1.1.Chỉ tiêu ROA Khi tính toán chỉ tiêu ROA, thì thông thường các nhà phân tích sử dụng mộttrong hai nguồn số liệu lấy từ báo cáo thu nhập của doanh nghiệp, đó là: Lợinhuận hoạt động trư
Trang 1Lời Mở Đầu
Như chúng ta đã biết mục đích cơ bản của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng là tạo
ra lợi nhuận và mục đích cuối cùng cũng là lợi nhuận Ngày nay, doanh nghiệphòan tòan có thể tiếp cận và khai thác các tính năng nổi trội trong “nền kinh tếinternet” để tối đa hóa lợi nhuận
Để tăng lợi nhuận, doanh nghiệp phải tăng doanh thu, đồng thời cắt giảm chi phíhọat động Doanh nghiệp có thể cắt giảm một lọat các chi phí như: chi phínghiên cứu và phát triển sản phẩm; chi phí quảng cáo; chi phí duy tu, bảo dưỡngthiết bị… Song, các chi phí này có vai trò hết sức quan trọng đối với sự pháttriển lâu dài của công ty, nếu doanh nghiệp áp dụng giải pháp này sẽ làm mất đicác khỏan lợi nhuận tiềm năng trong tương lai
Thông thường , có 4 sự chọn lựa để tăng lợi nhuận tương ứng với 4 thời kỳ pháttriển của lịch sử nhân lọai: thời kỳ sơ khai, thời kỳ phát triển của khoa học kỹthuật, thời kỳ bùng nổ của ngành viễn thông và thời kỳ ra đời của thương mạiđiện tử Trong thời kỳ sơ khai, một doanh nghiệp muốn tăng lợi nhuận phải tăngdoanh thu, điều đó đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải thường xuyên tănglượng khách hàng hay tăng giá bán trên từng đơn vị sản phẩm Để tăng lượngkhách hàng thì phải tăng lượng cung ứng, đồng bộ hóa các yếu tố khác: nhân sự,quy mô kinh doanh, trong khi vẫn không giải quyết được các rào cản về khônggian và thời gian Mặt khác, những biến động của giá cả sản phẩm sẽ ảnh hưởngtrực tiếp đến khả năng mất dần khách hàng do tác động trực tiếp đến lợi ích củangười mua, từ đó ảnh hưởng đến các mục tiêu kinh doanh ngắn hạn và dài hạncủa doanh nghiệp Không ít doanh nghiệp lại lựa chọn biện pháp giảm dần chấtlượng sản phẩm để tăng lợi nhuận Họ đã đánh đổi lợi ích trước mắt cho nhữngtổn hại lâu dài
Khi khoa học kỹ thuật phát triển mạnh, các doanh nghiệp đã có được một sự lựa
Trang 2chọn mới nhằm tối ưu hóa lợi nhuận Việc áp dụng các giải pháp công nghệ chophép cải tiến, đa dạng hóa sản phẩm hàng lọat, khép kín quy trình sản xuất, làmcho sản phẩm có chức năng mạnh hơn, lợi ích tốt hơn, tiết giảm đáng kể chi phísản xuất Tuy nhiên, hình thức này đòi hỏi mức đầu tư chi phí hạ tầng cao, cósẵn nguồn nhân lực để bảo quản, duy trì máy móc họat động thường xuyên, liêntục.
Đến thời kỳ bùng nổ của ngành viễn thông, lượng thông tin trao đổi tăng độtbiến Khi đó, doanh nghiệp có thể đa dạng hóa nguồn lựa chọn, sản phẩm bánchạy do truyền thông tốt Người ta bắt đầu quan tâm đến việc phát triển thươnghiệu, một tài sản “vô hình” của doanh nghiệp Tuy nhiên, cũng từ đó, chi phíquảng bá thương hiệu đã gia tăng nhanh chóng, có doanh nghiệp đã dùng đến70% tổng chi phí vào các chiến dịch Marketing và quảng bá Nhìn chung, cácgiải pháp này đều có ưu điểm và nhược điểm riêng
Thời kỳ ra đời của thương mại điện tử, có nghĩa là doanh nghiệp đã bước sanggiai đọan “nền kinh tế internet” Thương mại điện tử mà cốt lõi của nó là hoạtđộng trên nền tảng của internet đã đa dạng hóa phương thức hướng đến các mụctiêu lợi nhuân Internet đã tạo ra cái chợ vô hình với không gian quảng cáo và cơhội mua bán thuận tiện, nhanh hơn rất nhiều so với kiểu mua bán, giao thươngtruyền thống Việc tham gia vào các họat động thương mại điện tử cho phépdoanh nghiệp xây dựng hình ảnh công ty, tiếp cận lượng khách hàng vô tận, nhất
là các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa và xuất khẩu, mở rộng thị trường màkhông cần tăng quy mô kinh doanh Môt trong nhưng ưu việt của thương mạiđiện tử còn là tối ưu hóa chi phí quản lý, kinh doanh Kết nối đúng nhu cầungười mua và người bán, bỏ qua khâu trung gian sẽ giúp doanh nghiệp có giá cảcạnh tranh để duy trì và mở rộng khách hàng của mình
Như vậy lợi nhuận chính là đòn bẩy kinh tế có hiệu quả nhất ,kích thích mạnh
mẽ mọi hoạt động sản xuất kinh doanh
Trang 3phấn đấu có lợi nhuận và tối đa hoá lợi nhuận là mối quan tâm hàng đầu của cácđơn vị sản xuất kinh doanh ,nó có tính chất quyết định tới sự sống còn và pháttriển của mọi doanh nghiệp , do vậy nghiên cứu tìm hiểu nguồn gốc và các nhân
tố ảnh hưởng và các giải pháp làm gia tăng lợi nhuận đối với các doanh nghiệp
là vô cùng quan trọng và cần thiết Nhận thức tầm quan trọng của vấn đề này,trong quá trình thực tập được sự giúp đỡ của thầy Cao Xuân Hoà cùng các cán
bộ trong công ty Maxvitra , đặc biệt là các cán bộ phòng Tài Chính- Kế Toáncủa công ty em xin đưa ra và phân tích đề tài “phân tích lợi nhuận và vấn đềnâng cao lợi nhuận trong công ty Xây Dựng và Thương mại Việt Nhật(Maxvitra)”
nội dung của đề tài gồm 3 chương:
Trang 4CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ THUYẾT CĂN BẢN VỀ LỢI NHUẬN TRONGDOANH NGHIỆP
1 Chỉ tiêu đánh giá mức sinh lời của doanh nghiệp
Lâu nay khi đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp người ta hay sửdụng chỉ tiêu ROA(return on assets) và chỉ tiêu ROE( return on equity), khôngthể phủ nhận tính hữu ích của hai chỉ tiêu này bên cạnh đó thì hai chỉ tiêu nàycòn có những mặt hạn chế nhất định
1.1.Chỉ tiêu ROA
Khi tính toán chỉ tiêu ROA, thì thông thường các nhà phân tích sử dụng mộttrong hai nguồn số liệu lấy từ báo cáo thu nhập của doanh nghiệp, đó là: Lợinhuận hoạt động trước thuế và lãi vay (EBIT) hoặc Lợi nhuận sau thuế, cụ thể:
Tổng tài sản bìnhquân
Hoặc:
ROA = Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản bìnhquân
Trong hai cách tính này, ta thấy cách tính ROA theo EBIT thì sẽ phản ánh tốthơn nội hàm của thuật ngữ “sức sinh lợi trên tổng tài sản” (Return on Assets)bởi vì EBIT là toàn bộ kết quả mà doanh nghiệp sử dụng toàn bộ tài sản củamình để tạo ra, không phân biệt đối tượng được hưởng kết quả này là ai: chủdoanh nghiệp, ngân hàng cho vay hay Nhà nước (thông qua thuế)
Tuy nhiên, ở cả hai cách tính này vẫn hàm chứa một số rủi ro nếu được sử dụng
để so sánh với các doanh nghiệp khác nhau Như ta đã biết, tổng tài sản bìnhquân được tính toán dựa trên chỉ tiêu tổng tài sản trên bảng cân đối kế toán củadoanh nghiệp, số liệu này được cấu thành bởi khá nhiều bộ phận, trong đó cónhững bộ phận sẽ thay đổi một cách nhanh chóng trong vòng một vài ngày,
Trang 5nghĩa là vào ngày chốt sổ kế toán để tiến hành lập báo cáo tài chính (chẳng hạn
là 31/12/N) và ngay sau đó, tức là vào tháng 1/N+1, tổng tài sản của doanhnghiệp là khác nhau, ví dụ như: các khoản mục hàng tồn kho, phải thu, phải trả.Điều này sẽ ảnh hưởng lớn đến chỉ tiêu ROA dù tính theo bất kỳ cách nào nhưtrên
Tuy nhiên, chỉ tiêu này của các doanh nghiệp ở Việt Nam thời gian qua có sựbiến động lớn do hoạt động tăng vốn Khi tốc độ tăng vốn chủ sở hữu cao hơntốc độ tăng lợi nhuận sau thuế thì có nghĩa là ROE sẽ giảm sút so với trước khităng vốn Về mặt lý thuyết, doanh nghiệp chỉ nên tăng vốn khi hiệu suất sử dụngvốn hiện đang rất cao, thêm vào đó là đòn bẩy tài chính đã sử dụng hết “côngsuất” Nhưng thực tế ở Việt Nam thời gian vừa qua, có nhiều doanh nghiệp tiếnhành tăng vốn để giảm vốn vay ngân hàng, hay để tiến hành đầu tư tài chính
Trang 61.3.Chỉ tiêu ROC
Do ROA và ROE có những hạn chế nhất định khi áp dụng phân tích các doanhnghiệp Việt Nam hiện nay, nên tác giả muốn trình bày một chỉ tiêu khác để cóthể nhìn nhận một cách toàn diện hơn năng lực sử dụng vốn của doanh nghiệp
Chỉ tiêu ROC (Return on Capital) cũng được nhiều tài liệu đề cập đến, tuynhiên, ở đây xin trình bày một cách tính ROC, mà theo tác giả, là phù hợp vớicác doanh nghiệp Việt Nam hiện nay
Vốn kinh doanh bìnhquân
Như vậy để tính toán được một trong các chỉ tiêu ở trên thì ta cần phải tính đượclợi nhuận trước thuế hoặc sau thuế
2.định nghĩa:
Trang 7Lợi nhuận của doanh nghiệp là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí màdoanh nghiệp bỏ ra để đạt được doanh thu đó từ các hoạt động sản xuất kinhdoanh của mình.
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp được xác định saumột thời kỳ nhất định được thể hiện bằng khoản tiền thu về gọi chung là doanhthu
Khoản doanh thu có được này trước hết phải bù đắp được các chi phí sản xuấtkinh doanh mà doanh nghiệp bỏ ra để thực hiện các hoạt động sản xuất kinhdoanh của đơn vị mình Những chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
đó là :
- Các khoản chi cho nghĩa vụ đối với nhà nước của doanh nghiệp: thuế, Cáckhoản nộp cho ngân sách nhà nước
- Các khoản chi cho vật chất đã bị tiêu hao trong quá trình sản xuất
- Các khoản chi cho người lao động
Doanh thu có được sau khi đã bù đắp hết khoản chi phí nói trên thì phần doanhthu giá trị còn lại chính là phần lợi nhuận của doanh nghiệp Lợi nhuận gồm:-Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh: là chênh lệch giữa doanh thu củahoạt kinh doanh trừ đi chi phí kinh doanh
-Lợi nhuận của hoạt động khác: gồm lợi nhuận từ hoạt động tài chính, lợi nhuận
từ hoạt động bất thường
3 Ý nghĩa của lợi nhuận:
-Lợi nhuận là mục đích của sản xuất kinh doanh, là động cơ chủ yếu của các nhàđầu tư vì vậy lợi nhuận được coi là một tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá hiệu quảkinh doanh của doanh nghiệp
Trang 8Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanhkhông kể trong bất cứ lĩnh vực nào, hay thành phần kinh tế nào, khi tiến hànhhoạt động sản xuất kinh doanh đều có chung một mục đích là tìm kiếm lợinhuận Chỉ khi nào hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì doanh nghiệpmới thu được lợi nhuận Như vậy lợi nhuận phản ánh hiệu quả và mục đích hoạtđộng của mỗi doanh nghiệp Từ đó không có lợi nhuận hoặc lợi nhuận khôngcao cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả không đạtđược mục tiêu kinh doanh của mình.
-Trên phương diện tài chính thì lợi nhuận là một nguồn tài chính bù đắp chonhững thiệt hại , rủi ro trong kinh doanh Nó là nguồn tài chính bên trong vữngchắc để bổ sung vốn mở rộng quy mô của sản xuất thúc đẩy doanh nghiệp pháttriển, là nguồn tài chính để doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ nộp thuế với nhànước và nâng cao thu nhập cho người lao động, thoả mãn lợi ích của các nhà đầutư
4.Hạn chế
Lợi nhuận đóng vai trò hết sức quan trọng không chỉ đối với từng doanh nghiệp
cụ thể mà đối với toàn bộ nền kinh tế nói chung, song không thể coi lợi nhuận làchỉ tiêu duy nhất để đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp bởi vì:
-Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng , nó chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố
có những nhân tố thuộc về chủ quan, có những nhân tố khách quan và có sự bùtrừ lẫn nhau Do đó khi xem xét kết quả kinh doanh ta không chỉ đơn thuần sửdụng chỉ tiêu lợi nhuận
-Lợi nhuận doanh nghiệp qua mỗi kỳ là khác nhau do điều kiện sản xuất kinhdoanh , điều kiện vận chuyển, điều kiện thị trường tiêu thụ
Trang 9-Lợi nhuận ở mỗi doanh nghiệp cùng loại là khác nhau bởi mỗi doanh nghiệp cóquy mô sản xuất khác nhau ,thực tế có những doanh nghiệp lớn nếu công tácquản lý kém nhưng số lợi nhuận thu được vẫn có thể lớn hơn so với nhữngdoanh nghiệp có quy mô nhỏ nhưng có chất lượng quản lý tốt.
5.Một số biện pháp nhằm tăng lợi nhuận trong doanh nghiệp
ý nghĩa trong phạm vi toàn xã hội
Hạ thấp giá thành sản phẩm là tăng lợi nhuận mà không tăng chi phí , do đókhông chỉ tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiết kiệm được vốn để mở rộng đượcquy mô sản xuất góp phần tiết kiệm chi phí cho toàn xã hội Để hạ thấp giáthành sản phẩm góp phần gia tăng lợi nhuận cho các doanh nghiệp thì các doanhnghiệp nên làm những việc sau đây:
*Phấn đấu tăng năng suất lao động :
Tăng năng suất lao động là tổng hợp nhiều biện pháp để tăng năng lực sản xuấtcủa người lao động, sao cho số sản phẩm sản xuất ra trong cùng một đơn vị tănglên,hoặc giảm bớt thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sảnphẩm Muốn vậy thì doanh nghiệp nên:
-Đầu tư đổi mới máy móc thiết bị ,phục vụ sản xuất áp dụng thành tựu khoa học
kỹ thuật và công nghệ sản xuất tiên tiến tạo tiền đề làm thay đổi căn bản điềukiện sản xuất , cho phép sử dụng triệt để công suất máy móc thiết bị Đây là biệnpháp trực tiếp làm tăng năng suất lao động
Trang 10-Tăng cường công tác quản lý sử dụng có hiệu quả máy móc thiết bị để tăngnăng suất lao động Thực tế có những doanh nghiệp sản xuất chưa tận dụng triệt
để công suất thiết kế của máy móc ,thiết bị Tận dụng được hết công suất có thểlàm số tiền khấu hao tăng lên nhưng số sản phẩm được tạo ra cũng nhiều hơnnên số tiền khấu hao tính trên một đơn vị sản phẩm lại giảm đi ,do đó làm giảmgiá thành và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
-Tổ chức quản lý sử dụng lao động hợp lý, chú trọng nâng cao trình độ tay nghề
và ý thức trách nhiệm của người lao động
-Tiết kiệm nguyên vật liệu tiêu hao
Tiết kiệm được nguyên vật liệu tiêu hao trong quá trình sản xuất cũng góp phần
to lớn vào việc giảm chi phí, chi phí cho nguyên vật liệu thường chiếm tỷ trọnglớn trong giá thành của sản phẩm , giảm được tỷ lệ tiêu hao này sẽ góp phầnđáng kể vào việc tăng lợi nhuận cho công ty
5.2.Hiện nay các doanh nghiệp còn có một số các thủ thuật làm tăng lợi nhuận
đó là:
Thứ nhất, DN có thể tăng doanh thu và lợi nhuận thông qua việc thực hiện giaodịch vào cuối kỳ kế toán với khách hàng mà không yêu cầu khách hàng thanhtoán ngay (do được chiếm dụng vốn nên họ sẵn sàng chấp nhận)
Giao dịch này được thừa nhận như là bán hàng trả chậm, chứ không phải là bánhàng qua đại lý và nghiễm nhiên làm tăng doanh số và lợi nhuận của DN trong
kỳ Thủ thuật này thực tế là việc chuyển doanh thu và lợi nhuận của kỳ sau sang
kỳ báo cáo
Thứ hai, DN sử dụng chính sách giá buộc khách hàng tự nguyện tăng doanh sốtrong kỳ bằng việc thông báo sẽ tăng giá vào đầu năm tài chính năm sau Kháchhàng sẽ phản ứng lại bằng việc sẵn sàng "ôm" sản phẩm của DN để chờ tăng giá
Trang 11Tuy nhiên, việc này chỉ có thể áp dụng với các sản phẩm đang được ưa chuộng
và có tính khan hiếm hoặc hàng hoá thiết yếu
Thứ ba, ghi nhận trước doanh thu và lợi nhuận đối với các hoạt động có thờigian dài Thủ thuật này thường được áp dụng trong các DN xây dựng
Doanh thu sản phẩm cung cấp phải mất nhiều năm nên DN được phép ghi nhậnđịnh kỳ (như hợp đồng xây dựng), dựa trên ước tính chủ quan của bên nghiệmthu là DN tiến hành viết hoá đơn và ghi nhận doanh số cũng như lợi nhuận Thờigian thi công kéo dài suốt nhiều năm tài chính là cơ sở để thực hiện thủ thuậtnày DN có thể chuyển doanh thu và lợi nhuận từ năm sau về năm hiện tại vàngược lại
Thứ tư, lợi dụng các ước tính kế toán Bằng cách lợi dụng các ước tính kế toánnhư: các khoản dự phòng, chi phí trả trước, chi phí trích trước và khấu hao tàisản cố định, DN có thể tăng hoặc giảm chi phí theo ước muốn chủ quan để cóđược con số lợi nhuận mong muốn
Cắt giảm các chi phí hữu ích
Một thủ thuật khác cũng rất đáng lưu ý là việc cắt giảm các chi phí hữu ích nhưchi phí nghiên cứu và phát triển, quảng cáo, duy tu bảo dưỡng thiết bị… cũng làmột cách có thể làm tăng lợi nhuận Tuy nhiên, vì các chi phí này có vai tròquan trọng đối với sự phát triển của DN về lâu dài, nên sử dụng giải pháp nàyđồng nghĩa với các việc hy sinh các khoản lợi nhuận tiềm năng trong tương lai Trong một số tình huống, khi lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh chínhkhông đem lại kết quả như mong muốn, để tăng lợi nhuận, DN có thể bán cáckhoản đầu tư sinh lời Động thái này thường được ví như "gặt lúa non" Vì thế,
áp dụng biện pháp trên có nghĩa là DN tự bỏ qua tiềm năng sinh lợi lớn từ cáckhoản đầu tư này trong những năm tiếp theo
Trang 12CHƯƠNG 2: MÔ HÌNH PHÂN TÍCH LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TYMAXVITRA
2.1.Khái quát về tình hình tổ chức quản lý kinh doanh tại công ty Maxvitra2.1.1.Qúa trình hình thành và phát triển của công ty
Công ty xây dựng và thương mại Việt Nhật , tên giao dịch là Maxvitra co, tiềnthân là công ty liên doanh Xây Dựng và thương mại Việt Nhật , được thành lậptheo quyết định 243/CP ngày 24-9-1991 của uỷ ban nhà nước về hợp tác và đầu
tư <SCCI> Công ty thành lập trên cơ sở ký kết hợp đồng liên doanh giữa haidoanh nghiệp:
-Tổng công ty xây dựng và thương mại việt nhật ,
Tên giao dịch : Vietracimex
Địa chỉ: 201 Minh Khai ,quận Hai Bà Trưng ,thành phố Hà Nội
-Công ty:maxroud co ltd của Nhật Bản
Trụ sở :Ehara chokaoroku tokyo J65Nhật bản
Công ty liên doanh xây dựng và thương mại việt nhật là một doanh nghiệp tráchnhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân , có tài khoản có con dấu riêng hoạt độngđộng lập ,dựa theo nguyên tắc lãi-lỗ, chịu sự điều chỉnh của luật doanh nghiệp
và luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Công ty hoạt động trên cơ sở vốn góp chia đều cho hai bên Tổng số vốn gópban đầu theo giấy phép đầu tư là: 3000.000.USD
vốn cố định chiếm từ 500.000USD tới 1.000.000 USD
Vốn lưu động chiếm từ 1.000.000USD tới 2.000.000USD