Mục đích nghiên cứu của chuyên đề là làm rõ cơ sở khoa học của đa dạnghoá sản phẩm, luận giải những vấn đề cơ bản của đa dạng hoá sản phẩm trongnền kinh tế thị trường của các doanh nghiệ
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Ngành dệt-may Việt Nam một vài năm trở lại đây, đặc biệt là trong 3 nămcuối cùng của thiên niên kỉ, đã lên ngôi và tiếp tục khẳng định vị thế của mìnhtrên thương trường Có được thành công này là do ngành đã đoán trước đượcnhu cầu ngày càng đa dạng của thị trường Bắt mạch thị trường, ngành đã tìm rahướng đi, chọn giải pháp hợp lý, xây dùng cho ngành một chiến lược kinh doanhnói chung và chiến lược sản phẩm đem lại hiệu quả cao
Đa dạng hoá sản phẩm là một chiến lược được rất nhiều nhà kinh tế biếtđến và được phần lớn các doanh nghiệp trên thế giới nói chung và các doanhnghiệp Việt Nam nói riêng áp dụng Nhưng không phải doanh nghiệp nào, nướcnào cũng áp dụng thành công mô hình chiến lược này Riêng ở Việt Nam, khinói đến đa dạng hoá sản phẩm, người ta không thể không nói đến ngành dệtmay Bởi lẽ, nhờ thực hiện đa dạng hóa sản phẩm, ngành đã lên ngôi đầu bảng,đạt kim ngạch xuất nhập khẩu cao và tiếp tục khẳng định vị thế của mình trênthương trường trong nước, khu vực và quốc tế trong một vài năm trở lại đây.Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đa dạng hoá sản phẩm, nhiều doanh nghiệp
đã bộc lộ rõ nhiều vấn đề cần được xem xét và hoàn thiện cả về lý luận và thựctiễn
Đối với riêng bản thân em, đa dạng hoá sản phẩm là một mảng đề tài hÕtsức hấp dẫn và thú vị Vì vậy, em xin phép được trình bày quá trình thực hiện đadạng hoá sản phẩm tại nhà máy chỉ khâu Hà Nội và qua đó em xin đưa ra một số
ý kiến nhằm hoàn thiện hơn nữa công tác đa dạng hoá sản phẩm tại nhà máyChỉ khâu Hà Nội Phải chăng nhà máy đã tạo dùng cho mình một hướng đimang tính xác thực, khoa học và hiệu quả? Chuyên đề này sẽ làm sáng tỏ điềuđó
Mục đích nghiên cứu của chuyên đề là làm rõ cơ sở khoa học của đa dạnghoá sản phẩm, luận giải những vấn đề cơ bản của đa dạng hoá sản phẩm trongnền kinh tế thị trường của các doanh nghiệp nói chung và của nhà máy Chỉ khâunói riêng Trên cơ sở đó, chuyên đề đưa ra một số ý kiến và một vài giải pháp cơbản nhằm góp phần hoàn thiện công tác đa dạng hóa sản phẩm ở nhà máy Chỉkhâu Hà Nội
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, chuyên đề được trình bày thành baphần:
Phần I: Đa dạng hóa sảnphẩm - một khuynh hướng phổ biến giúp cácdoanh nghiệp tồn tại và phát triển trên thị trường
Phần II: Tình hình thực hiện đa dạng hóa sản phẩm tại nhà máy Chỉ khâu
Hà Nội
Trang 2Phần III: Một số ý kiến góp phần hoàn thiện công tác đa dạng hoá sảnphẩm tại nhà máy Chỉ khâu Hà Nội.
Nhờ sự hướng dẫn tận tình của cô giáo Trần Thị Thạch Liên, cùng với sựgiúp đỡ của các cô chú, các phòng ban nhà máy Chỉ khâu Hà Nội, đặc biệt làphòng kinh doanh, em đã hoàn thành chuyên đề thực tập
Là mét sinh viên, ước mơ hoài bão thì nhiều nhưng thực tế không chophép, trong chuyên đề này, em muốn đề cập đến nhiều vấn đề nhưng vì điềukiện khuôn khổ chuyên đề có hạn cũng như kinh nghiệm còn hạn chế (chỉ lànhững kiến thức trên ghế nhà trường và thời gian ngắn thực tập tại nhà máy Chỉkhâu Hà Nội) nên bài viết không được như ý muốn, không tránh khỏi còn nhiềuthiếu sót Rất mong các thầy cô giáo, các cô chú nhà máy và bạn đọc góp ý đểbài viết được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3Sản phẩm là kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Nó được tạo ra nhờ hoạt động của con người lên đối tượng lao động thông qua
tư liệu lao động
Theo quan điểm Maketing, sản phẩm công nghiệp là một tập hợp các đặctrưng vật chất và phi vật chất nhằm thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng trênthị trường.Theo quan điểm này, sản phẩm là một thứ có thể bán được trên thịtrường để chú ý, mua, sử dụng hoặc tiêu dùng, có thể thoả mãn được một mongmuốn hay nhu cầu
Đặc trưng vật chất của sản phẩm công nghiệp bao gồm: kiểu dáng, chấtlượng, màu sắc, khẩu vị, kết cấu, bao bì, nhãn mác
Đặc trưng tâm lý của sản phẩm công nghiệp bao gồm: tên gọi, biểu tượng,thẩm mỹ
Sản phẩm công nghiệp được sản xuất ra phải xuất phát từ nhu cầu của thịtrường Đối với doanh nghiệp, một sản phẩm là lời giải đáp của doanh nghiệp
đó cho mét nhu cầu tìm thấy trên thị trường Còn đối với người mua, một sảnphẩm là lời hứa hẹn, là cái mà khách hàng mua để thoả mãn nhu cầu của mình
Do đó, doanh nghiệp chỉ bán cái mà khách hàng cần chứ không bán cái mà mìnhcó
1.2.Phân loại sản phẩm:
1.2.1.Phân loại theo tính chất sử dụng:
Theo cách phân loại này, sản phẩm công nghiệp bao gồm: sản phẩm côngcộng và sản phẩm tư nhân
-Sản phẩm công cộng là sản phẩm mà việc tiêu dùng của người này khônglàm ảnh hưởng đến việc tiêu dùng của người khác như đường xá, cầu cống, cáccông trình văn hoá, các di tích lịch sử
-Sản phẩm tư nhân là sản phẩm mà khi một người đã tiêu dùng thì ngườikhác không thể tiêu dùng sản phẩm đó Vì vậy, khi người này tiêu dùng thìngười khác tiêu dùng Ýt đi như: quần áo, xe, giầy dép
Sản phẩm cá nhân có tính cạnh tranh mạnh mẽ, còn sản phẩm công cộng không có tính cạnh tranh
1.2.2.Phân loại sảnphẩm theo mối quan hệ với thu nhập:
Trang 4Theo cách phân loại này, sản phẩm công nghiệp bao gồm: hàng hoá thôngthường và hàng xa xỉ.
-Hàng thông thường là những sản phẩm mà mọi tầng lớp trong xã hội đều
có thể tiêu dùng một cách bình thưòng
-Hàng xa xỉ là những sản phẩm dành cho các đối tượng có thu nhập caotrong xã hội như: ô tô, điều hoà
1.2.3.Phân loại sản phẩm theo khả năng thay thế lẫn nhau:
Theo cách phân loại này, sản phẩm công nghiệp bao gồm: hàng hoá bổsung và hàng hóa thay thế
-Hàng hoá bổ sung là hàng hoá khi tiêu dùng phải theo một cơ cấu vàđồng bộ nhau, không thể tách rời nhau được như: ô tô và xăng, thuốc lá và bậtlửa
-Hàng hoá thay thế là hàng hoá khi tiêu dùng độc lập với nhauvà khi cần
có thể thay thế cho nhau như: bật lửa và diêm, bia và rượu, bếp dầu và bếp gas
1.2.4.Phân loại sản phẩm theo tuổi thọ của sản phẩm:
Theo cách phân loại này, sản phẩm công nghiệp bao gồm: hàng hoá lâubền và hàng hóa không lâu bền
-Hàng lâu bền là hàng có thể sử dụng được trong một thời gian dài như: ô
tô, xe máy, nhà cửa
-Hàng không lâu bền là những vật rẻ tiền, mau hỏng như: bút chì, tẩy
1.2.5.Phân loại sản phẩm theo tần số mua:
Theo cách phân loại này, sản phẩm công nghiệp bao gồm: hàng muathường xuyên và hàng không mua thường xuyên
-Hàng mua thường xuyên là hàng hoá cần thiết cho cuộc sống hàng ngày
và người tiêu dùng nó phải thường xuyên tiêu dùng nó như: quần áo, giày dép
-Hàng mua không thường xuyên là hàng hoá mà người tiêu dùng khôngtiêu dùng nó thường xuyên như: áo cưới,
1.2.6.Phân loại sản phẩm theo mức độ cấp thiết:
Theo cách phân loại này, sản phẩm công nghiệp bao gồm: hàng dùngngay và hàng đắn đo
1.2.7.Phân loại sản phẩm theo mức độ chế biến sản phẩm:
Theo cách phân loại này, sản phẩm công nghiệp bao gồm: sản phẩm trunggian và sản phẩm cuối cùng
-Sản phÈm trung gian là những sản phẩm còn phải trải qua một hoặc một
số bước chế biến nữa mới trở thành sản phẩm hoàn chỉnh phục vụ cho tiêu dùngnhư: xơ bông để kéo sợi, sợi để dệt vải, vải để may quần áo
Trang 5-Sản phẩm cuối cùng là những sản phẩm hoàn chỉnh có thể phục vụ chotiêu dùng như: quần áo, giầy dép
1.2.8.Phân loại sản phẩm theo công dụng kinh tế của sản phẩm:
Theo cách phân loại này, sản phẩm công nghiệp bao gồm: sản phẩm là tưliệu sản xuất và sản phẩm là tư liệu tiêu dùng
Tuỳ thuộc vào đối tượng sử dụng mà hàng hoá đó là tư liệu sản xuất hayvật phẩm tiêu dùng như: chỉ nếu khách hàng là người tiêu dùng mua để khâu váhay may thì đó là vật phẩm tiêu dùng, nếu đó là doanh nghiệp mua để may thànhquần áo, giày dép hoàn chỉnh bán ra thị trường thì đó là tư liệu sản xuất
2.Danh mục sản phẩm:
Mét danh mục sản phẩm là một tập hợp tất cả những loại sản phẩm mộtngười bán cụ thể đưa ra để bán cho người mua
Danh mục sản phẩm của một công ty bao gồm chiêù rộng, chiều dài,chiều sâu và mật độ
-Chiều rộng danh mục sản phẩm của doanh nghiệp thể hiện doanh nghiệp
có bao nhiêu loại sản phẩm khác nhau
-Chiều dài danh mục sản phẩm là tổng số mặt hàng trong danh mục sảnphẩm
-Chiều sâu danh mục sản phẩm thể hiện doanh nghiệp có bao nhiêuphương án của mỗi sản phÈm trong loại Ví dụ: 1 loại sản phẩm kem đánh răngCrest có 3 kích cỡ và 2 công thức nên chiều sâu của sản phẩm này là 6
-Mật độ của danh mục sản phẩm thể hiện mối quan hệ mật thiết đến mức
độ nào giữa các loại sản phẩm khác nhau xét theo cách sử dụng cuối cùng, thiết
3.Đa dạng hoá sản phẩm:
3.1.Khái niệm đa dạng hoá sản phẩm
Để thực hiện hệ thống các mục tiêu kinh tế xã hội đã định, trong quá trìnhsản xuất kinh doanh, mỗi doanh nghiệp phải xác định cho mình một cơ cấu sảnphẩm hợp lý Một cơ cấu sản phẩm phù hợp với nhu cầu của thị trường, phù hợp
Trang 6với khả năng, năng lực của doanh nghiệp và cho phép các doanh nghiệp tối đahoá lợi nhuận
Trong điều kiện nhu cầu thị trường rất đa dạng, thường xuyên biến động,tiến bộ khoa học kĩ thuật công nghệ phát triển mạnh mẽ, thì cơ cấu sản phẩmphải được coi là cơ cấu “động”, nghĩa là phải thường xuyên được thay đổi, hoànthiện, cải tiến và đổi mới Bởi đây là một trong những điều kiện tiên quyết nhằmđảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường đầy khắcnghiệt
Quá trình hoàn thiện và đổi mới cơ cấu sản phẩm có thể được thực hiệntheo nhiều chiều hướng khác nhau như:
-Thu hẹp danh mục sản phẩm bằng cách loại bỏ những sản phẩm lỗi thời, kém
cạnh tranh hay những sản phẩm không tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp
hông có tính cạnh tranh
1.2.2.Phân loại sản phẩm theo mối quan hệ với thu nhập:
Theo cách phân loại này, sản phẩm công nghiệp bao gồm: hàng hoá thôngthường và hàng xa xỉ
-Hàng thông thường là những sản phẩm mà mọi tầng lớp trong xã hội đều
có thể tiêu dùng một cách bình thưòng
-Hàng xa xỉ là những sản phẩm dành cho các đối tượng có thu nhập caotrong xã hội như: ô tô, điều hoà
1.2.3.Phân loại sản phẩm theo khả năng thay thế lẫn nhau:
Theo cách phân loại này, sản phẩm công nghiệp bao gồm: hàng hoá bổsung và hàng hóa thay thế
-Hàng hoá bổ sung là hàng hoá khi tiêu dùng phải theo một cơ cấu vàđồng bộ nhau, không thể tách rời nhau được như: ô tô và xăng, thuốc lá và bậtlửa
-Hàng hoá thay thế là hàng hoá khi tiêu dùng độc lập với nhauvà khi cần
có thể thay thế cho nhau như: bật lửa và diêm, bia và rượu, bếp dầu và bếp gas
1.2.4.Phân loại sản phẩm theo tuổi thọ của sản phẩm:
Theo cách phân loại này, sản phẩm công nghiệp bao gồm: hàng hoá lâubền và hàng hóa không lâu bền
-Hàng lâu bền là hàng có thể sử dụng được trong một thời gian dài như: ô
tô, xe máy, nhà cửa
-Hàng không lâu bền là những vật rẻ tiền, mau hỏng như: bút chì, tẩy
1.2.5.Phân loại sản phẩm theo tần số mua:
Theo cách phân loại này, sản phẩm công nghiệp bao gồm: hàng muathường xuyên và hàng không mua thường xuyên
Trang 7-Hàng mua thường xuyên là hàng hoá cần thiết cho cuộc sống hàng ngày
và người tiêu dùng nó phải thường xuyên tiêu dùng nó như: quần áo, giày dép
-Hàng mua không thường xuyên là hàng hoá mà người tiêu dùng khôngtiêu dùng nó thường xuyên như: áo cưới,
1.2.6.Phân loại sản phẩm theo mức độ cấp thiết:
Theo cách phân loại này, sản phẩm công nghiệp bao gồm: hàng dùngngay và hàng đắn đo
1.2.7.Phân loại sản phẩm theo mức độ chế biến sản phẩm:
Theo cách phân loại này, sản phẩm công nghiệp bao gồm: sản phẩm trunggian và sản phẩm cuối cùng
-Sản phẩm trung gian là những sản phẩm còn phải trải qua một hoặc một
số bước chế biến nữa mới trở thành sản phẩm hoàn chỉnh phục vụ cho tiêu dùngnhư: xơ bông để kéo sợi, sợi để dệt vải, vải để may quần áo
-Sản phẩm cuối cùng là những sản phẩm hoàn chỉnh có thể phục vụ chotiêu dùng như: quần áo, giầy dép
1.2.8.Phân loại sản phẩm theo công dụng kinh tế của sản phẩm:
Theo cách phân loại này, sản phẩm công nghiệp bao gồm: sản phẩm là tưliệu sản xuất và sản phẩm là tư liệu tiêu dùng
Tuỳ thuộc vào đối tượng sử dụng mà hàng hoá đó là tư liệu sản xuất hayvật phẩm tiêu dùng như: chỉ nếu khách hàng là người tiêu dùng mua để khâu váhay may thì đó là vật phẩm tiêu dùng, nếu đó là doanh nghiệp mua để may thànhquần áo, giày dép hoàn chỉnh bán ra thị trường thì đó là tư liệu sản xuất
2.Danh mục sản phẩm:
Mét danh mục sản phẩm là một tập hợp tất cả những loại sản phẩm mộtngười bán cụ thể đưa ra để bán cho người mua
Danh mục sản phẩm của một công ty bao gồm chiêù rộng, chiều dài,chiều sâu và mật độ
-Chiều rộng danh mục sản phẩm của doanh nghiệp thể hiện doanh nghiệp
có bao nhiêu loại sản phẩm khác nhau
-Chiều dài danh mục sản phẩm là tổng số mặt hàng trong danh mục sảnphẩm
-Chiều sâu danh mục sản phẩm thể hiện doanh nghiệp có bao nhiêuphương án của mỗi sản phẩm trong loại Ví dụ: 1 loại sản phẩm kem đánh răngCrest có 3 kích cỡ và 2 công thức nên chiều sâu của sản phẩm này là 6
-Mật độ của danh mục sản phẩm thể hiện mối quan hệ mật thiết đến mức
độ nào giữa các loại sản phẩm khác nhau xét theo cách sử dụng cuối cùng, thiết
bị sản xuất
Trang 8Bốn chiều này của danh mục sản phẩm tạo nên những căn cứ để xác địnhchiến lược sản phẩm của công ty
Việc lập kế hoạch danh mục sản phẩm chủ yếu tuỳ thuộc vào tráchnhiệm của những người hoạch định chiến lược của công ty căn cứ vào nhữngthông tin do những người làm công tác tiếp thị của công ty cung cấp Họ phảiđánh giá những loại sản phẩm nào cần phát triển, cần duy trì, cần thu hoạch, vàcần loại bỏ
3.Đa dạng hoá sản phẩm:
3.1.Khái niệm đa dạng hoá sản phẩm
Để thực hiện hệ thống các mục tiêu kinh tế xã hội đã định, trong quá trìnhsản xuất kinh doanh, mỗi doanh nghiệp phải xác định cho mình một cơ cấu sảnphẩm hợp lý Một cơ cấu sản phẩm phù hợp với nhu cầu của thị trường, phù hợpvới khả năng, năng lực của doanh nghiệp và cho phép các doanh nghiệp tối đahoá lợi nhuận
Trong điều kiện nhu cầu thị trường rất đa dạng, thường xuyên biến động,tiến bộ khoa học kĩ thuật công nghệ phát triển mạnh mẽ, thì cơ cấu sản phẩmphải được coi là cơ cấu “động”, nghĩa là phải thường xuyên được thay đổi, hoànthiện, cải tiến và đổi mới Bởi đây là một trong những điều kiện tiên quyết nhằmđảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường đầy khắcnghiệt
Quá trình hoàn thiện và đổi mới cơ cấu sản phẩm có thể được thực hiệntheo nhiều chiều hướng khác nhau như:
-Thu hẹp danh mục sản phẩm bằng cách loại bỏ những sản phẩm lỗi thời,
kém cạnh tranh hay những sản phẩm không tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp
-Giữ nguyên chủng loại sản phẩm đang sản xuất, những sản phẩm cảitiến, hoàn thiện về mặt hình thức và nội dung, kiểu dáng, mẫu mã, thế hệ sảnphẩm mới
-Bổ sung thêm vào danh mục những sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu
và xu hướng phát triển của thị trường
-Chuyển hoá vị trí các sản phẩm trong cơ cấu sản phẩm, tức là: đưanhững sản phẩm ở hàng thứ lên vị trí hàng đầu và ngược lại bằng cách thay đổiđịnh lượng sản xuất mỗi loại
Những sản phẩm mới, bổ sung này có thể là mới tuyệt đối (mới đối với cảdoanh nghiệp và thị trường), có thể là mới tương đối (mới với doanh nghiệp vàkhông mới với thị trường)
c.Hỗn hợp:
Doanh nghiệp kết hợp xen kẽ giữa biến đổi chủng loại sản phẩm và đổimới chủng loại sản phẩm, nghĩa là doanh nghiệp thực hiện đồng thời:
Trang 9-Hoàn thiện, cải tiến một số sản phẩm đang sản xuất
-Loại bỏ sản phẩm (lỗi thời, kém cạnh tranh, khó tiêu thụ )
-Bổ sung những sản phẩm mới vào danh mục sản phẩm
Thực hiện đa dạng hoá sản phẩm theo hướng biến đổi danh mục sảnphẩm, doanh nghiệp phải theo sát sự biến động của nhu cầu sản phẩm trên thịtrường, tận dụng quyền lực, giảm bớt rủi ro trong kinh doanh nhờ các tuyến sảnphẩm bổ sung, hỗ trợ nhau từ tài chính, vận chuyển, cơ sở vật chất kỹ thuật vàthị trường
3.3.2.Xét theo tính chất của nhu cầu sản phẩm:
Theo cách phân loại này có các hình thức đa dạng hoá sản phẩm sau:
a.Đa dạng hoá theo chiều sâu nhu cầu mỗi loại sản phẩm:
Doanh nghiệp lấy sản phẩm chuyên môn hoá ban đầu để mở rộng danhmục sản phẩm bằng cách tăng thêm nhiều mâũ mã, kiểu cách, chức năng, côngdụng để đáp ứng toàn diện nhu cầu của các đối tượng/ khách hàng khác nhau vềcùng một loại sản phẩm
Hình thức đa dạng hoá sản phẩm gắn liền với việc phân đoạn nhu cầu sảnphẩm (hay phân đoạn thị trường sản phẩm )
b.Đa dạng hoá theo bề rộng nhu cầu các loại sản phẩm:
Doanh nghiệp lấy sản phẩm chuyên môn hoá ban đầu để mở rộng danhmục sản phẩm bằng cách chế tạo một số loại sản phẩm có kết cấu, công nghệsản xuất, giá trị sử dụng cụ thể khác nhau, hay nói cách khác, doanh nghiệp sảnxuất một số loại sản phẩm bổ sung để thoả mãn đồng bộ một số nhu cầu có liênquan với nhau của đối tượng tiêu dùng
c.Đa dạng hoá theo hướng thoát ly sản phẩm gốc:
Đa dạng hoá theo hướng thoát ly sản phẩm gốc là đưa danh mục sảnphẩm mới không liên quan đến sản phẩm chuyên môn hoá ban đầu cả về giá trị
sử dụng và công nghệ sản xuất vào danh mục sản phẩm của doanh nghiệp
3.3.3.Xét theo mối quan hệ với sử dụng nguyên liệu chế tạo sản phẩm:
Có các hình thức đa dạng hoá sản phẩm sau:
-Sản xuất những sản phẩm có giá trị sử dụng khác nhau nhưng có chungchủngloại sản phẩm gốc
-Sử dụng các chất có Ých chứa đựng trong một loại nguyên liệu để sảnxuất một số loại sản phẩm có giá trị sử dụng khác nhau
3.3.4.Xét theo phương thức thực hiện:
Có các hình thức đa dạng hoá sản phẩm sau:
a.Đa dạng hóa sản phẩm trên cơ sở các nguồn lực hiện có:
Trang 10Bằng việc áp dụng hình thức này, doanh nghiệp có thể tiết kiệm được đầu
tư, giảm bớt thiệt hại do khi thực hiện đa dạng hoá sản phẩm, tận dụng được khảnăng sản xuất, năng lực hiện có của doanh nghiệp, tận dụng hết công suất thiếtbị
Tuy nhiên, sự “tận dụng” này lại dẫn đến hạn chế khả năng mở rộng danhmục sản phẩm của doanh nghiệp
b.Đa dạng hoá sản phẩm trên cơ sở hiện có kết hợp với đầu tư bổ sung:
Mở rộng danh mục sản phẩm đòi hỏi phải có đầu tư, nhưng đầu tư ở đâychỉ dừng lại ở nghĩa bổ sung, nhằm khắc phục khâu yếu kém, khâu thiếu khithực hiện đa dạng hoá sản phẩm So với phương thức trên, phương thức này cókhả năng mở rộng danh mục sản phẩm cao hơn
c.Đa dạng hoá sản phẩm bằng đầu tư mới:
Hình thức này được áp dụng khi doanh nghiệp quyết định triển khai sảnxuất các sản phẩm mới mà khả năng, năng lực sản xuất hiện tại chưa đáp ứngđược
Hình thức này thường có nhu cầu đầu tư cao mà rủi ro còng cao, nhưngkhả năng sản xuất được mở rộng Hình thức này đòi hỏi nhà quản lý phải có tínhmạo hiểm, cương quyết
Nhận xét từ các hình thức đa dạng hoá sản phẩm:
-Trong phạm vi hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, cóthể thấy nhiều hình thức đa dạng hoá sản phẩm khác nhau Các cách phân loạichỉ là sự tiếp cận các hình thức đa dạng hoá sản phẩm theo những góc độ khácnhau
-Mỗi hình thức đa dạng hoá sản phẩm có những ưu việt riêng và chúngchỉ bộc lộ khi doanh nghiệp đảm bảo cho nó có những điều kiện thích hợp màhình thức này đòi hỏi
-Dù áp dụng một hay nhiều hình thức đa dạng hoá sản phẩm thì cũng làmcho danh mục sản phẩm của mỗi doanh nghiệp được mở rộng, cơ cấu sản phẩmtrở nên phức tạp hơn và mỗi doanh nghiệp có thêm nhiều thang, dòng và mặthàng sản phẩm
4.Tầm quan trọng của đa dạng hoá sản phẩm:
4.1.Sự cần thiết khách quan của đa dạng hoá sản phẩm:
Trong những năm gần đây, lý luận và thực tiễn quản trị có những thay đổi
to lớn và được sự chú ý của các nhà lý luận và các nhà quản trị thực tiễn Đểthấy được tầm quan trọng của đa dạng hoá sản phẩm, cần tìm hiểu những đặcđiểm lớn của môi trường kinh doanh hiện đại Những đặc điểm này chi phối vàquyết định sự tồn tại và phát triển của tất cả các doanh nghiệp hiện nay Nó vừatạo ra những cơ hội, vừa tạo ra những thách thức cho sự phát triển
Trang 11Thứ nhất, đa dạng hoá sản phẩm là điều kiện đảm bảo doanh nghiệp côngnghiệp thích ứng với nhu cầu đa dạng của thị trường và sự vận động biến đôỉcủa thị trường.
Thị trường luôn luôn vận động, biến đổi không ngừng làm nảy sinh nhữngnhu cầu mới, những đòi hỏi mới cao hơn, khắt khe hơn những sản phẩm đã vàđang tồn tại, đào thải những sản phẩm đã lỗi thời Sự vận động biến đổi Êymang tính chất tự nhiên, phổ biến, quy luật ở tất cả các nước trên thế giới
Đặt mình vào môi trường kinh doanh đa dạng và luôn vận động như vậy,doanh nghiệp phải có đối sách để đảm bảo sự thích ứng với thị trường, để tồn tại
và phát triển Để làm được điều đó, mỗi doanh nghiệp phải luôn bám sát nhữngdiễn biến của các quan hệ cung cầu trên thị trường, định hướng sản xuất, xácđịnh cho mình một danh mục và cơ cấu sản phẩm hợp lý Nghĩa là, doanhnghiệp phải luôn hoàn thiện sản phẩm đang sản xuất ngay cả khi chúng đang ởgiai đoạn hưng thịnh nhất Song song với công việc Êy, doanh nghiệp cũng cần
mở rộng danh mục sản phẩm của mình để đạt tới cơ cấu sản phẩm có hiệu quảtrong điều kiện mới của môi trường kinh doanh Điều đó đòi hỏi người kinhdoanh phải có tầm nhìn chiến lược xa, phải luôn biết hoàn thiện cái đang thựchiện và chuẩn bị đón lấy cái mới ngay trong hiện tại, không chờ đến khi thịtrường từ chối sản phẩm của mình mới tự lo ứng phó
Chính nhờ sự chủ động này, doanh nghiệp có được tính tích cực trong “hướng dẫn ” tiêu dùng, “ tác động tích cực ” đến thị trường, tạo nên lợi thế sovới các đối thủ cạnh tranh trên thị trường
Trong tình hình nhu cầu thị trường kinh doanh đa dạng mà “cơ hội không
gõ cửa hai lần”, đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự lựa chọn cân nhắc kỹ lưỡng,phải nắm nhanh cơ hội kinh doanh, phát huy lợi thế tương đối so với các doanhnghiệp khác
Như vậy, sự đa dạng và vận động của thị trường đòi hỏi mỗi doanh nghiệpcông nghiệp phải năng động cải biến, hoàn thiện cơ cấu sản phẩm của mình theohướng đa dạng hoá nếu không muốn bị đào thải khỏi trường kinh doanh
Thứ hai, đa dạng hoá sản phẩm gắn liền với tiến bộ khoa học công nghệ.Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật đang diễn ra như vũ bão Với tốc độ này, mộtkhối lượng khổng lồ các kiến thức và công nghệ được tạo ra Những lợi Ých tolớn của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật-công nghệ đã được biết đến nhiềusong cũng tạo ra những thách thức lớn cho sự phát triển của các doanh nghiệp.Tiến bộ khoa học công nghệ được áp dụng vào sản xuất và đời sống làm tăngthêm tính đa dạng của nhu cầu, làm nảy sinh những nhu cầu mới, rút ngắn chu kìsống của sản phẩm và tạo ra những khả năng sản xuất mới, làm xuất hiện những
cơ hội kinh doanh mới
Không những sản phẩm bị lỗi thời mà công nghệ cũng trong tình trạngtương tự Sự lạc hậu của công nghệ và sản phẩm đòi hỏi các doanh nghiệp phải
Trang 12tranh thủ nắm bắt nhanh những thành tựu cải tiến của khoa học kỹ thuật và thểhiện nó trong cơ cấu sản phẩm, phải khuyến khích mọi người sáng tạo.
Hiện nay, nhân loại đang chứng kiến những thành tựu to lớn về khoa
học-kỹ thuật-công nghệ Doanh nghiệp nào không chú ý đến, không nắm bắt nhanhnhững thành tựu Êy, tự hài lòng với những gì hiện có, doanh nghiệp sẽ bị đàothải khỏi thương trường
Thứ ba, cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp công nghiệp và giữa sảnphẩm công nghiệp đang diễn ra khốc liệt
Hoạt động trong cơ chế thị trường, doanh nghiệp bị chi phối bởi quy luậtcạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải có những đối sách, chiến lược thị trườngvới những vũ khí cạnh tranh có hiệu quả Hàng hoá và dịch vụ trước khi đưa rathị trường phải được nghiên cứu tỉ mỉ, doanh nghiệp cần phải biết mình xâmnhập bằng vũ khí gì Và có thể nói rằng việc xác định cho mình một cơ cấu sảnphẩm hợp lý là một trong những vũ khí cạnh tranh lợi hại của doanh nghiệp
Tóm lại, để có thể tồn tại và phát triển, được những thành công trong sảnxuất kinh doanh thích ứng với cơ chế thị trường, tránh được rủi ro, lợi nhuậncao, thì đa dạng hoá sản phẩm là một tất yếu khách quan đối với mỗi doanhnghiệp công nghiệp
4.2.Vai trò của đa dạng hoá sản phẩm:
Trước những đặc điểm lớn vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với cácdoanh nghiệp được trình bày ở phần trên, đa dạng hoá sản phẩm có vai trò đặcbiệt quan trọng
Trước hết, đa dạng hoá sản phẩm nhằm đạt tới các mục tiêu của doanhnghiệp đã đề ra trong quá trình sản xuất kinh doanh như mục tiêu về lợi nhuận,mục tiêu về thế lực, mục tiêu về an toàn
1.Khả năng sinh lời:
Mục đích của kinh doanh là tối đa hoá lơị nhuận trong điều kiện cho phép,kinh doanh phải có lợi nhuận, không có lợi nhuận thì sẽ tiêu tan mọi mục đíchkhác cũng như toàn bộ sự nghiệp của một doanh nghiệp
Đứng trên góc độ kinh tế mà xét, lợi nhuận là sự chênh lệch giữa tổngdoanh thu và tổng chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra Ngoài ra, lợi nhuận còn đượcxét bằng nhiều chỉ tiêu khác như: tỷ suất lợi nhuận, tốc độ tăng trưởng lợinhuận và cuối cùng cần phải xác định được tổng mức lợi nhuận trong một thờigian nhất định
Sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp luôn phải gắn liền với sự tănglợi nhuận Đa dạng hoá sản phẩm được tạo dựng trước hết vì điều này chứkhông phải vì bất kì một mục tiêu nào khác
2.Thế lực của doanh nghiệp:
Trang 13Thế lực là tài sản vô hình của doanh nghiệp Trong cuộc cạnh tranh gaygắt với các đối thủ khác, doanh nghiệp phải tìm mọi cách để giành được lợi, xácđịnh vị trí của mình trên thương trường và tăng thế lực của mình lên cao hơn.
Thế lực của doanh nghiệp thường được đo bằng thị phần mà doanh nghiệpkiểm soát được, bằng tỷ trọng hàng hóa hay dịch vụ của doanh nghiệp so vớitổng lượng cung về hàng hoá, dịch vụ đó trên thị trường, bằng mức độ tích tụ vàtập trung của doanh nghiệp, khả năng liên doanh, liên kết và mức độ phụ thuộccủa các doanh nghiệp khác vào doanh nghiệp mình và ngược lại
Có thể nói, thế lực là một vũ khí tối ưu và có hiệu quả trong cạnh tranhvới các doanh nghiệp khác Vì vậy, nó là mục tiêu chủ yếu cần được thực hiệntrong hoạch định chiến lược của doanh nghiệp
3.An toàn trong kinh doanh:
Kinh doanh không phải lúc nào cũng thành công và suôn sẻ, mà nó cũnggắn liền với những thất bại, rủi ro không lường hết được Một phương án táobạo, cạnh tranh càng gay gắt thì khả năng thu lợi càng lớn và mức độ rủi ro,nguy hiểm đối với doanh nghiệp càng cao Trong nền kinh tế thị trường, rủi rotrong kinh doanh tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau Nguyên nhân dẫn đến rủi
ro có thể là những yếu tố trong nội bộ doanh nghiệp như: công nghệ sản xuất,trình độ tay nghề, chất lượng sản phẩm, giá cả, vốn hoặc các yếu tố ngoại cảnhnhư: thị hiếu tiêu dùng, các chính sách, luật pháp của nhà nước, tai họa do thiêntai
Rủi ro trong kinh doanh là điều mà các nhà doanh nghiệp không mongđợi, vì thế, khi xây dựng một phương án, chiến lược kinh doanh, các nhà quảntrị đều phải lựa chọn phương pháp phòng ngừa rủi ro để đảm bảo an toàn trongkinh doanh cho doanh nghiệp mình Khi gặp rủi ro, doanh nghiệp có thể hạnchế, ngăn ngừa nó ở mức thấp nhất, Ýt tổn hại đến thực lực của mình nhất
Trên đây là ba mục tiêu chủ yếu, luôn ở vị trí hàng đầu trong các mục tiêu
mà chiến lược vạch ra nhưng vấn đề là phải chọn ra được những mục tiêu thenchốt Xác định đúng và rõ ràng những mục tiêu then chốt sẽ là cơ sở và kim chỉnam cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh
Thứ hai, đa dạng hoá sản phẩm có vai trò tích cực trong việc đáp ứngnhững nhu cầu muôn hình muôn vẻ của thị trường
Nhờ đa dạng hoá sản phẩm, danh mục sản phẩm của doanh nghiệp nóiriêng và danh mục sản phẩm của toàn nền kinh tế nói chung trở nên phong phú,
đa dạng, tăng sức cạnh tranh với các sản phẩm nhập ngoại, tăng sức tìm tòi sángtạo chạy đua của các doanh nghiệp Và từ đó các doanh nghiệp trong nước sẽ cóchỗ đứng trên thị trường khu vực và quốc tế Đa dạng hoá sản phẩm giúp chođất nước thoát khỏi sự lạc hậu, tụt hậu để hoà nhập mạnh mẽ với nền kinh tế thếgiới
Trang 14Thứ ba, đa dạng hoá sản phẩm là điều kiện cần thiết để phát huy vai tròchủ thể sản xuất hàng hoá của doanh nghiệp, phát huy quyền chủ động, tự chủtrong sản xuất kinh doanh.
Trong cơ chế thị trường, mỗi doanh nghiệp công nghiệp là một chủ thểsản xuất hàng hoá, vì vậy doanh nghiệp công nghiệp phải có những quyền hạntương ứng, trong đó, chủ yếu và trước hết là có quyền thực sự trong việc xácđịnh nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của mình qua việc xây dựng danh mục và cơcấu sản phẩm có hiệu quả
Trong quá trình thực hiện vai trò chủ thể sản xuất hàng hoá của mình,mục tiêu của doanh nghiệp và mục tiêu của xã hội có thể mâu thuẫn với nhau.Trong trường hợp này, việc doanh nghiệp cưỡng lại yêu cầu, mục tiêu, ý chí của
xã hội là không thể chấp nhận được Ngược lại, việc nhà nước áp đặt tư tưởngchủ quan của mình, can thiệp thô bạo vào hoạt động của doanh nghiệp dưới bất
kỳ hình thức nào cũng đồng nghĩa với vi phạm chủ thể sản xuất hàng hoá củadoanh nghiệp Bởi vậy, cần có những biện pháp kết hợp hài hoà các lợi Ých vàmục tiêu khác nhau
Trong xác định cơ cấu sản phẩm của mình, trừ những sản phẩm trọng yếuthuộc cân đối chung của nhà nước, doanh nghiệp nhà nước có quyền lựa chọnmặt hàng kinh doanh phù hợp với năng lực sản xuất của mình, nhà nước chỉđịnh hướng phát triển chung và sử dụng những công cụ thích ứng, góp phầnthực hiện những mục tiêu chung của xã hội
Thứ tư, đa dạng hoá sản phẩm là giải pháp tích cực nâng cao hiệu quảkinh tế, đảm bảo việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động
Nâng cao hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh lànhiệm vụ trung tâm của công tác quản lý doanh nghiệp Trong từng doanhnghiệp, hiệu quả kinh tế đạt được là tất cả tiềm lực được huy động và sử dụngcho việc thực hiện cơ cấu sản phẩm đã xác định
Trong thực tế, hiện tượng có tính phổ biến là các nguồn lực của các doanhnghiệp công nghiệp không tận dụng hết mức sản xuất thực tế, mà thường nằmdưới đường giới hạn khả năng sản xuất Việc đa dạng hoá sản phẩm trên cơ sởcác nguồn lực sẵn có là cần thiết, cho phép tận dụng triệt để hơn hàm lượng cácchất có Ých trong nguyên liệu, mở rộng chủng loại sản phẩm từ một loại nguyênliệu, tận dụng các nguồn lực dư thừa, phế liệu, phế phẩm nâng cao hiệu quảsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tăng năng lực sản xuất, ổn định và nângcao đời sống cho người lao động và góp phần thoả mãn những nhu cầu đa dạnghoá của xã hội
Thứ năm, việc mở rộng danh mục sản phẩm của doanh nghiệp còn chophép doanh nghiệp phân tán rủi ro trong kinh doanh nhờ các tuyến sản phẩm có
sự bổ sung hỗ trợ nhau
Trang 15Đa dạng hoá sản phẩm là một khuynh hướng phát triển ngày càng phổbiến của các doanh nghiệp công nghiệp, các tổ chức kinh tế lớn, các tập đoànkinh doanh Với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, sựtiến bộ của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật công nghệ và quy luật cạnh tranhtrên thị trường, các doanh nghiệp ngày càng sử dụng rộng rãi các hình thức đadạng hoá sản phẩm Quá trình này đem lại những giá trị bổ sung khiến cácdoanh nghiệp phát triển khá linh hoạt, nhạy cảm và có sức đề kháng cao trongcạnh tranh Chính vì vậy, đa dạng hoá sản phẩm được coi là một trong những giátrị kinh doanh phổ biến giúp các doanh nghiệp chẳng những trụ vững mà ngàycàng phát triển trên con đường sản xuất kinh doanh.
II Các nhân tố ảnh hưởng tới đa dạng hoá sản phẩm:
1.Những nhân tố thuộc về bản thân doanh nghiệp:
1.1.Đặc điểm sản phẩm - chu kì sống của sản phẩm:
Đặc điểm sản phẩm có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với đa dạng hoá sảnphẩm, ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường tiêu thụ sản phẩm, doanh thu, lợinhuận, vòng quay vốn
Nếu sản phẩm là tư liệu tiêu dùng, vật liệu, nhất là sản phẩm công nghiệpnhẹ như: chỉ thêu, chỉ ren, chỉ may sẽ có vòng đời ngắn, tiêu thô nhanh Vìvậy, đối với những sản phẩm này đòi hỏi phải luôn có sự sáng tạo, tìm tòi cáimới, chất liệu mới phù hợp với nhu cầu thị trường
1.2.Đặc điểm kỹ thuật sản xuất:
Máy móc thiết bị có vai trò rất quan trọng trong các doanh nghiệp côngnghiệp Nó không chỉ chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng vốn doanh nghiệp màcòn quyết định điều kiện và khả năng sản xuất kinh doanh Máy móc thiết bịcũng là một bộ phận quan trọng trong tổng nguồn lực của doanh nghiệp Việcphát huy tới mức tối đa hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị là nhân tố quan trọnggiúp doanh nghiệp có chỗ đứng vững chắc trong cơ chế thị trường và có sứcmạnh trong cạnh tranh
Đặc điểm kỹ thuật sản xuất tác động tới một số chỉ tiêu quan trọng phảnánh chất lượng công tác xây dựng kế hoạch, chiến lược như: hệ số sử dụng thờigian, công suất, định mức nguyên vật liệu, lao động, điều độ sản xuất, sự nhịpnhàng cân đối dây chuyền
Nếu kỹ thuật công nghệ kém, xuống cấp sẽ rất khó khăn trong việc nângcao chất lượng sản phẩm, độ bền, độ bóng, độ dai, dẻo, đàn hồi, đến màu sắc (độtán sắc) của sản phẩm
Kỹ thuật, công nghệ kém sẽ khó nâng cao năng lực sản xuất, khó sản xuấtnhững mặt hàng có cùng công nghệ sản xuất với sản phẩm đang sản xuất, kếtquả là đa dạng hoá sản phẩm sẽ không được thực hiện
Trang 16Mặt khác nã cũng ảnh hưởng đến công tác định mức, tiết kiệm nguyên vậtliệu, hạ giá thành, đẩy mạnh tiêu thụ, mở rộng thị trường, khó cạnh tranh với cácđối thủ của mình.
Kỹ thuật công nghệ kém phát triển làm tăng hao phí sửa chữa, tu sửa, tănghao phí nguyên vật liệu, lao động, giảm năng suất lao động
1.3.Nguyên vật liệu:
Nguyên vật liệu là một trong 3 yếu tố của quá trình sản xuất, tạo nên thựcthể sản phẩm Thiếu nguyên vật liệu thì quá trình sản xuất bị gián đoạn hoặckhông thể thực hiện được
Chất lượng của nguyên vật liệu trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng sảnphẩm, đến việc sử dụng vốn Vấn đề đặt ra đối với yếu tố này trong công tácquản lý là phải cung ứng đúng tiến độ, số lượng, chủng loại và quy cách Chỉtrên cơ sở đó mới đảm bảo nâng cao chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật, sản xuất kinhdoanh có lãi, chu kỳ sống sản phẩm được kéo dài
1.4.Nguồn nhân lực:
Nhân lực là yếu tố quan trọng nhất của quá trình sản xuất kinh doanh.Nhân lực được chia làm 3 cấp: Ban giám đốc, cán bộ quản lý cấp doanh nghiệp,cán bộ quản lý trung gian và công nhân
Trình độ, năng lực của mỗi cấp, mức độ liên kết, gắn bó giữa các cấp sẽgây ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến sức sáng tạo, tinh thần giám nghĩ giámlàm của các cấp Một chiến lược đa dạng hoá sản phẩm có được thiết lập và khảthi hay không là phụ thuộc nhiều vào yếu tố này
1.5.Vốn:
Thực hiện đa dạng hoá sản phẩm liệu doanh nghiệp có phải đầu tư thêmkhông hay đầu tư mới? đầu tư vốn cố định hay vốn lưu động? Tỉ lệ giữa vốn cốđịnh và vốn lưu động là bao nhiêu? Liệu sau khi thực hiện đa dạng hoá sảnphẩm, máy móc thiết bị có hoạt động hết công suất không? lãng phí hay quátải? Kết quả liệu có bù đắp được chi phí bỏ ra hay không? Khả năng thanhtoán của doanh nghiệp sẽ ra sao? Vòng quay vốn cố định, vốn lưu động như thếnào?
1.6.Chu kì sản xuất kinh doanh:
Chu kì sản xuất kinh doanh được chia làm hai giai đoạn:
-Giai đoạn thứ nhất là khoảng thời gian từ khi doanh nghiệp nhập khonguyên vật liệu cho đến khi giao hàng cho người mua
-Giai đoạn thứ hai là kể từ khi giao hàng cho người mua cho đến khi nhậntiền về
Trang 17Chu kì sản xuất kinh doanh ảnh hưởng gián tiếp đến đa dạng hoá sảnphẩm Chu kì sản xuất kinh doanh ngắn, doanh nghiệp thu hồi vốn nhanh, tíchluỹ nhiều vốn, có điều kiện mở rộng kinh doanh, có điều kiện đầu tư chất xám,phát minh, sáng kiến tạo sản phẩm mới ưu việt, có điều kiện nghiên cứu, tìm tòinhằm đa dạng hoá sản phẩm cả về nội dung và hình thức.
Chu kì sản xuất kinh doanh ảnh hưởng đến tài chính mà tiềm lực tài chính
là nhân tố quan trọng không thể thiếu được đối với đa dạng hoá sản phẩm Vìvậy, chu kì sản xuất kinh doanh là vấn đề cần được quan tâm một cách đúngmức
1.7.Tổ chức và quản lý quá trình sản xuất kinh doanh:
Trình độ tổ chức và quản lý của doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn đến kếtquả hoạt động sản xuất kinh doanh Tổ chức và quản lý tốt đảm bảo cho quátrình sản xuất tiến hành thông suốt, đều đặn, nhịp nhàng giữa các khâu, các bộphận, các đơn vị trong nội bộ doanh nghiệp Từ đó, hạn chế tình trạng ngừngviệc của máy móc thiết bị, tiết kiệm các yếu tố sản xuất, tăng tốc độ luân chuyểnvốn
2.Các nhân tố bên ngoài:
2.1.Thị trường đầu vào:
Những người cung ứng là những công ty kinh doanh và những người cáthể cung gấp cho công ty và các đối thủ cạnh tranh những nguồn cung ứng cầnthiết để sản xuất ra những mặt hàng cụ thể hay dịch vụ nhất định
Những sự kiện xảy ra trong môi trường người cung ứng có thể ảnh hưởngnghiêm trọng đến hoạt động của công ty Nhà quản trị phải theo dõi giá cả cácmặt hàng cung ứng, bởi việc tăng giá vật tư và những sự kiện khác có thể làmrối loạn về cung ứng nguyên vật liệu Trong ngắn hạn có thể làm bỏ lỡ khả năngtiêu thụ và trong dài hạn có thể làm mất đi thiện cảm của khách hàng đối vớicông ty
2.2.Thị trường đầu ra (khách hàng)
Công ty cần phải nghiên cứu kỹ những khách hàng của mình Nhìn chung
có năm dạng thị trường khách hàng và dưới đây là những định nghĩa ngắn gọn
3.Thị trường nhà buôn bán trung gian: Tổ chức mua hàng và dịch vụ sau
đó bán lại để kiếm lời
Trang 184.Thị trường các cơ quan nhà nước: Tổ chức mua hàng và dịch vụ sau đó
sử dụng trong lĩnh vực dịch vụ công cộng hoặc chuyển giao cho những ngườicần đến nó
5.Thị trường quốc tế: Những người mua hàng ở ngoài nước bao gồm:những người tiêu dùng, sản xuất, bán trung gian và các cơ quan Nhà nước ởngoài nước
Mỗi kiểu thị trường đều có những nét đặc thù riêng của nó mà người báncần phải nghiên cứu kỹ
2.3.Đối thủ canh tranh:
Mỗi công ty đều có nhiều đối thủ cạnh tranh khác nhau Họ là mối nguy
cơ đe doạ sự sống còn của doanh nghiệp Doanh nghiệp cần phát hiện ra tất cảcác đối thủ và lưu ý đặc biệt đến các nhãn hiệu cạnh tranh, bởi chính các nhãnhiệu làm giảm sức tiêu thụ của công ty
III.Hệ thống các chỉ tiêu đo lường mức độ đa dạng hoá sản phẩm và đánh giá hiệu quả của đa dạng hoá sản phẩm:
1.Các chỉ tiêu đo lường mức độ đa dạng hoá sản phẩm:
1.1.Hệ số đa dạng hoá sản phẩm: (HD)
Trong đó:
DO: Doanh thu trước khi đa dạng hoá
DS: Doanh thu khi đa dạng hoá sản phẩm
HD = 0 thì không đa dạng hoá sản phẩm
0 < HD< 1: H càng lớn thì mức độ đa dạng hoá sản phẩm càng cao
1.2.Hệ số đổi mới chủng loại sản phẩm: Hm
Trong đó:
SO: chủng loại sản phẩm gốc cải tiến
Sm: chủng loại sản phẩm mới
S: Số chủng loại sản phẩm chế tạo trong kỳ
Hm = 0: không đa dạng hoá sản phẩm
0 ≤ Hm≤ 1: Hm càng lớn thì mức độ đa dạng hoá sản phẩm càng cao
+
=
Hm
Trang 191.3.Hệ số kiểu sản phẩm: (Hk)
Trong đó:
Sd:Số kiểu sản phẩm doanh nghiệp sản xuất
St: Số kiểu sản phẩm trên thị trường
0 < Hk ≤1: Hk càng cao chủng loại sản phẩm doanh nghiệp sản xuấtcàng lớn
1.4.Hệ số đảm bảo đồng bộ nhu cầu sản phẩm có quan hệ trong tiêu dùng: HB
Trong đó:
SC: Số loại sản phẩm cần có để thoả mãn đồng bộ nhu cầu mà doanhnghiệp sản xuất
SQ: Số loại sản phẩm có quan hệ trong tiêu dùng
0 < HB < 1: HB càng lớn thì mức độ đa dạng hoá sản phẩm càng cao
HB = 1: mức độ đa dạng hoá sản phẩm rất cao
1.5.Hệ số mở rộng loại sản phẩm:HL
HL ≥ 1: HL càng lớn thì mức dộ đa dạng hoá sản phẩm càng cao
Như vậy, mức độ đa dạng hoá sản phẩm chưa hoàn toàn thể hiện sự năngđộng của doanh nghiệp trong kinh doanh Mức độ hợp lý của đa dạng hoá sảnphẩm còn phụ thuộc vào quy mô, khả năng quản lý, quan hệ liên kết của doanhnghiệp và đặc biệt là hiệu quả kinh tế mà đa dạng hoá mang lại
2.Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của đa dạng hoá sản phẩm:
2.1.Sự biến đổi mức đảm nhận lao động sống:
S
So
Sm So
Dj Kw
1
1
1 1
Trang 20Trong đó:
Dj: Doanh thu sản phẩm j sau khi đa dạng hoá sản phẩm
Di: Doanh thu sản phẩm i trước khi đa dạng hoá sản phẩm
tj: Lao động hao phí sau khi đa dạng hoá sản phẩm
ti: Lao động hao phí trước khi đa dạng hoá sản phẩm
Kw > 0: Đa dạng hoá sản phẩm có hiệu quả
Kw ≤ 0: Đa dạng hoá sản phẩm có hiệu quả
Như vậy, muốn đa dạng hoá sản phẩm có hiệu quả cao thì phải tìm biệnpháp để giảm hao phí lao động sản xuất ra sản phẩm j hoặc tăng doanh thu sảnphẩm j
2.2.Sự biến đổi lượng lao động hao phí:
Trong đó:
K’w<0: đa dạng hoá sản phẩm có hiệu quả
K’w≥0: đa dạng hoá sản phẩm không có hiệu quả
2.3.Mức tăng doanh lợi:
Trong đó:
POvà PD: Lợi nhuận trước và sau khi đa dạng hoá sản phẩm
ZO và ZD: Giá thành sản phẩm trước và sau khi đa dạng hoá sản phẩm
tj Kw
1
1
1 1
O
O D
D
Z
P Z
P
O
O D
D P
V
P V
P
K ' = −
O dm O
O D
O dm D
D P
I E Z
P I
I E Z
P K
)
(
''= + + − +
Trang 21Eđm: Hệ số hiệu quả định mức của vốn đầu tư (cho biết một đơn vị chi phí đầu tư bỏ thêm thì thu được bao nhiêu đơn vị lợi nhuận).
Kp, Kp’, Kp’’>0: Đa dạng hoá có hiệu quả
Kp, Kp’, Kp’’≤0: Đa dạng hoá không có hiệu quả
Trang 22Ra đời đúng vào lúc nền kinh tế nước ta có sự chuyển đổi từ cơ chế baocấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hộichủ nghĩa, nên cũng như nhiều doanh nghiệp khác, nhà máy Chỉ Khâu hết sứcngỡ ngàng, lúng túng, gặp nhiều khó khăn trong việc quản lý sản xuất cũng nhưtrong lĩnh vực tiêu thụ sản phẩm: thị trường bị thu hẹp, sản xuất đình đốn, đờisống công nhân gặp nhiều khó khăn, năng suất chỉ còn 100 tấn/ năm (đạt 12,5-14% năng suất thiết kế ban đầu) Mặt khác, do chưa thích ứng với cơ chế mớinên việc hạch toán kinh doanh trong nền kinh tế thị trường đối với nhà máy cònnhiều mới mẻ.
Tuy nhiên, với sự năng động sáng tạo của ban lãnh đạo nhà máy, sự nhiệttình, lòng hăng say yêu nghề, tinh thần đoàn kết của đội ngũ cán bộ công nhânviên, nhà máy đã nhanh chóng thích nghi với nền kinh tế thị trường và từngbước ổn định sản xuất
Chính nhờ sự nỗ lực của bản thân doanh nghiệp, với tinh thần và ý thứctrách nhiệm cao của mỗi thành viên, nhà máy đã từng bước tháo gỡ những khókhăn, bế tắc Cụ thể là hai năm 1986-1987, ngay sau khi mới thành lập, nhà máy
đã luôn hoàn thành vượt mức kế hoạch Ngoài mặt hàng chính, nhà máy còn sảnxuất thêm nhiều mặt hàng phụ để nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống chocán bộ công nhân viên nhà máy và làm cho sản phẩm của nhà máy ngày càng đadạng, phong phú hơn
Năm 1987, nhà máy đạt 106,2%, nộp ngân sách 102,9% kế hoạch đề ra.Bước sang năm 1988, do sự xuất hiện của nhiều thành phần kinh tế, nhiều sảnphẩm giả nhãn hiệu của nhà máy hoặc sản phẩm cùng loại với sản phẩm của nhàmáy được tung ra thị trường với giá rẻ hơn rất nhiều đã làm cho sản phẩm củanhà máy sản xuất ra bị ứ đọng, không thể tiêu thụ được
Trước tình hình đó, nhà máy quyết tâm tìm biện pháp khắc phục để duytrì sự tồn tại và phát triển của mình Để làm được việc này, nhà máy tiếp tục đổimới cơ chế quản lý, đổi mới cơ chế quản lý, đổi mới tổ chức sản xuất nhằm pháthuy vai trò chủ động của các phân xưởng
Trang 23Bước sang những năm tiếp theo, việc tổ chức hạch toán kinh doanh củanhà máy đã thích ứng được với cơ chế thị trường, đã tự tạo lập được kế hoạchsản xuất kinh doanh cho mình, đã quen với việc hạch toán kinh doanh trên cơ sởlấy thu bù chi và có doanh lợi Nhờ thực hiện đúng quan điểm đổi mới của Đảng
và vận dụng phù hợp vào thực tế sản xuất kinh doanh, nhà máy đã đứng vững vàphát triển
2.Thời kỳ sau sát nhập:
Ngày 1/7/1992, sau 7 năm hoạt động độc lập, Bộ Công nghiệp nhẹ đã kýquyết định sát nhập nhà máy Chỉ Khâu Hà Nội và nhà máy dệt Phong Phú-thành phố Hồ Chí Minh- mà sau này là công ty dệt Phong Phó
Tên nhà máy: nhà máy Chỉ Khâu Hà Nội
Địa chỉ: 378 Minh Khai
Mục tiêu sản xuất kinh doanh của nhà máy là các mặt hàng chỉ may côngnghiệp, chỉ thêu, chỉ ren và một số chỉ đặc chủng giành cho y tế, các xí nghiệpsản xuất xi măng, liên hiệp giày da
Ngoài ra nhà máy còn tận dụng năng lực thiết kế để gia công xe sợi và tẩynhuộm sợi
Năm 1992, sau khi sát nhập vào công ty dệt Phong Phú, nhà máy đầu tưtheo phương thức đa dạng hoá sản phẩm, phân xưởng kéo sợi và phân xưởngmay ra đời (1993)
Sản phẩm của nhà máy đã đạt hai huy chương vàng tại hội chợ triển lãmcông nghiệp hàng tiêu dùng toàn quốc năm 1992
Năm 1993-1994, nhà máy lắp đặt hệ thống máy con của Đức
Ngày 15/3/1994, giám đốc quyết định khoán lương theo sản phẩm Đây làmột biện pháp hữu hiệu, có tác dụng nâng cao trách nhiệm người lao động vàlàm tăng sản lượng sản phẩm sản xuất ra
Năm 1994, doanh thu của nhà máy đạt 17.069.887.554 đồng, tăng 171%
so với năm 1993 và đạt 194% so với năm 1992, nộp ngân sách Nhà nước đạt1.834.396.000 đồng
Năm 1996, nhà máy bỏ phân xưởng may
Sau hơn 20 năm xây dựng và trưởng thành, nhà máy đã trải qua bao khókhăn thăng trầm và trong những năm trở lại đây, nhà máy đã phát triển nhanhchóng về cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ quản lý, kinh doanh năm sau luôn đạthiệu quả cao hơn so với năm trước, sản phẩm ngày càng được đa dạng hoá, nângcao về chất lượng, mẫu mã, luôn được khách hàng ưa chuộng và ngày càngchiếm được uy tín trên thị trường
Hiện nay, nhà máy đã đứng vững trên thị trường và là một đơn vị làm ăn
có lãi, nộp đủ các khoản thu ngân sách trên địa bàn thành phố Hà nội
Trang 24Sau đõy là một số chỉ tiờu nhà mỏy thực hiện qua cỏc năm:
SƠ ĐỒ 1: Cơ cấu tổ chức
Tuy nhà mỏy Chỉ khõu Hà Nội là một đơn vị trực thuộc của cụng ty dệtPhong Phỳ nhưng việc tổ chức quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của nhàmỏy cú tớnh chất độc lập tương đối, việc tổ chức quản lý và điều hành được thựchiện theo chế độ một thủ trưởng (nghĩa là, giỏm đốc cú quyền quyết định và điềuhành mọi hoạt động của nhà mỏy theo đỳng kế hoạch, chớnh sỏch, phỏp lệnh củaNhà nước và nghị quyết của Đại hội cụng nhõn viờn chức), cú tư cỏch phỏpnhõn, cú con dấu riờngvà hạch toỏn độc lập, được giao dịch trực tiếp với cỏc tổchức tài chớnh- ngõn hàng và trực tiếp làm nghĩa vụ với Nhà nước
Tổng giám đốc
Các phòng ban Các đơn vị thành viên:
Nhà máy may Hải Vân
Nhà máy may Monilet
Trang 25Vỡ vậy, cũng như cỏc xớ nghiệp thành viờn khỏc, để quản lý và điều hànhsản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao, nhà mỏy phải tổ chức được một bộ mỏyquản lý phự hợp với đặc điểm sản xuất của mỡnh Do đú, nhà mỏy đó tổ chứcmột bộ mỏy quản lý theo mụ hỡnh trực tuyến- tham mưu (trực tuyến-chức năng),nghĩa là giỏm đốc là người quyết định cao nhất, mọi quyết định quản lý củagiỏm đốc đi theo tuyến thẳng Giỳp giỏm đốc điều hành cú một phú giỏm đốc,một kế toỏn trưởng và cỏc phũng ban chức năng Cỏc phũng ban nghiờn cứu, bànbạc tỡm ra cỏc giải phỏp tối ưu cho những vấn đề phức tạp giỳp giỏm đốc, làmviệc như cỏc chuyờn gia hay hội đồng tư vấn.
SƠ ĐỒ 2: Bộ mỏy tổ chức quản lý ở nhà mỏy Chỉ khõu Hà Nội:
Chỳ thớch: cú quyền ra quyết định trực tiếp
cú quyền ra quyết định khi được ban lónh đạo uỷ quyềnCỏc bộ phận chức năng (phũng ban) khụng cú quyền quyết định hànhchớnh trực tiếp với cỏc bộ phận cấp dưới (phõn xưởng, bộ phận sản xuất), màchỳng chỉ tồn tại như những bộ phận giỳp việc cho người lónh đạo trong phạm
vi của mỡnh
Cỏc quyết định hành chớnh của cỏc bộ phận chức năng chỉ cú ý nghĩa đốivới cỏc bộ phận trực tuyến khi đó được người lónh đạo (ban giỏm đốc thụng quahoặc uỷ quyền)
Toàn nhà mỏy gồm: ban giỏm đốc, 5 phũng ban, 2 phõn xưởng
Chức năng, nhiệm vụ của ban giỏm đốc và cỏc phũng ban như sau:
Giám đốc Phó giám đốc
Phòng
tổ chức hàn
h chí nh
Phòng
kỹ thu ật
Phòng kin
h doa nh
Phòng
bảo
vệ
Phòng tài chí
nh
kế toán
Trang 26Ban giám đốc gồm: 1 giám đốc và 1 phó giám đốc Giám đốc là người cóquyền cao nhất, chịu trách nhiệm về mọi mặt hoạt động sản xuất kinh doanh củanhà máy Phó giám đốc có nhiệm vụ tổ chức quản lý và chỉ đạo công tác kinhdoanh của nhà máy, Đồng thời, phó giám đốc kinh doanh là người kiểm tra việcthực hiện sản phẩm kinh doanh của công ty.
• Phòng bảo vệ:
-Có nhiệm vụ bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa
-Bảo vệ an ninh, giữ gìn trật tự an toàn
• Phòng tổ chức hành chính:
-Tham mưu giúp giám đốc về tổ chức, quản lý lao động-tiền lương củanhà máy, đào tạo và tuyển dụng lao động một cách hợp lý và khoa học, đáp ứngyêu cầu của sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trường, trên cơ sở gắn thu nhậpcủa người lao động với hiệu quả công tác và năng suất lao động
-Làm tốt công tác tổng hợp hành chính, pháp chế, công tác đối nội, đốingoại
-Chăm lo đời sống, sức khoẻ cho các cán bộ công nhân viên
-Xác định giá bán, chính sách bán, các kế hoạch phân phối
-Cung ứng, bảo quản vật tư, đảm bảo chất lượng nguyên vật liệu
-Ngoài ra, tìm biện pháp khắc phục sản phẩm hỏng, sự cố bất ngờ
-Quản lý toàn bộ máy móc thiết bị, lập kế hoạch sửa chữa
Trang 27-Tập hợp những nghiên cứu, sáng kiến, chế thử sản phẩm mới.
• Phòng tài chính kế toán:
-Theo dõi tình hình tài chính của nhà máy
-Phân phối và sử dụng hiệu quả đồng vốn và nguồn vốn
-Làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước, chính quyền địa phương
-Tìm cách hạ giá thành sản phẩm, giảm chi phí sản xuất kinh doanh
Tuy nhiên, cơ chế này còn kém linh hoạt, bộc lộ nhiều hạn chế gây khókhăn trở ngại cho công tác quản lý và tình hình sản xuất kinh doanh, đặc biệt làcông tác tiêu thụ sản phẩm
Năm 1999, nhà máy tiếp tục củng cố bộ máy quản lý, xây dựng nề nếplàm việc trong điều kiện tổ chức mới Mặc dù số người làm công tác quản lýnghiệp vụ giảm đi so với năm 1998, nhưng do có sự đổi mới trong tư duy, trongcách làm, nhận thức rõ hơn về quyền hạn, trách nhiệm của mỗi thành viên, bộphận nên có sự chủ động phối hợp giữa các bộ phận trong nhà máy
Bộ máy tổ chức quản lý ở phân xưởng I bao gồm: 1 quản đốc, 1 cán bộ kỹthuật, một cán bộ sản xuất, một cán bộ công nghệ thiết bị, 6 tổ sản xuất (trong
đó có 3 tổ đậu xe, 3 tổ sợi làm việc theo chế độ 3 ca, mỗi ca gồm 1 tổ đậu xe và
1 tổ sợi), 3 tổ phục vụ (1 tổ cơ khí bảo toàn, 1 tổ KCS, 1 tổ kho)
Bộ máy tổ chức quản lý ở phân xưởng II bao gồm: 1 quản đốc, 1 cán vộthiết bị, 1 cán bộ sản xuất, 2 cán bộ kỹ thuật, 7 tổ sản xuất (trong đó:2 tổ nhuộm,
1 tổ bảo toàn, 1 tổ chỉ, 3 tổ guồng đảo)
Phương pháp tổ chức sản xuất: nhà máy tổ chức sản xuất theo phươngpháp dây chuyền bán tự động từ khâu cung bông đến khi thu được chỉ, sợi thànhphẩm
Nhìn chung, cơ cấu tổ chức quản lý và tổ chức sản xuất ở nhà máy gọnnhẹ, phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trường Cơ cấu
tổ chức gồm nhiều phòng ban, thực hiện tương đối đầy đủ các chức năng nhiệm
vụ của một doanh nghiệp nhưng vẫn còn thiếu các bộ phận chuyên môn cần thiếtnhư Marketing Nhiệm vụ Marketing do phòng kinh doanh đảm nhiệm nhưngchưa được quan tâm đúng mức nên công tác nghiên cứu thị trường còn nhiềuhạn chế, ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh
Trang 282.2.Đặc diểm tổ chức sản xuất:
Để sản xuất ra thành phẩm cuối cùng, việc tổ chức sản xuất ở nhà máyđược chia làm 3 phân xưởng: phân xưởng sợi (PXI), phân xưởng chỉ (PXII),phân xưởng may
-Phân xưởng sợi là phân xưởng bắt đầu sử dụng công nghệ của nhà máy,toàn bộ nguyên vật liệu (chủ yếu là bông) được đưa vào phân xưởng này vớinhiệm vụ chủ yếu là xe sợi Kết thúc quy trình công nghệ sẽ thu được thànhphẩm là chỉ mộc có thể bán ngay theo yêu cầu của khách hàng hoặc chuyển sangphân xưởng chỉ để tiếp tục chế biến (hay còn gọi là bán thành phẩm phục vụphân xưởng chỉ)
Từ cuối năm 1993, phân xưởng này dược lắp đặt thêm dây chuyền côngnghệ của Đức để kéo sợi PE 100%
-Phân xưởng chỉ: là phân xưởng tiến hành các công đoạn tiếp theo như:tẩy trắng sợi mộc, nhuộm màu chỉ theo đơn đặt hàng, sấy guồng, đóng cuộn chỉ
và bao gói, sản phẩm của nhà máy bán trên thị trường: chỉ thêu, chỉ ren, chỉcuộn, chỉ màu
-Phân xưởng may: chủ yếu may hàng gia công bảo hộ cho khối EC phânxưởng chính thức được thành lập vào năm 1993 và cuối năm 1996 phân xưởngnày bị bỏ
2.2.1.Đặc điểm sản phẩm:
Nhà máy Chỉ khâu Hà Nội là một doanh nghiệp Nhà nước chuyên sảnxuất, chế biến các loại chỉ, sợi nhiều chủng loại, quy cách có khối lượng tươngđối lớn Là một xí nghiệp sản xuất, gia công chế biến sợi, chỉ với tính năng chủyếu là phục vụ tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng Trong đó, phục vụ cho tưliệu sản xuất là các mặt hàng như: chỉ PE, chỉ may công nghiệp, chỉ thêu, ren,sợi PE tư liệu tiêu dùng là: chỉ may, chỉ thêu (lượng này Ýt)
Sản phẩm của nhà máy mang tính đặc thù, sản xuất theo đơn đặt hàng củakhách hàng Trước khi liên doanh với liên doanh Coast Tootal Phong Phú, nhàmáy chỉ sản xuất:
-May gia công xuất khẩu
Đến năm 1996, nhà máy chỉ sản xuất:
Trang 29Chỉ thành phẩm được đóng trong các hộp cactông, mỗi cuộn được baomột túi nilon, ngoài kiện có ghi rõ màu sắc chi số, tên nhà máy
-Chỉ thêu, ren cũng được sản xuất từ sợi cotton 100%, chải kỹ với chi sè
Ne 30/2, 20/3, 30/3 Trước đây, màu sắc của mặt hàng này tương đối ổn địnhnhưng một vài năm trở lại đây, nhu cầu về màu sắc ngày càng đa dạng, phongphú, nhiều màu sắc mới lạ xuất hiện
*Mặt hàng sợi PE 100%:
Mặt hàng này cũng phong phú đa dạng, gồm nhiều chi số từ Ne 40/1 dùng
để dệt kim đến sợi Ne20/2, 40/2, 20/3, 40/3, 50/3, 60/3, 20/9 dùng làm chỉmay và dệt vải
Mặt hàng này chủ yếu sản xuất cho liên doanh Coast Tootal Phong Phú vàcông ty dệt Phong Phó bao thầu
*Mặt hàng sợi gia công:
Chủ yếu làm gia công may truyền thống cho khối EC về mặt hàng bảo hộlao động thông qua công ty dệt Phong Phú Ngoài ra, nhà máy còn may gia côngcho công ty Textaco Đến năm 1996, nhà máy máy ngừng gia công mặt hàngnày
BIỂU SÈ 2: Cơ cấu mặt hàng qua các năm:
Mặt hàng 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 19991.Chỉ may
-Cotton
-Pêcô
-May Cn
20/350/360/376/3102/340/2
20/360/3102/340/2
40/260/3
60/3
40/2
Trang 302.Chỉ thêu, ren
-Chỉ thêu
-Chỉ ren
30/220/3
30/220/3
30/220/3
30/220/3
30/220/3
30/220/3
30/220/3
30/220/3
20/242/242/3
42/142/250/360/3
20/220/342/242/350/260/3
20/220/342/242/350/260/3
20/220/342/242/350/260/3
20/220/342/242/350/260/3
20/220/320/442/242/350/260/34
30/2+20/2++
30/2+20/2++
Qua bảng trên ta thấy cơ cấu mặt hàng thay đổi đa dạng phong phó quacác năm đồng thời nhà máy cũng chuyên tâm vào việc nâng cao chất lượng sảnphẩm, cải tiến mẫu mã, màu sắc theo nhu cầu thị trường, khách hàng
2.2.2.Đặc điểm nguên vật liệu làm nên sản phẩm:
Một điểm cần chú ý là nhà máy chỉ khâu Hà Nội không tự sản xuất đượcnguyên vật liệu để sản xuất ra sản phẩm Vì vậy, nhà máy phải nhập nguyên vậtliệu từ nước ngoài, hoặc từ các bạn hàng trong nước Cụ thể là:
-Chỉ thêu, chỉ ren được chế biến từ sợi cotton mua của các công ty trongnước như: nhà máy sợi Hà Nội, công ty Vĩnh Phú
Sợi PE được sản xuất từ xơ PE nhập từ nước ngoài mà chủ yếu la củaMalaisia, Đài Loan, Thái Lan theo phương thức CIF Xơ PE này do công tydệt Phong Phú nhập về và cung cấp cho nhà máy, nhà máy không được giaodịch trực tiếp với các bạn hàng này Nghĩa là về mặt đầu vào, nhà máy khôngphải lo, tất cả do công ty mẹ bao thầu giống như trong cơ chế bao cấp
BIỂU SÈ 3:Một số nghuyên vật liệu chủ yếu nhà máy sử dụng để cấuthành nên sản phẩm (Năm 1999)
Loại Tên NVL Nhu cầutấn/năm đ/cânGiá Giá trịtriệu đ % giá trị %
A Xơ bông PE
Sợi cotton 19/2
1000360
1400032000
1400011520
44.2236.39
80.61
B Sợi cotton 40/2
Sợi cotton 30/2
4836
5000043000
24001548
7.584.89
17.11
Trang 31Thuốc nhuộm đen
Thuốc nhuộm xanh
10003600130020006000200000140001800004800009500004500005500
242169114.41089633.610.814.428.513.5665.8
0.080.680.290.0450.340.3030.110.0340.0450.10.0420.210.001
2.28
Từ bảng trên có thể thấy, nguyên vật liệu phục vụ cho quá trình sản xuấtđược chia làm hai loại:
NVLC: là các loại NVL trực tiếp tạo nên thực thể sản phẩm như xơ bông
PE (chiếm 44,22%), sợi cotton 19/2, 40/2, 30/2, 20/2 (chiếm 17,11%) Xơ bôngchiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguyên vật liệu làm nên thành phẩm Nước tatrồng được Ýt, chất lượng xơ bông không cao, không đáp ứng được nhu cầutrong nước Vì vậy, chủ yếu phải nhập ngoại với giá cao
NVL phụ:là các loại nguyên vật liệu cũng tham gia vào quá trình sản xuÊtnhưng nó gián tiếp tạo nên sản phẩm như các loại hoá chất, thuốc nhuộm, xăngcông nghệ
NVL đáp ứng kịp thời, đúng tiến độ, đồng bộ, chính xác, đảm bảo về sốlượng, chất lượng, chủng loại, phù hợp với yêu cầu kỹ thuật đảm bảo tính liêntục trong quá trình sản xuất, đạt hiệu quả kinh tế cao, vòng quay vốn nhanh
Đối với các nguyên vật liệu không có sẵn trên thị trường, công ty tổ chứcthu mua, dự trữ để khi cần là có nguyên vật liệu cung cấp cho sản xuất
Nhà máy cũng tận dụng tối đa nguyên vật liệu, phế liệu, cố gắng đạt đượcthành phẩm loại xuất khẩu với tỷ lệ cao, giảm bớt loại I, II
Công tác định mức tiêu hao nguyên vật liệu càng được hoàn thiện, đạt độchính xác cao, tiêu chuẩn tốt Định mức tiêu hao nguyên vật liệu được xây dùngcho mỗi năm sản xuất theo phương pháp có căn cứ khoa học, dựa vào thực tếquy trình sản xuất công nghệ sản phẩm của nhà máy, chất lượng nguyên vật liệu
và định mức tiêu hao nguyên vật liệu toàn ngành dệt- may
Biểu sè 4: Kết quả thực hiện định mức tiêu hao NVL năm 1999:
NVL tiêu
hao
Đơn vịtính Kế hoạch Thực hiện
% so với
kế hoạch
% so vớinăm 1998
Trang 32Xơ PE % 4.0 4.2 gần đạt tương
đươngSợi làm
Nhờ công tác định mức, quản lý và sử dụng NVL một cách chặt chẽ, có
hệ thống nên nhà máy đã tiết kiệm được khá lớn chi phí mà vẫn duy trì đượcchất lượng sản phẩm
2.2.3.Đặc điểm máy móc thiết bị công nghệ:
Sản phẩm của nhà máy được sản xuất bởi một dây chuyền công nghệkhông phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của nhà máy Đây là xu thếphổ biến và nhà máy đã nắm bắt nhanh chóng
Trước đây, máy móc thiết bị đầu tư do nhà máy hoặc các xí nghiệp cơ khícủa nghành dệt sản xuất cung ứng (như guồng gỗ, guồng đảo, nồi nấu) hoặc doTrung Quốc viện trợ (máy đậu, máy xe, máy ống ).Hệ thống máy móc thiết bịnày được lắp đặt vào năm 1975 nay đã trở nên lạc hậu, thậm chí đã hết khấu haonhưng vẫn sử dụng tốt, phù hợp với yêu cầu sản xuất của nhà máy
Nhận thấy việc thực hiện đổi mới máy móc thiết bị gắn liền việc đa dạnghoá sản phẩm là một tất yếu khách quan, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triểncủa nhà máy nên đến cuối năm 1993, đầu năm 1994, nhà máy đã đầu tư thêmmột dây chuyền sản xuất sợi PE 100% của hãng Ricter (Đức) như: máy chải,máy ghép, máy sợi
Năm 1997, nhà máy tiếp tục mở rộng sản xuất các mặt hàng: chỉ nội địa,chỉ Polynozic, sợi Kachiboshi Vì vậy, nhà máy mạnh dạn vay vốn ngân hàng
để mua sắm một số máy móc thiết bị cao cấp của BaLan (máy ống), của TrungQuốc (máy xe) và của Đức (máy thô ) Máy tuy là đồ dùng rồi nhưng phù hợpvới yêu cầu sản xuất của nhà máy Mặt khác, do có đội ngũ kỹ sư kỹ thuật sángtạo, nhiệt tình cải tiến máy móc thiết bị, đội ngũ công nhân tinh thông nghềnghiệp nên sản phẩm sản xuất có chất lượng cao, phù hợp yêu cầu của tổ chức,khách hàng trong và ngoài nước
Trang 33Tổng số máy móc thiết bị của nhà máy Chỉ khâu Hà Nội gồm 21 loạimáy, số liệu cụ thể như sau:
BIỂU SÈ 5
L
14 Nhuộm phun Trung Quốc 1979,1999 4
Ngoài ra, còn một số máy khác như thiết bị, máy móc phục vụ trongphòng thí nghiệm, trạm bơm nước phục vụ sản xuất
Do đặc điểm TSCĐ của nhà máy được nhập từ Trung Quốc, Ba Lan, Đức,tuy phù hợp với năng lực của nhà máy, nhưng là đồ cũ, lạc hậu so với các nướctrong khu vực và trên thế gới, nên nhà máy có chế độ quản lý và sử dụng TSCĐđặc biệt và hữu hiệu Nhà máy có một đội ngũ kỹ sư lành nghề, bản thân giámđốc trước là trưởng phòng- kỹ sư sợi viện công nghệ dệt sợi nên máy móc thiết