1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Khái quát địa chất vùng Biển Đông Việt Nam

16 348 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 4,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

• Đồng thời cũng ở đại này vùng biển xảy ra quá trình lắng đọng các trầm tích đệ III, từ Paleogen đến đầu kỉ Neogen mà ngày nay còn thấy ở phần đông nam của đáy biển và cả trên quần đả

Trang 1

• KHÁI QUÁT ĐỊA CHẤT VÙNG BIỂN ĐÔNG VIỆT NAM

BÁO CÁO BIỂN ĐÔNG

Trang 2

Địa chất

• Tới đại Tân sinh, ngược với phần bờ (đất liền), đây thực sự là thời kì phát triển

hoàn thiện của Biển Đông nhưng đây là một quá trình kiến tạo rất phức tạp Bởi

vì, đây là khu vực tiếp xúc giữa 3 mảng

lớn của vỏ trái đất: Á- Âu, TBD và Ấn Độ Dương Các vận động xảy ra nhiều nhưng quan trọng nhất là 2 dạng: Andes (vận

động indosinit) và Hymalaya

Trang 3

Địa chất

• Các giai đoạn vận động quan trọng:

- 60- 50.106 năm: do hút chìm mạnh nên xảy ra tách giãn trôi dạt về đông.

- 32- 16.106 năm: tách giãn kiểu rift rất mạnh, có thể tới 2,8cm/năm.

- 12-5.106 năm:trôi dạt và hoạt động magma

- Cụ thể là đáy biển Đông đã được mở rộng và khơi sâu nhiều theo các kiểu:

- Tethy: rạn vỡ đáy biển.

- Himalaya: trược bằng và kéo toạc do nén ép.

- Biển Đông: tách giãn rift.

Trang 4

• Đồng thời cũng ở đại này vùng biển xảy ra quá trình lắng đọng các trầm tích đệ III,

từ Paleogen đến đầu kỉ Neogen mà ngày nay còn thấy ở phần đông nam của đáy

biển và cả trên quần đảo Philippin; Lucon, Palawan Đó là ofiolit Eocen, diệp thạch

xanh, trầm tích lục nguyên Oligocen-

Miocen

Trang 5

• Tới cuối Neogen giai đoạn biển nông này lại có những biến đổi mạnh mẽ do ảnh

hưởng của tạo sơn Anper- Himalaya

• Phần trung tâm bị lún xuống tạo thành

đáy vực sâu với máng sâu tây Sasuwan, ở

đó có nền basalt đại dương được bao phủ bởi bùn cacbonat, sét Pliocen đệ IV và rạn san hô

Trang 6

• Đặc biệt là vùng quần đảo philippin được nâng lên ở bờ phía đông của biển, nằm

trong vòng cung tạo núi Tân sinh với các đảo nằm trong vành đai lửa TBD cùng với quần dảo Indonesia ở phía nam dãy Anpil- Himalaya

• Tách khỏi TBD và ADD bởi các đảo và

quần đảo xung quanh.

Trang 7

• Ngày nay các tàn tích hoạt động núi lửa vẫn còn thấy ở Tây nguyên, cồn cỏ, và philippin

hiện bởi hệ thống các đứt gãy

trong đó quan trọng nhất là đứt gãy sông Hồng (xuyên biển đông), đứt gãy biển Việt (thềm Nam Trung bộ), đứt gãy Cửu Long (S Tiền,S Hậu) và đứt gãy xuyên Đông Dương (qua vịnh Thái Lan)

Trang 8

• Các đứt gãy cũ được khơi sâu: S Hồng, S Chảy và các đứt gãy mới xuất hiện thêm:

S Lô, S Đà, S Mã, S Cả máng Cao Lạng và ngay cả ở trung tâm của đáy biển

• Đặc biệt, đứt gãy S Hồng rất lớn có thể

gọi là đứt gãy xuyên Biển Đông vì kéo dài đến tận Celebres

Trang 9

• Trong thời gian này ĐB Bắc Bộ bị lún

xuống thành một vịnh nông hình tam giác

mà sau đó được bồi lắng bởi những trầm tích đệ III và phù sa đệ IV của hệ thống S Hồng và S Thái bình Dọc theo các đứt

gãy cũng xuất hiện các vùng lún khá sâu như: Yên Bái, Tuyên Quang, Lạng sơn…

bà nhất là các bồn địa đệ III ở đáy biển

Trang 10

• Trong Biển Đông có 20 vũng bồn đệ tam, tồn tại

cả trên thềm, sườn lục địa và ngay cả lòng chảo với các dạng trôi dạt, trượt bằng tách giãn như: Nam Côn Sơn, Vũng Tàu, Nha Trang, Quảng

Ngãi, Hoàng Sa, Vịnh Bắc Bộ…

gần 3000km và rộng khoảng 600km, bồn Bruney kéo dài 2500km và rộng 400km Trong các bồn này cũng lắng đọng cá trầm tích đệ III và đệ IV

Trang 11

• Chiều dày các bồn trầm tích này khá lớn: bồn Hà Nội- vịnh Bắc Bộ dày khoảng 1000-2000m, các bồn Hoàng sa và Bruney tới hơn 3000m

sản quí giá Nằm trong hai vành đai sinh khoáng lớn: TBD và DTH nên trong Biển Đông chứa

đựng nhiều tài nguyên như: thiếc, wolfram, chì, kẽm, titan, nhôm và nhất là dầu mỏ- khí đốt

Nội- vịnh Bắc Bộ dày khoảng 1000-2000m, các bồn Hoàng sa và Bruney tới hơn 3000m

sản quí giá Nằm trong hai vành đai sinh khoáng lớn: TBD và DTH nên trong Biển Đông chứa

đựng nhiều tài nguyên như: thiếc, wolfram, chì, kẽm, titan, nhôm và nhất là dầu mỏ- khí đốt

Trang 12

• Theo đánh giá sơ bộ của các nhà địa chất thì các giếng ngầm dưới đáy biển ở miền Nam nước ta, Campuchia,

Thái Lan, Mã Lai và Indonesia có thể khai thác tới

400.106 phuy dầu, tức là khoảng 57.106 tấn/ngày

năm 1975 của các công ty nước ngoài như: Mỹ, Canada, Pháp, Nhật đã thăm dò thấy dầu và đưa vào khai thác 11 giếng với sản lượng năm 1998 là hơn 12 106 tấn

phát huy vai trò xứng đáng của nó trong nền kinh tế

quốc dân.

Trang 13

• Ngược lại với các đứt gãy, ảnh hưởng của tân

kiến tạo còn thể hiện rõ nét trong các chu kì giao động với cá biên độ khá lớn

song dao động của bờ biển xảy ra chủ yếu trong chu kì 5, tức là ở đệ IV trung và thượng

lên thành các bậc thềm với cá độ cao khác nhau

Trang 14

• Theo các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước nghiên cứu về Biển Đông cho biết hệ thống thềm biển tính theo tuổi và độ cao từ trên xuống có 6 bậc như sau:

- 70-80m

- 40-50m

- 10-15m

- 4-5m

- 1.5- 2m

Các bậc thềm trẻ: 1,5-2m, 4-5m còn được bảo tồn khá tốt nên rất phổ biến trên dọc các bờ biển

Trang 15

• Ngược lại, ở đây xảy ra mộy số nơi bị hạ thấp: tại vùng Ba Đồn cũng thấy những lớp vỏ nhuyển thể nằm sâu dưới mực nuớc biển tới 16m hay ở vùng Đà Nẵng cũng phát hiện những di vật nằm

ở độ sâu khoảng 23m

sự thay đổi của khí hậu qua các chu kì của băng

hà, đặc biệt là các chu kì băng hà đệ IV làm cho mực nước biển thay đổi nhiều lần

Trang 16

• Các mực nước quá cũ từ đại Trung Sinh và Cổ Sinh hay trước đó đến nay đã bị phá hủy nhiều lần nên khó có thể xác định chính xác.

nước biển thay đổi đã để lại những chứng tích rõ ràng

ra thời kì biển thoái lớn, mực nước biển lúc đó có thể hạ thấp hơn mực nước biển hiện nay khoảng 80-90m

phần khá lớn của thềm lục địa trở thành đất liền và có lẽ con người cổ đại có thể đi lại thuận tiện từ các vùng xích đạo (Indonesia) lên các miền Đông Bắc châu Á (TQ,

Ngày đăng: 09/06/2015, 22:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w