Sau khi hội nhập vào nền kinh tế thế giới,Việt nam đã có thêm nhiều cơ hội để nền kinh tế ngày càng phát triển,
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Trang 21.Khái quát về quá trình tìm hiểu và thu thập thông tin 4
II Thực trạng trọng tài thương mại và nội dung của pháp lệnh trọng
tài thương mại 2003 ở Việt Nam
7
1 Nội dung cơ bản của pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 7
Trang 4PHẦN I
LỜI NÓI ĐẦU
Sau khi hội nhập vào nền kinh tế thế giới,Việt nam đã có thêm nhiều cơhội để nền kinh tế ngày càng phát triển, sớm đạt được mục tiêu tiến lên xã hộichủ nghĩa Đây cũng chính là cơ hội cho các doanh nghiệp việt nam có thêm đcnhiều sự chọn lựa về mọi lĩnh vực trong kinh doanh (nguyên nhiên vật liệu, đối
Trang 5tác kinh doanh, thị trường tiêu thụ, lực lượng lao động v.v.) giúp họ tối đa hóalợi nhuận Nhưng bên cạnh đó thì cũng không ít những khó khăn đặt ra với họ.
Đó ngày càng nhiều đối thủ cạnh tranh không chỉ còn là những thương nhântrong nước mà còn là đa số những thương nhân nước ngoài với kiến thức kinhdoanh đa dạng, phong phú và sự hỗ trợ đắc lực của những luật gia có kinhnghiệm cạnh tranh Trong khi thương nhân của chúng ta còn chưa có nhiều kinh
Trang 6nghiệm để tự bảo vệ trước tranh chấp thương mại,đang ngày càng phổ biếntrong nên kinh tế thị trường mở Chỉ khi họ ý thức được tầm quan trọng về cácbiện pháp giải quyết tranh chấp thương mại họ mới tự biết cách bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của chính mình Thì đây mới chính là cơ hội giúp các doanhnghiệp Việt Nam vươn xa trên thị trường quốc tế.
Trang 7Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là một trong những phương pháp giảiquyết tranh chấp hữu hiệu với nhiều ưu điểm nổi bật so với giải quyết bằng conđường tòa án như: Giải quyết vụ việc một cách nhanh gọn, kín đáo và phánquyết có giá trị chung thẩm ( Có hiệu lực cuối cùng và đc cưỡng chế thi hành ),các bên có quyền tự do lựa chọn trọng tài, tự do lựa chọn địa điểm, gian xét xử,luật áp dụng với những tranh chấp có yếu tố nước ngoài thời gian xét xử Nếu
Trang 8giải quyết bằng con đường tòa án ở nước ngoài thì tòa án Việt Nam có thểkhông được công nhận thi hành bản án nếu nước đó không tham gia hiệp địnhtương trợ tư pháp có Việt Nam Trong khi quyết định của trọng tài được côngnhận và có hiệu lực thi hành trên 130 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Mặc dù với ưu thế như vậy nhưng Trung tâm trọng tài thương mại Quốc
tế Việt Nam (VIAC) mỗi năm chỉ xử lý được 20-25 vụ Các trung tâm khác chỉ
Trang 9khoảng năm đến bảy vụ, thậm chí có trung tâm không có vụ nào Tình trạng nàyxảy xảy ra ngay cả với cơ quan tòa án, viện kiểm sát, cơ quan thi hành án Quanhiều nguồn thông tin thì nguyên nhân này là những bất cập của pháp luật hiệnhành ,doanh nghiệp chưa nhận thấy tầm quan trọng của trọng tài thương mại Đểthấy rõ hơn được nguyên nhân sâu xa của tình trạng này cần phải nghiên cứu
Trang 10thực trạng giải quyết tranh chấp bằng trọng tài và việc áp dụng pháp lệnh trọngtài thương mại 2003 trong những năm gần đây.
Trong thời gian thực tập tại sở kế hoạch đầu tư Hà nội, em có cơ hội tiếpxúc với nhiều nguồn thông tin từ cơ sở thực tập cũng như đài báo, thông tin từbáo điện tử Em nhận thấy việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mạiđang ngày càng giữ một vai trò quan trọng trong khi những quy định pháp luật
Trang 11về nó có nhiều điểm còn bất cập, làm hạn chế số lượng doanh nghiệp tìm đếnvới các trung tâm trọng tài Vì thế theo yêu cầu của một chuyên đề thực tập tốtnghiệp, em đã viết một bản báo cáo với đề tài: “Thực trạng áp dụng pháp lệnhtrọng tài thương mại 2003 trong những năm gần đây” Hi vọng phản ánh đầy đủthực trạng của công tác trọng tài những ưu điểm cũng như những bất cập, và
Trang 12đóng góp của riêng em về hướng giải quyết cho những thiếu sót của pháp lệnhnày.
Do lần đầu tiếp xúc với việc làm báo cáo chuyên đề và việc thu thập tàiliệu về vấn đề này còn là khó do pham vi bao quát của vấn đề rất lớn, đòi hỏi kếthợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau nên bài viết của em sẽ
Trang 13có những thiếu sót và hạn chế Vì vậy em mong thầy cô chỉ bảo thêm để bài viếtcủa em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 14Phần II
NỘI DUNG
I.QUÁ TRÌNH TÌM HIỂU VÀ THU THẬP THÔNG TIN
1 Khái quát về quá trình tìm hiều và thu thập thông tin
Em nhận thức được rằng bài viết của em chỉ có thể thành công, phảnánh chân thực vấn đề cần đề cập đến hay không? Đều phải căn cứ vào quá trình
Trang 15thu thập thông tin Quá trình này cũng giúp em hiểu thêm về những vấn đề xãhội có liên quan, giúp em củng cố lại kiến thức đã được nhà trường, thầy côtrang bị khi còn trên giảng đường cũng như có thêm kiến thức thực tiễn giúpchúng em tự tin trong công việc sau này Vì thế trong thời gian qua em đã sắpxếp công việc sao cho vừa có thời gian thực tập tại cơ quan, vừa có thời gian tìmhiểu tài liệu từ sách vở, từ các cô, chú, anh, chị tại cơ quan nơi em thực tập, từ
Trang 16đài báo và các phương tiện thông tin khác Để thông tin đưa ra trong bản báo cáođược tốt nhất,có tính thực tế cao.
Và trong thời gian này, nhờ có sự tận tình chỉ bảo cũng như giúp đỡ vềchuyên môn của các cô và các chị tại trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ-phòng đăng kí kinh doanh- Sở kế hoạch đầu tư Hà nội Đã giúp em có đượcnhững thông tin chính xác từ cơ quan cũng như từ các nguồn thu thập khác như
Trang 17báo viết, báo điện tử, mạng internet … mặc dù có đã thu thập được khá nhiềuthông tin nhưng đa số đều chưa qua xử lý, tản mạn trong nhiều văn bản Thôngqua các phương pháp khoa học đã được nghiên cứu trên giảng đường đại họcnhư: Phương pháp phân tích, phương pháp thống kê tổng hợp, phương pháp đốichiếu tổng hợp, xuất phát từ phương pháp luận chủ nghĩa Mac-Lênin, tư tưởng
hồ chí minh, lý luận chung về nhà nước và pháp luật; giúp em tổng kết lại và
Trang 18đưa ra được những đánh giá khách quan về đề này; góp phần lớn vào thành côngcho bài viết của em.
2 kết quả quá trình tìm kiếm thông tin
Sau quá trình thu thập thông tin nhờ sự giúp đỡ của nhà trường và cơ sởnơi em thực tập Kết quả thu được phản ánh được một cách khá đầy đủ về thựctrạng giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài cũng như việc áp dụng
Trang 19pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 trong những năm 2003 đến 2006.Qua đógiúp em có cai nhìn khái quát về ưu và khuyết điểm trong trong pháp lệnh trọngtài thương mại 2003.Tìm ra nguyên nhân cũng như có được những giải phápkhắc phục những khuyết điểm trong quy định của pháp lệnh Cụ thể nhữngthông tin em thu thập được bao gồm những số liệu sau:
Trang 20Năm Số vụ kiện Quốc tịch các bên tranh
chấp
Nhật Bản Hàn Quốc Malaysia
4
2
3
1
Trang 21Canada Đức Ukraina
6
1
2
Trang 22Hàn Quốc Đài Loan Anh
Hà Lan Indonesia Tây Ban Nha
Trang 23Uruquay Vanuatu
1
1
Hàn Quốc Malaysia Đài Loan
1
8
2
2
Trang 24Áo
Hà Lan Đức Hoa Kỳ
Na Uy Slovakia
Trang 25
Trung Quốc
Áo Malaysia Đức
Trang 26Mỹ Anh Singapore Hàn Quốc
Ấn độ Ucraina
Trang 27Thái Lan Italy Hồng Kông
Trang 28Theo thống kê của TTTTQT VN, năm 2006 và 6 tháng đầu năm nay,trong số các vụ tranh chấp thương mại giải quyết qua trọng tài kinh tế, có 40%
là các vụ tranh chấp giữa DN trong nước với nhau, 60% còn lại là các vụ tranhchấp giữa DN VN với các đối tác nước ngoài
Trang 29Một nước có hơn 80 triệu dân mà chỉ có hơn 150 trọng tài thương mại.Không dừng lại đó, trong hợp đồng kinh tế đều có thoả thuận nếu xảy ra tranhchấp hai bên đều đồng thuận tìm đến trọng tài nhưng những vụ việc tranh chấp''gõ cửa'' trọng tài rất ít Tại TTTTQT thuộc VCCI thụ lý 74 vụ kiện, trong đó 67%
vụ có giá trị tranh chấp dưới 100.000 USD Trong khi đó, trung bình một nămTòa Kinh tế cả nước thụ lý gần 1.000 vụ, nhiều vụ giá trị hàng chục triệu USD
Trang 30II.THỰC TRẠNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ NỘI DUNG CỦA PHÁP LỆNH TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 2003 Ở VIỆT NAM.
1 Nội dung cơ bản của pháp lệnh trọng tài thương mại 2003
Pháp lệnh trọng tài thương mại được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thôngqua ngày 25/02/2003 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2003 đã tạo bước đột phá mớitrong cơ chế giải quyết các tranh chấp thương mại bằng trọng tài, khắc phục
Trang 31được các tồn tại của các văn bản trước đây quy định về trọng tài, kịp thời đápứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường, tiến trình hội nhập kinh tếquốc tế và nhu cầu của các nhà kinh doanh
Chúng tôi xin giới thiệu một số nội dung cơ bản của Pháp lệnh trọng tàithương mại (PLTTTM)
1- Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài:
Trang 32PLTTTM đã mở rộng thẩm quyền đáng kể cho trọng tài so với Nghị định116/CP ngày 05/9/1994 về tổ chức và hoạt động của Trung tâm trọng tài kinh tế.Theo đó, trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinhtrong hoạt động thương mại khi có sự thoả thuận của các bên Hoạt động thươngmại được hiểu theo nghĩa rộng phù hợp với khái niệm “kinh doanh” trong Luậtdoanh nghiệp Việt Nam và được quy định cụ thể như: mua bán hàng hoá, cung
Trang 33ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý thương mại; ký gửi, thuê, cho thuê; xâydựng; tư vấn; kỹ thuật; li-xăng; đầu tư; tài chính, ngân hàng; (khoản 2- điều 2).
2- Về hình thức giải quyết tranh chấp:
PLTTTM quy định hai hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài: doTrung tâm trọng tài tổ chức và do các bên thành lập Quy định này dựa trên sựtôn trọng ý chí của các bên và bảo đảm quyền các bên lựa chọn hình thức giải
Trang 34quyết tranh chấp, đồng thời cũng là sự phù hợp với quy định của pháp luật cácnước trên thế giới về hai hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài: thườngtrực và Adhoc.
3- Hiệu lực của quyết định trọng tài:
Quyết định trọng tài là chung thẩm, các bên phải thi hành nếu không bịToà án huỷ theo quy định của pháp lệnh Pháp lệnh tạo một bước đột phá mới
Trang 35trong cơ chế giải quyết tranh chấp bằng tố tụng trọng tài bởi việc quy định quyếtđịnh trọng tài có giá trị thi hành như một bản án của Toà án Nếu các bên không
tự nguyện thi hành sẽ bị áp dụng biện pháp cưỡng chế bởi cơ quan thi hành áncấp tỉnh nơi có trụ sở, nơi cư trú hoặc nơi có tài sản của bên phải thi hành Trình
tự, thủ tục và thời hạn thi hành quyết định trọng tài được tuân theo các quy địnhcủa Pháp lệnh thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành
Trang 364- Về thoả thuận trọng tài:
Thoả thuận trọng tài là văn bản thể hiện ý chí của các bên về việc lựachọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Thoả thuận trọng tài phảiđược lập thành văn bản Hình thức văn bản được mở rộng bao gồm cả thư, điệnbáo, telex, fax, thư điện tử và các hình thức văn bản khác được pháp luật quyđịnh cho phù hợp với tình hình giao dịch kinh tế, thương mại hiện nay (Điều 9)
Trang 375- Về trọng tài viên:
Là người được các bên lựa chọn, Trung tâm trọng tài hoặc Toà án chỉđịnh để giải quyết tranh chấp Trọng tài viên phải là người có phẩm chất đạo đứctốt, trung thực, vô tư, khách quan; có bằng đại học và đã qua thực tế công tác.Pháp lệnh quy định một số trường hợp không được làm trọng tài viên: ngườiđang bị quản chế hành chính, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, hoặc đã bị
Trang 38kết án mà chưa được xoá án tích; Thẩm phán; Kiểm sát viên; Điều tra viên;Chấp hành viên; công chức đang công tác tại Toà án nhân dân, Viện Kiểm sátnhân dân, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án.
6- Về Trung tâm trọng tài:
Trung tâm trọng tài được thành lập khi có ít nhất 05 trọng tài viên là sánglập viên và có các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 17 của Pháp lệnh
Trang 39Bộ trưởng Bộ Tư pháp sẽ cấp giấy phép thành lập Trung tâm trọng tài theo sựgiới thiệu của Hội Luật gia Việt Nam, căn cứ vào nhu cầu và tình hình phát triểnkinh tế - xã hội của các địa phương.
Để đảm bảo hoạt động của Trung tâm trọng tài, tránh tình trạng thành lậpmột cách tràn lan hoặc thành lập xong thì không hoạt động, trong thời hạn 20
Trang 40ngày kể từ ngày được cấp giấy phép thành lập, Trung tâm trọng tài phải đăng kýhoạt động tại Sở Tư pháp cấp tỉnh nơi Trung tâm đặt trụ sở.
7- Huỷ quyết định trọng tài:
Quyết định trọng tài có thể bị huỷ khi có căn cứ theo quyết định của Pháplệnh Thẩm quyền huỷ quyết định trọng tài thuộc Toà án nhân dân cấp tỉnh nơiHội đồng trọng tài ra quyết định Quyết định huỷ hoặc không huỷ quyết định của
Trang 41Trọng tài của Toà án có thể bị kháng cáo hoặc kháng nghị trong thời hạn 15ngày kể từ ngày ra quyết định và sẽ được xem xét lại bởi Toà án nhân dân tốicao Quyết định của Toà án nhân dân tối cao là quyết định cuối cùng.
8- Mối quan hệ giữa Toà án và Trọng tài:
Trọng tài là một tổ chức phi chính phủ, quyết định không mang tínhquyền lực nhà nước và cũng không đương nhiên được thi hành bằng biện pháp
Trang 42cưỡng chế Nhằm bảo đảm hiệu quả hoạt động của trọng tài, tạo điều kiện thuậnlợi cho trọng tài trong quá trình giải quyết tranh chấp, Pháp lệnh quy định cụ thểmối quan hệ hỗ trợ của Toà án đối với trọng tài trong suốt quá trình giải quyếttranh chấp Toà án có thể hỗ trợ trọng tài trong một số trường hợp như: chỉ địnhtrọng tài viên (điều 26); xem xét quyết định của Hội đồng trọng tài về thẩm
Trang 43quyền giải quyết tranh chấp (điều 30); áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời(điều 33); huỷ quyết định trọng tài (điều 53).
2 Thực tiễn áp dụng pháp lệnh trọng tài thương mại 2003
2.1 Thực trạng trọng tài thương mại ở Việt Nam
Hiện nay có bốn hình thức có thể áp dụng để giải quyết tranh chấp(GQTC) trong quan hệ hợp đồng, giao dịch giữa các thương nhân, đó là: thương
Trang 44lượng, trung gian hoà giải, trọng tài và toà án, trong đó GQTC hợp đồng, giaodịch bằng phương thức trọng tài có nhiều lợi thế hơn so với các phương thứcGQTC khác Tuy nhiên, trên thực tế do một số nguyên nhân, phương thức giảiquyết này ít được lựa chọn.
GQTC bằng phương thức trọng tài thương mại ở Việt Nam mới được quyđịnh năm 2003 tại Pháp lệnh Trọng tài thương mại Trên thực tế không ít các
Trang 45doanh nghiệp tỏ ra hoài nghi về hiệu quả của phương thức GQTC bằng trọng tài.Theo thói quen, khi có vụ việc tranh chấp các bên thường đưa ra toà án để giảiquyết, vì cho rằng, toà án là chủ thể nhân danh Nhà nước thực hiện quyền phánquyết về tính hợp pháp của các quan hệ pháp luật, do vậy tính cưỡng chế trongcác quyết định này sẽ cao hơn; Các bản án, quyết định được Hội đồng xét xửtuyên có giá trị pháp lý cao hơn quyết định của Hội đồng trọng tài Do vậy, hàng
Trang 46năm số vụ việc mà các Trung tâm trọng tài thương mại giải quyết ít hơn nhiềucác toà án kinh tế thụ lý.
Giải quyết tranh chấp thông qua trọng tài thương mại là một phương thứcrất phổ biến và được ưa chuộng trong nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, ở ViệtNam, hình thức này vẫn chưa được áp dụng nhiều và hoạt động của trọng tàithương mại ở Việt Nam vẫn còn rất kém hiệu quả Các DN Việt Nam khi có
Trang 47tranh chấp thường đưa nhau ra toà án Qua khảo sát sơ bộ các doanh nghiệp thìhầu hết hợp đồng kinh doanh của các doanh nghiệp đều thiếu điều khoản về giảiquyết tranh chấp thông qua trọng tài, hoặc có cũng chỉ rất sơ sài và rất khó thựcthi Thậm chí có những hợp đồng lớn cấp quốc gia như mua máy bay thì điềukhoản quy định về vấn đề này cùng rất sơ sài Điều này rất nguy hiểm vì rất dễ
Trang 48dẫn đến đổ vỡ hợp đồng khi có tranh chấp do cơ chế giải quyết không được quyđịnh rõ ràng.
Có thể có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này như các quy địnhpháp luật chưa phù hợp, tâm lý xã hội chưa quen với các tổ chức giải quyếttranh chấp ngoài Nhà nước và ngay cả hoạt động của các trọng tài vẫn còn nhiềuđiểm chưa thuyết phục Với sự phát triển kinh tế thị trường ngày càng đi vào
Trang 49chiều sâu thì chắc chắn hình thức trọng tài thương mại sẽ được ưa chuộng vàphát triển Vì vậy, Bộ Tư pháp đang chỉ đạo các đơn vị chức năng nghiên cứucác điều kiện để phát triển loại hình này.
Thông tin từ Vụ Bổ trợ tư pháp - Bộ Tư pháp cho biết, hiện nay cả nước
có 6 trung tâm trọng tài thương mại Đây là con số không hề ít và thậm chí cònnhiều hơn các nước nhưng năng lực hoạt động của các trung tâm còn nhiều hạn