1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN GDP CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

52 941 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích ảnh hưởng của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến GDP của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Chuyên đề
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 574,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vốn đầu tư được hình thành từ các nguồn tiết kiệm, tích lũy và nó là cơ sở cho vốn sản xuất, tạo ra vốn sản xuất

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Trong những năm qua, nước ta đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ

trong cuộc đổi mới kinh tế Nền kinh tế Việt Nam từng bước thoát khỏi nghèo

nàn, lạc hậu và bước đầu có tích luỹ Nước ta đã ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh

tế – xã hội nghiêm trọng và kéo dài hơn 15 năm Đến nay, thế và lực của đất

nước đã có sự biến đổi rõ rệt về chất Chúng ta đã tạo được những tiền đề cần

thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới: đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại

hoá đất nước Những thành tựu đó có sự dóng góp rất lớn của khu vực kinh tế có

vốn đầu tư nước ngoài

Đối quá trình phát triển nền kinh tế Việt Nam, từ một điểm xuất phát thấp,

đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò hết sức quan trọng, nó là nguồn bổ sung

vốn cho đầu tư, là một kênh để chuyển giao công nghệ, là một giải pháp tạo việc

làm và thu nhập cho người lao động, tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và

đẩy mạnh nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Mặt khác, ngày nay trong xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa thì đầu tư trực

tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng, là một công cụ ngoại giao đắc lực mà các

nước phát triển sử dụng, do đó ảnh hưởng của đầu tư trực tiếp nước ngoài tác

động lớn đến sự phát triển kinh tế bền vững Đánh giá ảnh hưởng, tác động của

FDI đến tăng trưởng kinh tế là một nhiệm vụ rất khó khăn vì trong khi mở cửa

nền kinh tế thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài còn có sự gia nhập hay những tác

động tiêu cực đến đời sống kinh tế xã hội của nước ta

Trong thời gian thực tập em đã nghiên cứu và chọn đề tài: “Phân tích ảnh

hưởng của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng (GDP) của Việt Nam

trong giai đoạn hiện nay

Do thời gian nghiên cứu chưa nhiều, kiến thức lý luận và kinh nghiệm

thực tiễn còn non yếu, cùng với các hạn chế về mặt số liệu nên chuyên đề của

em không tránh khỏi những khiếm khuyết Em mong được sự góp ý kiến chỉ bảo

của các thầy cô và các anh trong Viện nghiên cứu quản lý trung ương Em xin

chân thành cảm ơn

Trang 2

CHƯƠNG I: THỰC TRẠNG FDI Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN

1988- 2001

I Những vấn đề cơ bản về FDI

1 Khái niệm

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hình thức của đầu tư nước ngoài

Sự ra đời và phát triển của nó là kết quả tất yếu của quá trình quốc tế hoá và

phân công lao động quốc tế Trên thực tế có nhiều cách nhìn nhận khác nhau về

FDI Nhưng nhìn chung, FDI được xem xét như một hoạt động kinh doanh mà ở

đó có yếu tố di chuyển vốn quốc tế và kèm theo đó là sự chuyển giao công nghệ,

kỹ năng quản lý và các ảnh hưởng kinh tế xã hội khác đối với nước nhận đầu tư

Theo Luật đầu tư nước ở Việt Nam, Đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể

được hiểu như như là tổ chức, các cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vào Việt

Nam vốn bằng tiền hoặc bất cứ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp

nhận để hợp tác với bên Việt Nam hoặc tự mình tổ chức các hoạt động sản

xuất kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam Xét trong góc độ đầu tư trực tiếp

trong đầu tư quốc tế thì FDI là hình thức di chuyển vốn quốc tế, trong đó người

sở hữu đồng thời trức tiếp tham gia điều hành và quản lý sử dụng vốn đầu tư Về

thực chất FDI là sự đầu tư của các cá nhân, tổ chức nhằm xây dựng các cơ sở,

chi nhánh ở nước ngoài và làm chủ toàn bộ hay từng phần cơ sở đó tuỳ theo đối

trọng mà họ bỏ vốn

Tiền đề của việc xuất khẩu tư bản là "tư bản thừa" xuất hiện trong các

nước tiên tiến song thực chất vấn đề đó là một hiện tượng kinh tế mang tính tất

yếu khách quan, khi mà quá trình tích tụ và tập trung đã đạt đến một mức độ

nhất định thì sẽ xuất hiện nhu cầu đầu tư ra nước ngoài Đó chính là quá trình

phát triển của sức sản xuất xã hội đến độ dã vượt ra khỏi khuôn khổ chật hẹp của

một quốc gia, hình thành nên quy mô sản xuất trên phạm vi quốc tế Theo Luật

Đầu tư nước ngoài của Việt Nam, đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam bao

gồm 4 hình thức sau:

Trang 3

* Hợp đồng hợp tác kinh doanh: là văn bản được ký kết giữa hai hoặc

nhiều bên để cùng nhau tiến hành một hoặc nhiều hoạt động kinh doanh tại Việt

Nam trên cơ sở quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi

bên mà không thành lập một pháp nhân mới Hợp đồng hợp tác kinh doanh phải

được đại diện có thẩm quyền của các bên ký kết

* Doanh nghiệp liên doanh: là doanh nghiệp được thành lập tại Việt

Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh được ký kết giữa các bên (bên nước ngoài

và bên Việt Nam) Doanh nghiệp liên doanh có tư cách pháp nhân, các bên tham

gia liên doanh được chia lợi nhuận và chịu rủi ro theo tỷ lệ vốn góp của mỗi bên

vào phần vốn pháp định của liên doanh

* Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: là doanh nghiệp thuộc toàn

quyền sở hữu của các nhân, tổ chức nước ngoài do họ thành lập và quản lý Đây

là một pháp nhân mới của Việt Nam dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu

hạn

* Đấu tư theo hình thức xây dựng- kinh doanh- chuyển giao (BOT);

xây dựng- chuyển giao- kinh doanh (BTO) và xây dựng- chuyển giao (BT):

đây là các hình thức đầu tư đặc biệt thường áp dụng cho các công trình xây dựng

cơ sở hạ tầng

2 Tính chất của FDI

Nhằm hiểu rõ thêm về FDI, ta cần phải xem xét đến những đặc điểm của

FDI và những tác động của nó đối với nước nhận đầu tư và nước chủ chủ đầu tư

như thế nào?

2.1 Những đặc điểm của FDI

- Chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và chịu

trách nhiệm về lỗ lãi Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao,

không có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền

kinh tế

- Chủ đầu tư nước ngoài điều hành toàn bộ mọi hoạt động đầu tư nếu là

doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp liên

doanh theo tỷ lệ góp vốn của mình

Trang 4

- Thông qua hình thức này nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ,

kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý… là những mục tiêu mà các hình

thức đầu tư khác không giải quyết được

- Nguồn vốn này không chỉ bao gồm nguồn vốn đấu tư ban đầu của chủ

đầu tư dưới hình thức vốn pháp định, nó còn bao gồm cả vốn vay của doanh

nghiệp để triển khai hoặc mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư từ nguồn lợi

nhuận thu được

2.2 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với nước chủ đầu tư và

nước nhận đầu tư

2.2.1 Đối với nước chủ đầu tư

2.2.1.1 Những mực tiêu và lợi ích đạt được khi thực hiện FDI

- FDI giúp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, tăng cường bành trướng

sức mạnh kinh tế và vai trò ảnh hưởng trên thế giới Do xây dựng được các

doanh nghiệp nằm trong lòng các nước sở tại vì thế mà tránh được hàng rào bảo

hộ mậu dịch, đồng thời đây là biện pháp giúp cho việc thâm nhập thị trường

nước sở tại một cách trực tiếp và có hiệu quả nhất

- FDI giúp các công ty nước ngoài giảm chi phí sản xuất, rút ngắn thời

gian thu hồi vốn đầu tư và thu lợi nhuận cao Do khai thác được nguồn nhân

công với giá rẻ nên giúp cho họ giảm được chi phí và nâng cao năng suất lao

động Việc tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ở các nước sở tại cũng giúp

cho các chủ đầu tư giảm chi phí vận chuyển hàng hoá, tiết kiệm chi phí quảng

cáo, tiếp thị…tối đa hoá lợi nhuận của mình

- FDI giúp các chủ đầu tư tìm kiếm được nguồn cung cấp nguyên nhiên

liệu ổn định ở các nước đang phát triển nhưng chưa có điều kiện khai thác, chế

biến do thiếu vốn, công nghệ Do đó đầu tư vào lĩnh vực này sẽ thu được nguyên

liệu thô với giá rẻ và qua chế biến sẽ thu lợi nhuận cao

- FDI giúp các nước chủ đầu tư nước ngoài đổi mới cơ cấu sản xuất, áp

dụng công nghệ mới, nâng cao năng lực cạnh tranh, có khả năng trực tiếp kiểm

soát hoạt động của doanh nghiệp và đưa ra những quyết định có lợi nhất cho họ

Do vậy vốn đầu tư được sử dụng với hiệu quả cao

Trang 5

Mục đích cơ bản của các nhà đầu tư là giống nhau, nghĩa là nhằm tối đa

hoá lợi ích Song đối với từng nhà đầu tư cụ thể, trong các ngành khác nhau, đối

với từng nước khác nhau và trong bối cảnh khác nhau thì phương châm và hình

thức đầu tư của họ là khác nhau

2.2.1.2 Một số khó khăn thường gặp trong quá trình thực hiện FDI

Bên cạnh những to lớn đạt được khi thực thi FDI, các chủ đầu tư vẫn có

thể gặp một số khó khăn như: môi trường đầu tư thiếu lành mạnh, tình hình

chính trị không ổn định, cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật thấp kém, hệ thống luật

pháp chưa hoàn thiện, thủ tục rườm rà, năng lực quản lý của phía đối tác kém có

thể gây thiệt hại cho cả hai phía

Mặt khác, các khó khăn có thể gặp phải từ chính phía các nhà đầu tư nước

ngoài Xu hướng chung hiện nay trên thế giới là các nước càng phát triển cao thì

càng có xu hướng đầu tư ra nước ngoài nhiều hơn Điều đó cho thấy trong các

nước tham gia thực hiện FDI có nhiều nước còn bị hạn chế về trình độ phát triển

kinh tế cũng như về công nghệ Nhiều chủ đầu tư cũng bị ràng buộc bởi các yếu

tố như hạn chế về vốn (mức dư thừa tư bản), hạn chế do sự giống nhau về lợi thế

so sánh, luật pháp của nước chủ đầu tư, quan hệ giữa nước chủ đầu tư và nước

nhận đầu tư

2.2.2 Đối với nước nhận đầu tư

2.2.2.1 Những tác động tích cực

- Tạo nguồn vốn bổ sung quan trọng, giúp cho các nước sở tại sử dụng có

hiệu quả đồng vốn, mở rộng tích luỹ và góp phần vào việc nâng cao tốc độ phát

triển kinh tế

- FDI tạo điều kiện cho nước sở tại tiếp thu được kỹ thuật và công nghệ

tiên tiến, kinh nghiệm quản lý kinh doanh của các nhà đầu tư nước ngoài, nâng

cao trình độ tay nghề cho người lao động cũng như việc khai thác có hiệu quả về

nguồn tài nguyên thiên nhiên

- FDI góp phần cải tiến cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá và đưa

nền kinh tế tham gia phân công lao động quốc tế một cách mạnh mẽ

Trang 6

Ngoài ra, FDI còn có tác động tích cực đến nền kinh tế nược nhận đầu tư

ở nhiều mặt Ví dụ như chính phủ nước sở tại có thể sử dụng FDI như là một

công cụ để tạo ra sự kích thích kinh tế và liên kết kinh tế với các cơ sở kinh tế

trong nước Các công ty nước ngoài như đối trọng để cho các doanh nghiệp

trong nước tăng tính cạnh tranh của mình Các doanh nghiệp nội địa cũng mở

rộng được quy mô sản xuất nhờ cung cấp nguyên liệu và dịch vụ cho các công ty

nước ngoài

2.2.2.2 Những mặt trái của FDI

- Chi phí của việc thu hút đầu tư: Các nước nhận đầu tư phải áp dụng một

số ưu đãi cho nhà đầu tư như giảm thuế, miễn thuế trong thời gian khá dài cho

phần lớn các dự án, cho thuê đất đai và một số các dịch vụ khác rất thấp so với

các nhà đầu tư trong nước Hay trong một số lĩnh vực có thể được nhà nước bảo

hộ thuế quan Mặc dù FDI bổ sung vốn đầu tư cho nước nhận đầu tư nhưng về

lâu dài lại giảm tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư nội địa Điều này làm phá sản hàng loạt

các doanh nghiệp địa phương và sự phụ thuộc ngày càng chặt chẽ của các chủ

đầu tư trong nước vào các công ty nước ngoài

- Thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế: trong thời gian lâu dài FDI lại làm

tăng sự thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế của các nước đang phát triển Vì

lượng ngoại tệ chuyển về nước dưới dạng lợi nhuận, lãi xuất, giá công nghệ

nhập khẩu và chi phí quản lý lớn hơn số tiền mà họ chuyển vào trong thời gian

đầu tư dưới hình thức vốn đầu tư Thêm vào đó, trong những trường hợp lượng

ngoại tệ mà các chủ đầu tư chuyển vào lại chiếm tỷ lệ nhỏ so với lượng vốn họ

huy động đầu tư nội địa Do vậy, nguồn ngoại tệ làm cải thiện cán cân thanh

toán quốc tế của nước chủ nhà là rất hạn chế

- Các nhà đầu tư thường tính giá cao hơn mặt hàng quốc tế cho các nhân

tố đầu vào: Điều này làm cho chi phí sản xuất cao dẫn đến giá thành sản xuất

cao Đồng thời còn giúp chủ đầu tư chốn thuế, che giấu lợi nhuận thực Việc tính

giá cao thường xảy ra khi nước chủ nhà thiếu thông tin, trình độ kiểm soát, quản

lý chuyên môn yếu hoặc chính sách của Nhà nước còn nhiều khe hở

Trang 7

- Công nghệ và sản phẩm không phù hợp với các nước đang phát triển:

Việc chuyển giao công nghệ lạc hậu đã gây nhiều thiệt hại cho nước nhận đầu tư

như khó tính giá trị thực của máy móc thiết bị, chất lượng sản phẩm thấp, chi phí

sản xuất cao và các loại sản phẩm không phù hợp, thậm chí là loại hàng hoá có

hại cho sức khoẻ con người và gây ô nhiễm môi trường

- Những mặt trái khác: FDI làm tăng sự phat triển không đồng đều giữa

thành thị và nông thôn, mất cân đối giữa các vùng, đồng thời tăng sự bất bình

đẳng giữa người giàu và người nghèo Về phương diện chính trị, FDI là mối lo

ngại cho chính phủ các nước đanh phát triển vì các công ty đa quốc gia có tiềm

lực kinh tế lớn can thiệp vào đường lối phát triển gây nhiều tác động tiêu cực đối

với nước sở tại

3 Vai trò của FDI đối với tăng trưởng kinh tế

Tầm quan trọng lớn nhất của FDI không phải là bổ sung vốn đầu tư nội

địa mà là chuyển giao công nghệ, kiến thức kinh doanh, đào tạo tay nghề cho

công nhân và cơ hội tiếp cận vào thị trường thế giới của các nước đang phát

triển

Tuy nhiên, mức độ tác động của các yếu tố tích cực này ở các nước rất

khác nhau, nó phụ thuộc vào chiến lược thu hút đầu tư của nước chủ nhà Một

khía cạnh khác, ở nhiều nước xét về lâu dài FDI không tạo ra sự phát triển bền

vững cho nước chủ nhà Những hậu quả của nó như đã phân tích ở trên còn lớn

hơn lợi ích mà các nước đang phát triển thu được nếu xét theo tiêu chuẩn của

kinh tế phát triển Vì vậy, khi đánh giá vai trò của FDI thì cần phải phân tích ảnh

hưởng của nó trên phạm vi kinh tế xã hội Hơn nữa, không có đánh giá chung về

vai trò của FDI mà cần phân tích ảnh hưởng của nó trong điều kiện kinh tế từng

nước Từ đó mới tìm ra được điều kiện cần và đủ để sử dụng có hiệu quả FDI

trong chiến lược phát triển tổng thể của nước chủ nhà Để đánh giá một cách đầy

đủ về ảnh hưởng của FDI có thể căn cứ vào các yếu tố cơ bản sau:

- Lưu chuyển ngoại tệ: mức độ góp vốn, cải thiện cán cân thanh toán quốc

tế, chuyển lợi nhuận về nước, thực hiện chuyển giao, thuế lợi nhuận

Trang 8

- Cạnh tranh: mức độ làm phá sản các doanh nghiệp địa phương, thay thế

vị trí các cơ sở then chốt nội địa

- Chuyển giao công nghệ: chi phí tiền trả giấy phép sử dụng công nghệ

nhập, lãi cổ phiếu chuyển ra nước ngoài của FDI ở nước chủ nhà, mức độ độc

quyền công nghệ và công nghệ phù hợp

- Sản phẩm tiêu thụ sản phẩm trong- ngoài nước và giữa các tầng lớp dân

cư trong xã hội, sản phẩm phù hợp

- Đào tạo cán bộ và công nhân: số lượng, trình độ cán bộ và công nhân

được đào tạo, số lao động được tuyển dụng

- Mối quan hệ giữa các doanh nghiệp và cơ sở địa phương: mức độ thiết

lập các mối quan hệ với các cơ sở trong nước, liên kết kinh tế, chuyển đổi cơ

cấu

- Các vấn đề xã hội: bất bình đẳng trong thu nhập, lối sống, tăng chênh

lệch giàu nghèo trong xã hội

II Đánh giá tổng quan về FDI tại Việt Nam trong thời gian qua

1 Khái quát tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian qua

Đến cuối năm 2000 đã có 3.265 dự án FDI được cấp giấy phép đầu tư với

số vốn đăng ký khoảng 38.6 tỷ USD; có trên 500 dự án tăng vốn khoảng 6 tỷ

USD, tính chung tổng vốn đạt khoảng 44.6 tỷUSD Trong đó thời kỳ 1996- 2000

có 1.648 dự án được cấp giấy phép với số vốn đăng ký đạt 20,8 tỷ USD, có trên

300 dự án tăng vốn 3.85 tỷ USD, gấp 1.8 lần tăng vốn so với 5 năm trước Trừ

các dự án hết hạn, giải thể, hiện còn 2.628 dự án có hiệu lực với số vốn đăng ký

khoảng 36.3 tỷ USD

Nhịp tăng FDI vào Việt Nam từ 1997 đến 1999 liên tục giảm sút Năm

2000 có dấu hiệu phục hồi nhưng còn chưa vững chắc

Vốn đầu tư thực hiện từ năm 1988 đến nay đạt khoảng 20 tỷ USD , trong

đó vốn bên ngoài đưa vào khoảng 17.7 tỷ USD, chiếm gần 90%, riêng 5 năm

1996-2000 đạt 12.8 tỷ USD, tăng 80% so với 5 năm trước và gần đạt dự kiến kế

hoạch (13 tỷ USD) Đặc biệt nhờ những hỗ trợ kịp thời của Chính phủ, phần lớn

doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đã vượt qua khủng hoảng, tạo tổng doanh thu

Trang 9

gần 26 tỷ USD ( không kể đầu khí); xuất khẩu 11.8 tỷ USD, nộp ngân sách gần

1.8 tỷ USD Trong 5 năm qua với tốc độ tăng doanh thu, xuất khẩu bình quân

tăng trên 20% năm đã góp phần tạo thêm nhiều việc làm mới

- Tuy vậy số dự án đang xây dựng cơ bản, đang làm thủ tục hành chính

hợp chưa triển khai còn đến trên 1300 dự án, vốn đăng ký lên đến 17.6 tỷ USD;

đòi hỏi phải tiếp tục được sự hỗ trợ tích cực hơn thì mới có thể sớm đi vào hoạt

động Ngoài ra cần quan tâm đến xu hướng gia tăng vốn vay trong vốn thực hiện

vì tuy Nhà nước ta không có trách nhiệm trả nợ, và đó vẫn là khoản nợ quốc gia

và bên Việt Nam trong liên doanh chủ yếu là doanh nghiệp Nhà nước phải gánh

chịu một phần

2 Sự phân bổ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

2.1 Đầu tư nước ngoài theo ngành, lĩnh vực:

Tính đến ngày 31/10/2001, khu vực Công nghiệp có 1913 dự án đầu tư

trực tiếp nước ngoài còn hiệu lực, với tổng vốn đầu tư 20.379 triệu USD, chiếm

54.43% tổng vốn FDI của cả nước, tiếp theo là ngành dịch vụ với 669 dự án và

lượng vốn đầu tư 14.903 triệu USD chiếm 39.8%; khu vực nông lâm nghiệp có

348 dự án với số vốn đầu tư 2.154 triệu USD chiếm 5.75% tổng vốn đầu tư trực

tiếp nước ngoài của cả nước Vốn đầu tư vào ngành Công nghiệp chủ yếu tập

trung vào ngành Công nghiệp nặng, sau đó đến công nghiệp nhẹ, xây dựng,

công nghiệp dầu khí, công nghiệp thực phẩm Ngành dịch vụ các dự án tập

trung vào xây dựng văn phòng, căn hộ, khu đô thị mới, khách sạn du lịch, giao

thông vận tải và bưu điện

Theo bảng 1 ta thấy khu vực nông lâm nghiệp có số vốn và số dự án là

thấp nhất (có 348 dự án với số vốn đầu tư 2.154 triệu USD chiếm 5.75% tổng

vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của cả nước) điều này phản ánh dúng một phần

thực tế là khi đầu tư vào lĩnh vực này thì rủi ro lớn và thời gian thu hồi vốn lâu,

lợi nhuận bình quân khu vực này nhỏ Mặt khác nước ta là nước có đến gần 78%

dân số sống nghề nông, do vậy nhà nước cần có các chính sách khuyến khích

đầu tư vào khu vực này, các dự án trong khu vực nông lâm nghiệp thường cần

Trang 10

nhiều lao động phổ thông nên các dự án của khu vực này có hiệu quả xã hội lớn

hơn

Theo bảng 1 ta thấy tính đến ngày 31/10/2001, khu vực Công nghiệp có

1913 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài còn hiệu lực, với tổng vốn đầu tư 20.379

triệu USD, chiếm 54.43% tổng vốn FDI của cả nước Từ kết quả này ta thấy chủ

trương huy động vốn của Nhà nước vào khu vực đầu tầu của nền kinh tế đã có

kết quả tích cực, đây là cơ sở vững chắc của sự phát triển bền vững của nền kinh

tế Tuy nhiên các ngành công nghiệp cơ khí, công nghiệp nhẹ hầu như mới chỉ

dừng lại ở mức độ lắp ráp, các sản phẩm công nghiệp xuất khẩu đa số là ở dạng

sơ chế, khai thác Có rất ít các sản phẩm hoàn thiện mang hàm lượng kỹ thật cao

do vậy Nhà nước dùng các chính sách vĩ mô, khuyến khích đầu tư vào khu vực

công nghệ cao, từng bước nâng cao tỷ lệ gia công sản phẩm, tăng khả năng cạnh

tranh của hàng hóa Dưới đây là bảng đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành,

lĩnh vực trong thời gian 1988 – 2001

Bảng 1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành, lĩnh vực ( Tính đến ngày 31/10/2001- chỉ tính các dự án còn hiệu lực)

Trang 11

II Nông, lâm nghiệp 384 2,154,865,563 1,015,411,734 1,125,112,068

(Nguồn: Vụ quản lý dự án- Bộ kế hoạch và Đầu tư)

Thực trạng cơ cấu vốn đầu tư vào các ngành, lĩnh vực kinh tế đang đặt ra

những vấn đề cần suy nghĩ Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực nông, lâm

ngư ngiệp vốn đã ít lại đang có xu hướng chững lại và giảm dần vì đây là lĩnh

vực chịu nhiều rủi ro, thời gian thu hồi vốn dài, trình độ quản lý còn nhiều hạn

chế Đến cuối năm 1999 trong lĩnh vực này đã có tới 74 dự án đầu tư nước ngoài

bị giải thể trước thời hạn với số vốn lên tới 287 triệu USD Trong đó có 35 dự án

thuộc lĩnh vực trồng trọt và chế biến nông sản, 39 dự án chế biến gỗ và lâm sản

Vốn đầu tư nước ngoài vào các ngành như trên đã biểu hiện sự phù hợp

giữa các chỉ số kinh tế hiện đại, công nghiệp hoá: Công nghiệp- Dịch vụ- Nông

nghiệp Tuy vậy, trong điều kiện ở giai đoạn đầu tiến hành công nghiệp hoá-

hiện đại hoá và với đặc trưng của nền kinh tế trong đó nông nghiệp nhiệt đới

đang là một trong những thế mạnh của Việt Nam thì tình hình thu hút đầu tư

nước ngoài vào lĩnh vực này hiện nay còn khoảng cách khá xa so với yêu cầu,

mục tiêu mà chúng ta đã đặt ra Sở dĩ như vậy là vì đối với Việt Nam, nông

nghiệp là một trong những tiềm năng mà chúng ta chưa có điều kiện khai thác

Trang 12

đúng mức Và từ đặc điểm phân bố dân cư, lao động, việc làm như hiện nay thì

sự thành công trong phát triển nông thôn, nông nghiệp là một trong những chỉ

tiêu cơ bản để đánh giá sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại

hoá cũng như là việc tạo được việc làm và thu nhập cho số đông lao động và sự

chuyển biến đáng kể đến sản xuất, đời sống của đa số dân số Việt Nam

2.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hình thức đầu tư

Trong thời kỳ đầu của giai đoạn 1988-2001, liên doanh là hình thức phổ

biến nhất tại Việt Nam, chiếm tới 60% số dự án và 70% tổng vốn đăng ký Hiện

nay trong số các dự án có hiệu lực thì hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài

chiếm tỷ lệ lớn về số dự án 60.18%, tuy nhiên tổng vốn đầu tư chỉ chiếm

31.88% tổng vốn FDI Đối với hình thức liên doanh thì các con số này là

34.96% và 54%

Sở dĩ hình thức liên doanh lại giảm sút so với thời kỳ đầu là bởi vì sau

một thời gian hoạt động đầu tư ở Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài có điều

kiện hiểu biết hơn về Pháp luật, Chính sách, phong tục tập quán và cách thức

hoạt động kinh doanh ở Việt Nam Vì vậy, nhu cầu có đối tác Việt Nam giảm đi

đáng kể khi mà tham gia liên doanh, phía Việt Nam thường yếu cả vốn đóng góp

lẫn cán bộ quản lý Do đó số dự án FDI dưới hình thức 100% vốn nước ngoài

ngày càng có xu hướng tăng lên cả tuyệt đối lẫn tương đối và thường tập trung

chủ yếu ở các Khu Công nghiệp- Khu Chế xuất vì đảm bảo được các điều kiện

về cơ sở hạ tầng kỹ thuật và tránh được nhiều thủ tục hành chính phức tạp

Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh đến nay chỉ chiếm 4.65% số dự

án và 10.82% tổng vốn đầu tư chủ yếu nằm trong lĩnh vực thăm dò và khai thác

dầu khí, dịch vụ viễn thông Hợp đồng BOT là hình thức chúng ta đưa vào áp

dụng từ năm 1993 với mong muốn nhằm đáp ứng nhu câù vốn đầu tư phát triển

cơ sở hạ tầng Mặc dù Nhà nước đã có nhiều ưu đãi như không thu tiền thuê đất,

hưởng các mức thuế thấp nhất, được chuyển đổi ngoại tệ nhưng số dự án thuộc

hình thức này còn rất ít Đến nay mới chỉ có 6 dự án BOT với số vốn đầu tư

1.127 triệu USD Điều này cho thấy các bên chưa thực sự gặp nhau trong thương

lượng, không thống nhất được giá cả đầu vào, đầu ra đối với các đối tác cung

Trang 13

ứng nguyên, nhiên vật liệu và mua sản phẩm đều muốn duy trì giá độc quyền

Trong thời gian tới nhu cầu thu hút vốn tư nhân phát triển cơ sở hạ tầng là rất

lớn Do đó để triển khai các dự án BOT cần phải hoàn thiện luật pháp, có chủ

trương rõ ràng, nhất quán

Cơ cấu đầu tư theo hình thức đầu tư xem trong bảng 2 giai đoạn 1988 – 2001

Bảng 2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hình thức đầu tư 1988 – 2001

(Tính tới ngày 31/10/2001 – chỉ tính các dự án còn hiệu lực)

(Nguồn: Vụ quản lý dự án- Bộ kế hoạch và Đầu tư)

2.3 Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo khu vực, địa phương

Hoạt động đầu tư tập trung ở các tỉnh phía Bắc và phía Nam, các tỉnh

miền Trung chiếm chỉ lệ rất nhỏ Riêng vùng Đông Nam Bộ đã chiếm tới

53.13% tổng lượng vốn FDI của cả nước, trong khi vùng Tây Bắc và Tây

Nguyên mới chiếm chưa đầy 1% Sự phân bổ FDI cũng chênh lệch rất nhiều

giữa khu vực thành thị và nông thôn Trên 80% tổng vốn đầu tư ở khu vực thành

thị, chỉ còn chưa đầy 20% cho khu vực nông thôn, trong khi dân số Việt Nam

chủ yếu sinh sống ở nông thôn, làm cho khoảng cách thu nhập giữa hai khu vực

ngày càng lớn Vốn đầu tư vào các vùng lãnh thổ giai đoạn (1988- 2000) được

xếp thứ tự như sau (xem bảng 3)

Bảng 3: FDI theo vùng lãnh thổ Đơn vị: %

1 Đông Nam Bộ 53.13 5 Đồng bằng sông Cửu Long 2.46

2 Đồng bằng sông Hồng 29.6 6 Bắc Trung Bộ 2.38

Trang 14

3 Duyên hải Nam Trung

Bộ

7.64 7 Tây Nguyên 0.16

4 Đông Bắc 4.46 8 Tây Bắc 0.15

(Nguồn: Vụ quản lý dự án- Bộ kế hoạch và Đầu tư)

Cũng trong thời kỳ này, nếu như hai thành phố lớn là Hà Nội và TP Hồ

Chí Minh đã chiếm tới gần nửa (48.04%) tổng vốn FDI của cả nước thì 15 địa

phương có điều kiện thuận lợi cũng chiếm tới 87.8% Trong đó TP Hồ Chí Minh

chiếm 27.24% tổng vốn đầu tư của cả nước, Hà Nội: 20.8%; Đồng Nai: 12.64%;

Bình Dương: 6.67% Đến nay, phần lớn các tỉnh, thành phố đều đã có hoạt động

hợp tác đầu tư với nước ngoài Tuy nhiên trừ hoạt động khai thác thăm dò dầu

khí ở thềm lục địa, vốn đầu tư tập trung nhiều vào ba vùng kinh tế trọng điểm

Dưới đây là số liệu về các địa phương có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo

Trang 16

(Nguồn: Vụ quản lý dự án- Bộ kế hoạch và Đầu tư)

Các số liệu trên cũng phần nào nói lên rằng vấn đề thu hút vốn đầu tư nước

ngoài theo vùng lãnh thổ để kết hợp hoạt động này với việc thai thác tiềm năng

trong nước đạt kết quả chưa cao Như vậy, đây cũng là một trong những vẫn đề

rất cần được chú ý để điều chỉnh hoạt động FDI đối với lĩnh vực này trong thời

gian tới

2.4 Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo đối tác đầu tư

Sau hơn mười năm thực hiện Luật Đầu tư nước ngoài, nhiều dự án được

cấp giấp phép đã hoàn thành giai đoạn xây dựng, đi vào hoạt động, có sản phẩm

tiêu thụ tại Việt Nam và xuất khẩu đến nhiều nước trên thế giới, đóng góp đáng

kể vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội của nước ta Trong số các nhà

đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì đặc biệt phải kể đến vai trò của các nhà dầu

tư châu Á chiếm tới 73.69% số dự án và 62.30% tổng vốn đầu tư và đứng đầu là

Singapore với 237 dự án và 6861 triệu USD, tiếp theo là Đài Loan với 737 dự án

chiếm 13% tổng vốn đầu tư và Nhật Bản với 320 dự án và 10.8% Đứng sau các

nhà đầu tư Châu Á là các nhà đầu tư Châu Âu truyền thống của Việt Nam như:

Nga, Pháp, Anh Căn cứ vào nguồn số liệu của Vụ quản lý dự án – Bộ Kế

hoạch và đầu tư thì số các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam với số dự án và

Trang 17

tổng vốn đầu tư ngày càng lớn chứng tỏ môi trường đầu tư đã có những chuyển

biến tích cực và được đánh giá là điểm đầu tư an toàn, có hiệu quả nhất trong

khu vực và trên thế giới

Bảng 5: Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo các nước giai đoạn1988 – 2001

(tính tới ngày 31/10/2001- chỉ tính các dự án còn hiệu lực)

9 Liên bang Nga 37 1,486,422,942 918,419,094 292,621,177

10 Vương quốc Anh 32 1,135,701,068 373,233,355 850,984,975

Trang 19

60 Achentina 1 120,000 120,000 120,000

( Nguồn: Vụ Quản lý dự án- Bộ

KHĐT)

3 Tình hình thực hiện các dự án FDI tại Việt Nam

Tính đến ngày 31/12/2000 số vốn đã thực hiện của các dự án đầu tư trực

tiếp nước ngoài bằng 44.82% của tổng số vốn đăng ký (bao gồm cả vốn bổ

sung) trong đó 83.34% vốn thực hiện là của đối tác nước ngoài, 11.66% là vốn

của doanh nghiệp Việt Nam Tỷ lệ vốn thực hiện trên tổng vốn đăng kýcủa các

dự án 100% vốn nước ngoàivà dự án hợp đồng hợp tác kinh doanh cao hơn

nhiều so với hình thức liên doanh Dưới đây là tình hình thực hiện dự án qua các

thời kỳ

Bảng 6: thực hiện dự án qua các năm (1991-2001)

Đơn vị: triệu USD

Năm Vốn thực hiện Của nước ngoài Của Việt Nam

Trang 20

Trong điều kiện của một nền kinh tế kém phát triển, kết cấu hạ tầng lạc

hậu, các nguồn lực cũng như chính sách đối với đầu tư nước ngoài còn nhiều

biến động, thị trường phát triển chưa đầy đủ thì tỷ lệ FDI thực hiện được ở

mức như vậy là không phải thấp Vốn đầu tư thực hiện 1991-1992 còn rất nhỏ

do các dự án mới được cấp giấy phép đầu tư nhưng từ năm 1993 vốn thực hiện

đã tăng nhanh chóng đạt 1.1 tỷ USD vào năm 1993 và 2.7 tỷ vào năm 1995

Trong 5 năm 1996-2000 vốn FDI thực hiện đạt 12.8 tỷ USD ( trong đó thuần tuý

vốn nước ngoài 11.6 tỷ USD) mà đỉnh cao là năm 1997 vốn thực hiện đạt 3.13

tỷ USD ( vốn nhận thuần tuý nước ngoài 2.28 tỷ USD) Có thể nói rằng năm

95-96-97 là đỉnh cao thu hút FDI Do đó mục tiêu thu hút 13 tỷ USD vốn FDI thực

hiện là được đặt trong bối cảnh lạc quan này Mục tiêu này không đạt được là do

nhiều nguyên nhân, trong đó có tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế

khu vực cũng như tính hấp dẫn của thị trường mới mở ra cũng chỉ tồn tại từ 6-7

năm vì sau đó nhiều lĩnh vực đầu tư bị bão hoà Ngoài ra, cũng do tốc độ phát

triển của nền kinh tế đã bị chững lại và bị suy giảm; do môi trường đầu tư còn

hạn chế, do phần lớn các dự án FDI ở Việt nam làm ăn không hiệu quả nên kém

hấp dẫn đối với nhà đầu tư mới Tuy vậy, việc đạt được mức vốn thực hiện 5

năm 1996-2000 trên 12.8 tỷ USD trong đó thuần tuý vốn nước ngoài 11.6 tỷ

USD bình quân trên 2 tỷ USD/ năm là một cố gắng lớn Nguồn vốn này bình

quân chiếm 8-10% DGP của cả nước là tỷ lệ rất cao so với các nước đang phát

triển khác có thu hút vốn FDI ở khu vực So với tổng vốn đầu tư toàn xã hội, tỷ

lệ vốn FDI thực hiện chia bình quân khoảng 26% trong thời kỳ 1996-2000

Trang 21

CHƯƠNG II PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA FDI ĐẾN TĂNG TRƯỞNG

(GDP) CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

I Những tác động tích cực

Đầu tư nước ngoài hơn 12 năm qua đã đáp ứng cơ bản những mục tiêu đề

ra, tạo dựng cơ sở ban đầu quan trọng trong thành công của công cuộc đổi mới

kinh tế của Việt Nam Có thể nói đầu tư nước ngoài là một trong các nguồn

năng lượng quan trọng khởi động cho cỗ máy kinh tế của Việt Nam đi vào quỹ

đạo của sự tăng trưởng Nó góp phần đẩy mạnh cuộc cách mạng khoa học kỹ

thuật trong sản xuất, đóng góp quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế

theo hướng CNH-HĐH Mỗi chính sách kinh tế, mỗi biến động tài chính- tiền tệ,

mỗi chiến lược phát triển và mỗi thành tựu của đất nước đều có vai trò của đầu

tư trực tiếp nước ngoài Ngày nay, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã trở thành một

bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế quốc dân với những mặt tác động tích

cực chủ yếu như sau:

1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã bổ sung nguồn vốn đầu tư sản xuất

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là nguồn vốn quan trọng và là một điều

kiện tiên quyết để Việt Nam thực hiện và đẩy nhanh sự nghiệp CNH-HĐH đất

nước Nó góp phần quan trọng bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển, khắc phục

tình trạng thiếu vốn của nền kinh tế quốc dân trong thời kỳ đổi mới

Từ khi thực hiện chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài đến nay, vốn đầu

tư thực hiện tại Việt Nam bình quân 1.111,75 triệu USD Vốn đầu tư trực tiếp

nước ngoài thời kỳ 1996-2000 đạt trên 12.8 tỷ USD chiếm 24% tổng vốn đầu tư

xã hội và gấp 1.8 lần thời kỳ 1991-1995 Điều quan trọng là thông qua đầu tư

nước ngoài, nhiều nguồn lực trong nước (lao động, đất đai, tài nguyên ) được

khai thác và sử dụng tương đối có hiệu quả, đồng thời Nhà nước cũng chủ động

hơn trong bố trí đầu tư vào kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội vào những vùng khó

khăn

Khu vực đầu tư nước ngoài có tỷ lệ đóng góp trong GDP tăng dần, trong

năm 2000 đạt 13.3%, nộp ngân sách 5 năm qua đạt 1.45 tỷ USD (không kể dầu

Trang 22

khí), gấp 4.5 lần so với 5 năm trước tuy nhiều doanh nghiệp còn đang được miễn

giảm thuế trong những năm đầu

Đầu tư nước ngoài cũng có tác động tích cực đến các cân đối lớn của nền

kinh tế như cân đối ngân sách, cải thiện cán cân vãng lai, cán cân thanh toán

thông qua chuyển vốn vào Việt Nam (những năm đầu dòng vào là chính, dòng

ra chưa nhiều) và mở rộng nguồn thu ngoại tệ gián tiếp (qua khách quốc tế, tiền

thuê đất, lương lao động, tiền mua nguyên vật liệu và các dịch vụ thu ngoại tệ tại

chỗ khác)

2 Việc tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài hướng về xuất khẩu đã tạo

thuận lợi cho việc tiếp cận và mở rộng thị trường quốc tế, nâng cao năng

lực xuất khẩu của Việt Nam

Đầu tư trực tiếp nước ngoài thúc đẩy quá trình mở cửa và hội nhập của

nền kinh tế Việt Nam với thế giới Đây là một trong những phương thức đưa

hàng hoá sản xuất tại Việt Nam thâm nhập thị trường một cách có lợi nhất Các

nhà đầu tư nước ngoài thông qua thực hiện dự án đầu tư đã trở thành “cầu nối”

để Việt Nam nhanh chóng tiếp cận và tiến hành hợp tác được với nhiều quốc

gia, nhiều tổ chức quốc tế cũng như những trung tâm kinh tế, kỹ thuật, công

nghệ mạnh của thế giới

Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giúp Việt Nam mở rộng hơn thị phần ở

nước ngoài Đối với những hàng hoá xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI vô

hình chung đã biến các bạn hàng truyền thống của các nhà đầu tư nước ngoài tại

Việt Nam thành bạn hàng của Việt Nam Trong những năm qua, kim ngạch xuất

khẩu của nước ta liên tục có tốc độ tăng trưởng khá cao Năm 2000 kim ngạch

xuất khẩu tăng 24% so với năm 1999 Tỷ trọng xuất khẩu/ GDP giai đoạn

1991-2000 cho thấy xu thế mở cửa của nền kinh tế Việt Nam ngày càng gia tăng Đến

năm 2000 tỷ trọng xuất khẩu so với GDP đạt mức 42.3%

Bảng 7: Tình hình xuất khẩu của Việt Nam thời gian qua

Năm 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000

Xuất khẩu

(triệu USD) 2581 2985 4054 5449 7256 9145 9361 11540 14308

Trang 23

Xuất khẩu so

với GDP (%) 26.1 23.3 26.1 26.3 29.5 35 34.3 40.7 42.3

Tốc độ tăng

trưởng (%) 23.7 15.7 35.8 34.4 33.2 26.6 1.9 23.3 24

(Nguồn: Cơ sở khoa học về một số vấn đề trong chiến lược phát triển KT-XH Việt

Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020- Viện chiến lược phát triển)

Nhờ có những lợi thế trong hoạt động thị trường thế giới nên tốc độ tăng

kim ngạch xuất khẩu (KNXK) của các doanh nghiệp có vốn FDI cao hơn tốc độ

tăng KNXK của cả nước và cao hơn hẳn KNXK của các doanh nghiệp trong

nước Năm 1996, KNXK của các doanh nghiệp FDI tăng 78.6% so với năm

trước, thì KNXK của cả nước tăng 33.2%, còn KNXK của các doanh nghiệp

trong nước chỉ tăng 29.5% Số liệu tương ứng của năm 1997 là 127.7%; 26.6%;

14%; năm 1998 là: 10.7%; 2.4%;1.8%; năm 1999 là 30.2%; 23%; 21.1% Về số

tuyệt đối KNXK của các doanh nghiệp FDI đã tăng một cách đáng kể qua các

năm Nếu trong năm 1991đạt 52 triệu USD, năm 1995 đạt 445 triệu USD, năm

1997 đạt 1790 triệu USD thì năm 1999 đạt 2590 triệu USD và năm 2000 đạt

3320 triệu USD Như vậy KNXK của các doanh nghiệp loại này trong năm 2000

đạt được gấp 7.4 lần năm 1995 và gần 64 lần của năm 1991

Về số tương đối, tỷ trọng KNXK của các doanh nghiệp có vốn đầu tư

nước ngoài trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước đang có xu hướng tăng

lên Năm 1992 chiếm 4.3%, năm 1996 chiếm 12.7% và đến năm 2000 đã chiếm

23.2 tổng KNXK của cả nước

Bảng 8: Xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI

( Kim ngạch xuất khẩu không kể dầu thô)

Trang 24

Theo số liệu của Vụ Quản lý dự án- Bộ KHĐT, trong số hơn 6 tỷ USD giá

trị xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI thu được trong vòng 10 năm trở lại đây,

không kể phần xuất khẩu dầu thô của VietsoPetro và xuất khẩu dịch vụ, thì giá

trị xuất khẩu của các nhà đầu tư công nghiệp nhẹ là lớn nhất (3 tỷ USD), tiếp

đến là các nhà đầu tư công nghiệp nặng ( gần 2.3 tỷ USD), ssau đó dến công

nghiệp thực phẩm (405 triệu USD), nông lâm nghiệp (325 triệu USD), dầu khí

(101 triệu USD) và thuỷ sản (67 triệu USD) Ưu điểm hơn hẳn của hàng hoá

xuất khẩu của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài so với hàng hoá xuất khẩu

cúa các doanh nghiệp trong nước ở chỗ chúng chủ yếu là hàng công nghiệp và

chế tạo, trong đó có nhiều sản phẩm thuộc công nghệ cao như bản mạch in điện

tử, máy thu hình, video

Như vậy, các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài đang đóng vai trò

quan trọng trong sản xuất và xuất khẩu hàng hoá ở nước ta Kết quả đáng khích

lệ đó một phần do nỗ lực của bản thân các doanh nghiệp, một phần do chính

sách Nhà nước ngày một thông thoáng nhằm khuyến khích mạnh mẽ các doanh

nghiệp FDI tham gia sản xuất và xuất khẩu Các doanh nghiệp đầu tư nước

ngoài cũng tạo nên những mô hình và phương thức kinh doanh hiện đại Đây là

một trong những nhân tố thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam đổi mới tư duy, cách

thức quản lý, công nghệ, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh

3 Việc thu hút đầu tư nước ngoài đã chú trọng nhiều đến chất lượng, phục

vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoá

Đầu tư nước ngoài thời kỳ 1996-2000 tập trung chủ yếu vào lĩnh vực vật

chất với cơ cấu hợp lý, hướng vào xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng Trong

đó đầu tư nước ngoài trong các ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 73% vốn

thực hiện (tỷ lệ tương ứng là 56% thời kỳ 1991- 1995), đầu tư nước ngoài trong

kinh doanh giảm 52%, trong đó xây dựng hạ tầng kỹ thuật ( viễn thông, dịch vụ

kỹ thuật) tăng 1.4 lần so với 5 năm trước

Trang 25

Đầu tư nước ngoài hiện tạo ra 35% giá trị sản lượng công nghiệp với trên

20% năm, góp phần đưa tốc độ tăng trưởng công nghiệp cả nước đạt từ 11-13%

năm, tạo nên nhiều ngành nghề, sản phẩm mới làm tăng đáng kể năng lực các

ngành công nghiệp Việt Nam Trong nông nghiệp đã có sự tăng khá về giá trị

tuyệt đối, song tỷ trọng trong GDP giảm từ 38.7% năm 1990 xuống còn 25%

vào năm 2000, tương ứng ngành dịch vụ tăng từ 38.6% lên 40.5%

Bảng 9: Cơ cấu ngành kinh tế qua các năm

Đơn vị: %

Cơ cấu ngành kinh tế 1990 1995 2000 Thay đổi sau 10 năm

Nông lâm ngư nghiệp 38.7 27.2 25.0 -13.7

Công nghiệp và xây dựng 22.7 28.8 35.0 +11.8

Dịch vụ 38.6 44.0 40.5 +1.90

(Nguồn: Tổng kết tình hình thực hiện chiến lược 10 năm (1991-2000)- Bộ

KH-ĐT)

Cho đến nay, Nhà nước ta đã có chính sách thu hút nhiều nguồn vốn khác

nhau tài trợ cho các vùng chậm phát triển, vùng khó khăn Xu hướng thu hút vốn

đầu tư nước ngoài đã tứng bước lan ra các vùng ngoài các vùng phát triển trọng

điểm Nếu trong những năm đầu khi có luật đầu tư nước ngoài, ở các tỉnh phía

Bắc chỉ chiếm 25% số dự án với tổng 20% vốn đầu tư, thì đến năm 1999 các

tỉnh phía Bắc đã thu hút trên 30% số dự án với trên 35% vốn đầu tư Đến nay đã

có 59 trong tổng số 61 tỉnh- thành phố của nước ta đã có dự án đầu tư nước

ngoài Tốc độ tăng vốn bình quân hàng năm trong 10 năm qua , nhanh nhất là

Trung du miền núi phía Bắc, khoảng 19% năm, các vùng khác từ 15-17%/ năm

Thông qua đầu tư nước ngoài đã hình thành bước đầu hệ thống các khu chế xuất,

các khu công nghiệp góp phần phân bổ công nghiệp hợp lý, nâng cao hiệu quả

Trang 26

đầu tư Đến cuối năm 1998, Việt nam đã có 54 KHC,KCX trong đó đã có 48

KHC,KCX đi vào hoạt động, phân bố rộng khắp từ Bắc vào Nam

4 Việc thu hút đầu tư nước ngoài đã chú trọng kết hợp các dự án công

nghệ hiện đại với các dự án thu hút nhiều lao động, tham gia phát triển

nguồn nhân lực

Đầu tư nước ngoài đã góp phần nâng cao năng lực của nền kinh tế với

nhiều công nghệ mới, hiện đại trong các lĩnh vực bưu chính viễn thông, dầu khí,

hoá chất, điện tử, tin học, ôtô, xe máy tạo ra một bước ngoặt quan trọng trong

ngành kinh tế mũi nhọn Nhìn chung trang thiết bị đồng bộ, có trình độ cao hơn

hoặc bằng các thiết bị tiên tiến đã có trong nước và thuộc loại phổ cập ở các

nước trong khu vực Vấn đề bảo vệ môi trường cũng được các doanh nghiệp đầu

tư nước ngoài quan tâm

Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài sử dụng nhiều lao động đươc khuyến

khích đầu tư, nhất là trong lĩnh vực gia công, chế biến, sản xuất hàng xuất khẩu

như dệt may, giày dép, đầu tư vào khu công nghiệp, khu chế xuất, Đến nay,

khu vực đầu tư nước ngoài đã thu hút được trên 35 vạn lao động trực tiếp và

hàng chục vạn lao động gián tiếp khác Đầu tư nước ngoài cũng đem lại đáng kể

thu nhập cho người lao động và tăng sức mua cho thị trường Lương bình quân

tronh khu vực đầu tư nước ngoài từ 75-80 USD/ tháng, cao hơn bình quân chung

của doanh nghiệp Nhà nước

Về đội ngũ cán bộ quản lý, kinh doanh: trước khi bước vào cơ chế thị

trường, chúng ta chưa có nhiều nhà doanh nghiệp giỏi có khả năng tổ chức sản

xuất kinh doanh có hiệu quả Khi các dự án đầu tư nước ngoài bắt đầu hoạt

động, các nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam các chuyên gia giỏi, đồng

thời họ áp dụng những chế độ quản lý, tổ chức, kinh doanh hiện đại nhằm thực

hiện dự án có hiệu quả Đây chính là điều kiện tốt một mặt để các doanh nghiệp

Việt Nam tiếp cận, học tập, nâng cao trình độ kinh nghiệm quản lý; mặt khác để

liên doanh có thể hoạt động tốt các nhà đầu tư nước ngoài cúng buộc phải đào

tạo cán bộ quản lý cũng như lao động Việt Nam đến một trình độ đủ để đáp ứng

được yêu cầu kỹ thuật công nghệ đang sử dụng trong các dự án Như vậy, dù

Ngày đăng: 10/04/2013, 08:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành, lĩnh vực   ( Tính đến ngày 31/10/2001- chỉ tính các dự án còn hiệu lực) - PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN GDP CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Bảng 1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành, lĩnh vực ( Tính đến ngày 31/10/2001- chỉ tính các dự án còn hiệu lực) (Trang 10)
Bảng 4: Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo địa phương giai đoạn 1988 – 2001 - PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN GDP CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Bảng 4 Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo địa phương giai đoạn 1988 – 2001 (Trang 14)
Bảng 5: Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo  các nước giai đoạn1988 – 2001 - PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN GDP CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Bảng 5 Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo các nước giai đoạn1988 – 2001 (Trang 17)
Hình chung đã biến các bạn hàng truyền thống của các nhà đầu tư nước ngoài tại - PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN GDP CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Hình chung đã biến các bạn hàng truyền thống của các nhà đầu tư nước ngoài tại (Trang 22)
Bảng 10: Tốc độ tăng trưởng GDP qua các năm (%) - PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN GDP CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Bảng 10 Tốc độ tăng trưởng GDP qua các năm (%) (Trang 34)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w