Với môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt một trong những khó khăn vướng mắc của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đồ nội thất và thủ công nói chung cũng như xí nghiệp Mỹ Á nói riên
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay nhu cầu tiêu thụ gỗ trên thế giới ngày một tăng cao Ngành chế biến gỗ Việt Nam sau nhiều năm tăng trưởng liên tục đã nhanh chóng trở thành một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu năm 2005 xấp xỉ 1,6 tỷ USD Ngành gỗ Việt Nam đã vươn lên vị trí thứ 4 trong khối các nước Đông Nam Á (sau Malaysia, Indonesia và Thái Lan) trong cuộc đua thị phần xuất khẩu đồ gỗ
Nhận thức được tốc độ phát triển nhanh chóng và tiềm năng lợi nhuận cao của ngành kinh doanh đồ gỗ nội thất và thủ công mỹ nghệ hiện nay số lượng đối thủ nhảy vào ngành ngày càng lớn Hiện nay nước ta có khoảng
2000 doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh mặt hàng gỗ và lâm sản Trong đó
có khoảng 300 doanh nghiệp xuất khẩu gỗ tuy nhiên chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa Sản xuất mang tính đơn lẻ, tự tìm kiếm khách hàng cho mỡnh nờn quy mô các doanh nghiệp nhỏ Xí nghiệp Mỹ Á cũng là một doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh đồ gỗ nội thất Chính vì vậy Mỹ Á phải nỗ lực không ngừng để có thể giữ vững được thị phần nội địa cũng như mở rộng thị phần ra các thị trường tiềm năng khác Với môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt một trong những khó khăn vướng mắc của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đồ nội thất và thủ công nói chung cũng như xí nghiệp Mỹ Á nói riêng đó là khó khăn về nguồn nguyên liệu gỗ Nguồn nguyên liệu gỗ ngày càng trở nên khan hiếm, cạn kiệt, nguồn gỗ trong nước không đủ đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp, thực tế hàng năm Mỹ Á phải nhập khẩu 80% nguyên liệu gỗ các loại Trong khi đó
gỗ là nguyên liệu chính quan trong nhất trong những sản phẩm đồ gỗ nội thất chiếm khoảng 50% -70% giá thành sản phẩm Vì vậy để nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh của xí nghiệp thì công tác quản trị nguồn nguyên liệu
Trang 2phải thực sự phát huy tác dụng của mình Tuy nhiên công tác quản trị nguồn nguyên liệu của xí nghiệp Mỹ Á hiện nay còn nhiều khó khăn và vướng
mắc Vì vậy em đã lựa chọn đề tài “ Một số giải pháp nâng cao năng lực
quản trị nguyên vật liệu tại xí nghiệp Mỹ Á” Trong đó tập trung chủ yếu
vào công tác quản trị nguyên vật liệu gỗ của xí nghiệp Kết cấu đề tài gồm 3 chương:
Chương I: Giới thiệu khái quát về xí nghiệp Mỹ Á
Chương II: Thực trạng quản trị nguyên vật liệu tại xí nghiệp Mỹ Á Chương III: Một số giải pháp nâng cao năng lực quản trị nguyên vật
liệu tại xí nghiệp Mỹ Á
Trang 3CHƯƠNG I GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ XÍ NGHIỆP MỸ Á
I Đặc điểm chung của xí nghiệp
1 Thông tin chung
Mỹ Á tiền thân chỉ là một cơ sở kinh doanh nhỏ quy mô gia đình kinh doanh các mặt hàng đồ gỗ nội thất, hiện nay Mỹ Á đã trở thành XN Mỹ Á chuyên SXKD các mặt hàng về gỗ và lâm sản
Tên doanh nghiệp : Xí nghiệp Mỹ Á
Tên tiếng anh : : My A private enterprise
Tên giao dịch : X Xí nghiệp Mỹ Á
Hình thức pháp lý: : Doanh nghiệp tư nhân
Địa chỉ giao dịch: : 174E Đội Cấn – Ba Đình – Hà Nội Tài khoản ngân hàng: : 002.100.000460.2 – Ngân hàng ngoại thương Hà Nội
Điện thoại: : 04 772 0053
Fax: : 04 772 1333
E-mail : Myahanoi@hn.vnn.cn
Webside: : www.myafurniture.com.vn
Ngành nghề kinh doanh chính: chuyờn chế biến gỗ và lâm sản, sản
xuất kinh doanh các sản phẩm đồ gỗ nội thất cao cấp và đồ thủ công mỹ nghệ
2 Quá trình hình thành và phát triển
2.1 Giai đoạn 1 (từ khi ra đời đến năm 1993)
Xuất thân từ một gia đình có nghề làm đồ gỗ mỹ nghệ đã nhiều đời ở làng nghề Đông Kỵ, huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh ông Chử Văn Kiểm - hiện
là giám đốc XN Mỹ Á đã đi khắp nơi sưu tập bàn ghế cổ mang về nghiên cứu rồi mày mò tìm cách chế tác lại Sau đó năm 1990 tổ sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ
Trang 4ra đời Lúc đầu tổ sản xuất mỹ nghệ chủ yếu sản xuất bàn ghế kiểu cổ và nhận gia công cho một vài DN đồ gỗ khác Nhưng đến thời điểm năm 1992 khi quy
mô hoạt động của tổ sản xuất ngày càng được mở rộng Tổ sản xuất Mỹ Á đã chuyển đổi thành XN Mỹ Á theo quyết định số 1585/QĐ ngày 25/9/1992 của
UB thành phố Hà Nội với số đăng ký kinh doanh là 012032 Chuyên sản xuất
đồ thủ công mỹ nghệ đồ gỗ chạm kiểu, sơn mài và thêu ren với mức vốn điều
lệ chỉ là 150.000.000 đồng Trụ sở giao dịch đặt tại 66E Nguyễn Thái Học –
Ba Đình – Hà Nội
Ban đầu do xuất phát điểm từ một tổ sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ, xưởng sản xuất đi thuê, mẫu mã đơn giản và bằng thủ công nên Mỹ Á đã gặp không ít khó khăn Năm 1993, khi lượng khách nước ngoài vào Việt Nam nhiều và họ bắt đầu chú ý tới sản phẩm mỹ nghệ truyền thống thì Mỹ Á đó cú hướng đi thay đổi đề bắt kịp thị trường Hướng đi đầu tiên là dần thay thế trang thiết bị máy móc, toàn bộ khâu sơ chế gỗ, bào gỗ, làm mộng, sấy khô, phun sơn,… đều được làm bằng máy Ông Chử Xuân Kiểm đã mạnh dạn đưa ý tưởng sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ cao cấp để xuất khẩu Ông đã không ngần ngại đầu tư hàng tỷ đồng mua thiết bị máy móc xử lý gỗ từ Đài Loan và Nhật Bản như: Xây dựng lò sấy khô gỗ, phòng phun sơn hiện đại, để có thể cung cấp cho khách hàng những sản phẩm có chất lượng và độ bền cao Riêng những công đoạn thủ công như chạm, đục,… Mỹ Á tuyển chọn nhân công từ các làng nghề truyền thống, được đào tạo công phu nhờ đó tạo ra những sản phẩm
đồ gỗ đạt chất lượng cao cả về thẩm mỹ và chất lượng
Chính sự thay đổi về tư duy này đó giỳp XN đồ gỗ Mỹ Á ngày càng phát triển và mở rộng Đến năm 1997 khi trụ sở giao dịch tại 66 E Nguyễn Thái Học không còn phù hợp với quy mô của XN Mỹ Á đã quyết định chuyển địa điểm giao dịch đến 216 Đội Cấn Và bổ sung thêm việc kinh doanh một số mặt hàng: buôn bán tư liệu sản xuất, buôn bán tư liệu tiêu dùng, buôn bán
Trang 5lương thực thực phẩm, đại lý mua, bán, ký gửi hàng hoá dịch vụ cho thuê kho bãi Tuy nhiên mặt hàng chủ yếu vẫn là đồ gỗ nội thất.
2.2 Giai đoạn 2 ( từ năm 1997 – 2000)
Trong giai đoạn này Mỹ Á không ngừng mở rộng và phát triển các mặt hàng thủ công mỹ nghệ Không chỉ sản xuất các mặt hàng bàn ghế kiểu cổ Mỹ
Á đã mở rộng thờm cỏc mặt hàng khác như đồ gỗ kiểu dáng hiện đại, kết hợp phong cách Á – Âu để đáp ứng nhu cầu của giới trẻ cũng như thị trường nước ngoài Với chính sách đa dạng hoá sản phẩm đáp ứng đông đảo nhu cầu của người tiêu dùng trong và ngoài nước, quy mô của Mỹ Á ngày càng mở rộng lượng sản xuất hiện tại không đủ đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Năm
2000 Mỹ Á đã quyết định đầu tư một khu nhà máy sản xuất rộng 11.000 m2 trên Quốc lộ 5, cạnh khu công nghiệp Sài Đồng A Vị trí này rất thuận lợi cho việc sản xuất và kinh doanh nên XN đã đầu tư xây dựng thêm một cửa hàng trưng bày sản phẩm rộng 2000 m2 Ngoài ra, Mỹ Á cũn cú gian hàng trưng bày và bán sản phẩm tạo nhà A3 trong trung tâm triển lãm Giảng Võ- Hà Nội
2.3 Giai đoạn 3 ( từ năm 2000 – nay)
Từ năm 2000 khi thị trường ngày càng hội nhập, đứng trước sự cạnh tranh của các mặt hàng nội thất nhập ngoại, Mỹ Á đã không ngừng cải tiến và
đa dạng về mẫu mã, nâng cao chất lượng đáp ứng nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng ở mọi lứa tuổi Đến với Mỹ Á hiện nay không chỉ để mua các sản phẩm đồ gỗ nội thất giả cổ như tại các làng nghề vẫn bán mà còn để mua các sản phẩm đồ gỗ kiểu dáng hiện đại, đẹp và đơn giản kết hợp một chút đường nét văn hoa thủ công tinh tế Bên cạnh đó nắm bắt được nhu cầu của giới trẻ,
Mỹ Á đã cho thiết kế và sản xuất các sản phẩm có kiểu dáng hiện đại giống như các mẫu công nghiệp nhưng làm bằng gỗ tự nhiên như gỗ Giáng Hương,
gỗ Gõ đỏ, có mầu sắc tươi sáng Sản phẩm vừa có tính mỹ thuật cao, giá thành hợp lý, vừa có độ bền hơn các sản phẩm làm bằng gỗ công nghiệp
Trang 6Hiện nay, Mỹ Á đang sản xuất rất nhiều loại mặt hàng nội thất như: bàn, ghế, giường , tủ…kiểu cổ, kiểu hiện đại; đồ gỗ xây dựng: ván sàn, cửa, ván ốp trần, tường, cầu thang…Sản phẩm của Mỹ Á được xuất khẩu sang nhiều nước như: Mỹ, Pháp, Canada, Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc và Trung Quốc…
Mỹ Á từ một tổ SXKD nhỏ lẻ đã trở thành một XN lớn chuyên SXKD
đồ gỗ, đã trở thành một trong những DN lớn về SXKD đồ gỗ ở nước ta với mức vốn trên 10 tỷ đồng Đến thời điểm năm 2005 mức vốn của Mỹ Á đã lên tới 17 tỷ đồng Mỹ Á đang dần khẳng định vị trí và thương hiệu của mỡnh trên thị trường đồ gỗ nội thất và mỹ nghệ trong nước cũng như thị trường nước ngoài
3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị
Sơ đồ 1.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị XN Mỹ Á
XN có 215 nhân viên trong đó có 15 người ở vị trí quản lý
Ban giám đốc gồm có 01 giám đốc, 01 Phó giám đốc kinh doanh, 01
phó giám đốc quản lý sản xuất và 01 phó giám đốc kỹ thuật
BAN GIÁM ĐỐC
Phòng kế hoạch
sản xuất
Phòng Kinh doanh
Phòng hành chính nhân sự
Phân xưởng sản xuất Phòng thiết kế Phòng khách hàng
Trang 7Giám đốc:
Giám đốc có toàn quyền quyết định đối với tất cả các hoạt động kinh doanh của DN, việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật
Giám đốc xây dựng các phương án SXKD hàng năm của XN, quy hoạch đào tạo nguồn lao động Quyết định các dự án đầu tư, mua và bán tài sản của XN
Phó giám đốc kinh doanh: Giúp giám đốc điều hành XN, chịu trách
nhiệm trước giám đốc và trước pháp luật về nhiệm vụ được phân công hoặc
uỷ quyền Phụ trách công tác quản lý thị trường và tiêu thụ sản phẩm của XN
Phó giám đốc quản lý sản xuất: Giúp giám đốc điều hành XN, trực tiếp
quản lý phân xưởng sản xuất của XN, chịu trách nhiệm trước giám đốc về quá trình sản xuất sản phẩm
Phó giám đốc kỹ thuật: Trực tiếp quản lý toàn bộ về mặt kỹ thuật của
XN, chịu trách nhiệm trước giám đốc về các mặt công nghệ và kỹ thuật của
XN, giúp giám đốc đưa ra các quyết định thay đổi máy móc, thiết bị công nghệ của XN
Phòng kế hoạch sản xuất
Phòng có chức năng: Kết hợp với phòng kinh doanh tổ chức công tác nghiên cứu thị trường, dự báo nhu cầu sản phẩm Giúp giám đốc đề ra kế hoạch sản xuất Phũng có nhiệm vụ:
- Lập kế hoạch kinh doanh cho hoạt động SXKD của XN
- Kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất Trực tiếp quản lý phân xưởng sản xuất, giám sát hoạt động sản xuất của phân xưởng
Phân xưởng sản xuất
Chức năng: thực hiện các hoạt động sản xuất sản phẩm đáp ứng các yêu cầu của phòng kế hoạch sản xuất
Nhiệm vụ: Đảm bảo đầy đủ số lượng và chất lượng sản phẩm đã được
Trang 8đặt ra Giám sát hệ thống máy móc, trang thiết bị công nghệ kiến nghị với phó giám đốc quản lý sản xuất và phó giám đốc kỹ thuật trong trường hợp cần thay đổi máy móc trang thiết bị mới.
Phòng kinh doanh:
Phòng có chức năng tham mưu trong việc theo dõi diễn biến thị trường nguyên liệu Lập kế hoạch quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu
Nhiệm vụ của phòng kinh doanh gồm:
- Lên kế hoạch kinh doanh; thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh như: tìm đối tác, nghiên cứu thị trường, trực tiếp mua nguồn NVL; thăm dò thị trường các nước
- Ký hợp đồng nhập khẩu, xuất khẩu
- Trực tiếp quản lý 2 phòng ban khác là phòng thiết kế và phòng khách hàng
- Kết hợp với phòng ban khác tìm hiểu thị hiếu người tiêu dùng
- Sáng tạo thiết kế kiểu dáng mẫu mã phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng
Phòng hành chính, nhân sự
Thực hiện chức năng tham mưu, giúp việc cho Giám đốc về công tác quản lý hành chính, nhân sự
Trang 9Phũng có nhiệm vụ:
- Nhiệm vụ quản lý hành chính, đối nội, đối ngoại: quản lý đất đai; hướng dẫn nghiệp vụ văn phòng, giao dịch, quan hệ nhà nước; xây dựng chương trình hợp tác quốc tế; tổ chức lễ tân, tiếp khỏch;…
- Nhiệm vụ an ninh, an toàn: soạn thảo nội quy, quy định về an toàn, vệ sinh lao động …
- Tổ chức bộ máy kế toán, thực hiện công tác kế toán, hạch toán kinh
tế, thông tin kinh tế tập trung, phân tích hoạt động kinh tế
- Tổ chức lưu trữ tài liệu, chứng từ kế toán của XN theo quy định
- Quy hoạch quản lý, nhận xét cán bộ, hoàn tất thủ tục, hồ sơ bổ nhiệm, bãi nhiễm, từ chức,…
4.Đặc điểm chủ yếu ảnh hưởng đến công tác quản trị nguyên vật liệu
4.1.Đặc điểm về sản phẩm và quy trình sản xuất sản phẩm
4.1.1 Đặc điểm về sản phẩm
Sản phẩm đồ gỗ thủ công mỹ nghệ là một sản phẩm khá đặc biệt Những sản phẩm này đòi hỏi sự khéo léo và tinh tế của bàn tay con người mà máy móc không thể thay thế được Với đặc trưng sản phẩm phù hợp với những đối tượng khác nhau như gia đình, khách sạn, nhà hàng, DN, Do đó để thuận tiện cho việc lựa chọn sản phẩm của người tiêu dùng, XN chia sản phẩm theo mục đích sử dụng
Đối với mỗi nhóm sản phẩm được chia theo mục đích sử dụng cú cỏc kiểu dáng và mẫu mã khác nhau Trung bình một nhóm sản phẩm có khoảng
10 kiểu dáng mẫu mã thiết kế Với chính sách đa dạng hoá sản phẩm về số lượng cũng như chủng loại các loại gỗ được sử dụng với khối lượng lớn như
gỗ mun, gụ, trắc, lim, hồng sắc, chiờu liờu, dỏn, và một vài loại gỗ khác, từ
đó tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản trị NVL như chính sách mua sắm, dự trữ, tổ chức sử dụng NVL,…tuy nhiên cũng gây khó khăn cho các
Trang 10hoạt động khác như bảo quản, quản lý NVL ( bảng 1.1)
Bảng 1.1: Danh mục sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ
1) Nội thất gia đình: Đồ gỗ tự nhiên giả cổ
Đồ gỗ kiểu hiện đại
+ Phòng khách + Phòng ngủ + Phòng ăn + Sản phẩm khác
2) Nội thất văn phòng: + Phòng lãnh đạo
+ Phòng họp + Văn phòng
3) Nội thất khách sạn: + Bàn ghế
+ Phòng ngủ + Sản phẩm khác
4) Nội thất xây dựng: + Cửa, cửa sổ
+ Cầu thang, ván sàn
5) Thủ công mỹ nghệ: + Tượng, tranh gỗ, đá
+ Mây tre đan + Sản phẩm khác
( Nguồn: Phòng Kinh doanh - Công ty Mỹ Á)
Yếu tố thứ hai cần quan tâm khi xét yếu tố sản phẩm ảnh hưởng đến công tác quản trị NVL là sản phẩm thay thế Trước đây sản phẩm đồ gỗ nội thất là một sản phẩm không thể thiếu trong mỗi gia đình Việt Nam thì hiện nay khi nền kinh tế ngày càng phát triển người tiêu dùng càng có nhiều cơ hội lựa chọn các sản phẩm khác nhau Với sự có mặt của các sản phẩm thay thế khối lượng tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ thủ công mỹ nghệ giảm từ đó gián tiếp ảnh hưởng đến các hoạt động mua sắm dự trữ NVL
Như vậy đặc điểm sản phẩm có những yếu tố ảnh hưởng tích cực song
có những yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến công tác quản trị NVL Vì vậy căn
Trang 11cứ vào đặc điểm sản phẩm XN cần quản lý công tác quản trị NVL một cách phù hợp và mang lại hiệu quả cao nhất.
4.1.2 Quy trình sản xuất sản phẩm(sơ đồ 1.2)
Quy trình sản xuất sản phẩm được tuân thủ một cách nghiêm ngặt và đây đủ trong đó 2 công đoạn được chú trọng nhất là công đoạn xử lý NVL và làm mộc ( tạo khuụn hỡnh cho sản phẩm) Đây là hai công đoạn quyết định chất lượng cũng như mẫu mã, kiểu dáng của sản phẩm Với quy trình sản xuất sản phẩm này yêu cầu công tác quản lý bảo quản NVL không chỉ thực hiện tại kho mà còn thực hiện ở các phân xưởng sản xuất
Sơ đồ1.2: Quy trình sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ
4.2 Đặc điểm về công nghệ
4.2.1 Đối với máy móc trang thiết bị quản trị văn phòng
Để đảm bảo cho công tác quản lý nói chung và công tác quản trị NVL nói riêng được thực hiện một các nhanh chóng hiệu quả, kịp thời cỏc phũng ban đều được trang bị máy tính hiện đại trong hệ thống mạng thông tin nội bộ
Thành
phẩm
Đánhnhẵn
Phun sơn(xử lý màu)
Trang 12của XN và đều kết nối Internet Ngoài ra cũn cú cỏc công cụ hỗ trợ khác như điện thoại, máy in, fax,… Với hệ thống máy móc trang thiết bị hiện đại đã giảm thiểu khối lượng công việc, thời gian thủ tục cho các hoạt động quản trị của XN chẳng hạn nếu trước đây chưa có máy Fax, điện thoại, máy vi tính thông tin được truyền đi giữa các phòng ban trong XN cũng như với DN khác phải qua thư hoặc có người trực tiếp đến thực hiện thì với công cụ hiện đại chỉ cần điện thoại, fax, hay mail gửi giữa các phòng ban, vì vậy rút ngắn được thời gian, chi phí và tiết kiệm nguồn nhân lực của XN Như vậy tác dụng quan trọng của hệ thống máy móc thiết bị hiện đại này là tính nhanh chóng, thống nhất và đảm bảo của thông tin trong nội bộ DN cũng như với thị trường.
Bảng 1.2: Hệ thống trang thiết bị, máy móc văn phòng
STT Chủng loại Số lượng ( chiếc)
4.2.2 Đối với máy móc thiết bị sản xuất
Hệ thống máy móc thiết bị sản xuất được tập trung chủ yếu tại phân xưởng sản xuất của XN Công nghệ và máy móc mà XN sử dụng chủ yếu là hàng nhập ngoại Tuy nhiên hệ thống máy móc thiết bị này vẫn chưa đồng bộ Nhập từ nhiều nước khác nhau như Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Đức,…
XN vẫn chưa thực sự tiếp cận được với công nghệ cao, một số máy móc thiết
bị đã khấu hao hết nhưng vẫn được sử dụng Đặc biệt trong việc xử lý gỗ, còn gặp phải vướng mặc trong khâu xử lý bề mặt Chính vì vậy hiệu quả hoạt động sản xuất của XN ở mức trung bình, đạt được 40% so với năng lực sản xuất mà XN có thể đạt được
Hệ thống máy móc thiết bị sản xuất kém đồng bộ và lạc hậu ảnh hưởng
Trang 13đến các hoạt động khác trước hết ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc, mất nhiều thời gian và công sức hơn để sản xuất ra một sản phẩm Kèm theo đó là hao phí NVL ngày càng cao nếu trước đây để sản xuất ra một bộ bàn ghế với kích cỡ nhỏ mất khoảng 0.2 m3 thì đến nay mất khoảng 0.22m3 từ đó kéo theo các chi phí phát sinh thêm như chi phí mua sắm NVL, chi phí bảo quản quản
lý NVL
Như vậy để có thể khai thác được hết năng lực sản xuất của XN cần đầu
tư hệ thống máy móc thiết bị hiện đại đảm bảo sử dụng có hiệu quả nguồn nguyên liệu đơn giản hoá công tác quản trị NVL đồng thời cung cấp những sản phẩm có chất lượng tốt ra thị trường
Bảng 1.3: Danh mục cơ sở vật chất trang thiết bị Mỹ Á
A Máy móc thiết bị chế biến gỗ
5 Máy chà nhám + máy nén khí Đài Loan 1996
Trang 1422 Máy bảo thẩm Việt Nam 1996
33 Hệ thống xử lý gỗ tách ẩm Đài Loan 2002
36 Dây chuyền chế biến gỗ đồng bộ Đài Loan 2002
B Phương tiện vận tải
Bảng 1.4: Cơ cấu lao động của XN Mỹ Á
I Theo chức vụ
Trang 152 Nhân viên văn phòng 44 20.47
II Theo giới tính
Lượng lao động chính của XN là công nhân sản xuất trong đó lao động nam chiếm chủ yếu Tuy nhiên lượng lao động lành nghề vẫn còn thiếu và yếu Dẫn đến hiệu suất sản xuất không cao Ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất nói chung cũng như công tác quản trị NVL nói riêng
Do đó cần phải nâng cao trình độ cán bộ công nhân sản xuất của XN để
sử dụng hiệu quả nhất nguồn nguyên liệu của XN tạo điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao năng lực hoạt động quản trị NVL của XN
4.4.Đặc điểm về thị trường
Trang 16* Xu hướng thị trường NVL
Nước ta có khoảng 16 triệu ha đất trống đồi núi trọc, trong đó 8 triệu ha
dự kiến làm rừng sản xuất Thế nhưng, việc trồng rừng của chúng ta cũn ớt, việc xây dựng mạng lưới chế biến gỗ trên toàn quốc chưa có sự thống nhất, vấn đề quy hoạch vùng nguyên liệu còn khá nhiều bất cập, trong khi đầu tư phát triển rừng chưa được quan tâm đúng mức Thiếu nguồn nguyên liệu tại chỗ là một trong những nguyên nhân chính gây ra tình trạng giá nhập khẩu gỗ
“bấp bờnh” trong thời gian qua
Trước nhu cầu sử dụng nguyên liệu gỗ ngày càng cao trong khi khả năng cung cấp trong nước ngày ít XN đã phải nhập chủ yếu từ thị trường nước ngoài trong đó 2 nước nhập khẩu chính là Lào và Malaixia (chiếm đến 80% số lượng gỗ của XN là nhập từ nước ngoài) Tuy nhiên hiện nay nguồn nguyên liệu gỗ của 2 thị trường này cũng đang ngày càng trở nên khan hiếm
và cạn kiệt Hơn nữa nguyên liệu phải nhập từ xa nên bị động về thời gian sản xuất, cùng như chi phí NVL ngày càng tăng cao do giá xăng dầu tăng Giá cả NVL không ổn định thường xuyên thay đổi qua hàng tháng, hàng năm
Với xu hướng NVL đó tình hình mua sắm NVL của XN Mỹ Á cũng có nhiều biến động mà trước hết thể hiện ở giá cả sản phẩm Không chỉ có sự biến động qua các năm mà ngay trong thời điểm 1 năm giá cả NVL cũng có
sự biến động Bảng dưới đây thể hiện tình hình thay đổi về giá cả nguyên liệu
gỗ qua cỏc thỏng của năm 2006
Bảng 1.5: Tình hình biến động nguyên liệu gỗ của xí nghiệp Mỹ Á
Loại gỗ Giá thành Thời điểm mua
1 Gỗ gụ
6.335.5006.350.0004.850.0005.195.000
05/200606/200609/200611/20062.Gỗ Hương 5.240.000
4.545.500
07/200608/2006
Trang 177.919.000 12/20063.Gỗ Chiêu Liêu 2.430.000
6.262.500
10/200612/2006
Đây là ba loại gỗ được mua nhiều lần nhất trong năm 2006 của XN Mỹ
Á tuy nhiên tại mỗi thời điểm mua giá cả tương đối chênh lệch đặc biệt đối với gỗ Chiờu Liờu chỉ sau 3 tháng từ thời điểm tháng 10 đến tháng 12 giá gỗ
đã tăng gần gấp 3 lần Thực trạng giá cả nguyên liệu gỗ bấp bênh và kém ổn định diễn ra với hầu hết các sản phẩm gỗ khác Sự biến động của thị trường không chỉ thể hiện qua sự thay đổi về giá cả mà còn thể hiện ở nguồn cung ứng các loại gỗ ngày càng trở nên khan hiếm đặc biệt các loại gỗ quý như mun, đinh, sến,… Đây là thách thức lớn đối với các DN sản xuất và kinh doanh đồ gỗ nội thất nói chung cũng như XN Mỹ Á nói riêng Do đó muốn đảm bảo nguồn cung ứng NVL XN Mỹ Á đó cú những giải pháp và hường đi trong thời gian tới mà trước hết đó là sử dụng nguồn gỗ có khả năng khai thác
và cung ứng lớn
* Chất lượng nguồn NVL
Ngày nay người tiêu dùng ngày càng quan tâm và chú trọng đến chất lượng sản phẩm Họ luôn muốn sử dụng các sản phẩm an toàn đảm bảo sức khoẻ, đồng thời yếu tố gần gũi và bảo vệ thiên nhiên cũng rất quan trọng Chính vì vậy yêu cầu về chất lượng gỗ đang ngày càng trở nên quan trọng không chỉ với thị trường nước ngoài mà còn đối với cả người tiêu dùng trong nước Tuy nhiên một thực tế hiện nay là các DN sản xuất và kinh doanh đồ gỗ nội thất nói chung cũng như XN Mỹ Á nói riêng vẫn chưa thực sự quan tâm đến vấn đề này Hiện nay tỷ lệ gỗ được chứng nhận FSC của Mỹ Á là 0% ( đây là chứng nhận của tổ chức thế giới về chất lượng gỗ - Nguồn gỗ được khai thác ở những khu rừng có đủ năm tuổi khai thác và được phép khai thác)
Do đó để đáp ứng nhu cầu của khách hàng cũng như đảm bảo về chất
Trang 18lượng sản phẩm và bảo vệ tài nguyên môi trường quá trình lựa chọn mua sắm NVL càng cần được chú trọng, yêu cầu cán bộ quản trị NVL cần có kiến thức trình độ và chuyên môn nghiệp vụ.
* Số lượng nhà cung ứng
Thị trường NVL được chia thành 2 thị trường rõ ràng là thị trường cung ứng NVL trong nước và thị trường cung ứng NVL nước ngoài Trong đó thị trường cung ứng NVL trong nước chủ yếu là các nhà cung ứng nhỏ lẻ, tư nhân tự phát, tự khai thác các rừng tại Việt Nam hoặc lấy gỗ tại Lào rồi chuyờn chở, tập kết nguyên liệu gỗ rồi bán cho các làng nghề, DN SXKD đồ
gỗ mỹ nghệ Thị trường trong nước chỉ có một vài nhà cung ứng lớn như Vinafloor, Thông Cẩm, Chế biến gỗ và lâm sản Quảng Bỡnh, Đõy cũng chính là những nhà cung ứng nguyên liệu truyền thống của XN
Đối với nguồn cung ứng nước ngoài chủ yếu là các nhà cung ứng của Malaixia, Đài Loan, đối với nguồn cung ứng này có khả năng cung cấp khối lượng lớn tuy nhiên chi phí NVL cho các DN này tương đối lớn Hai công ty
mà XN thường xuyên mua gỗ là Green Tree ( Đài Loan), SyariKattah Chering SDN BDH ( Malaixia), Với 2 loại gỗ chính được mua là gỗ mun, gỗ trắc.Như vậy hiện nay số lượng các nhà cung ứng lớn là không nhiều kèm theo đó là tình trạng khan hiếm NVL và kém ổn định về giá cả vì vậy XN thường bị sức ép từ các nhà cung ứng về giá cả, quá trình vận chuyển hoặc khối lượng mua Chính vì vậy đòi hỏi hệ thống quản trị NVL phải linh hoạt đồng thời đảm bảo tính thống nhất trong chính sách mua sắm dự trữ NVL cũng như tìm kiếm lựa chọn nhà cung ứng cho XN
Bảng 1.6: Các nhà cung ứng chính của XN Mỹ Á
STT Tên nhà cung ứng Chủng loại gỗ
2 Syarikattah Chering Gỗ mun, gỗ trắc
3 Thông Cẩm Gỗ Gụ, Trắc, Hương, Chiêu Liêu, Lim
Trang 194 VinaFloor Gỗ Hồng, Trắc, Gụ, Lim, gỗ dán.
5 Chế biến lâm sản Quảng Bình Gỗ Chiêu Liêu, Hồng, gỗ dán
* Môi trường kinh doanh của XN
Môi trường kinh doanh của XN đang ngày càng được cải thiện đó là sự cải thiện về hệ thống cơ sở hạ tầng và các thủ tục hành chính của nhà nước thông qua các chính sách và quy định xung quanh hoạt động sản xuất và kinh doanh đồ gỗ thủ công mỹ nghệ
Với hệ thống trang thiết bị cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng, đường xá giao thông ngày càng nâng cấp đó giỳp XN rút ngắn thời gian giao nhận hàng Nếu trước kia một đơn hàng mua sắm NVL trong nước mất khoảng từ 7-10 ngày NVL mới được tập kết tại kho của XN thì nay chỉ trong vòng 1 tuần NVL đã được tập kết tại kho bãi của XN Đối với các đơn đặt hàng tại thị trường nước ngoài trong vòng 1 tháng NVL cũng được tập kết tại kho bãi của XN
Thêm vào đó là chính sách về đầu tư, mua sắm, nhập khẩu ngày càng trở nên thông thoáng gọn nhẹ, thông qua việc thay đổi chính sỏch, cỏc luật hải quan, thuế xuất nhập khẩu, cùng với chính sách một cửa đã giảm bớt thủ tục trong quá trình mua sắm, vận chuyển NVL của XN
Như vậy nhìn chung môi trường kinh doanh tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho hoạt động SXKD nói chung và hoạt động quản trị NVL nói riêng
Trang 20- Khách hàng có thu nhập cao
Đối với khách hàng có mức thu nhập cao họ thường thớch cỏc sản phẩm làm bằng chất liệu gỗ tốt và quý như gỗ mun, gỗ trắc, gỗ Lim, thể hiện phong cách của người chủ sử dụng chúng trong đó chủ yếu là các sản phẩm
đồ gỗ giả cổ Với những sản phẩm như vậy thường có giá từ vài chục triệu đến vài trăm triệu/1 bộ bàn ghế hoặc giường, tủ Chẳng hạn nếu một bộ bàn ghế cỡ nhỏ làm bằng chất liệu gỗ Mun hoặc gỗ Trắc có giá dao động từ 12-
25 triệu hay một chiếc giường gỗ Mun thường có giá 30- 35 triệu,…Mức giá này phụ thuộc vào chất liệu gỗ được sử dụng, kiểu dáng mẫu mã thiết kế, đối với những sản phẩm có kiểu dáng mẫu mã phức tạp, cầu ký cần người thợ giỏi thì mức giá thường cao hơn
Tuy những sản phẩm này bền đẹp nhưng có một bất lợi là khối lượng lớn, cồng kềnh Hơn nữa việc xác định chất liệu gỗ đối với khách hàng là rất phức tạp vì vậy chủ yếu khách hàng lựa chọn một nhà cung cấp uy tín và lựa chọn sản phẩm
- Khách hàng có mức thu nhập trung bình
Đối với những khách hàng này họ không chú trọng quá nhiều đến chất liệu gỗ được sử dụng Họ quan tâm đến kiểu dáng, mẫu mã, và giá cả của sản phẩm Để phục vụ đối tượng khách hàng nay XN sẵn sàng nhận các đơn đặt hàng thiết kế theo các kiểu dáng khác nhau nhưng được làm bằng các chất liệu gỗ có giá rẻ hơn như gỗ hương, gỗ chiờu liờu, gỗ tạp Chẳng hạn vẫn một bộ bàn ghế cỡ nhỏ có kiểu dáng mẫu mã giống như kiểu dáng mẫu mã của các bộ bàn ghế gỗ Mun nhưng lại sử dụng chất liệu gỗ tạp mức giá có thể chỉ 6 triệu – 8 triệu đồng, hoặc những chiếc giường có kiểu dáng đơn giản không cầu kỳ mức giá chỉ khoảng từ 2 – 3 triệu Với những sản phẩm này XN vẫn có thể đáp ứng được các khách hàng có mức thu nhập thấp
Như vậy xu hướng của người tiêu dùng hiện nay không quá cầu kỳ trong
Trang 21việc lựa chọn loại gỗ nào bởi việc xác định chất liệu gỗ rất phức tạp người tiêu dùng có tâm lý phó mặc cho nhà sản xuất ( lựa chọn nhà sản xuất có uy tín), miễn là chất liệu sản xuất đã được xử lý kỹ thuật tốt, tạo được những sản phẩm chất lượng cao Tuy nhiên nguyên liệu gỗ luôn là yếu tố cốt lõi cấu thành nên sản phẩm đồ gỗ nội thất vẫn cần được chú trọng.
4.4.2.2 Đối thủ cạnh tranh
* Quy mô, số lượng các đối thủ cạnh tranh
Thời gian gần đây, trên thị trường xuất hiện rất nhiều các DN đồ gỗ nội thất và thủ công mỹ nghệ Điều đáng nói là không chỉ cú cỏc DN nội địa, nhiều DN nước ngoài cũng đã nhập cuộc, tham gia thị trường đồ gỗ Việt Nam với nhiều loại sản phẩm trang trí nội thất cao cấp, đa dụng… Theo số liệu thống
kê chưa đầy đủ, trên địa bàn thành phố hiện nay có khoảng 30 DN chuyên SXKD hàng trang trí nội thất từ gỗ
Bên cạnh các gương mặt quen thuộc lâu nay như Nhà Đẹp, Nhà Xinh, Savimex, Saigon Furniture… thời gian gần đây thị trường còn xuất hiện thêm nhiều gương mặt mới như Anh Vũ Nguyễn, Mỹ Tài, và đặc biệt là sự có mặt của công ty nội thất nổi tiếng nước ngoài như Tori, SB Những công ty này có quy mô lớn, có thời gian hoạt động lâu dài và đặc biệt được sự tin tưởng của người tiêu dùng
Ngoài ra hiện nay Mỹ Á còn phải cạnh tranh với các DN đồ gỗ khác như
đồ gỗ Mỹ Hà, đồ gỗ Hà Anh, đồ gỗ Thành Hưng, đồ gỗ Hà Bắc, đồ gỗ Hoàng Anh Gia Lai, và các làng nghề thủ công mỹ SXKD đồ gỗ mỹ nghệ
Như vậy số lượng đối thủ cạnh tranh của XN Mỹ Á ngày càng nhiều không chỉ có các đối thủ cạnh tranh trong nước mà cũn cỏc DN nước ngoài khác
* Đặc điểm về sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh
Trước xu hướng và nhu cầu sử dụng đồ gỗ ở thị trường nội địa ngày
Trang 22càng gia tăng (bình quân khoảng 15%/năm, gấp đôi tốc độ tăng trưởng của thế giới), hiện nay các DN sản xuất và kinh doanh đồ gỗ không chỉ tập trung cho thị trường xuất khẩu mà còn rất chú trọng việc gia tăng khai thác thị trường nội địa.
Khi tham gia thị trường nội thất Việt Nam, các công ty nội thất nước ngoài thường nhằm đến các đối tượng giới trẻ thành đạt, chủ nhân của những căn hộ trung, cao cấp Và để đáp ứng nhu cầu của các đối tượng này, cỏc hóng đồ gỗ đã đầu tư rất nhiều cho cho chương trình đa dạng hóa sản phẩm, xây dựng nhiều cửa hàng trưng bày và bán sản phẩm quy mô lớn để thu hút khách Hầu hết các sản phẩm mà các công ty nước ngoài tung ra đều mang phong cách hiện đại nhưng lại được cách điệu, thay đổi sao cho phù hợp với thị hiếu người Việt Nam Điều đáng nói là các loại sản phẩm này được làm theo dạng mụ-đun nờn có thể lắp ráp, tháo rời ra từng mảnh, từng bộ phận, rất
dễ dàng di chuyển trong không gian hẹp
Đồng thời các công ty nội thất lớn khác cũng đưa ra hàng loạt các sản phẩm với mẫu mã chất lượng và kiểu dáng khác nhau Đơn cử, hệ thống siêu thị nội thất Nhà Đẹp đang chinh phục khách hàng bằng những sản phẩm 3 đẹp: mẫu mã, chất lượng và giá cả Sản phẩm của Nhà Đẹp cũng bao gồm tất
cả vật dụng sinh hoạt và trang trí trong nhà Đối với một số DN sản xuất và kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ khác như đồ gỗ Mỹ Hà, đồ gỗ Hoàng Anh Gia Lai,
đồ gỗ Thành Hưng, đồ gỗ Hà Anh, các sản phẩm của họ chủ yếu là các sản phẩm đồ gỗ giả cổ như bàn ghế, giường, tủ và một vài đồ thủ công mỹ nghệ khác Với các nguyên liệu chính được sử dụng là các loại gỗ trắc, gụ, mun, chiờu liờu, thụng lào, xoan lào
Như vậy với số lượng đối thủ cạnh tranh ngày càng lớn cùng trong khi
đó hầu hết các DN cùng sử dụng một loại NVL do đó dẫn đến tình trạng khan hiếm lại các trở nên trầm trọng hơn, sức ép từ phía nhà cung ứng càng lớn
Trang 23Toàn bộ các yếu tố kể trên đều ảnh hưởng đến công tác quản trị NVL từ công tác định hướng, xây dựng và thực hiện chính sách, lên kế hoạch mua sắm bảo quản dự trữ NVL đến công tác kiểm tra giám sát quản trị NVL do đó muốn thực hiện tốt công tác quản trị NVL cần đánh giá chính xác mức độ ảnh hưởng của các yếu tố từ đó có cách thức quản trị sao cho phù hợp nhất.
Bảng 1.7: Đối thủ cạnh tranh của XN Mỹ Á
Đối thủ cạnh tranh Các sản phẩm chính
1.Nhà Xinh Đồ gỗ nội thất giả cổ và hiện đại
2 Queen Floor Đồ gỗ nội thất hiện đại
3 Đồ gỗ Hoàng Gia Đồ gỗ sản xuất từ thông, xoan Lào
mà đã gần chiếm lĩnh thị trường nước ngoài Trong đó thị trường nội địa vẫn
là thị trường chính, ổn định tập trung chủ yếu tại Hà Nội Ngoài ra XN còn tiến hành xuất khẩu sang các thị trường nước ngoài khác như: như Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Mỹ, Pháp, Canada,… Thị trường của Mỹ Á dần hướng ra thị trường nước ngoài như Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Mỹ, Pháp, Canada,… Trong đó thị trường khu vực Châu Á vẫn là thị trường lớn nhất của Mỹ Á chiếm 45% sở dĩ do văn hóa phong tục của người Châu Á có những điểm tương đồng Tiếp đến là thị trường Châu Âu chiếm 35%, thị trường Châu Mỹ chiếm 15%, một vài thị trường khác chiếm 5%
Đặc biệt trong 2 năm gần đây lượng sản phẩm xuất khẩu sang thị trường Pháp và Nhật Bản tăng cao trong đó chủ yếu là các khách hàng việt kiều Tuy
Trang 24nhiên một vài thị trường khác lại có xu hướng giảm sút như Trung Quốc, Đài Loan, Một thị trường mới nổi lên đó là thị trường Mỹ Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, tháng 8/2006, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam sang thị trường Mỹ đạt 68,2 triệu USD, tăng trên 26,3% so với tháng 8/05 Tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ sang thị trường này 8 tháng đầu năm 2006 đạt 466,6 triệu USD, tăng 31% so với cùng kỳ năm 2005 Nắm bắt được tình hình hiện nay XN đang chú trọng tiếp cần và phát triển thị trường này.
Như vậy thị trường của Mỹ Á ngày càng được mở rộng nếu trước đây sản phẩm của Mỹ Á chỉ có mặt ở thị trường trong nước thì nay thị trường Mỹ
Á đã được mở rộng ra thị trường thế giới
2 Kết quả về doanh thu, lợi nhuận và một vài chỉ tiêu tài chính khác.
Nhìn vào bảng kết quả SXKD của XN ta nhận thấy trong vài năm gần đây doanh thu thuần từ hoạt động SXKD đã giảm Nếu như doanh thu thu được của năm 2002 là 12.451.964.253 (VND) thì năm 2006 doanh thu thu được chỉ là 6.862.611.399 VND bằng ẵ so với doanh thu thu được năm 2002 Lượng doanh thu biến động không ổn định trong 5 năm Năm 2004 có tăng so với năm 2003 nhưng trong 2 năm tiếp theo lượng doanh thu lại giảm sút ( Mô
tả qua bảng Doanh thu thuần - Lợi nhuận) Có thể giải thích tớnh hỡnh thực tế
này là do các nguyên nhân sau: Thứ nhất, đó là do thị hiếu tiêu dùng có sự
thay đổi đặc biệt là giới trẻ, sản phẩm đồ gỗ thủ công mỹ nghệ không là sản phẩm yêu thích và là chọn lựa hàng đầu trong những gia đình trẻ hiện nay
Thứ hai, là số lượng đối thủ cạnh tranh của Mỹ Á ngày càng lớn không chỉ
các DN trong ngành mà các DN ngoài ngành cùng tham gia cung cấp các mặt hàng gia dụng phục vụ gia đình, nhà hàng, khỏch sạn,cỏc cụng ty,… - những sản phẩm thay thế của đồ thủ công mỹ nghệ
Hình 1.1: Biến đ ộng doanh thu, lợi nhuận
Trang 25Tình hình doanh thu ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của XN Trong 5 năm gần đây lợi nhuận giảm đáng kể đặc biệt năm 2005 giảm mạnh nhất chỉ còn 68.114.589 (VND) giảm hơn hẳn so với năm 2004 sở dĩ như vậy do năm này chi phí mua NVL sản xuất sản phẩm tăng mạnh vì vậy giá thành sản phẩm tăng cao dẫn đến lợi nhuận giảm mạnh.
Nhìn vào bảng kết quả SXKD của XN ta nhận thấy trong giai đoạn 2002-2006 một vài chỉ tiêu tài chính của XN đang sút giảm Lợi nhuận giảm
từ năm 2002 -2006 ( năm 2006 lợi nhuận chỉ bằng ẵ lợi nhuận năm 2006) Đó
Trang 26là do những nguyên nhân như giá nguyên liệu đầu vào ngày càng cao (do chủ yếu phải nhập khẩu nguyên liệu gỗ), thị trường nội địa có nhiều sản phẩm thay thế, thẩm mỹ và sở thích người tiêu dùng đang dần thay đổi, thị trường xuất khẩu chưa mạnh
Tỷ lệ lãi ròng cũng giảm chứng tỏ một đồng doanh thu ngày càng tạo ra
ít hơn số lợi nhuận Mặc dù tỷ lệ giảm là không đáng kể nhưng cũng chứng tỏ hoạt động SXKD đang gặp rất nhiều khó khăn và vướng mắc
Khả năng sinh lời trên tổng tài sản ngày càng giảm chứng tỏ một đồng tài sản bỏ ra đang tạo ra ngày càng ít lợi nhuận cho XN Sở dĩ do hoạt động tiêu thụ giảm cộng thêm vào đó là thiết bị máy móc đã cũ và lạc hậu một số máy móc thiết bị đã hết thời gian khấu hao
Khả năng sinh lợi trên vốn chủ sở hữu cũng giảm một đồng vốn chủ sở hữu tạo ra ngày càng ít hơn số lợi nhuận Mặc dù vốn chủ sở hữu ngày càng tăng XN dần làm chủ nguồn vốn của mình nhưng sử dụng không hiệu quả nguồn vốn
Như vậy đánh giá sơ bộ kết quả kinh doanh của XN trong giai đoạn 2002-2006 thấy rằng giai đoạn này XN đang gặp rất nhiều khó khăn và thách thức XN muốn đảm bảo và giữ vững thị phần trong nước cũng như mở rộng
ra thị trường nước ngoài buộc XN phải khai thác và sử dụng hiệu quả nhất nguồn lực của mình trong đó yếu tố NVL là yếu tố cần được chú trọng
Trang 27CHƯƠNG II THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI
Do tính chất hoạt động tiêu thụ của XN tập trung chủ yếu vào quý IV
Bảng 1.5: Một số chỉ tiêu kết quả hoạt động kinh doanh của XN
ST
tiền
01 Doanh thu thuần VND 12.451.964.253 8.753.866.664 11.237.175.188 9.626.196.959 6.862.611.399
Trang 28hàng năm do đó chính sách về dự trự mua sắm NVL khác nhau vào những thời điểm khác nhau trong năm
1.1 Quý I ( tháng 01- tháng 03)
Đây là thời kỳ nhu cầu về sản phẩm của XN ít nhất trong năm Chỉ có một vài nhà hàng khách sạn hoặc các DN đầu tư thay mới trang thiết bị nội thất Nhu cầu sản phẩm của XN trong thời gian này thấp vì vậy nhu cầu về NVL không cao
Hoạt động mua sắm NVL ít XN chủ yếu sử dụng NVL tồn kho của năm trước.Tuy nhiên với đặc trưng NVL của XN là gỗ - đây là NVL có thể được
dự trữ trong thời gian lâu dài hơn nữa thị trường NVL khá biến động vì vậy
XN vẫn chủ trương mua NVL trong giai đoạn này nếu nguồn nguyên liệu đảm bảo về các yếu tố giá cả, chất lượng số lượng và chủng loại NVL Quy trình mua sắm NVL của giai đoạn này được rút ngắn và các hợp đồng mua sắm NVL được thực hiện chủ yếu với các nhà cung ứng truyền thống nhằm đảm bảo tính ổn định, khắc phục tính bất ổn định của nhu cầu NVL
Chính sách dự trữ trong giai đoạn này là dự trữ ít, một lượng vừa đủ để
có thể đảm bảo hoạt động SXKD của XN trong quý II – quý III Các hoạt động quản lý NVL, kho tàng trong giai đoạn này cũng không có nhiều Chủ yếu trong thời gian này tận dụng thời gian kho tàng, phân xưởng sản xuất rảnh rỗi để thực hiện việc sửa chữa nâng cấp chuẩn bị cho thời kỳ sản xuất với cường độ lớn trong quý tiếp theo
Về hoạt động vận chuyển, thông thường XN thường mua NVL theo giá CIF vì vậy hoạt động vận chuyển chủ yếu thực hiện bởi nhà cung ứng tuy nhiên các phương tiện vận tải của XN trong giai đoạn này được sử dụng không nhiều do số lượng khách hàng ít vì vậy đối với các đơn hàng mua sắm NVL ở gần kho bãi XN tự tổ chức vận chuyển nhằm khai thác và sử dụng hết nguồn lực cũng như giảm chi phí NVL
Trang 29Như vậy trong giai đoạn này chính sách mua sắm, vận chuyển và dự trữ NVL của XN là có tổ chức các hoạt động mua sắm, dự trữ nhưng số lượng ít, chủ yếu trong thời gian này là tìm kiếm nhà cung ứng mới đảm bảo nguồn NVL cho hoạt động sản xuất của XN trong thời gian cuối năm.
1.2 Quý II + Quý III
Đây là giai đoạn nhu cầu về sản phẩm của XN bắt đầu tăng Từ thời điểm đầu quý II XN bắt đầu tổ chức dự báo nhu cầu tiêu thụ sản phẩm của
XN từ khách hàng truyền thống và nhu cầu của khách hàng lẻ Từ đó xây dựng kế hoạch sản xuất của XN làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch NVL
Chính sách mua sắm NVL của XN: trong giai đoạn này là kết hợp thông
tin từ phía khách hàng xác định nhu cầu sản phẩm và từ các hoạt động nghiên cứu thị trường NVL tổ chức mua sắm NVL đảm bảo lượng dự trữ tối thiểu cần thiết cho hoạt động SXKD trong quý và quý IV Đồng thời hoạt động nghiên cứu tìm kiếm nhà cung ứng NVL vẫn tiếp tục được tiến hành để có thể tìm kiếm những nhà cung ứng tốt nhất có thể đáp ứng những nhu cầu đột xuất của các đơn hàng trong thời gian tiếp theo
Trong giai đoạn này lượng tiêu thụ NVL bắt đầu tăng cao, phương tiện vận chuyển của XN ít, hơn nữa phải tập trung cho công tác vận chuyển sản phẩm đến khách hàng vì vậy chủ trương của XN trong giai đoạn này là công tác vận chuyển NVL do nhà cung ứng đảm bảo đặc biệt với những lô hàng có khối lượng lớn, riêng đối với một số lô hàng NVL ở gần XN vẫn có thể tự tổ chức vận chuyển
Chính sách dự trữ NVL: trong giai đoạn này lượng NVL được dự trữ với
khối lượng lớn để đảm bảo cho hoạt động sản xuất của XN cũng như có khả năng đáp ứng số lượng lớn các đơn hàng đột xuất trong quý tiếp theo Tuy nhiên chính sách dự trữ cũng cần phải cân đối với các yếu tố như khả năng tài chính của XN, sực chứa của hệ thống kho tàng và các chi phí phát sinh khác
Trang 30Về hoạt động kho tang: trong thời gian này phải thường xuyên kiểm kê
số lượng, chất lượng nguồn NVL, công tác bảo quản nguồn NVL tránh mối mọt cong vênh, cũng như cách thức tổ chức sắp xếp nguồn nguyên liệu sao cho phù hợp, không chiếm quá nhiều diện tích đồng thời đảm bảo được sự thuận tiện nhanh chóng khi xuất kho đưa vào sử dụng nguyên liệu
Khối lượng công tác quản trị NVL trong giai đoạn này tương đối lớn đặc biệt cần chú trọng đến các hoạt động mua sắm dự trữ NVL cũng như quản lý
hệ thống kho tàng và đảm bảo cân đối về mặt chi phí của XN
1.3 Quý IV
Đây là giai đoạn nhu cầu về đồ gỗ mỹ nghệ nội thất tăng cao Những khách hàng truyền thống và đặc biệt khách hàng lẻ mua hàng với sồ lượng lớn Nhu cầu sản phẩm giai đoạn này rất biến động vì vậy phải sẵn sàng khả năng cung ứng nguồn NVL tránh tình trạng không đáp ứng đơn hàng do thiếu nguyên liệu Điều này đòi hỏi các cán bộ NVL phải chuẩn bị sẵn sàng nguồn NVL đồng thời phải có mối quan hệ đối với các nhà cung ứng Tuy nhiên cũng cần lưu ý các chi phí phát sinh khi đưa ra chính sách dự trữ lớn đây là những chi phí không nhỏ như chi phí mua sắm NVL, thông thường giá cả NVL trong giai đoạn này tăng cao kèm theo đó là các chi phí bảo quản dự trữ, chi phí thuê kho bãi do sức chứa kho bãi của XN chỉ chứa được 400-500 m2
Về chính sách vận chuyển cũng giống như giai đoạn trước quá trình vận chuyển chủ yếu do nhà cung ứng đảm bảo, các phương tiện vận tải của XN tập trung chủ yếu vào quá trình chuyên chở sản phẩm đến tay người tiêu dùng
Các chính sách mua sắm,vận chuyển và dự trữ NVL của XN được thống nhất trong toàn XN, phổ biến từ trên xuống nên mọi cá nhân có trách nhiệm liên quan đều tuân thủ nghiêm ngặt Các chính sách này là những quy định mang tính tổng quan nhất sẽ là kim chỉ nan cho toàn bộ hoạt động quản trị
Trang 31NVL
2 Xác định cầu nguyên vật liệu
Xác định cầu NVL là xác định chính xác vế số lượng chủng loại NVL cần đáp ứng cho hoạt động SXKD của XN Muốn vậy cần phải tổ chức xây dựng kế hoạch NVL Hiện nay XN đã tổ chức xây dựng kế hoạch NVL theo từng năm và từng quý
2.1 Kế hoạch theo quý
Do tính chất tiêu thụ sản phẩm của XN theo các quý là khác nhau do đó nhu cầu về NVL của mỗi quý cũng khác nhau
Để đảm bảo hoạt động SXKD phòng kế hoạch sản xuất phải xác định lượng sản phẩm cần sản xuất cụ thể dựa trên các thông tin của phòng kinh doanh về các hoạt động nghiên cứu thị trường nhu cầu người tiêu dùng cũng như tình hình tiêu thụ sản phẩm trong thời gian trước của XN Dựa trên số lượng, chủng loại sản phẩm cần sản xuất phòng kế hoạch sản xuất tiếp tục xác định cụ thể số nguyên liệu cần sử dụng là bao nhiêu Luồng thông tin về số lượng, chủng loại các sản phẩm cũng như NVL sẽ được truyền quay ngược trở lại phòng kinh doanh để kiểm tra giám sát đồng thời là căn cứ để 2 phòng ban phối hợp thực hiện các hoạt động quản trị NVL
Hình 2.1: Quy trình xây dựng kế hoạch NVL
Phòng kinh doanh
Phòng kế hoạch sản xuất
Ban giám đốc
Trang 32(1): Thông tin từ thị trường về nhu cầu sản phẩm trong quý tới
(2): Thông tin do phòng kinh doanh thu thập được từ thị trường được truyền tới phòng kế hoạch sản xuất dự báo nhu cầu sản phẩm
(3): Thông tin phản hồi từ phòng kế hoạch sản xuất trở lại phòng kinh doanh, phòng kinh doanh đánh giá kiểm tra tính phù hợp của kết quả đưa ra rồi truyền quay trở lại phòng kế hoạch sản xuất Nếu còn vướng mắc và chưa phù hợp phòng kế hoạch sản xuất lại điều chỉnh rồi quá trình thực hiện lại như bước (3) Cho đến khi số liệu được thống nhất giữa 2 phòng ban thực hiện bước (4)
(4): Kết quả dự báo nhu cầu sản phẩm được trình lên ban giám đốc phê duyệt
Từ những thông tin trên tổ chức xây dựng kế hoạch mua sắm NVL cho
xí nghiệp Kế hoạch mua sắm NVL được xây dựng trờn cỏc căn cứ:
- Nhu cầu sản phẩm cần sản xuất
- Định mức tiờu hao NVL
- Lượng NVL tồn kho của quý trước
- Dự báo nhu cầu NVL của quý sau
Kế hoạch về nhu cầu sản phẩm của XN vào quý IV năm 2007 như sau:
Bảng 2.1: Nhu cầu sản phẩm của XN quý IV/2007
Trang 33(Nguồn: Phòng kinh doanh)
Từ đó, nhu cầu NVL của XN được xác định theo công thức sau:
W= Q* M – TK + DT
Trong đó: W – lượng gỗ cần sử dụng (tính theo m3)
Q – Lượng sản phẩm cần sản xuất (tính theo chiếc)
M – Định mức tiêu hao ( tính theo m3)
TK: Lượng gỗ tồn kho của năm trước (m3)
DT: Lượng dự trữ (tính theo m3)
Trong đó: Nhu cầu sản phẩm được xác định dựa trên những cảm nhận chủ quan của cán bộ phòng kế hoạch sản xuất về tình hình thị trường và lượng tiêu thụ sản phẩm của năm trước
Về định mức tiêu hao của XN được xác định theo cách thức ước lượng mang tính kinh nghiệm, chưa có một bảng định mức cụ thể mà chỉ dựa vào thói quen tiêu dùng NVL của XN Định mức này được xác định chủ yếu dựa vào kích cỡ sản phẩm sản xuất Không có sự phân biệt riêng đối với từng loại
gỗ Bảng định mức NVL của XN căn cứ vào kích cỡ sản phẩm sản xuất như sau:
Bảng 2.2: Định mức tiêu dùng NVL
Trang 34Về lượng dự trữ NVL của XN hiện nay chưa được xác định một cách
cụ thể lượng dự trữ này được xác định bằng khoảng 20% nhu cầu NVL theo ước tính của XN
Dựa vào các thông tin này xác định được nhu cầu NVL của XN vào quý
IV năm 2007
Bảng 2.3: Nhu cầu NVL vào quý IV/2007
STT Tên loại gỗ Khối lượng (m3)
( Nguồn: Phòng kinh doanh)
Ngoài ra kế hoạch mua sắm NVL còn được xác định dựa vào nhu cầu NVL vào thời điểm cùng quý của năm trước Những căn cứ về nhu cầu sản phẩm, cũng như thị trường cung ứng NVL trong thời gian đó biến động như thế nào sẽ là một trong những căn cứ để XN xác định số lượng, chủng loại gỗ
Trang 35sao cho phù hợp với nhu cầu sản xuất và sự biến động của thị trường NVL.Trong công tác lập kế hoạch NVL theo quý cần chú trọng công tác lập kế hoạch NVL trong quý III, quý IV Vì đây là thời gian lượng nhu cầu sản phẩm lớn Việc đảm bảo cung ứng tốt nguồn nguyên liệu sẽ đảm bảo khả năng cung ứng sản phẩm của XN ra thị trường tránh tình trạng bỏ những đơn hàng lớn
do thiếu nguyên liệu, làm giảm uy tín cũng như lợi nhuận của XN
2.2 Kế hoạch cả năm
Từ những kết quả dự đoán nhu cầu NVL theo từng quý sẽ tổng hợp nên kết quả nhu cầu thực tế hàng năm của XN Tuy nhiên do tính chất thị trường NVL liên tục biến động do đó kế hoạch NVL hàng năm cũng thường xuyên phải thay đổi
Dựa vào kết quả dự báo nhu cầu NVL theo 4 quý năm 2007 có kế hoạch NVL cả năm như sau:
(Nguồn Phòng kinh doanh)
Như vậy công tác xây dựng kế hoạch nhu cầu NVL đã được xõy dựng dựa trên những căn cứ về định mức, khả năng tiêu thụ sản phẩm,… Tuy nhiên chất lượng công tác xây dựng kế hoạch NVL còn rất nhiều yếu kém, căn cứ xác định chưa thực sự chính xác, cụ thể, chủ yếu mang tính phỏng
Trang 36Về công tác xác định khối lượng đặt hàng tối ưu: Khối lượng các đơn
hàng được xác định dựa trên các căn cứ về: thứ nhất, là tình hình NVL cụ thể của XN tại thời điểm mua hàng; thứ hai, là số lượng NVL còn thiếu hụt so với kế hoạch đặt ra; thứ ba, là các chính sách giá được hưởng khi mua các đơn hàng có khối lượng khác nhau; thứ tư, là xu hướng NVL trong thời gian
tới Đây cũng là những căn cứ rất sát thực tuy nhiên việc xác định khối lượng đặt hàng dựa trên các yếu tố này mới chỉ xét đến nhu cầu NVL của XN chứ chưa xét đến chi phí đặt hàng, chi phí lưu kho NVL Do đó hiệu quả trong việc mua sắm NVL chưa cao Vì vậy muốn xây dựng nhu cầu NVL được xác thực chuẩn xác nhất, và sử dụng hợp lý các nguồn lực của XN cần phối hợp giữa các phòng ban và đặc biệt công tác quản trị NVL phải thực sự được quan tâm đúng mức
3 Nghiên cứu thị trường NVL và lựa chọn nhà cung ứng
3.1Nghiên cứu thị trường NVL
Công tác nghiên cứu thị trường NVL là hoạt động đầu tiên cần phải tiến hành Thông tin về thị trường từng loại, chất lượng, giá cả NVL, nhà cung ứng sẽ là những nguồn thông tin quan trọng cho việc dự báo về tình hình NVL từ đó làm cơ sở cho việc tổ chức hoạt động mua sắm và dự trữ NVL.Tuy nhiên hiện nay hoạt động nghiên cứu thị trường NVL của XN được thực hiện chủ yếu thông qua các mối quan hệ hoặc do các nhà cung ứng chủ động giới thiệu, việc chủ động tìm kiếm thông tin về nhà cung ứng mới là rất
ít Chính vì vậy nguồn NVL của XN nhiều khi còn thiếu và chưa đảm bảo được chất lượng
Công tác dự báo tình hình biến động NVL của XN được tiến hành không thường xuyên, định kỳ và kết quả chưa thực sự chuẩn xác Công tác đánh giá thị trường NVL chủ yếu căn cứ vào các thông tin tại thời điểm cùng kỳ năm
Trang 37trước từ đó xác định thời điểm nào có khả năng cung ứng số lượng NVL lớn nhất, chủng loại số lượng NVL vào thời điểm đó và đánh giá qua các thông tin trờn cỏc phương tiện truyền thông như báo, đài, truyền hỡnh,… Mặc dù đây là nguồn thông tin quan trọng tuy nhiên thực tế tình hình NVL thường xuyên biến động Do đó cần xác định cả những thông tin về tình hình NVL vào thời điểm hiện tại Từ đó có những quyết định chuẩn xác nhất về hoạt động mua sắm NVL Những quyết định về thời điểm nào nên mua các loại gỗ, với chủng loại và giá cả như thế nào,
Như vậy thực hiện tốt công tác nghiên cứu thị trường sẽ giúp XN đánh giá được tình hình thị trường NVL hiện tại Từ đó có thể lựa chọn được nhà cung ứng tốt và thời điểm mua NVL một cách phù hợp nhất đảm bảo cung ứng đầy đủ lượng NVL cho nhu cầu SXKD và tối thiểu hoá chi phí NVL
3.2 Lựa chọn nhà cung ứng
Một nhà cung ứng tốt là một nhà cung ứng có khả năng đảm bảo nguyên liệu cho XN về số lượng, chất lượng, chủng loại NVL, thời gian giao nhận hàng đồng thời đưa ra một mức giá hợp lý nhất cho XN
Do đó công tác lựa chọn nhà cung ứng là hết sức quan trọng Bởi lựa chọn được một nhà cung ứng tốt là cơ sở cho việc đảm bảo yếu tố NVL Hơn nữa, chi phí nguyên liệu gỗ chiếm khoảng 50 - 70% giá thành sản phẩm điều
đó có nghĩa giảm chi phí NVL sẽ giảm được giá thành sản phẩm Vì vậy việc tính toán đầy đủ các khía cạnh cần thiết để lựa chọn nhà cung ứng NVL vừa đảm bảo yêu cầu về chất lượng, thời gian cung cấp, vừa đảm bảo được chi phí NVL là một trong những vấn đề rất quan trọng
Với chủ trương là lựa chọn cả những nhà cung ứng truyền thống và nhà cung ứng mới với số lượng lớn miễn là đảm bảo được các tiêu chí về giá cả,
số lượng, chủng loại NVL thoả mãn tốt nhất yêu cầu của XN Hiện nay XN
Trang 383.2.1 Các bước lựa chọn nhà cung ứng
Từ những thông tin của hoạt động nghiên cứu thị trường sẽ đảm bảo cho
XN có những hiểu biết tổng quát về thị trường NVL Sau khi có những thông tin cần thiết cán bộ NVL sẽ tiến hành lựa chọn nhà cung ứng Việc lựa chọn nhà cung ứng được tiến hành qua 3 bước:
Bước 1: Tìm hiểu thông tin về nhà cung ứng
Cán bộ NVL sẽ thu thập thông tin về các nhà cung ứng Những thông tin
về giá cả, số lượng, chất lượng NVL, thời gian vận chuyển, uy tín của nhà cung ứng
Việc thu thập thông tin chủ yếu được thực hiện thông qua phỏng vấn trực tiếp nhà cung ứng hoặc qua mối quen biết bạn bè hoặc các DN khỏc Riờng đối với nhà cung ứng trong nước cán bộ NVL có thể khảo sát trực tiếp tận nơi cung ứng NVL
Những thông tin thu thập này sẽ là những căn cứ để lựa chọn nhà cung ứng
Bước 2: Giai đoạn lựa chọn nhà cung ứng
Từ những thông tin thu thập được về các nhà cung ứng, cán bộ NVL sẽ tiến hành xử lý các thông tin, đánh giá, so sánh các nhà cung ứng về ưu điểm, nhược điểm thông qua một vài tiêu chí như uy tín, thời gian hoạt động của các nhà cung ứng, giá cả chất lượng NVL của các nhà cung ứng, so sánh và lựa chọn nhà cung ứng tốt nhất Thông thường tiêu chí về giá cả, số lượng và chất lượng nguyên liệu gỗ được XN chú trọng hơn cả
Sau khi lựa chọn được nhà cung ứng chính thức XN tiến hành đàm phán
đi đến ký kết hợp đồng mua NVL
Bước 3: Giai đoạn đàm phán đi đến ký kết hợp đồng.
Đàm phán là quá trình thống nhất trao đổi giữa 2 bên để đi đến thống nhất về giá cả chất lượng, cách thức giao nhận NVL Nội dung trong quá
Trang 39trình đàm phán được thực hiện dựa trên yêu cầu của ban giám đốc về nguồn nguyên liệu cũng như khả năng thực tế của nhà cung ứng đó Trong quá trình đàm phán nếu có sự thay đổi nào về yêu cầu NVL phải có sự đồng ý của ban giám đốc sao cho những sự thay đổi về thời gian, số lượng, chủng loại cũng như chi phí NVL phải phù hợp với tình hình SXKD của XN
Quá trình đàm phán với những nhà cung ứng khác nhau sẽ có cách thức khác nhau Với nhà cung ứng trong nước quá trình đàm phán có thể được trao đổi trực tiếp giữa hai bên hoặc thực hiện theo các hợp đồng hợp tác trước đây Đối với nhà cung ứng nước ngoài hình thức đàm phán qua đại diện của công
ty đặt tại Việt Nam hoặc đàm phán trực tiếp với công ty qua mail; điện thoại; fax; hoặc cũng có thể đại diện 2 bên sẽ gặp nhau trực tiếp tại Việt Nam hoặc
ở nước ngoài đối với những đơn đặt hàng có khối lượng, chi phí lớn
Sau khi quá trình đàm phán kết thúc phòng hành chính nhân sự sẽ soạn thảo hợp đồng kinh doanh dựa trên những nội dung đã được thống nhất trong quá trình đàm phán và đi đến ký kết hợp đồng Sau khi ký kết hợp đồng các hình thức thành toán có thể thanh toán hết 1 lần hoặc thanh toán một phần rồi thanh toán hết sau khi đã trao nhận hàng, có thể thanh toán trực tiếp hoặc thanh toán qua ngân hàng Trong suốt thời gian diễn ra hợp đồng cán bộ NVL phải giám sát hợp đồng đó, kiểm tra về số lượng, chất lượng NVL cũng như tiến độ thời gian giao hàng nhận hàng
Nhìn chung quá trình lựa chọn nhà cung ứng của XN được thực hiện qua
3 bước tuy nhiên đối với những nhà cung ứng khác nhau các quá trình lựa chọn có thể thay đổi linh hoạt sao cho giảm thiểu được thời gian lựa chọn mà vẫn đảm bảo việc lựa chọn được các nhà cung ứng tốt nhất Như đối với nhà cung ứng truyền thống công tác thu thập thông tin có thể được tiến hành gọn nhẹ hơn Ngược lại đối với những nhà cung ứng mới quá trình này được tiến hành cẩn thận và tốn nhiều thời gian Ngoài ra với nhà cung ứng khác nhau
Trang 40cách thức thanh toán hợp đồng cũng khác nhau Đối với nhà cung ứng nước ngoài chủ yếu thanh toán hợp đồng qua tài khoản ngân hàng Hiện nay XN lập nhiều tài khoản ở các ngân hàng khác nhau để tiện cho công tác giao dịch Đối với nhà cung ứng trong nước chủ yếu được thanh toán trực tiếp
Trong 3 giai đoạn kể trên giai đoạn 2 khi quyết định lựa chọn nhà cung ứng rất quan trọng vì vậy khi lựa chọn một nhà cung ứng phải chú trọng hơn đến giai đoạn này
3.2.2 Quyết định lựa chọn nhà cung ứng
Từ những thông tin thu thập được về nhà cung ứng cán bộ NVL sẽ đánh giá các nhà cung ứng, điểm mạnh điểm yếu của họ thông qua các chỉ tiêu về giá cả, chất lượng, chủng loại, hình thức, thời gian giao hàng, chiết khấu thương mại, phương thức vận chuyển, điều kiện thanh toán, các dịch vụ sau khi bán hàng như khuyến mại cũng như uy tín, thời gian hoạt động của các nhà cung ứng, từ đó tổng kết đánh giá được ưu điểm, nhược điểm của các nhà cung ứng cũng như điều kiện hợp tác với các chi phí phải bỏ ra, mức độ rủi ro, tiềm năng hợp tác lâu dài và lợi ích thu được của XN - đây là một yếu
tố cần được quan tâm vì có rất nhiều trường hợp các nhà cung ứng có nhiều
ưu điểm tuy nhiên phải mất nhiều chi phí để ký kết hợp đồng cũng như mức
độ rủi ro cao Nguyên nhân là do có thể hàng được chuyển đến nhưng chất lượng không đảm bảo phải đổi lại làm phát sinh thêm thời gian chuyên chở hàng hoá, hoặc phát sinh thờm cỏc chi phí cơ hội như mất đơn đặt hàng, mất khách hàng, Do đó quyết định lựa chọn nhà cung ứng phải thực sự được tiến hành cẩn thận trước khi đi đến ký kết hợp đồng với một nhà cung ứng
Tuy nhiên quá trình đánh giá, lựa chọn các nhà cung ứng hiện nay của
XN mang tính chủ quan chủ yếu được thực hiện bởi ban giám đốc và cán bộ NVL Chưa có một phòng chuyên trách thực hiện công tác đánh giá lựa chọn nhà cung ứng đồng thời chưa có một công cụ, một bảng tổng hợp cụ thể về