực kế toán quốc tế về BCTC
Trang 2Phần III: Thực trạng và một số đề xuất nhằm hoàn thiện vận dụng chuẩn mực kế toán quốc tế về BCTC vào Việt Nam.
Trang 3PHẦN I: CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ VỀ BCTC
“Mục đích của BCTC là việc đưa ra các thông tin về tình trạng tàichính, kết quả hoạt động và những thay đổi trong tình trạng tài chính củadoanh nghiệp để đưa ra các quyết định kinh tế ”
Thông thường, BCTC được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau.Người cho vay muốn biết liệu doanh nghiệp đang tìm ngân quỹ có khảnăng hoàn vốn lại không Các nhà đầu tư quan tâm đến khả năng ổn địnhtài chính và phát sinh lợi nhuận cũng như thu nhập của doanh nghiệp có thểtăng hoặc giảm như thế nào trong tương lai Những nhân viên có năng lực
sử dụng BCTC để đánh giá tình hình tài chính hoặc hoạt động kinh doanhhiện tại của một công ty trước khi họ ký kết hợp đồng lao động với công ty
đó Các cơ quan ban hành định chế cần các BCTC để đánh giá hoạt động
và tình hình tài chính của doanh nghiệp hoặc ngành công nghiệp đó
Như vậy, BCTC đóng góp một vai trò to lớn trong việc thông tin vềtình hình tài chính của doanh nghiệp đến với những người quan tâm
Trang 4Chuẩn mực kế toán quốc tế là hệ thống các nguyên tắc hạch toán kếtoán, trình bày BCTC, các quy định về kế toán được chấp nhận rộng rãitrên toàn thế giới do Hội đồng Chuẩn mực kế toán Quốc tế (IASB) banhành và thường xuyên nghiên cứu cập nhật sửa đổi, bổ sung Chuẩn mực kếtoán quốc tế (IAS) chỉ mang tính chất hướng dẫn tham khảo và các quốcgia có thể tự đưa ra quyết định về việc áp dụng Mặt khác, IAS là kinhnghiệm thực tế đúc kết của các hệ thống kế toán phát triển trên thế giới(Mỹ và Châu Âu) Vì vậy, việc áp dụng máy móc có thể dẫn đến những kếtquả xấu đối với hệ thống kế toán quốc gia Nguyên tắc chung khi chuyểnsang chuẩn mực kế toán quốc tế trước hết là cần khẳng định những Nguyêntắc chung về việc tạo lập các BCTC ( Famework for the Preparation andPresentation Statements) Nguyên tắc này được ghi rõ trong một văn bản cụthể, nó không phải là chuẩn mực và không có yêu cầu hay hướng dẫn cụthể Nếu như có chuẩn mực nào đó trái với Nguyên tắc thì sẽ áp dụng theoChuẩn mực.
Trong đó, hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế có quy định về việclập các BCTC trong các chuẩn mực:
Chuẩn mực chung cho việc lập và trình bày BCTC:
IAS 7: Báo cáo Lưu chuyển tiền tệ
IAS 13: Trình bày các khoản Tài sản lưu động và Nợ ngắn hạn
Trang 5 IAS 27: BCTC riêng và BCTC hợp nhất
IAS 30: Trình bày bổ sung BCTC của các ngân hàng và các tổ chứctài chính tương tự
IAS 34: BCTC giữa niên độ
Theo IAS 1, hệ thống đầy đủ các BCTC bao gồm:
1 Bảng cân đối kế toán
2 Báo cáo thu nhập
3 Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu
4 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
5 Chế độ kế toán và thuyết minh
PHẦN II: CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT NAM VỀ BCTC
1 Khái quát về chuẩn mực kế toán Việt Nam về BCTC
Mục tiêu của chuẩn mực kế toán là các BCTC phải phản ánh đúng thựctrạng kinh doanh của doanh nghiệp và phải so sánh được với nhau, nhưngkhông chỉ là so sánh giữa các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam với nhau
mà cả doanh nghiệp Việt Nam so với doanh nghiệp nước ngoài, hoặc làdoanh nghiệp nước ngoài so với doanh nghiệp Việt Nam Vì thế, mục tiêucủa chuẩn mực kế toán rất cao và khác hẳn với cơ chế chính sách kinh tếViệt Nam đã có từ những năm trước
Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam được xây dựng dựa trên hệthống chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) hoặc chuẩn mực quốc tế về BCTC
Trang 6(IFRS) có chỉnh sửa, lược bớt những nội dung chưa phù hợp với Việt Nam,
bổ sung những nội dung mang tính đặc thù
Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam đã quy định về việc lập BCTCtrong các chuẩn mực:
VAS 01: Chuẩn mực chung
VAS 21: Trình bày BCTC
VAS 22: Trình bày bổ sung BCTC của các ngân hàng và các tổ chứctài chính tương tự
VAS 24: Báo cáo Lưu chuyển tiền tệ
VAS 25: BCTC hợp nhất và kế toán khoản đầu tư vào công ty con(một phần tương ứng)
VAS 27: BCTC giữa niên độ
2 So sánh chuẩn mực kế toán quốc tế và Việt Nam về BCTC
2.1 Điểm tương đồng
Tại Việt Nam, hệ thống chuẩn mực kế toán hiện hành về BCTC do
bộ Tài chính ban hành được Hiệp hội kế toán và kiểm toán Việ Nam đánhgiá là đã tuânt hủ khoảng 95% chuẩn mực kế toán quốc tế Tuy nhiên, hệthống kế toán áp dụng đối với các tổ chức tín dụng Việt Nam mới chỉ tuânthủ khoảng 50% chuẩn mực kế toán quốc tế do Bộ Tài chính vẫn chưa banhành các chuẩn mực kế toán về trình bày, ghi nhận và đo lường công cụ tàichính Do hệ thống kế toán áp dụng đối với các tổ chức tín dụng Việt Nammới chỉ tuân thủ khoảng 50% chuẩn mực kế toán quốc tế nên công tác hạchtoán theo chuẩn mực kế toán Việt nam (VAS) và chuẩn mực kế toán quốc
tế (IAS) có sự khác biệt về một số chỉ tiêu
Trang 72.2 Điểm khác biệt
Trang 8So sánh IAS 1 và VAS 1 : Chuẩn mực chung về BCTC
Mục đích
của BCTC
Nhằm cung cấp các thông tin
về tình hình tài chính, kết quảhoạt động kinh doanh và cácthay đổi trong tình hình tàichính của doanh nghiệp, giúpcho những người đọc báo cáotài chính đưa ra các quyết địnhphù hợp
Giá trị chiết khấu dòng tiền
Tài sản được ghi nhận theo giá gốccủa tài sản được tình theo số tiềnhoặc tương đương tiền đã trả, phảitrả hoặc tính theo giá trị hợp lý củatài sản vào thời điểm nhận tài sản.Giá gốc của tài sản không được thayđổi trừ khi có quy định khác trong
Trang 9chuẩn mực kế toán cụ thể.
Trang 10So sánh chuẩn mực IAS 1 và VAS 21 về Trình bày BCTC:
Các bộ phận
của BCTC
Bảng cân đối kế toán
Báo cáo kết quả kinh doanh
Báo cáo tình hình thay đổi vốnchủ sở hữu
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Thuyết minh BCTC
Không có báo cáo tình hìnhthay đổi vốn chủ sở hữu nhưngnhững biến động này vẫn đượctrình bày trên thuyết minhBCTC
Không đề cập vấn đề này.Trong thực tế, các doanhnghiệp phải được sự đồng ýcủa Bộ tài chính về việc ápdụng các chính sách kế toán có
sự khác biệt so với các chuẩnmực
Trang 11Thông tin này cần phải đượctrình bày trong Bản thuyếtminh báo cáo tài chính.
So sánh giữa IAS 7 và VAS 24 về Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Giữa IAS 7 và VAS 24chỉ có một vài khác biệt nhỏ trong việc trình
bày báo cáo LCTT theo phương pháp trực tiếp và gián tiếp Trong
BCLCTT theo phương pháp gián tiếp của VAS 24, thu nhập và chi phí tiền
vay được trình bày trong phần điều chỉnh các khoản mục cho lãi/ lỗ truớc
thuế và đồng thời cũng được trình bày trong phần lưu chuyển tiền từ hoạt
động tài chính, còn theo IAS7 các khoản này nằm trong phần lưu chuyển
tiền từ hoạt động kinh doanh Sự khác biệt được trình bày trong bảng sau:
Phân loại luồng tiền Các khoản tiền lãi và cổ tức Có hướng dẫn chi tiết về
Trang 12đầu tư hoặc tài chính nếu chúng nhất quán với việc phân loại từ kỳ kế toán trước
trả cho các ngân hàng, tổchức tín dụng, tổ chức tàichính, và các tổ chức phi tíndụng, phi tài chính
Tỷ giá hối đoái được
tế
Sử dụng tỷ giá hối đoái tạithời điểm phát sinh giao dịch
Các luồng tiền của
các công ty liên
doanh, liên kết
Sử dụng phương pháp giágốc hoặc phương pháp vốnchủ sở hữu và trình bày cácdòng tiền phát sinh Trườnghợp liên doanh: áp dụnghợp nhất theo tỷ lệ
Không đề cập vấn đề này
và không có hướng dẫn vềbáo cáo lưu chuyển tiền tệ
hợp nhất
PHẦN III: ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN VẬN DỤNG CHUẨN
MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ VÀO VIỆT NAM
1 Đánh giá chung :
Trang 131.1 Vấn đề trình bày “Cổ tức được chia” trên BCLCTT ( đối với đơn vị hoạt động kinh doanh )
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VAS) số 24 – Báo cáo lưuchuyển tiền tệ ban hành theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày31/12/2002, Doanh nghiệp phải trình bày các luồng tiền trong kỳ trên Báocáo lưu chuyển tiền tệ theo 03 loại hoạt động: hoạt động kinh doanh, hoạtđộng đầu tư và hoạt động tài chính
Có thể thấy, cổ tức được chia, phần lợi nhuận được chia trên cáckhoản đầu tư vào doanh nghiệp khác, không thể nằm trong luồng tiền củahoạt động tài chính Bởi vì, cổ tức được chia không làm thay đổi quy mô vàkết cấu của vốn chủ sở hữu và vốn vay của doanh nghiệp, nghĩa là khônglàm thay đổi phần “bên phải” của bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp.Tuy nhiên, đến thời điểm này câu trả lời được lựa chọn nhiều nhất lại là
“Hoạt động tài chính” Nguyên nhân sai lầm có thể được dự đoán là sựnhầm lẫn giữa cổ tức được chia với cổ tức đã chia của doanh nghiệp, hoặcmọi nghiệp vụ liên quan đến cổ phiếu, cổ tức đều được phân loại vào hoạtđộng tài chính
VAS 24, đoạn 22 quy định lợi nhuận, cổ tức được chia được phânloại là luồng tiền từ hoạt động đầu tư Như vậy, trên cơ sở chuẩn mực kếtoán và chế độ kế toán Việt Nam (Quyết định 15), câu trả lời phù hợp là
“Hoạt động đầu tư” Tuy nhiên, nếu đối chiếu với định nghĩa của VAS 24
về hoạt động đầu tư “Là các hoạt động mua sắm, xây dựng, thanh lý, nhượng bán các tài sản dài hạn và các khoản đầu tư khác không thuộc các khoản tương đương tiền”, thì dường như quy định về cổ tức được chia của
VAS 24 chưa phù hợp hoàn toàn với chính định nghĩa về hoạt động đầu tư
mà VAS 24 đưa ra Cổ tức được chia là kết quả của hoạt động đầu tư Như
Trang 14nước có hệ thống kế toán phát triển để có cái nhìn tổng quát hơn về vấn đềnày.
1.2 Vấn đề định giá tài sản trên BCTC:
Định giá tài sản trên BCTC là một tiến trình xác định giá trị tiền tệ củatài sản được ghi nhận và trình bày trên BCTC
Cơ sở định giá tài sản là phương pháp xác định giá trị tài sản được lựachọn ghi nhận trên các BCTC Cơ sở định giá tài sản được xác định căn cứvào giá trị đo lường tài sản và đơn vị đo lường là đơn vị tiền tệ không đổihay mức giá chung
Theo khuôn mẫu lý thuyết của Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế, cácgiá trị có thể sử dụng để đo lường tài sản là:
Giá gốc
Giá trị thuần có thể thực hiện được (Giá đầu ra hiện tại)
Giá hiện hành (Giá thay thế hay giá đầu vào hiện tại
Giá hiện tại chiết khấu (Hiện giá)
Qua đối chiếu các chuẩn mực kế toán VN và hệ thống chuẩn mực kếtoán quốc tế đang được áp dụng cho thấy các loại tài sản khác nhau được
áp dụng các cơ sở định giá khác biệt Bảng 1 cung cấp thông tin tổng quát
về sự khác biệt về cơ sở định giá áp dụng đối với các tài sản trình bày trênBCTC
Bảng 1: Cơ sở định giá các loại tài sản trên BCTC
Loại tài sản Chuẩn mực kế toán quốc tế
(IAS) Chuẩn mực kế toán VN (VAS)
Tiền Giá trị danh nghĩa Giá trị danh nghĩa
Chứng khoán đầu
tư
Giá thị trường (giá trị hợp lý)
Mức thấp hơn giữa giá gốc và giátrị thuần có thể thực hiện
Trang 15Giá gốc trừ (-) Khấu hao lũy
kế, hay đánh giá lại theo giá
thị trường
Giá gốc trừ (–) Khấu hao lũy kế
Tài sản thuê tài
chính
Mức thấp hơn giữa giá trịhợp lý và hiện giá của khoảntiền thuê tối thiểu
Mức thấp hơn giữa giá trị hợp lý
và hiện giá của khoản tiền thuê
ro tín dụng bằng phần chênh lệch giữa giá trị ghi sổ và giá trị hiện tại củadòng tiền ước tính thu hồi trong tương lai chiết khấu theo tỷ lệ lãi suất gốc,bao gồm giá trị có thể thu hồi của tài sản bảo đảm (nếu có)
- Giá trị trái phiếu Chính phủ đặc biệt của các ngân hàng thương mạiNhà nước ghi nhận theo VAS cao hơn ghi nhận theo IAS do VAS ghi nhậntheo mệnh giá bằng giá trị cấp vốn của Bộ tài chính, cộng thêm số lãi thu ởmức 3,3%/năm theo phương pháp đường thẳng, trong khi IAS ghi nhận
Trang 16nhau dẫn đến sự phản ánh hệ số an toàn tối thiểu theo VAS và IAS cũngkhác nhau.
- Các ngân hàng thương mại Nhà nước không trích lập dự phòng rủi rotín dụng đối với các khoản cho vay theo chỉ định, theo kế hoạch Nhà nước,trong khi chưa có văn bản nào khẳng định chính phủ sẽ chịu bù đắp hoàntoàn rủi ro cho các khoản vay này Việc này dẫn đến số dự phòng rủi ro tíndụng năm 2005 theo VAS thấp hơn nhièu so với IAS
- Những thông tin sẵn có của một số ngân hàng thương mại Việt Namkhông đáp ứng đầy đủ những yêu cầu về trình bày BCTC theo chuẩn mựcBCTC quốc tế nên không cung cấp được đầy đủ các thông tin cần thiết chongười sử dụng BCTC theo chuẩn mực quốc tế
1.3 Báo cáo vốn chủ sở hữu
Hiện nay Việt Nam vẫn chưa bắt buộc lập báo cáo vốn chủ sở hữutrong hệ thống BCTC đối với các doanh nghiệp một phần do chúng ta chủyếu vẫn dùng mô hình giá gốc trong khi báo cáo vốn chủ sở hữu cần ápdụng mô hình giá hợp lý Tuy nhiên, nội dung của báo cáo này đã được thểhiện trong thuyết minh BCTC đối với các công ty cổ phần có cổ phiếuđược niêm yết trên thị trường chứng khoán thì phải lập báo cáo thay đổivốn chủ sở hữu độc lập như một báo cáo trong hệ thống BCTC
Trang 172 Giải pháp hoàn thiện hệ thống chuẩn mực kế toán VN về BCTC
2.1 Vấn đề trình bày “Cổ tức được chia” trên BCLCTT
Theo quy định của chuẩn mực kế toán quốc tế và các nước như Mỹ,
Úc, cổ tức được chia phải được trình bày trên một dòng riêng biệt trên báocáo lưu chuyển tiền tệ Các chuẩn mực này quy định một cách linh hoạt Cổtức có thể được chia được phân loại là luồng tiền của hoạt động kinh doanh
do cổ tức có thể được coi là một khoản thu nhập (income) khi tính lợinhuận hoạt động Cổ tức được chia có thể được phân loại là luồng tiền củahoạt động đầu tư do cổ tức có thể là kết quả của hoạt động đầu tư Quyđịnh linh hoạt cho phép doanh nghiệp có thể trình bày một cách hợp lý hơnbáo cáo lưu chuyển tiền tệ của mình dựa trên những đánh giá và xét đoáncủa ban giám đốc trên cơ sở điều kiện, đặc điểm hoạt động cụ thể của chính
doanh nghiệp
2.2 Định giá tài sản theo nhu cầu thông tin
Trong nền kinh tế thị trường, các thông tin trình bày trên các BCTCchịu ảnh hưởng của 2 nhóm đối tượng chính là nội bộ doanh nghiệp (nhữngnhà quản lý của doanh nghiệp theo từng cấp độ), và những người sử dụngbên ngoài doanh nghiệp (chủ yếu là các nhà nhà đầu tư và những người chovay)
Phần lớn các BCTC hiện nay tại các quốc gia chủ yếu hướng đếnmục tiêu cung cấp thông tin cho người sử dụng bên ngoài doanh nghiệp.Các BCTC này thường gọi là các BCTC theo mục đích chung Đối với cácnhà đầu tư, họ cần biết các thông tin tài chính về khả năng sinh lợi và rủi rotiềm tàng liên quan đến vốn đầu tư Họ cần những thông tin để xác định
Trang 18các thông tin về khả năng thanh toán các khoản cổ tức của doanh nghiệp.Đối với những người cho vay, họ cần những thông tin tài chính về giá trịcủa tài sản thế chấp nợ vay, nguồn trả nợ vay và khả năng thanh toán củadoanh nghiệp khi các khoản nợ gốc và lãi vay đến hạn
Khi so sánh các giá trị sử dụng để đo lường tài sản, thì giá gốc và giáhiện hành đều thể hiện giá trị đầu vào của tài sản, riêng giá trị thuần có thểthực hiện thể hiện giá trị đầu ra của tài sản Xét dưới góc độ này, giá trịthuần có thể thực hiện của các tài sản là thông tin quan trọng về giá trị hiệntại của các nguồn lực sẵn có tại doanh nghiệp, thông tin này sẽ hổ trợ chocác nhà đầu tư, những người cho vay cũng như bản thân nhà quản lý trongviệc đánh giá khả năng tồn tại của doanh nghiệp Đối với những người chovay, giá trị thuần có thể thực hiện phản ánh giá trị thị trường của các tài sảnthế chấp bảo đảm nợ vay còn là thông tin thích hợp cho các quyết định vay
nợ
Nhìn từ góc độ lý thuyết kế toán, khi tất cả các tài sản được đo lườngvới cùng một cơ sở định giá, giá gốc hay giá thị trường, thì điều này sẽ đápứng nhu cầu thông tin dễ hiểu hơn cho các đối tượng sử dụng BCTC Bêncạnh đó, việc áp dụng các cơ sở định giá tài sản theo giá thị trường thay thếdần nguyên tắc giá gốc tại nhiều quốc gia trong những năm gần đây chothấy xu thế định giá tài sản trên BCTC đang hướng đến giá thị trường nhằmđáp ứng đầy đủ hơn yêu cầu thông tin của người sử dụng
Vì vậy, việc chọn lựa cơ sở định giá cho tất cả các tài sản là giá trị thuần
có thể thực hiện kết hợp với việc trình bày giá gốc trong thuyết minhBCTC sẽ nâng cao tính dễ hiểu của thông tin kế toán trên BCTC đối vớingười sử dụng, đồng thời thông tin kế toán cung cấp sẽ thích hợp và đầy đủhơn nhằm hổ trợ cho các quyết định kinh tế của các đối tượng sử dụng