1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn quản trị kinh doanh xây dựng thương mại điện tử tại công ty TNHH cơ khí và thương mại hồng phi

84 388 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 421,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Cấp trưởng cỏc phũng ban và phân xưởng trong công ty: là người tổchức thực hiện các nhiệm vụ của giám đốc công ty giao và chịu trách nhiệmtrước giám đốc công ty và pháp luật về mọi hoạ

Trang 1

sử dụng rất hiệu quả Nhưng ở nước ta do nền cơ sở hạ tầng chưa cho phép,nên thương mại điện tử (TMĐT) mới được biết đến và xem trọng trong thờigian gần đây.

Hoạt động TMĐT là hoạt động thương mại thông qua hệ thồng “cửahàng điện tử” trên mạng Internet và hệ thống “thanh toán điện tử” Cửa hàngđiện tử là những trang Web mà thông tin, hình ảnh đầy đủ về sản phẩm đượcđưa lên đó cho người tiêu dùng tham quan tìm hiểu để quyết định lựa chọnhay từ chối cho và giỏ hàng, có một hệ thống tự động định giá giỏ hàng đểngười tiêu dùng dễ quản lý hơn đơn hàng của mỡnh Cũn thanh toán điện tử làthông qua hệ thống ngân hàng để chuyển tiền từ tài khoản của người mua đếntài khoản của ngươi bán

Xây dựng TMĐT có chi phí thấp nhưng lại có thể quảng bá hình ảnh vềsản phẩm, công ty trên phạm vi rộng lớn Tuy nhiên do tình hình hiện nay,nền kinh tế của nước ta con đang trong giai đoạn phát triển lên vấn đè thanhtoán và giao hàng còn gặp nhiều khó khăn Song trong nền kinh tế thị trườnghậu WTO này TMĐT là một xu thế và cũng là sự phát triển tất yếu khụngriờng gỡ của Công ty

Trang 2

Chương 1 Đặc điểm kinh tế và kĩ thuật chủ yếu ảnh hưởng đến TMĐT của công ty TNHH cơ khí và

thương mại Hồng Phi

1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty

1.1 Giới thiệu

- Tên công ty: Công ty TNHH cơ khí và thương mại Hồng Phi

- Địa chỉ: Thôn La Dương xã Dương Nội thị xã Hà Đông tỉnh Hà Tây

- Hình thức pháp lý: là công ty TNHH hai thành viên trở lên, có tư cáchpháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập,cú tài khoản ngân hàng, và có con dấuriêng để giao dịch

- Số đăng ký kinh doanh: 0302000220

Năm 2001 theo quyết định 096/2001QĐ của sở kế hoạch và đầu tư tỉnh

Hà Tây, Công ty TNHH cơ khí và thương mại Hồng Phi được chính thức thànhlập và đi vào hoạt động theo hình thức công ty TNHH hai thành viên trở lên

1.2.Lịch sử hình thành và phát triển

Năm 1998 hộ gia đình sản xuất kinh doanh phụ tùng xe gắn máy Hồng phithành lập với ngành nghề kinh doanh chính là thương mại phụ tùng xe gắn máy

Trang 3

Qua 3 năm hoạt động từ năm 1998 đến năm 2001, nhận thấy tốc độ tăng nhanhcủa các phương tiện giao thông, đặc biệt là xe gắn máy tăng trưởng với tốc độchóng mặt, kéo theo các dịch vụ đI kèm như bảo hiểm, xửa chữa, thay thế phụtùng cũng tăng theo Xét thấy hộ gia đình có kinh nghiệm kinh doanh trongngành phụ tùng xe gắn máy, lại sắn có tiềm năng tài chính, đội ngũ lao động,những khách hàng quen thuộc,… Hộ gia đình sản xuất kinh doanh xe gắn máyHồng Phi đã đI đến quyết định thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên Theo quyết định số 096/2001/QĐ của sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Hà Tây,công ty TNHH cơ khí và thương mại Hồng Phi chính thức đI vào hoạt động từnăm 2001 Ngành kinh doanh chủ yếu lúc bấy giờ là sản xuất má phanh xe gắnmáy Sau hai năm hoạt động, Công ty vào ổn định dần, nhưng nhận thấy nhu cầucủa thị trường về các sản phẩm cơ khí là rất nhiều mà công ty lại có kinh nghiệm

và tiềm lực sản xuất chế tạo các sản phẩm đúc áp lực cao Đến năm 2003, Công

ty quyết định kinh doanh thêm nghành mới là sản xuất, chế tạo và cung cấp rathị trường các sản phẩm đúc áp lực cao như đỳc cỏc linh kiện cho đồ điện cơ, giacông hoàn thiện bộ Mayơ trước sau của xe mô tô hai bánh Cũng vào năm 2003này, Công ty còn quyết đinh nhảy vao ngành nghề kinh doanh khác là kinhdoanh thương mại xăng dầu, bao gồm dầu mỡ chính và dầu mỡ phụ trơ cho tất

cả các loại xe hiện có trên thị trường Mặc dù lĩnh vực kinh doanh thương mạixăng dầu mới bắt đầu từ nửa cuối năm 2003 nhưng lại có tốc độ phát triển rấtnhanh, đang dần chiếm vị trí quan trọng trong các ngành nghề kinh doanh củaCông ty Đến cuối năm 2005, thương mại xăng dầu đã mang lại cho Công ty gần

ba tỷ đồng tiền doanh thu, chiếm hơn 40% doanh thu thuần của Công ty

Do tình hình thị trường có nhiều biến động, Công ty lại vừa phát triển vừathay đổi lai cơ cấu ngành nghề kinh doanh của mình cho phù hợp với môi trường

và tiềm năng của Công ty để tối đa hoá lợi nhuận lên những năm trước 2005, hầunhư Công ty chưa có được lợi nhuận, thậm chí năm 2004 còn bị lỗ hơn 40 triệu

Trang 4

Nhưng từ năm 2005 trở đI, Công ty đã dần đI và ổn định và bước đầu đã có lợinhuận, mặc dù không nhiều (khoảng gần 2 triệu đồng) nhưng đang mở ra mộtthời kì phát triển đầy hứa hẹn Công ty dự tính trong những năm tiếp theo sẽ đầu

tư nhiều hơn cho phát triển thị trường và nâng cao chất lượng sản phẩm, đẩymạnh tiêu thụ và mở rộng sản xuất kinh doanh

1.3.Ngành nghề kinh doanh

- Theo giấy phép đăng ký kinh doanh của công ty TNHH cơ khí vàthương mại Hồng Phi thì mặt hàng chính của công ty bao gồm sản xuất cáclinh kiên phụ tùng xe gắn máy đặc biệt mặt hàng chủ chốt của công ty là máphanh cho xe mô tô 2 bỏnh(mỏ phanh là phần ma sát cho xe đI chậm lại khingười điều khiển đạp cần phanh sau hay bóp tay phanh trước của xe), sau đógia công chế tạo đồ kim khí và các ngành nghề khác như là thương mại xăngdầu chớnh.Nhỡn chung, hiện nay các mặt hàng kinh doanh của công ty kháphong phú và đa dạng do đó đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng vàsản xuất của người dân

* Về mặt hàng chính của công ty

Là má phanh xe gắn máy mà chủ đạo là má phanh liên doanh cho xeliên doanh của cỏc hóng lắp giáp tại Hà Nội Mặt khác công ty sản xuất cácloại má phanh cho các loại xe đang hiện có trên thị trường như: Honda,Suzuki, Yamaha…

* Về các ngành nghề gia công chế tạo đồ kim khí

Công ty nhận tất cả các đơn đặt hàng về các sản phẩm đúc áp lực caonhư:Đỳc má phanh mới 100%, đỳc cỏc linh kiện phụ cho đồ điện cơ(Vớ dụ:

cổ góp, vỏ động cơ của máy bơm nước…)

Hiện nay công ty đang nhận đơn đặt hàng gia công hoàn thiện bộ mayơtrước sau của xe mụtụ 2 bánh

Trang 5

* Phần thương mại xăng dầu:

Gồm tất cả các loại xăng dầu chính và dầu mỡ phụ cho tất cả các loại

xe hiện có trên thị trường Hiện Công ty chỉ có một cửa hàng xăng dầu vàđang hoạt động rất tốt, nhưng những năm tới Công ty sẽ mở thêm nhiều cửahàng xăng dầu khỏc trờn địa bàn tỉnh, cũng như các địa bàn khác

Trong những mặt hàng kể trên thì mặt hàng sản xuất má phanh cho xe gắnmáy là nguồn kinh doanh chủ yếu, chiếm khoảng 70% doanh thu của công ty, đặcđiểm của mặt hàng này là tái sử dụng rất cao dễ chế tạo và ít hao hụt Mặt hànggia công và đúc Mayơ vẫn chưa tìm được thị trường tương ứng với tiềm năng củaCông ty lên chưa tạo được nhiều doanh thu cho Công ty Kinh doanh thương mạixăng dầu mặc dù sinh sau đẻ muộn nhưng lại đang dần chiếm vị trí quan trọngtrong Công ty

2 Cơ cấu tổ chức của Công ty

2.1 Nhiệm vụ, chức năng

- Giám đốc công ty:là người đại diện pháp nhân của công ty và chịu

trách nhiệm trước pháp luật về điều hành hoạt động của công ty, là người cóquyền điều hành cao nhất trong công ty

- Các phó giám đốc công ty: là người giúp việc cho giám đốc cụngty.Phú giám đốc được phân công phụ trách một hoặc một số lĩnh vực công tác

và chịu trách nhiệm trước giám đốc công ty, trước pháp luật về các lĩnh vựcđược phân công

- Kế toán trưởng công ty: là người giúp giám đốc công ty quản lý côngtác kế toán tài chính theo pháp lệnh kế toán thống kê và thực hiện chức năngnhiệm vụ theo quy định tại điều lệ kế toán trưởng

- Các phòng chuyên môn, nghiệp vụ: có chức năng tham mưu, giúpviệc giám đốc trong quản lý điều hành công việc và chịu trách nhiệm trướcgiám đốc công ty về các lĩnh vực công tác được giao

Trang 6

- Cấp trưởng cỏc phũng ban và phân xưởng trong công ty: là người tổchức thực hiện các nhiệm vụ của giám đốc công ty giao và chịu trách nhiệmtrước giám đốc công ty và pháp luật về mọi hoạt động.

+ Phòng kinh doanh:cú chức năng tham mưu cho giám đốc trong qỳatrỡnh tổ chức và quản lý hoạt động kinh doanh của công ty tiếp cận thịtrường,tuyờn truyền, quảng cáo thu hút khách hàng, xây dựng chiến lược kinhdoanh cho đơn vị, điều độ hàng hóa, trực tiếp theo dõi tình hình thực hiện kếhoạch của các đơn vị cơ sở, phân tích nhu cầu thị trường, quảng cáo và giớithiệu sản phẩm tới khách hàng

+ Phòng kế toán và tiền lương: có chức năng tổ chức hạch toán cácnghiệp vụ kinh tế phát sinh tại công ty, lập và phân tích báo cáo quyết toáncủa công ty đúng quy định hiện hành, tham gia cựng phũng quản lý nhân sựtrong việc lập sổ lương cho cán bộ công nhân viên

+ Phòng quản lý kỹ thuật: có chức năng tổ chức hướng dẫn , kiểm traviệc quản lý chất lượng hàng hóa xây dựng triển khai và giám sát việc thựchiện các định mức kỹ thuật ở tất cả cỏc khõu của quá trình kinh doanh,theodõi giám sát các phân xưởng thực hiện

+ Phòng quản lý nhân sự: có chức năng là chủ động lập quy hoạch cán

bộ trong từng thời kỳ theo quy định của công ty, có nhận xét, đánh giá bổsung hàng năm báo cáo công ty duyệt để thực hiện công tác đào tạo, bồidưỡng cán bộ Phòng tổ chức hành chính cũng có chức năng tham mưu chogiám đốc công ty trong công tác tổ chức cán bộ, lao động tiền lương, bố trí,sắp xếp và sử dụng lao động Theo dõi thi đua, thanh tra pháp chế, phòngcháy chữa cháy an toàn và một số công tác khác Sắp xếp nơi làm việc, trangthiết bị hành chính cho cỏc phũng ban quản lý hộ khẩu, điều động xe

Trang 7

2.2 Cơ cấu tổ chức

Sơ đồ 1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức

Chỳ thớch: Quan hệ mang tớnh chất điều hành trờn dưới

Quan hệ giữa cỏc bộ phận trong dõy chuyền Những mối quan hệ khỏc

Chỳ thớch: Quan hệ mang tớnh chất điều hành trờn dưới

Quan hệ giữa cỏc bộ phận trong dõy chuyền Những mối quan hệ khỏc

Giám đốc

P.giám đốc

Phân xởng hoàn thiện

và đóng gói

Phân xởng gia công sau khi đúc

Cửa hàng xăng dầu

Phòng quản

lý nhân sự P.kế toán vàtiền lơngPhòng kinh

doanh

Trang 8

Cơ cấu tổ chức của Công ty bao gồm 1 giám đốc, dưới giám đốc là 2 phógiám đốc, phó giám đốc kinh doanh và phó giám đốc kĩ thuật Dưới phó giámđốc kinh doanh bao gồm: phòng kinh doanh, phòng quản lý nhân sự, phòng

kế toán tiền lương, và các phân xưởng, còn dưới phó giám đốc kĩ thuật cúphũng kiểm tra kĩ thuật Hệ thống các cửa hàng xăng dầu và cửa hàng giaodịnh, giới thiệu sản phẩm làm việc dưới sự chỉ đạo của phòng kinh doanh

* Đánh giá cơ cấu tổ chức

Công ty TNHH cơ khí và thương mại Hồng Phi khởi đầu từ kinh doanh

hộ gia đình mà lờn Nờn những người lãnh đạo trong công ty, giám đốc vàcác phó giám đốc có hiểu biết rất cặn kẽ về những công việc của công ty, từnhững việc nhỏ nhất đến những việc lớn nhất Điều này rất có lợi trong việc

tổ chức và bố chí nhân lực cho những vị trí thích hợp Với cơ cấu tổ chứctương đối gọn nhẹ lên quá trình ra quyết định từ trên xuống dưới và nhữngphản hồi từ dưới lên trên là rất nhanh Đặc biệt với cơ cấu tổ chức ấy, công tyrất nhanh nhạy trong việc phản ứng với những thay đổi của thị trường, dễdàng thay đổi để đáp ứng những nhu cầu phát sinh

Mặc dù cơ cấu của công ty gọn nhẹ song lại có sự phân công và chuyênmôn hóa sâu sắc Cỏc phũng, ban phân xưởng có được sự phân công côngviệc rõ ràng phù hợp với năng lực và chuyên môn để tránh chồng chéo vàtrùng lặp trong công việc, nhưng lại có được sự hỗ trợ cho nhau rất tốt Mặc

dù là một công ty nhỏ nhưng có sự chuyên môn hoá cao, dưới sự điều hànhcủa ban lãnh đạo, các thành viên trong công ty có tinh thần tự giác, ý thứcchấp hành nội quy lao động tốt và đặc biệt là tinh thần tương thân tương ái,mọi người sống hoà hợp, giúp đỡ, chia xẻ cho nhau những kinh nghiệm quýbáu

Trang 9

Tuy nhiên, để vươn lên tầm cao mới, để có bước phát triển mới, một số

vị trí trong bộ máy quản trị cần có sự tích luỹ và bồi dưỡng thêm, đặc biệt cầntuyển mộ thêm những người có nhiều kinh nghiệm và trình độ chuyên môncao vào phòng kinh doanh cho bộ phận Marketing nhằm nâng cao khả năngtiêu thụ sản phẩm và vào phòng kiểm tra kĩ thuật cho bộ phận quản lý côngnghệ nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và giảm thiểu chi phí đầu vào.Ngoài ra phòng nhân sự cũng lên kiểm tra và đánh giá thường xuyên, chínhxác để tổ chức cũng như tổ chức lại, phân công lao động phù hợp với chuyênmôn của họ nhất

3 Các kết quả mà Công ty đã đạt được

3.1 Các kết quả kinh doanh

Bảng 1: Một số kết quả Công ty đạt được

(Nguồn: báo cáo tài chính cuối năm các năm_ phòng kinh doanh)

Doanh thu hàng năm của công ty tăng qua các năm tuy nhiên nếu chỉtớnh riờng mặt hàng chủ đạo của công ty(sản phẩm cơ khớ_mỏ phanh xe gắnmáy) thì sản lượng và doanh số bán tăng nhanh vào năm 2005 và năm 2006.Năm 2005 cũng là năm mà kinh doanh xăng dầu có bước tiến rõ rệt nhất đónggóp lượng lớn vào doanh thu của Công ty lên doanh thu năm 2005 gần gấpđôi năm 2004 Điều này là tín hiệu mừng cho tương lai, vì nếu giữ được mức

Trang 10

tăng doanh thu như vậy thì vài năm tới khi đi và ổn định hơn thì Công ty cóthể tăng được lợi nhuận Nên đến năm 2006 Công ty đã có lợi nhuận cao vàthu nhập trung bình của người lao động được tăng lên đáng kể, thuế và cáckhoản phải nộp cho Nhà nước cũng tăng theo Năm 2005 là năm bước ngoặtmang tính đột phá và đến năm 2006 thì dần đi vào ổn định Chúng ta hãy xemxét tốc độ tăng trưởng tiêu thụ mặt hàng sản phẩm cơ khí qua bảng dưới đây:

Bảng 2: Địa bàn phân phối sản phẩm cơ khí

SL 2006 (đôi) Tăng hơn

mà Công ty đang cung cấp như Hải Phòng, Nam Định, Ninh Bỡnh,… để tạothêm cơ hội kinh doanh cho mình

Trang 11

3.2 Kết quả các hoạt động khác

Qua 6 năm hoạt động, ngoài những thành tựu về kinh doanh, các kết quảkhác mà Công ty đạt được cũng rất khả quan, tạo điều kiện thuận lợi choCông ty trong quá trình sản xuất Đó là các kết quả đạt được như: có đượcmối quan hệ với các nhà cung ứng trong thị trường nguyên vật liệu, xây dựngmối quan hệ với khách hàng, tạo dựng hình ảnh Công ty trong mắt người tiêudùng và kinh nghiệm quản lý cũng lao động của đội ngũ công nhân viên Nguyên vật liệu chủ yếu của Công ty chủ yếu là loại vật liệu tái sử dụng

mà nguồn vật liệu này lại được thu mua từ các đại lý Có một mối quan hệ rấtsâu sắc tạo điều kiện thuận lợi cho Công ty trong cả công doạn thu muanguyên vật liệu và tiêu thụ hàng hoá, đó là mối quan hệ với các đại lý tại địabàn mà Công ty phân phối sản phẩm Công ty giao hàng mới cho các đại lý vànhận, thu mua lại các hàng cũ, đã qua sử dụng Do vậy không những tiết kiệmđược về mặt chi phí vận chuyển mà cái mối quan hệ qua lại ấy tạo ra sự vữngbền trên cả hai thị trường mua nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm Qua mấynăm hoạt động, mặc dù lợi nhuận chưa cao song nhiều người tiêu dùng đã biếtđến sản phẩm của Công ty, và điều này là tiền đề cho sự phát triển của Công

ty sau này Về phía kinh nghiệm của người lao động cũng tăng lên rất rõ rệt,trình độ lao động có tay nghề cao năm 2005 tăng lên gấp đôi so với năm

2001, và số lao động bậc 1 cũng chỉ chiếm số lượng rất nhỏ trong Công ty Trong khi đó cơ sở vật chất kĩ thuật của Công ty cũng được đầu tư thêmdần qua các năm, đi liền đó là trình độ lao động của đội công nhiên viên cũngtăng dần theo thời gian làm việc

Là một công ty nhỏ nhưng Công ty cũng đó gúp được một phần vào quátrình phát triển của nền kinh tế quốc dân, giải quyết cho hơn 100 lao động vàđóng góp gần bẩy tỷ đồng cho tổng thu nhập Quốc dân

Trang 12

4 Đặc điểm kinh tế và kĩ thuật chủ yếu ảnh hưởng đến thương mại điện

tử tại Công ty

4.1 Nền kinh tế thị trường – tất yếu của việc xây dựng thương mại điện tử

Việt Nam sau khi bị chiến tranh tàn phá nặng nề, lại bị Mỹ cấm vậntrong thời gian dài Nền kinh tế vốn đã nhỏ bé lại càng trở lên suy thoái hơn.Nền kinh tế bao cấp tập trung quan liêu, người dân không có kháI niệm tiêudùng và mua sắm Nhưng từ thời mở cửa và chuyển sang nền kinh tế thịtrường, nền kinh tế Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ và khái niệm vềdoanh nghiệp và người tiêu dùng mới được nhận thức đầy đủ Giờ đây trongthời kì sau khi gia nhập WTO này, doanh nghiệp và người tiêu dùng càng có

ý nghĩa hơn cho nền kinh tế đất nước cũng như mức sống của người dân Nếunhư trước đây, người ta chỉ chi tiêu bằng những tấm chi phiếu, những xổ cấpphát, còn tiền dường như chẳng để làm gì Thì ngày nay, đồng tiền lại có ýnghĩa rất to lớn mà người ta thường bảo là “cú tiền mua tiên cũng được” hay

“khỏch hàng là thượng đế” Người tiêu dùng bây giờ có nhiều sự lựa chọn lên

họ cũng khó tính hơn, họ đòi hỏi những thông tin về sản phẩm, về doanhnghiệp nhiều hơn Vì thế, đòi hỏi phải có nhiều phương pháp chuyền tin hơn,

và TMĐT ra đời có thể đáp ứng được điều đó

Ơ’ một số nước phát triển Ngày nay, người ta có thể ngồi nhà mà vẫn cóđược những thông tin đầy đủ về sản phẩm, vẫn có thể mua và thậm chí dùngthử sản phẩm chỉ bằng một thao tác rất đơn giản là “click” chuột vào đơnhàng Người tiêu dùng Việt Nam cũng có thể ngồi nhà bằng một cú điện thoại

để có được sản phẩm yêu thích Tuy nhiên, những thông tin về sản phẩmkhông được đầy đủ và chi tiết Hơn nữa hình ảnh về sản phẩm lại không cậpnhật được vì thế họ chỉ thường đặt hàng với những mặt hàng đã quen thuộctiêu dùng và quen thuộc với nhà sản xuất Nhưng một vài năm tới, khi mà nềnkinh tế phát triển hơn thì người tiêu dùng muốn rằng người ta ngồi nhà mà có

Trang 13

thể làm được tất cả, từ việc tìm hiểu, dùng thử và đặt mua sản phẩm đếnnhững việc xem xét chính sách khuyến mãi của các loại sản phẩm và ý kiếnphản hồi đến công ty mà họ đang tiêu dùng sản phẩm Họ muốn rằng tất cảnhững việc đó được thực hiện đơn giản chỉ bằng một thao tác “click” chuột

mà thôi TMĐT là một biện pháp tốt để giúp họ thực hiện điều đó

Thời kì kinh tế thị trường sau khi gia nhập WTO, khách hàng là thượng

đế, các doanh nghiệp làm theo những gì mà người tiêu dùng muốn, họ luôn lỗlực để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Vỡ cỏc doanh nghiệp hiểu rằng,

để tồn tại và phát triển, chỉ có một cách duy nhất là làm hài lòng khách hàng.Trong nỗ lực làm hài lòng khách hàng, các doanh nghiệp phảI trực tiếp cạnhtranh nhau, họ không muốn đứng lại nhìn người khác đi qua để rồi mình chìmxuống Người ta nói thị trường là chiến trường để nói lên sự khốc nghiệt của

nó Thị trường luôn biết cách đào thải những gì không phù hợp với nó và chỉ

để những gì phù hợp với nó tồn tại mà thôi Trong bối cảnh cạnh tranh khốcliệt như vậy, các doanh nghiệp cần phải tự cải thiện mình sao cho phù hợp vớithị trường, mà thị trường thỡ luụn biến đổi lờn cỏc doanh nghiệp cũng khôngngừng đổi mới theo Mỗi một quyết định, chính sách, chiến lược đều có ảnhhưởng lớn đến công ty, quyết định sự thành bại của công ty Vì khi mình làmsai, họ làm đúng thỡ mỡnh sẽ bị loại ra khỏi cuộc chơi Một sự đào thải khôngchỉ có ý nghĩa là dừng lại mà còn có ý nghĩa “diệt vong” Để phục vụ kháchhàng cả về chiều sâu và chiều rộng, đáp ứng được nhu cầu và quy luật của thịtrường, đòi hỏi doanh nghiệp phải có nhiều hình thức tiêu thụ, quảng bá,chuyền tin Và TMĐT có thể giúp doanh nghiệp làm điều đó

Rất nhiều các doanh nghiệp, không những ở nước ngoài và ngay cả ở ViệtNam đã xây dựng và phát triển TMĐT Họ đã thu được nhiều thành công và

vì thế việc xây dựng TMĐT cho hệ thống các doanh nghiệp Việt Nam là hoàntoàn hợp lý

Trang 14

4.2 Sự bùng nổ Internet trong thời gian gần đây

Trước đây khoảng sáu, bảy năm, khái niệm về Internet đối với người dân

Hà Nôi – thủ đô của đất nước – trung tâm văn hoá của Việt Nam vẫn còn rất

mơ hồ Rất nhiều người không biết đến và rất ít người có điều kiện tiếp xúcvới Internet Nhưng từ năm 2003 trở lại đây, nền công nghệ thông tin có sựchuyển mình dữ dội, với bước phát triển chóng mặt của Internet và điện thoại

di động Trào lưu bùng nổ Internet ở Việt Nam chỉ mới xuất hiện thời giangần đây khi mà các nhà cung cấp Internet ở Việt Nam hạ giá cước truy cập vàcác điểm dịch vụ truy cập Internet tốc độ cao ADSL mở ra khắp nơi Trongkhi đó, trên thế giới từ lâu Internet đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực trong cuộcsống và là “mún ăn” không thể thiếu được với mọi người Cùng với Internet

là hàng loạt các dịch vụ quảng cáo, mua bán, giới thiệu,… trên mạng Đây làthời đại mà người ta chỉ bỏ ra một khoản chi phí nhỏ nhưng vẫn có thể “đỏnhbúng” tên tuổi và các sản phẩm của mỡnh trờn toàn thế giới thông quaInternet; thời đại mà mọi cá nhân, mọi doanh nghiệp, mọi cơ quan đoàn thểđều có quyền bình đẳng cung cấp tin như nhau Đặc biệt năm ngoái 2006 cónhiều sự kiện trọng đại diễn ra như hội nghị cấp cao của các nước Châu á -Thái Bình Dương được tổ chức ở Việt Nam, Việt Nam chính thức là thànhviên của tổ chức thương mại thế giới WTO, hội trợ triển lãm công nghệ thôngtin được tổ chức ở thành phố Hồ Chí Minh với những cái bắt tay của các tậpđoàn công nghệ thông tin lớn ở Việt Nam Vì thế Internet càng trở lên gần gũihơn và có xu thế phát triển ổn định hơn Theo tin từ Bộ Bưu chính viễn thôngViệt Nam, mục tiêu của ngành nay năm 2007 là phấn đấu đạt mật độ sử dụngđiện thoại 43 máy/ 100 dõn Cú khoảng 38 triệu thuê bao điện thoại cố định

và 5,8- 6 triệu thuê bao Internet Phấn đấu doanh thu đạt trên 60.000 tỷ đồng,

duy trì tốc độ tăng trưởng trên 25% (Trích thời báo kinh tế)

Trang 15

Mấy năm gần đây, sự bùng nổ của Game trực tuyến cũng góp phần đẩynhanh tốc độ phát triển của Internet, ngày nay, mọi lẻo đường, mọi ngõngách, các cửa hàng game-internet mọc lên như nấm Chính vì vậy nhữngngười không có điều kiện nối mạng cũng dễ dàng tiếp xúc với Internet hơn,nên hầu như, bây giờ, ai cũng biết đến Internet, ai cung xử dụng Internet Tuyrằng, số thuê bao cũn ớt (khoảng 2,6 – 3,3 máy/100 dõn), mà tập trung chuyếu là các thuê bao của các cửa hàng Internet-game, nhưng mỗi cửa hàngtrung bình cũng có khoảng 30 máy, thậm chí có nơI lên đến 50-100 mỏy Lờntớnh số máy trung bình trên 100 dân cũng được tăng lên đáng kể, tiến tới đạt

tỷ lệ trung bình của khu vực

Dân số Việt Nam thuộc loại dân số trẻ, lao động của Việt Nam cũng thuộcloại lao động trẻ Các công ty Việt Nam cũng đa phần chỉ mới thành lập trongkhoảng mười năm năm trở lại đây Tất cả mọi thứ đều trẻ, mà tuổi trẻ thì năngđộng, dễ dàng tiếp thu và nắm bắt những cái mới, thích thú những cáI mới.Lên Internet càng có điều kiện phát triển hơn Ngày nay 100% các công tyhoạt động trong các lĩnh vực thương mại, dịch vụ đã nối mạng Internet và sửdụng Internet như một công cụ cho kinh doanh Và con số đó đối với doanhnghiệp sản xuất là khoảng trên 90% Khoảng 50% số trường PTTH, 100% sốbệnh viện trung ương và trên 50% số bệnh viện tỉnh được kết nối Internet; tất

cả các bộ nghành, cơ quan hành chính Nhà nước, chính quyền cấp tỉnh và cấphuyện được kết nối Internet và mạng diện rộng của Chính phủ, hầu hết cán

bộ, công chức được sử dụng Internet phục vụ công tác chuyên môn và hànhchính công điện tử Internet có một vị trí vô cùng quan trọng đối với doanhnghiệp, người tiêu dùng và mọi tầng lớp dân cư Tạp chí CIO và Darwin của

Mỹ đã thực hiện một cuộc điều tra đối với khách hàng của mình về hiệu quảcủa Internet và kết quả cho thấy, hầu hết người dùng đều cho rằng Internet làmột công cụ quan trọng của các doanh nghiệp Tuy nhiên, phần lớn những

Trang 16

người được hỏi cho rằng, các site trên Internet của họ không phải là một nơichỉ để bán hàng Đa số những người được hỏi đều cho rằng, chức năng chínhcủa các địa chỉ Website trên Internet là để cung cấp các sản phẩm đặc thù,hoặc cung cấp, truyền đạt thông tin (39%) và cho phép những người truy nhậpWebsite hiểu thêm về công ty sở hữu Website đó (34%) Chỉ có 16% nhữngngười được hỏi cho rằng chức năng chính của các Website trên Internet là đểmua bán hàng hoá và giao dịch.

Ơ Việt Nam, thành phần sử dụng Internet cho công việc mua hàng là tươngđối ít nằm rải rác ở các tầng lớp dân cư như công nhân viên, sinh viên tri thức,

cá nhân, hộ gia đình và doanh nghiệp Song số người truy cập vào cácWebsite trên Internet để cập nhật tin tức về các sản phẩm mới, cập nhập giábán hàng hoá và cập nhật những thông tin khác liên quan đến hàng hoá, hìnhảnh, hinh ảnh của doanh nghiệp thì tương đối nhiều Và trong vài năm tới,điều này sẽ trở thành phổ biến Rất thuận lợi cho việc phát triển thương mạiđiện tử vì vậy, việc xây dựng TMĐT ở Công ty là vô cùng cần thiết Nhưngtrước tiên chúng ta hãy xem xét đặc điểm của việc chào hàng trên mạng

* Đặc điểm của việc chào hàng trên mạng

- Tình hình mua hàng bằng phương thức điện tử trên thế giới

Ba năm tập hợp dữ liệu, 37 nước, 42.000 cuộc phỏng vấn, và kết quả cóthể được tóm tắt ngắn gọn: Trong khi việc sử dụng Internet toàn cầu tăng lênkhông đáng kể (tăng 31% năm 2001 tới 34% năm 2002), tỷ lệ người sử dụngthực hiện mua hàng trên mạng cũng không thay đổi: 15% Tuy nhiên, sự tăngthêm số lượng người sử dụng trực tuyến là yếu tố đảm bảo rằng, TMĐT đangtăng trưởng Sự tăng trưởng trong việc sử dụng / truy nhập Internet có nghĩa

là nhiều người hơn sẽ mua hàng trực tuyến

Những số liệu tìm thấy được rút ra từ báo cáo của Taylor Nelson Sofres(TNS), tổ chức phân tích về sự thâm nhập của Internet và TMĐT, các sản

Trang 17

phẩm được bán trực tuyến, các lý do khiến người tiêu dùng không mua hàngtrên mạng, và mức chi tiêu cho TMĐT trong số 37 nước được điều tra.

Báo cáo phát hiện ra rằng, trở ngại lớn nhất đối với TMĐT là tính bảomật, yếu tố mà những người chưa mua hàng trực tuyến viện ra như một ràocản nghiêm trọng Mặc dù một phần ba (30%) người sử dụng Internet chưamua hàng trên mạng tuyên bố rằng, họ không muốn cung cấp các thông tinchi tiết về thẻ tín dụng (khoảng 5% năm 2001) và 28% viện lý do là các mối

lo ngại về bảo mật chung Đức, trong năm 2001, là quốc gia khó khăn nhấttrong việc thuyết phục người dùng cung cấp các chi tiết về thẻ tín dụng (73%)

để mua hàng trực tuyến

Các mối lo ngại về bảo mật có thể thấy rõ rệt trong các báo cáo được thựchiện ba năm qua Ông Arno Hummerston, người đứng đầu các giải pháptương tác TNS toàn cầu (TNS Interactive Solutions, Worldwide) cho biết,nghiên cứu của họ nêu bật các vấn đè bảo mật như là một lý do chủ yếu khiếnngười ta không lựa chọn hình thức mua hàng trực tuyến, vậy mà nền côngnghiệp dường như làm được rất ít để giảI quyết các mối lo ngại này “Mặc dùmột số trong những mối lo ngại đó có thể do tâm lý miễn cưỡng khi thực hiệnmua hàng qua biên giới và sự hồ nghi đối với những nhãn hiệu dot-com mới,trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hiện nay đều đặc biệt quan trọng đối với nềncông nghiệp TMĐT là phải làm cho người sử dụng được yên tâm, tin tưởng”

Ai mua hàng?

28% tổng số người sử dụng Internet đã từng mua hàng trên mạng hay có

dự định làm việc này trong sáu tháng tới, và 18% tổng số người sử dụngInternet trên toàn thế giới cho biết, họ dự định mua hàng trong sáu tháng tới Khoảng 16% số lượng nam giới sử dụng Internet có mua hàng trực tuyến,

so với tỷ lệ 13% ở phụ nữ

Họ là người nước nào

Trang 18

Mỹ, vào năm thứ ba tiến hành điều tra, là nước có tỷ lệ người mua hàng

trên mạng lớn nhất, 32% tổng số người sử dụng Internet, so với tỷ lệ khôngthay đổi trên toàn cầu là 15% Ơ’ Bungari, Ucraina và Rumani, 2% hay ít hơn

số dân cư trên mạng mua hàng trên mạng, chủ yếu do sự tăng vọt về số lượngngười mua hàng trực tuyến ở Hàn Quốc, nơI 31% số người sử dụng Internetmua hàng trực tuyến Ơ’ Pháp và Nauy, số lượng người mua hàng trực tuyếntrong năm 2001 tăng lên nhiều, và Ucraina, Uc’, Cộng hoà Séc và Phần lan cómức suy giản lớn nhất trong hoạt động mua hàng trực tuyến

- Tác động của thương mại điện tử đối với công ty

Lợi ích tiềm năng của TMĐT đối với các doanh nghiệp mua bán đã đượcnói đến rất nhiều TMĐT cũng gây ảnh hưởng lớn đến mối quan hệ của doanhnghiệp đối với các nhà cung cấp và khách hàng tiềm năng

Thương mại điện tử có lợi ích cho khách hàng và nhà cung cấp: Khách

hàng sẽ được giao hàng nhanh hơn do chu kì sản xuất và giao hàng ngắn hơn.Các đơn hàng có thể được thực hiện và nhanh hơn, việc giao hàng được giámsát và theo dõi trong suốt cả tiến trình Về lý thuyết, khách hàng cũng đượclợi do việc giảm chi phí sản xuất mà doanh nghiệp mua hàng đạt được thôngqua TMĐT

Nhà cung cấp thông qua sự kết nối điện tử có thể liên hệ một cách hiệu quảvới người mua, thậm chí nếu học ở các nước khác nhau với các múi giờ vàngôn ngữ khac nhau Tham gia vào TMĐT giữa các doanh nghiệp sẽ tạo chocác nhà cung cấp cơ hội tổ chức lại doanh nghiệp của mình để thích ứng vớicác yêu cầu mới Nếu như thành công, kinh nghiêm này có thể hướng cácdoanh nghiệp khác cũng mua hàng qua mạng

Nhưng TMĐT cũng nêu ra một số vấn đề: Khi một người mua và một

nhà cung cấp quyết định tham gia TMĐT theo kiểu doanh nghiệp với doanhnghiệp, họ có thể quyết định đầu tư chung vào cơ sở hạ tầng Internet để phối

Trang 19

hợp các giao dịch tốt hơn Việc đầu tư này đòi hỏi một khả năng tài chínhchắc chắn.

Những vấn đề còn lại phát sinh từ việc giao dịch qua mạng Internet có liênquan đến uy tín và sự tín nhiệm Sẽ không có sự giao dịch với các bạn hàng

mà khả năng tiếp cận Internet chỉ hạn chế ở địa chỉ email Mua bán trên mạngInternet, thậm chí với các bạn hàng đã biết, không phải luôn an toàn Sự viphạm về an toàn bí mật cá nhân có thể dẫn đến kết quả là người mua phải trảtiền mà không nhận được đúng hàng hoá họ cần, hoặc người cung cấp lại sảnxuất mặt hàng mà đơn hàng đã bị huỷ

- Sử dụng thương mại điện tử như thế nào?

Các chiến lược điện tử để tạo ra giá trị Có rất nhiều câu chuyện về sửdụng các ứng dụng TMĐT giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (B to B)thành công trên mạng Internet Các tập đoàn mua hàng B to B, các tập đoànbuôn bán theo nghành hàng, và các thị trường buôn bán độc lập trên mạngđang đem lại lợi ích to lớn cho các thành viên của họ Những lợi ích này baogồm việc tiết kiệm chi phí giao dịch 50% và giảm lượng hàng tồn kho dotrình độ dịch vụ được nâng cao và uy tín được tăng lên Việc tiết kiệm chi phíđược rất nhiều tập đoàn lớn ghi nhận và dẫn đến nhiều công ty đa quốc giakhỏc đó đề nghị những người cung cấp tiềm năng một yêu cầu đầu tiên làphải có khả năng tiếp cận mạng Internet

Những ví dụ được đề cập nhiều nhất về sự thành công trong việc sử dụngcông nghệ mạng cho hoạt động cung ứng đó là cỏc hóng Ford, BritishTelecom, General Electric và Xerox Họ có nhiều hoạt động tương tự trongcác ngành hàng khác nhau như hoá chất, gỗ và giấy, điện tử, thiết bị y tế, vậntảI và cung ứng

Các công ty khi xem xét có thể sử dụng TMĐT trong hoạt động cung ứnghay không nhận thức được rằng:

Trang 20

+ Các nhà cung cấp tiềm năng cần được thông báo sớm đủ cho họ điều chỉnh

hệ thống, thông báo cho ngân hàng và đào tạo các nhân viên có liên quan đếnhoạt động mua bán mới này

+ Việc thực thi nên được bắt đầu và chỉ hạn chế với một số các nhà cung cấplâu dài có uy tín cho tới khi hệ thống hoàn thiện

+ Việc sử dụng một nhà cung cấp dịch vụ Internet để quản lý công nghệ làmột vấn đè quan trọng Việc này sẽ giúp làm giảm yêu cầu đầu tư ban đàu.Công nghệ Internet có thể có lợi cho hoạt động cung ứng của tôI như thế nào? Lợi ích lớn nhất là giảm chi phí giao dịch và tăng tốc độ lưu chuyển thôngtin Việc tăng tốc độ lưu chuyển và chất lượng thông tin cùng với quá trìnhcung ứng có thể tiết kiệm thời gian thực hiện, giảm lượng hàng tồn kho vàgiúp cho việc hoạt động được liên tục Điều này cũng cho phép các doanhnghiệp biết và phản hồi tốt hơn đối với các yêu cầu về dịch vụ khách hàng.Một tác động chung đó là sự chuyển đổi từ trung tâm tốn nhiều chi phí sangmột trung tâm có lãI hơn Thậm chí nhứng công ty chưa có đội tàu vận tảI lớn

có thể có lợi từ việc quản lý nhận hàng nhiều hơn và giảm bớt những chuyến

đI khụng sú khách hàng

Các mạng trao đổi về vận tải và tuyến đường trên mạng Internet hiện đanghoạt động trên toàn thế giới, ví dụ ở các nước cộng hoà Trung A’, châu Mỹ latinh, Indonesia, Liên bang Nga và cộng hoà Tanzania

- Một số phương thức đặt hàng trong thương mại điện tử

Tính thuận tiện là nhân tố chủ yếu khiến người ta mua hang trên mạng, vìvậy càng xây dựng nhiều phương thức đặt hàng thì lợi ích càng được đảmbảo

Khi xây dựng một website TMĐT, khụng lờn bỏ qua những phương thứcđặt hàng truyền thống để đổi lấy một vài phương thức mới, thường là đặc thù,

Trang 21

để tiến hành giao dịch Sau đây là mà một vài đề xuất cho việc giao dịch tại

“cửa hàng trên mạng”

Đơn đặt hàng trực tuyến qua mạng

Đối với phương pháp này nhất thiết cần phải đảm bảo an toàn thông tingiao dịch trước mọi hành động can thiệp và vi phạm Nói chung quá trình đặthàng này thường dành cho việc thanh toán bằng các loại thẻ tín dụng đó khỏphổ biến Thương mại điện tử đã sinh ra hàng loạt các giảI pháp thanh toánkhác nhau phục vụ cho các đơn đặt hàng trực tuyến

Giao dịch qua email

Giống như dạng giao dịch qua mạng, phương pháp này cũng phải đảm bảomức độ an toàn tuyệt đối Sử dụng email có thể tương đối khó khăn để cóđược đơn hàng do vấn đền an toàn còn nhiều bàn cãi, đồng thời việc thiếu mộtmẫu đơn đặt hàng chuẩn có thể dẫn đến việc thông tin thiếu sự xử lý phù hợp

Giao dịch qua fax

Hiện tại đây vẫn còn là một phương pháp an toàn và thực tế để tiếp nhậnđơn đặt hàng Quá trình này diễn ra suôn sẻ nếu các khách hàng có thể in đơnđặt hàng mẫu trực tuyến, điền vào những mục cần thiết, rồi sau đó gửi đi quafax Việc cung cấp một số fax miễn phí sẽ khiến phương pháp đặt hàng nàycòn thuận tiện hơn nữa

Giao dịch thông qua trung tâm phục vụ

Đối với cac site tiến hành bán hàng giống như theo đơn hàng trêncatalogue qua bưu điện thì điện thoại vẫn được sử dụng như một công cụ phổbiến để đặt hàng Hạn chế duy nhất là trung tâm phải hoạt động suốt ngàyđêm để có thể tận dụng lợi thế của Web hiện được mở rộng trên phạm vi toàncầu Trung tâm phục vụ có thể được kết hợp với dịch vụ gọi ngược lại (Call -back service), cho phép các khách hàng định thời gian gọi lại thuận tiện nhất

để đặt hàng

Trang 22

Giao dịch qua dịch vụ bưu điện

Phương pháp này rất phù hợp đối với những khách hàng khụng giỏm tiết

lộ thông tin về thẻ tín dụng của mỡnh trờn mạng hoặc những người không sửdụng loại thẻ này Trên thực tế, hình thức giao dịch qua dịch vụ bưu điện cóthể chấp nhận nhiều phương thức thanh toán thông thường như sử dụng thẻtín dụng, séc và tiền mặt Sự phát triển nhanh chóng của các loại thẻ rút tiềnmặt được kết hợp với trình tự thanh toán bằng séc thông qua điện thoại sữkhiến hình thức đặt hàng này ngày càng ít được sử dụng

Một lựa chọn nữa là công ty có thể tiến hành việc nhận đơn hàng và xử lýcác giao dịch thông qua bên thứ ba, một đại lý bán lẻ Nếu công ty quyết địnhlựa chọn cách làm đú, hóy chắc chắn là họ có tất cả các phương pháp giaodịch như trên để chấp nhận đơn hàng thông qua bất kì phương tiện gì

_ Các bên trong một giao dịch

Các bên liên quan tới một giao dịch trực tiếp qua thẻ tín dụng gồm người

tiêu dùng (khách hàng), công ty bán hàng (nhà cung ứng sản phẩm dịch vụ),ngân hàng của người mua (ngân hàng phát hành thẻ tín dụng), ngân hàng củangười bán (nơi tiền thanh toán của khách hàng được chuyển tới và thanh toáncho công ty bán hàng) Ngoài ra còn một thành phần rất quan trọng khác –ngân hàng thu nợ hay còn gọi là ngân hàng xử lý giao dịch Ngân hàng này có

Trang 23

chức năng phối hợp các tác vụ của cỏc bờn liên quan và đóng vai trò là trungtâm xử lý tất cả các giao dịch thẻ tín dụng có liên quan tới công ty bán hàng Cỏc bờn liên quan nói trên được “nối” với nhau thông qua hai mạng truyềnthông riêng biệt Mạng thứ nhất, hiển nhiên là Internet, là trung gian giữangười tiêu dùng vàn công ty bán hàng Mạng thứ hai là mạng riêng của cáccông ty thẻ tín dụng lớn, ngân hàng thu nợ sử dụng mạng riêng này để liờnkờt với ngân hàng phát hành thẻ tín dụng và ngân hàng phía người bán trongquá trình thực hiện các thanh toán trực tuyến.

Một tiến trình đặc thù sử dụng để mua hàng trực tuyến có thể phân chiathành ba giai đoạn cơ bản: Xác nhận hợp lệ, yêu cầu thanh toán và chuyểnkhoản thanh toán Một tiến trình không phảI chỉ bắt đầu khi khách hàng điềncác thông tin vào đơn đặt hàng mà sớm hơn, ngay khi họ kết nối với trang đặthàng của công ty Ngay thời điểm đó, trình duyệt Web trên máy tính củakhách hàng và máy chủ Web được bảo mật của công ty bắt đầu phối hợp đểthực hiện chu trình mó hoá - giải mã các thông tin về giao dịch sắp được thựchiện nhằm giữ bí mật và an toàn các thông tin này ở mức cao nhất

_ Xác nhận hợp lệ

Sau khi thực hiện kết nối với máy chủ được bảo mật của công ty bán hàng,

khách hàng đã bắt đầu đi vào tiến trình với thao tác đầu tiên là điền các thôngtin cá nhân và các thông tin về thẻ tín dụng để thực hiện thanh toán Cácthông tin này sau đó được gửi tới máy chủ của công ty bán hàng và phần mềmtrên máy chủ của công ty sẽ nhận các thông tin chi tiết như tên, lượng đặtmua, số thẻ tín dụng, ngày hết hạn của thẻ, địa chỉ hoá đơn và tiếp tục gửi tất

cả những thông tin nhận được đến ngân hàng thu nợ qua mạng Internet Phầnmềm tại ngân hàng thu nợ nhận được thông tin sẽ gửi tiếp đến công ty thẻ tín

Trang 24

dụng qua mạng truyờn thụng được bảo mật của các công ty này Sau đónhững thông tin trên lại tiếp tục được gửi tới ngân hàng phát hành thẻ tíndụng cho khách hàng.

Đây là nơi các công việc quan trọng nhất được hoàn thành Phần mềm tạingân hàng phát hành sẽ kiểm tra để phân tích tính hợp lệ của các thông tinnhận được Nó sẽ kiểm tra số thẻ để đảm bảo số thẻ để đảm bảo đó thẻ tíndụng do chính ngân hàng phát hành và vẫn có hiệu lực thanh toán Nó cũngxác nhận tên, địa chỉ của khách hàng, kiểm tra tài khoản của khách hàng đểxem liệu mức hạn mục còn có đủ để thanh toán Sau khi tiến hành kiểm tra,tuỳ thuộc vào kết quả của xác nhận hợp lệ, phần mềm của ngân hàng pháthành sẽ phát lệnh chấp nhận hoặc không chấp nhận tới ngân hàng thu nợ vàngân hàng của công ty thông qua mạng truyờn thụng của công ty thẻ tín dụng.Nếu các thông tin không được ngân hàng phát hành chấp nhận, công ty bánhàng sẽ gửi lại thông điệp báo lại, tiến trình kết thúc tại đây và không có gì đểbàn thêm Ngược lại, tiến trình sẽ chuyển sang giai đoạn mới

_ Yêu cầu thanh toán

Sau khi nhận được xác nhận về tính hợp lệ của thông tin giao dịch từ ngânhàng phát hành, phần mềm của công ty bán hàng sẽ gửi một thông điệp mớitới ngân hàng thu nợ để yêu cầu thanh toán Một lần nữa, những thông tin nàylại được gửi tiếp tới ngân hàng phát hành thông qua mạng của công ty thẻ tíndụng Phần mềm của ngân hàng phát hành sẽ cộng thêm số tiền của giao dịchvào tổng số tiền ngân hàng còn nợ ngân hàng thu nợ đối với các giao dịchthực hiện trong ngày

_ Chuyển khoản

Các ngân hàng sẽ thực hiện chuyển khoản và cân đối số dư tài khoản vàocuối ngày giao dịch Ngân hàng phát hành sẽ chuyển khoản cho ngân hàngthu nợ Ngân hàng thu nợ, đến lượt mình sẽ chuyển tiền vào tài khoản của

Trang 25

công ty bán hàng tại ngân hàng của họ sau khi đã trừ đI một phí gọi là phígiao dịch.

Đồng thời, ngân hàng phát hành ghi nợ vào tài khoản của khách hàng.Thông tin về các giao dịch (gồm tên công ty bán hàng, số tiền thanh toán, sốtham chiếu để kiểm tra lại về sau nếu cần thiết) sẽ được gửi tới khách hàng.Khách hàng sẽ trả tiền cho ngân hàng phát hành thẻ tín dụng sau khi nhậnđược hoá đơn hàng tháng

_ Các tiến trình khác

Trên đây là những tiến trình cơ bản của một giao dịch trực tuyến sử dụngthẻ tín dụng Tuy nhiên, có thể còn một số tiến trình đặc biệt khác, liên quantới việc xác định thời gian của các giai đoạn trong một giao dịch và cân đối số

dư tài khoản của các ngân hàng liên quan Những vấn đề này có tần quantrọng rất lớn đối với phía người bán hàng nhưng ít có tầm quan trọng đối vớingười mua hàng

Cũng có thể có khả năngmột công ty dịch vụ tài chính bên ngoài ngânhàng phát hành xử lý các công việc của ngân hàng phát hành Trong trườnghợp này, thẻ tín dụng của khách hàng có thể do ngân hàng ABC nào đó pháthành nhưng tất cả hoá đơn gửi tới khách hàng lại từ một trung tâm dịch vụ thẻXYZ được ngân hàng ABC uỷ nhiệm

_ Bảo mật trong một giao dịch điện tử

Khi xem xét toàn bộ quá trình, chúng ta có thể thấy nhiều thông tin liênquan tới giao dịch của khách hàng được chuyển tảI trên những mạng khácnhau Hiển nhiên khách hàng không muốn rằng không một ai khác ngoài họ

và công ty bán hàng có thể biết được các thông tin giao dịch vừa mới đượcthưc hiện

May mắn là, các khách hàng không phải quá lo lắng về các tiến trình xử

lý giao dịch trên mạng công ty thẻ tín dụng Giao dịch trên mạng này được

Trang 26

bảo đảm an toàn gần như tuyệt đối Điều cần quan tâm là các giai đoạn đượcthực hiện trên mạng Internet, chúng cũng cần đảm bảo đọ an toàn và bảo mậttới mức tối đa Đây là lúc chúng ta cần bàn độn vấn đề một giao dịch đượcthực hiện trên mạng Internet được mó hoỏ như thế nào.

Đơn đặt hàng điện tử của các nhà cung ứng đều được bảo mật trên giaothức SSL (Secure Sockets Layer) Một trang Web được bảo mật với chuẩnSSL dễ dàng có thể nhận biết, địa chủ của trang Web thường bắt đầu với

“https” thay cho “http” với kí tự cuối cùng, “s”, đại diện cho “secure”, cónghĩa là “Bảo mật” Nếu sử dụng trình duyệt Netscape truy cập tới các trangWeb này, dấu hiệu bảo mật của trang được thể hiện bằng hình ảnh một cáimúc khoỏ cuối màn hình Một số trình duyệt của Internet Explorer sử dụnghình ảnh chiếc chỡa khoỏ biểu thị cho trang Web được bảo mật trong khi một

số phiên bản khác thể hiện bằng hình ảnh của một cái múc khoỏ

Một máy chủ được bảo mật sẽ có hai khoá để mó hoỏ cỏc thông điệp vàgiao dịch, một khoá công khai và một hoá bí mật Trong lý thuyết mó hoỏ,chúng ta biết rằng có thể sử dụng mã công cộng để mó hoỏ thông điệp Mã bímật được dùng để giải mã thông điệp mã hóa bằng khoá công khai tương ứng.Theo cách này, một người A có thể gửi thông tin được mó hoỏ bằng mã côngkhai của người B nhưng chỉ ai giữ khoá bí mật của người B mới có khả nănggiải mã được thông điệp này

Vậy chuẩn SSL phù hợp như thế nào đối với xử lý một giao dịch trựctuyến sử dụng thẻ tín dụng? Khi khách hàng xác định sẵn sàng bắt đầu tiếntrình mua hàng trên mạng, trình duyệt Web tại máy tính của khách hàng sẽtruy cập trang Web bảo mật trên máy chủ Máy chủ của nhà cung ứng sẽ gửitới trình duyệt của khách hàng một Xác nhận số gồm mó hoỏ công khai củamáy chủ kèm theo chứng thực của cơ quan cấp chứng nhận điện tử để khẳngđịnh tính hợp pháp của Xác nhận số

Trang 27

Sau khi trình duyệt đã xác nhận trang Web được bảo mật, máy chủ vàtrình duyệt sẽ phối hợp để tìm phương pháp mó hoỏ ở mức cao nhất mà cả haiđều hỗ trợ Trình duyệt sẽ tự động sinh một số ngẫu nhiên, gọi là khoỏ phiờn,

và sử dụng mã này để mó hoỏ tất cả các thông điệp của phiên giao dịch Khoỏphiờn sẽ được sử dụng duy nhất cho một phiên giao dịch và trình duyệt sẽ tạo

ra một khoá mới cho phiên giao dịch tiếp theo Trình duyệt sử dụng khoácông khai của máy chủ Web để mó hoỏ phiờn và do vậy, ngoài trình duyệt,chỉ duy nhất máy chủ với khoá bí mật của mình, có thể giảI mã được khoỏphiờn này

Phần còn lại của giao dịch sẽ được tiến hành với việc cả trình duyệt vàmáy chủ Web đều sử dụng khoỏ phiờn để giải mã và mó hoỏ tất cả truyềnthông giữ liệu truyền thông giữa hai phía Khi kết thúc giao dịch và thôI kếtnối với trang bảo mật trên máy chủ, khoỏ phiờn được huỷ bỏ

Để đảm bảo giao dịch được bảo mật tốt hơn, SSL sử dụng thuật toán băm.Thuật toán băm áp dụng đối với mọi thông điệp trước khi thông điệp được gửi

từ máy tính này đến máy tính khác Kết quả của thuật toán là tạo ra một số,gọi là số băm và được gửi kèm thông điệp tới máy chủ Một thông điệp dùnhỏ nhất của thông điệp gốc cũng sẽ tạo ra một sự thay đổi lớn với số băm Vìvậy, máy chủ có thể áp dụng thuật toán băm đối với thông điệp nhận được sau

đó so sánh số băm tạo ra với số băm nhận được từ trình duyệt của khách hàng

để phát hiện bất cứ sự thay đổi nào đối với thông điệp khi trên đường truyền

* Hiện nay ở Việt Nam, các ngân hàng hoạt động còn riêng lẻ, chưa có sự liênkết và chuyên nghiệp, hơn nữa số người dân Việt Nam có tài khoản ở ngânhàng và xử dụng thẻ tín dụng như một phương tiện thanh toán còn rất hiếm

Vì vậy việc thanh toán không được thuận lợi cho lắm Song trong tương laigần thôi, hệ thống ngân hàng có sự liên kết và chuyên nghiệp hơn thì việc

Trang 28

thanh toán của khách hàng sẽ trở lên dễ dàng hơn Lên chúng ta có thể thựchiện dần TMĐT từ bây giờ.

Hiện nay thanh toán ở nhiều doanh nghiệp còn làm hết sức thủ công,khách hàng gửi tiền vào các tài khoản của Công ty tại các ngân hàng mà Công

ty mở tài khoản Sau đó điền thông tin vào đơn hàng hoặc gửi E-mail choCông ty cung cấp sản phẩm dịch vụ Công ty sau khi xác nhận những thôngtin của khách hàng từ ngân hàng, nếu thấy hợp lệ, thì Công ty sẽ giao hàngcho khách hàng Thanh toán bằng cách này có nhược điểm là chậm, nhữngthông tin về khách hàng khó quản lý và không cập nhật được luôn Kháchhàng cũng thiếu niềm tin vào cách thanh toán đó và thiếu cả niềm tin vàocông ty lên việc thanh toán càng trở lên khó khăn hơn Tuy nhiên, cách thanhtoán này cũng đáp ứng được nhu cầu trong thanh toán TMĐT hiện nay

4.4 Các điều kiện nguồn lực của Công ty

Từ tháng 12 năm 2006, Công ty đã chính thức nối mạng và đầu tư thêm

4 bộ máy tính mới Hiện Công ty đó cú 9 máy tính cá nhân được nối mạng, vàriêng phòng kinh doanh có 3 máy Hệ thống máy tính như vậy là tạm đủ chomọi người làm việc nhưng nếu Công ty xây dựng TMĐT thì cần đầu tư thêmmáy tính cá nhân nối mạng để đảm bảo mỗi cán bộ, nhân viên đều cú mỏy.Như thế mới có thể phát huy tối đa năng lực làm việc của mọi người

Công ty được thành lập chưa lõu, lờn đội ngũ nhân viên là tương đối trẻ,

họ năng động và đã làm quen với Internet từ lâu Nhưng để thực hiện TMĐTthì cần đòi hỏi phải có những cán bộ có trình độ chuyên môn cao về TMĐT.Song hầu hết các nhân viên của Công ty mới chỉ hiểu biết kháI quát vềTMĐT Nếu muốn xây dựng TMĐT ở Công ty thì cần có chế độ đào tạo chođội ngũ cán bộ những kiến thức chuyên môn về TMĐT, đặc biệt là cán bộquản lý Website

Trang 29

TMĐT là phải biết cách thực hiện hoạt động “thương mại vượt khônggian”, nghĩa là khách hàng có thể mua những sản phẩm của Công ty màkhông cần phải đến Công ty hay cửa hàng của Công ty Muốn vậy khả nănggiao hàng phải tốt, đáp ứng được cho nhiều khách hàng về cả mặt không gian

và thời gian Ngoài ra còn tạo điều kiện cho khách hàng có thể thanh toánthuận lợi ở nhiều ngân hàng Tuy nhiên hiện nay, số lượng nhân viên giaohàng ở Công ty và các cửa hàng trực thuộc Công ty là rất ít, mới chỉ đáp ứng

đủ cho việc giao hàng cho các đại lý trong địa bàn Công ty phân phối mà thôi.Còn về phía thanh toán của khách hàng, hiện Công ty mới chỉ mở tài khoản ởngân hàng VietcomBank, và chỉ chấp nhận thanh toán ở ngân hàng đú thụi Vìvậy, để xây dựng TMĐT, Công ty cần bổ xung thêm lượng nhân viên giaohàng và chấp nhận thanh toán ở nhiều ngân hàng hơn

Với các điều kiện nguồn lực như vậy Công ty hoàn toàn có thể xây dựngTMĐT, tuy nhiên sẽ gặp không ít khó khăn mà Công ty cần phải cố gắng đểvượt qua

Trang 30

phương tiện như một phương tiện giao hàng Ngoài ra, chúng ta có thể sửdụng hình thức giao hàng trực tiếp bằng nhân viên của Công ty hoặc thôngqua các tổ chức vận chuyển thuê.

Trang 31

Chương 2 Thực trạng tình hình tiêu thụ tại Công ty

1 Đánh giá tình hình thụ tiêu thụ tại Công ty

1.1 Sản lượng bán và doanh thu của Công ty tăng qua các năm

Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất và thương mại nóichung và của công ty TNHH cơ khí và thương mại Hồng Phi nói riêng có haigiai đoạn quan trọng nhất là giai đoạn sản xuất và giai đoạn bán hàng Bánhàng là giai đoạn cuối cùng trong quá trinh lưu chuyển hàng hóa, nó có ýnghĩa sống còn của doanh nghiệp Nhận thức được tầm quan trọng của hoạtđộng bán hàng nên ngay từ khi mới thành lập công ty TNHH cơ khí vàthương mại Hồng Phi đã rất chú trọng đến mạng lưới bán hàng sao cho sốlượng bán ra được nhiều nhất, có hiệu quả nhất đồng thời phải đảm bảo chấtlượng kỹ thuật để tăng khả năng chiếm lĩnh thị trường

Hiện nay công ty TNHH cơ khí và thương mại Hồng Phi kinh doanhtrên tất cả các địa bàn toàn miền bắc và một số tỉnh miền trung từ Nghệ Antrở ra Đặc điểm của các tỉnh này là tỷ lệ đi xe máy còn rất nhiều vì xe gắnmáy đối với con người Việt Nam vẫn là sự di chuyển hữu hiệu, bởi do thunhập của người dân chưa cao đặc biệt là hệ thống đường giao thông chưa pháttriển

Tuy nhiên nước ta hiện nay đang trong giai đoạn phát triển, thu nhậpbình quân đầu người tăng cao do đó nhu cầu con người tăng theo, nên công ty

từ khi thành lập đến nay ngoài việc đáp ứng đầy đủ nhu cầu trên địa bàn kinhdoanh của mình công ty cũn luụn mở rộng thị trường kinh doanh ra ngoàivùng như Huế, Đà Nẵng, Thành Phố Hồ Chí Minh…nhằm nâng cao sảnlượng bán mở rộng thị trường và thu hút khách hàng mới.Thực tế cho thấyrằng trong những năm gần đây do tổ chức tốt công tác tiêu thụ sản phẩm, cómột mạng lưới bán hàng hợp lý mà sản lượng bán của công ty đã tăng lên rõrệt Kết quả được phản ánh qua bảng sau:

Trang 32

Bảng 3Sản lượng bán hàng của công ty năm 2001 - 2005

Năm

Mặt hàng

Má phanh honda đôi 6.600 7.400 7.800 12.000 14.700

Má phanh Suzuki đôi 3.000 4.000 5.000 8.000 10.520

Má phanh liên doanh đôi 216.000 270.000 342.000 469.000 594.100Gia công đúc mayơ bộ - 18.000 36.000 43.500 54.800

Từ năm 2001 đến năm 2005, qua 5 năm đi vào hoạt động sản lượng tiêu thụ

các mặt hàng tại Công ty tăng lên rõ rệt: sản lượng bán má phanh se Honđatăng lên gấp đôi (6000 – 12000 đôi), má phanh se Suzuki tăng gấp 3 (2000 –

6000 đôi) và sản phẩm chủ lực má phanh liên doanh có sản lượng bán tăng2,6 lần (180.000 – 469.000 đụi) Cỏc sản phẩm gia công đúc mayơ mới đi vàosản xuất năm 2003 nhưng đến năm 2005, sản lượng bán cũng tăng 2,4 lần(18.000 – 43.500 bộ) Tuy nhiên trong tất cả các năm, ta cũng dễ nhận ra rằngsản lượng bán năm 2005 là tăng nhanh hơn cả Điều đó cho thấy Công tyđang có xu thế phát triển đi lên, là một tín hiệu mừng Nhưng so với thực lựccủa Công ty thi việc tiêu thụ như vậy là chưa tương xứng với tiềm năng

Với việc tăng sản lượng bán qua các năm thì đồng nghĩa với doanh thu quacác năm cũng tăng theo Và đến năm 2005, doanh thu của Công ty đã lên tớigần 7 tỷ đồng, số liệu doanh thu các mặt hàng được thể hiện qua các số liệudưới đây:

Bảng 4: Doanh thu các mặt hàng năm 2005 và năm 2006

Trang 33

và phía nam trung Bộ.

Do sản lượng bán tăng đã dấn đến doanh thu của công ty ngày càng tăngđây là một nhân tố quan trọng để công ty có thể mở rộng và phát triển thịtrường tiêu thụ của mình

1.2 Tình hình phân phối sản phẩm qua các địa bàn

Trang 34

Do tiềm lực công ty còn yếu, nhân viên và các văn phòng đại diện ởcác tỉnh xa chưa có, mạng lưới bán hàng vẫn quản lý theo chế độ trực tiếp Do

đó địa bàn bán hàng của công ty chủ yếu vẫn là thành phố Hà Nội, ngoài ranhững năm gần đây công ty đã tăng cường xâm nhập các thị trường lân cậnnhư: các tỉnh phớa bắc,cỏc tỉnh miền trung đặc biệt là thành phố Thanh Hóa

và Thành phố Vinh Tuy nhiên các tỉnh này thu nhập của người dân còn thấp

Do đó sản lượng bán ra tại các thị trường mới này chưa được cao Điều nàyđược thể hiện qua bảng sau

Bảng 5 Sản lượng của Công ty phân phối theo địa bàn 2002 - 2006

(Nguồn: Tổng kết tình hình thực hiện năm 2006-phòng kinh doanh)

Hà Nội vẫn là địa bàn phân phối sản phẩm chủ yếu của Công ty vì nơi đây

có số dân nhiều, mật độ dân số cao, lại có quá nhiều người sử dụng xe gắnmáy Hơn nữa Hà Nội cũng là địa bàn gần với các phân xưởng của Công tylên việc vận chuyển tới địa bàn này tiêu thụ tốn không nhiều chi phí Mặc dù

Hà Nội là địa bàn phân phối chính song Công ty vẫn chú trọng mở rộng tiêuthụ ra các địa bàn khác Thanh Hóa, Vinh, hay Thỏi Nguyờn Và Công ty còn

dự định mở rộng tiêu thụ ra xa hơn nữa như Đà Nẵng hay thành phố Hồ ChíMinh

Tại các địa bàn ngoài Hà Nội như Hà Tây, Thanh Hóa, Vinh, lượng tiêu thụsản phẩm cũng tăng đều qua các năm, nhưng lượng tăng còn tương đối thấp

và như thế là chưa khai thác hết khả năng về cầu tại các địa bàn này Tại HàNội mặc dù lượng tiêu thụ tăng qua các năm nhiều, nhưng tiêu thụ tại Hà Nội

Trang 35

năm 2005 chỉ tăng nhẹ so với năm 2004 (hơn 20.000 sản phẩm), điều đó chothấy khả năng khai thác thị trường của Công ty tại địa bàn Hà Nội đang đi vềmức bão hòa.

2 Các biện pháp tiêu thụ mà Công ty đã áp dụng

2.1 Mở rộng mạng lưới phân phối

Bảng 6: Mạng lưới bán hàng của công ty năm 2006

và dầy Và Công ty nhận ra rằng vai trò của các đại lý là vô cùng quan trọng.Thông qua hệ thống đại lý mà Công ty có thể phân phối rộng hơn, dầy hơn

mà không tốn chi phí xây dựng cửa hàng nên cũng không sợ rủi ro khi tại nơi

đó không tiêu thụ được sản phẩm Tuy nhiên cũng vì thế mà lợi nhuận củaCông ty không được tối đa vì phải chia sẻ với các đại lý

Trang 36

Mặc dù vai trò của các đại lý là rất quan trọng, song số đại lý phân phối choCông ty lại không được nhiều Tại địa bàn phân phối chính của Công ty là HàNội cũng chỉ có 12 đại lý kí hợp đồng phân phối sản phẩm cho Công ty, mànhư vậy là quỏ ớt tại địa bàn rộng lớn và béo bở này.

Cửa hàng cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng, nó là cầu nối giữaCông ty và người tiêu dùng, là cầu nối giữa Công ty và các đại lý tại nhữngđịa bàn ở xa Công ty Nhưng để đạt được hiệu quả hơn thì Công ty cần vậnhành các Cửa hàng của mình như các chi nhánh của Công ty hay các vănphòng đại diện, có thể trực tiếp giải quyết các vấn đề của khách hàng hay cácđại lý Chúng ta có thể xem xét lượng bán hàng thông qua hệ thống kênh phânphối của Công ty qua hai bảng dưới đây:

Bảng 7: Lượng bán hàng (má phanh) thông qua hệ thống phân phối năm 2005

Trang 37

Qua hai bảng trên ta thấy, Công ty phân phối chủ yếu là thông qua hệ thốngcác đại lý, còn số lượng bán được, bán buôn hay bán lẻ tại các cửa hàng haytrực tiếp tại Công ty là rất ít Điều đó càng cho thấy vị trí quan trọng hơn của

hệ thống các đại lý, nên Công ty phải chú trọng hơn trong việc khai thác cácđại lý trong địa bàn hay trong các địa bàn khỏc Vỡ đại lý ta không mất chiphí xây dựng nên không chịu rủi ro Mà ta chỉ tốn chi phí liên hệ và chở hàngtới các đại lý mà thôi Và chúng ta hãy xem xét sự hiệu quả qua hệ thống phânphối của Công ty qua bảng sau:

Bảng 9: Doanh lợi do hệ thống phân phối mang lại năm 2005 và 2006

cú cỏch nào bán lẻ đến tay người tiêu dùng mà không tốn nhiều chi phí về mặtthời gian và con người, hơn nữa lại có thể bán được trên phạm vi rộng lớnkhông Câu trả lời là có, đó là xây dựng TMĐT, TMĐT sẽ giúp Công ty làmđiều đó

Trang 38

2.3 Cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm

Ngoài việc bình ổn giá cả ra, Công ty còn chú trọng đến việc nâng cao chấtlượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng Bằngviệc kinh nghiệm ngày càng tăng của đội ngũ công nhân kèm theo tay nghềngày càng cao và khả năng chế tạo ra những sản phẩm ngày càng tốt Hơnnữa, Công ty cũng chú trọng đầu tư thêm những công nghệ hiện đại Nên từnăm 2001 đến nay, chất lượng sản phẩm của Công ty được tăng lên rất nhiều Lúc đầu Công ty cho rằng người tiêu dùng Việt Nam chỉ thích những mặthàng có giá rẻ mà không quan tâm lắm đến chất lượng Nhưng tai nạn giaothông mỗi năm lại tăng, trong khi tình hình kinh tế ngày càng phát triển,người dân thu nhập ngày càng cao, nên nhu cầu về an toàn cũng tăng cao Vì

Trang 39

thế, người tiêu dùng ngày càng đòi hỏi nhiều hơn về chất lượng sản phẩm, đặcbiệt là những sản phẩm liên quan đến vấn đề an toàn Công ty đã quyết địnhphải tăng chất lượng của sản phẩm lên cao để đáp ứng kịp nhu cầu của ngườitiêu dùng.

3 Nhận xét

3.1 Ưu điểm, nhược điểm

* Ưu điểm

- Đáp ứng được phần nào nhu cầu trong địa bàn phân phối

- Khách hàng tương đối hài lòng về giá cả cũng như chất lượng sản phẩm

- Tạo được các mối quan hệ sâu sắc với các đại lý, nhà cung ứng vàkhách hàng

- Chất lượng sản phẩm cũng không ngừng được tăng cao

- Kinh nghiệm cho việc tiêu thụ sản phẩm của đội ngũ nhân viên cũngđược tích lũy đáng kể

* Nhược điểm

- Khả năng tiêu thụ chưa tương xứng với tiềm năng của Công ty

- Chưa khai thác hết khách hàng tiềm năng trong địa bàn phân phối

- Mạng lưới phân phối chưa tốt: số lượng các đại lý và cửa hàng cũn quỏ

ớt lại mới chỉ phân phối trên một số địa bàn

- Chưa có nghiên cứu chính xác về thị trường tiềm năng

* Khắc phục: Để khắc phục những nhược điểm trên, Công ty nên xây dựng

TMĐT

Trang 40

3.2 Điều kiện xây dựng TMĐT

* Lợi ích của TMĐT

Những năm gần đây, Công ty chưa có được sự thành công là do hoạt độngsản xuất kinh doanh không hiệu quả Song tình hình tiêu thụ chưa tốt cũng làmột trong những nguyên nhân đó Để sản xuất kinh doanh hiệu quả hơn,Công ty cần có nhiều biện pháp thúc đẩy tiêu thụ và đó cũng là nguyên nhân

để xây dựng TMĐT tại Công ty Việc phát triển một website TMĐT đã trởlên cần thiết cho rất nhiều Công ty TMĐT mang lại những lợi ích khổng lồtrong khi chi phí bỏ ra là ít nhất Qua Website Công ty có thể:

_ Cập nhập thông tin hàng hoá trực tuyến (Update)

Rất dễ dàng cập nhật và thường xuyên thay đổi hình ảnh, thông tin chi tiết,giá cả các mặt hàng kinh doanh bất cứ lúc nào và bất cứ nơI đâu

_ Mua hàng trực tuyến (Online Shopping)

Khách hàng dễ dàng tìm kiếm hàng hoá, chọn hàng, thêm bớt mặt hàngvào giỏ hàng (Shopping Cart), tự động tính toán, ghi nhớ đơn hàng và gửi đơnđăng kí mua hàng dễ dàng Ơ’ chế độ mua hàng của người viếng thăm, xâydựng hệ thống bảo mật

_ Quản lý các đơn hàng trực tuyến (Order Management Sytem)

Quản lý, lưu trữ và báo cáo các thông tin về đặt hàng và trạng tháI củađơn hàng: đã giao hàng chưa, đã thanh toán chưa,…

_ Quản lý khách hàng (Customer Management)

Lưu trữ, thống kê các hoạt động gắn với khách hàng của Công ty Mọihoạt động gắn với khách hàng và đơn hàng đều có thể thực hiện từ xa, khôngphụ thuộc vào vị trí địa lý

_ Thanh toán trực tiếp (Payment Online Process)

Hỗ trợ cơ chế thanh toán điện tử qua website giữa bên mua và bên bán

* Điều kiện thực hiện

Ngày đăng: 10/06/2015, 18:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức - luận văn quản trị kinh doanh xây dựng thương mại điện tử tại công ty TNHH cơ khí và thương mại hồng phi
Sơ đồ 1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức (Trang 7)
Bảng 1: Một số kết quả Công ty đạt được - luận văn quản trị kinh doanh xây dựng thương mại điện tử tại công ty TNHH cơ khí và thương mại hồng phi
Bảng 1 Một số kết quả Công ty đạt được (Trang 9)
Bảng 3Sản lượng bán hàng của công ty năm 2001 - 2005 - luận văn quản trị kinh doanh xây dựng thương mại điện tử tại công ty TNHH cơ khí và thương mại hồng phi
Bảng 3 Sản lượng bán hàng của công ty năm 2001 - 2005 (Trang 32)
Bảng 6: Mạng lưới bán hàng của công ty năm 2006 - luận văn quản trị kinh doanh xây dựng thương mại điện tử tại công ty TNHH cơ khí và thương mại hồng phi
Bảng 6 Mạng lưới bán hàng của công ty năm 2006 (Trang 35)
Bảng 8: Lượng bán hàng (má phanh) thông qua hệ thống kênh phân phối - luận văn quản trị kinh doanh xây dựng thương mại điện tử tại công ty TNHH cơ khí và thương mại hồng phi
Bảng 8 Lượng bán hàng (má phanh) thông qua hệ thống kênh phân phối (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w