TÓM TẮT Thị trường năm 2009 Thị trường chứng khoán năm 2009 đã ghi nhận sự phục hồi mạnh mẽ tăng 58% sau khi chạm đáy cuối tháng 2 cùng với xu hướng chung của thị trường thế giới, t
Trang 1Diễn biến thị trường 2009 Một số thống kê quan trọng 2009 Triển vọng thị trường 2010
NGÀNH TRIỂN VỌNG 2010
Vận hành cảng biển Dược phẩm
Dầu khí Cao su tự nhiên
Trang 2TÓM TẮT
Thị trường năm 2009
Thị trường chứng khoán năm 2009 đã ghi nhận sự phục hồi mạnh mẽ (tăng 58%) sau khi chạm đáy cuối tháng 2 cùng với xu hướng chung của thị trường thế giới, tăng trưởng kinh tế Việt Nam trên cơ sở tăng trưởng tín dụng mạnh, tài khóa mở rộng do thực hiện gói kích cầu Sau khi đạt đỉnh (633,21 điểm) vào cuối tháng 10, thị trường đã ghi nhận sự điều chỉnh mạnh trong bối cảnh chính sách tiền tệ được thực hiện theo hướng thắt chặt hơn và làn sóng bán cổ phiếu cầm cố gia tăng phản ánh hệ quả của hoạt động giao dịch kỹ quỹ bùng nổ trước đó
Vốn hóa thị trường tại ngày 01/02/2010 (VN-Index: 486,95 điểm) là 609 nghìn tỷ đồng, tương đương khoảng 33 tỷ USD Năm 2009, 171 doanh nghiệp niêm yết mới, có tổng giá trị vốn hóa tại ngày 01/02/2010 khoảng 162 nghìn tỷ đồng, chiếm 26,7% vốn hóa thị trường Các công ty tiến hành phát hành tăng vốn mạnh mẽ, với tổng số tiền huy động (bao gồm cả phát hành riêng lẻ) đạt hơn 8.800 tỷ đồng
Thanh khoản thị trường trung bình trên Hose đạt 1.730 tỷ/phiên (43,7 triệu đơn vị) và ghi nhận kỷ lục từ khi thành lập đạt mức 6.452 tỷ vào ngày 23/10 (khối lượng đạt 137 triệu đơn vị) Nhà đầu tư nước ngoài mua ròng 3.984 tỷ đồng, trong đó FPT, EIB chiếm gần 60% Khối ngoại đã tận dụng triệt để các cơ hội trung hạn lớn của thị trường, nhịp mua vào và bán ra gắn liền với trước và cuối con sóng trung hạn lớn nhất năm của VN-Index
Các nhóm cổ phiếu có mức tăng giá ấn tượng nhất bao gồm: (1)bất động sản, (2)vật liệu cơ bản; Các nhóm
cổ phiếu có diễn biến kém nhất bao gồm: (1)bảo hiểm, (2)xi măng, (3)điện, (4)vận tải biển, (5)dầu khí
Lợi nhuận sau thuế của các doanh nghiệp trong VNDirect50 ghi nhận mức tăng ấn tượng 81% Tăng trưởng doanh thu của nhóm bất động sản và phi tài chính tương ứng ghi nhận mức 109% và 34% so với năm
2008 Tác động tích cực của thu nhập tài chính và chi phí tài chính đóng góp gần 13,96% vào lợi nhuận trước thuế năm 2009
Định giá P/E và P/B năm 2009 của các công ty trong VNDirect50, tại mức VN-Index ngày 10/2/2010 Index: 490,91 điểm) khoảng 12,6 và 2,84 lần
(VN- Triển vọng 2010: VN-Index 650
Diễn biến trên thị trường tiền tệ hiện nay được đánh giá là đỉnh điểm của khó khăn trong năm 2010 Thị trường tiền tệ được dự báo sẽ thông thoáng hơn từ nửa cuối tháng 2 và đầu tháng 3 khi yếu tố mùa vụ Tết qua đi, và định hướng chính sách tích cực với kế hoạch tăng trưởng tín dụng 25% hỗ trợ tăng trưởng GDP trên 6% Chúng tôi nhìn nhận khả năng tăng lãi suất cơ bản hiện hữu trong khoảng 0,5%-1%, là bước tiến cuối cùng của việc bình thường hóa lãi suất cơ bản sau khủng hoảng Tỷ giá dự báo biến động trung bình (4-5% so với cuối năm 2009) phản ánh thâm hụt nhẹ cán cân thanh toán
Trên cơ sở định giá thấp so với khu vực (P/E2010E là 11,16 tại mức VN-Index 490,91 điểm ngày 10/2/2010), tình hình vĩ mô cải thiện, thị trường đứng trước cơ hội đón nhận dòng vốn đầu tư nói chung, đặc biệt từ nhà đầu tư nước ngoài tại vùng giá hiện tại VN-Index hoàn toàn có thể tiến tới thử thách vùng
650 điểm (tương ứng với P/E = 15 - mức trung bình dài hạn của thị trường) Cận dưới trong biên độ dao động của VN-index dự báo ở vùng 450 điểm (tương ứng với mức PE2010E =10 lần)
Chúng tôi lạc quan về triển vọng của ngành cao su tự nhiên, vận hành cảng biển (thuộc ngành giao thông công nghiệp), dầu khí, dược phẩm Ngành thủy sản mặc dù có tác động tích cực của chính sách hỗ trợ xuất khẩu, tỷ giá và thị trường song chúng tôi đánh giá triển vọng chung của ngành vẫn còn những khó khăn
Trang 3KINH TẾ VĨ MÔ
Kế hoạch của Chính Phủ Tăng trưởng kinh tế và đầu tư (yoy)
Lạm phát (yoy)
Thị trường tiền tệ (yoy)
Cán cân thanh toán quốc tế (tỷ USD)
Năm 2009, một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng đã đạt
được kết quả vượt dự báo, đặc biệt là tốc độ tăng trưởng
và kiềm chế lạm phát Gói kích cầu được triển khai mạnh
mẽ thông qua chính sách tiền tệ và tài khóa mở rộng đã hỗ
trợ các doanh nghiệp và hệ thống tài chính, ngân hàng vượt
khỏi khó khăn, cải thiện đáng kể kết quả kinh doanh Tuy
vậy, vẫn còn nhiều nghi ngại về chất lượng tăng trưởng khi
xuất khẩu chưa thực sự cải thiện rõ nét, tổng tồn kho toàn
xã hội ở mức cao và chất lượng sử dụng vốn đầu tư còn
thấp (thể hiện qua chỉ số ICOR cao nhất từ trước đến nay)
Năm 2010, chúng tôi dự báo GDP Việt Nam tiếp tục tăng trưởng trên 6% trên cơ sở đẩy mạnh xuất khẩu khi thị trường thế giới thực sự hồi phục, cùng với sự gia tăng trở lại của đầu tư toàn xã hội và dòng vốn đầu tư nước ngoài
Chính sách tiền tệ trong năm 2010 vẫn duy trì sự thông thoáng nhất định nhằm hỗ trợ tăng trưởng sau khủng hoảng, giải quyết linh hoạt vấn đề tỷ giá và lãi suất, kiểm soát lạm phát ở mức dưới 10%
Trang 4Tăng trưởng GDP và đầu tư
Những bước tiến trong tăng trưởng GDP 2009 đã cho thấy
sự phục hồi dần qua khỏi đáy suy giảm của nền kinh tế Việt
Nam Đóng góp cho tốc độ tăng trưởng 5,32% là mức tăng
của giá trị sản xuất công nghiệp 7,6%, dịch vụ 6,6%, tổng
mức tiêu thụ hàng hóa dịch vụ tăng 18,6% và tổng mức đầu
tư toàn xã hội tăng 15,3% so với 2008
Tăng trưởng các thành phần GDP và ICOR
GDP Công nghiệp Dịch vụ Nông nghiệp ICOR
Nguồn: Bộ công thương, VNDirect tổng hợp
Sản xuất công nghiệp, yếu tố cấu thành quan trọng khẳng
định khả năng phục hồi kinh tế bền vững, đã cho thấy
những tín hiệu lạc quan khi vẫn trong xu thế tăng xung
quanh 4% qua các tháng Tuy nhiên, tiêu dùng có những
chuyển biến chưa tương ứng, tạo nên lượng tồn kho toàn
xã hội vẫn ở mức rất cao 5%/GDP
Đầu tư toàn xã hội được thúc đẩy mạnh mẽ từ đầu tư công
đang có xu hướng tăng, trong khi đầu tư tư nhân và giải
ngân vốn đầu tư nước ngoài vẫn chưa thực sự tích cực
Hiệu quả đầu tư thấp thể hiện qua chỉ số ICOR 8 cho thấy
Việt Nam cần lượng vốn cao hơn nhiều so với các quốc gia
trong khu vực để tạo nên một đơn vị tăng trưởng (ICOR của
Trung Quốc là 4, Thái Lan 4,1, Malaysia 2,7)
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký đạt 21,5 tỷ USD,
chỉ bằng 33% so với con số kỷ lục 64 tỷ USD năm 2008
Giải ngân đạt 10 tỷ USD, sụt giảm 13% so với 2008 (FDI
toàn cầu giảm gần 40%) là hệ quả của suy yếu đầu tư quốc
tế do tác động của khủng hoảng kinh tế Sự sụt giảm của
FDI cũng đã góp phần làm chậm lại tiến trình hồi phục của
Vốn đầu tư giải ngân
0 2 4 6 8 10 12 14
FDI ODA
Nguồn: Bộ công thương, VNDirect tổng hợp
Năm 2010, dự kiến Việt Nam có thể đạt mức tăng trưởng GDP khả quan trên 6% trên cơ sở tiếp tục gia tăng đóng góp của sản xuất công nghiệp và đầu tư không chỉ khu vực quốc doanh mà còn cả khu vực tư nhân và thúc đẩy giải ngân dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Lạm phát
Lạm phát trong năm 2009 được kiểm soát tốt khi dừng lại
ở mức 7% so với tháng 12/2009 do giá cả hàng hóa lương thực thực phẩm có xu hướng ổn định trong năm Những lo ngại lạm phát quay trở lại hiện hữu hơn vào năm 2010 do độ trễ của việc mở rộng tiền tệ ở Việt Nam thường là 6-7 tháng Tuy nhiên, chúng tôi quan điểm CPI năm 2010 sẽ không tăng quá bất ngờ trên 10% khi xem xét tới:
• Tăng trưởng tín dụng 2009 đạt mức cao 37,7%, tuy nhiên tăng trưởng cung ứng tiền tệ M2 chỉ ở mức 27%, mức tương đương giai đoạn kinh tế ổn định và thấp hơn nhiều so với giai đoạn đỉnh điểm 2007 (43%)
• Lượng hàng tồn kho cần tiêu thụ nội địa chiếm hơn 5% GDP đảm bảo đáp ứng sự gia tăng đột biến từ phía sức cầu xã hội
• Giá cả chung các mặt hàng quốc tế Việt Nam phải nhập khẩu như dầu mỏ, máy móc thiết bị…khó quay lại mức tăng cao kỷ lục trước giai đoạn khủng hoảng
Trang 5Lãi suất và tăng trưởng tín dụng
Chính sách tiền tệ mở rộng thể hiện thông qua gói hỗ trợ
lãi suất 4% với tổng dư nợ cho vay cuối 2009 đạt gần
420.000 tỷ đồng đã giải quyết căng thẳng về nhu cầu vốn
và lãi vay cho toàn bộ nền kinh tế Tín dụng tăng trưởng
mạnh các tháng giữa năm cùng với đó là sự gia tăng
mạnh mẽ của dư nợ vay hỗ trợ lãi suất
Tăng trưởng tín dụng cả năm ở mức cao 37,7% trong khi lãi
suất cơ bản được duy trì ổn định ở mức 7% đến gần hết
năm tuy đã giải quyết được vấn đề hỗ trợ tăng trưởng, song
cũng gây ra một số hậu quả:
• Làm méo đi tính thị trường của dòng vốn Lãi suất
thấp khiến nhu cầu vốn VND gia tăng đột biến trong khi huy
động lại có xu hướng giảm ảnh hưởng lớn tới cân đối vốn
của hệ thống ngân hàng, tạo nên tình trạng căng thẳng
thanh khoản giai đoạn cuối năm Lãi suất liên ngân hàng
liên tục tăng, khó huy động vốn do trần lãi suất 10,5% không
đủ hấp dẫn
• Tốc độ tăng trưởng tín dụng quá nhanh vượt dự báo và kế hoạch đầu năm làm gia tăng quan ngại lạm phát cao khiến NHNN đưa ra những chính sách hạn chế cho vay phần nhiều mang tính hành chính giai đoạn cuối năm
• Tương quan sức mạnh giữa nội tệ và ngoại tệ bị thay đổi khi VND trở nên kém hấp dẫn tương đối do lãi suất thấp, tạo tâm lý găm giữ ngoại tệ trong dân cư và áp lực tăng tỷ giá
Việc tăng lãi suất cơ bản cuối năm 2009 chủ yếu làm tăng tính hấp dẫn cho VND, đồng thời tạo điều kiện huy động vốn
dễ dàng hơn cho hệ thống ngân hàng Tuy vậy, vấn đề căn bản về huy động vẫn chưa giải quyết được triệt để Thị truờng tiền tệ liên ngân hàng cuối năm 2009 và những tháng đầu 2010 tiếp tục trầm lắng khi cả tín dụng và huy động nền kinh tế đều ngưng trệ Đây là giai đoạn thị trường chờ đợi những tín hiệu điều hành rõ ràng từ phía NHNN
Chúng tôi dự báo rằng chính sách tiền tệ trong năm 2010 vẫn duy trì sự thông thoáng nhất định nhằm hỗ trợ tăng trưởng sau khủng hoảng Mức tăng tín dụng bình quân 2%/tháng được cho là hợp lý cho kỳ vọng tăng GDP trên 6% mà vẫn đảm bảo lạm phát trong tầm kiểm soát Thị trường tiền tệ được dự báo sẽ ghi nhận những chuyển biến tích cực hơn từ nửa cuối tháng 2 và đầu tháng 3 khi yếu tố mùa vụ Tết qua đi và định hướng chính sách tích cực hơn Điều này cũng gợi ý rằng những đợt tăng lãi suất cơ bản ở mức 0,5%-1% cho cả năm 2010 nên được hiểu là mang tính chất mở đường cho tín dụng và lưu thông tiền tệ theo đúng cân bằng cung cầu thị trường hơn là một động thái thắt chặt
Tỷ giá và cán cân thanh toán quốc tế
Tỷ giá chính thức VND/USD trong năm 2009 ghi nhận sự điều chỉnh giảm trên 6% đối với VND do chịu ảnh hưởng của những yếu tố:
• Thâm hụt thương mại ở mức cao 12 tỷ USD do xuất khẩu chỉ đạt 56,7 tỷ USD do sự sụt giảm mạnh cả về giá và lượng những mặt hàng chủ lực (dầu thô giảm 42%, cao su giảm 30%, cà phê 16%), trong khi kim ngạch nhập khẩu vẫn ở mức cao với 68,7 tỷ USD
• Dòng vốn đầu tư nước ngoài sụt giảm theo xu thế chung, đặc biệt là giải ngân vốn trực tiếp FDI (giảm 13% so với năm 2008) Kiều hối chỉ đạt mức 6,8 tỷ USD giảm 15%
so năm 8 tỷ USD của năm 2008
• Chính sách hỗ trợ tăng trưởng thông qua chính sách tiền tệ mở rộng duy trì lãi suất VND thấp làm giảm tính
Trang 6hấp dẫn từ hiệu quả sinh lời đồng nội tệ, gián tiếp làm mất
giá VND
Năm 2010, cùng với những tín hiệu lạc quan về sự hồi phục
của nền kinh tế thế giới, những yếu tố hỗ trợ từ bên ngoài
đối với kinh tế Việt Nam trở nên hiện hữu hơn Nhập siêu
dự báo sẽ được cải thiện nhờ sự gia tăng của xuất khẩu,
đồng thời dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ghi
nhận những cam kết tích cực Lãi suất cơ bản VNĐ đang
trong quá trình điều chỉnh tăng, ảnh hưởng của hỗ trợ lãi
suất không còn, gián tiếp tăng tính hấp dẫn tương đối của
VND so với USD Áp lực lên tỷ giá sẽ không còn gay gắt và
xu hướng trượt giá VND so với USD sẽ ở mức trung bình
trong giai đoạn ổn định, đồng nghĩa với VND có thể được
điều chỉnh giảm 4-5% (tương ứng mức tỷ giá trung tâm
VND/USD có thể đạt mức cao khoảng 18.838) để phù hợp
với mức thâm hụt nhẹ cán cân thanh toán quốc tế
Đầu năm 2010, tỷ giá trung tâm bất ngờ được điều chỉnh
tăng 3,3% so với trước đó Do vậy, chúng tôi dự báo rằng
dư địa cho những đợt điều chỉnh mới trong năm còn không
nhiều (khoảng 1 - 2%)
Diễn biến tỷ giá và thâm hụt thương mại
Nguồn: Tổng cục thống kê, SBV,VNDirect
Chính sách tài khóa
Chính sách tài khóa mở rộng với sự gia tăng đầu tư khu vực công và giảm gánh nặng thuế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua giảm thuế thu nhập doanh nghiệp 30%, hoãn nộp thuế, giảm thuế thu nhập cá nhân… Giải ngân vốn hỗ trợ ODA đã đạt 3 tỷ USD trong số trên 5 tỷ USD đã được ký kết Năm 2010, vốn ODA cam kết đã tăng kỷ lục 36% so với 2009 khi đạt hơn 8 tỷ USD, trong
đó hơn 1,4 tỷ USD là viện trợ không hoàn lại Triển khai kích cầu mạnh tay khi nguồn thu giảm mạnh và phát hành trái phiếu Chính phủ gặp nhiều khó khăn khiến bội chi ngân sách lên tới 142,4 ngàn tỷ đồng, tương ứng 6,9% GDP Năm 2010, dự báo ngân sách tiếp tục bội chi
120 ngàn tỷ đồng, chiếm 6,2% GDP
Trang 7THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Diễn biến của VN-Index 2009
Thị trường chứng khoán năm 2009 đã ghi nhận sự phục hồi
mạnh mẽ từ cuối tháng 2 (tính chung cả năm tăng 58%) cùng
với xu hướng chung của thị trường thế giới và tăng trưởng kinh
tế Việt Nam trên cơ sở tăng trưởng tín dụng mạnh, tài khóa mở
rộng do thực hiện gói kích cầu Sau khi đạt đỉnh của năm 2009
vào cuối tháng 10, thị trường điều chỉnh và củng cố, chính sách
tiền tệ được thực hiện theo hướng thắt chặt hơn Thanh khoản
thị trường trung bình trên Hose đạt 1.730 tỷ/phiên (khối lượng
đạt 43,7 triệu đơn vị) và ghi nhận kỷ lục từ khi thành lập đạt
mức 6.452 tỷ vào ngày 23/10 (khối lượng đạt 137 triệu đơn vị)
Giai đoạn 1 (1/1/2009 - 24/2/2009): nền kinh tế trong giai đoạn
suy thoái, nhiều công ty niêm yết công bố báo cáo lỗ… Thị
trường tiếp tục sụt giảm sâu và xuống thấp nhất tại mốc 235
điểm vào ngày 24/2 Giai đoạn này nhiều công ty niêm yết
công bố mua vào cổ phiếu quỹ với khối lượng lớn
24/2/2009: VN-Index giảm xuống mức thấp nhất trong năm tại
234,66 điểm với khối lượng giao dịch 11,5 triệu cổ phiếu
Giai đoạn 2 (24/2/2009 - 12/6/2009): Chính phủ công bố gói
kích cầu trị giá 8 tỷ Đô la, niềm tin vào nền kinh tế phục hồi gia
tăng Bên cạnh đó các thị trường chứng khoán trên thế giới
cũng tăng điểm trở lại Thị trường Việt Nam cũng nhanh chóng
trở thành 1 trong 3 thị trường tăng điểm mạnh nhất trên thế
giới Đồng thời các doanh nghiệp cũng bắt đầu công bố báo
cáo tài chính 6 tháng đầu năm tương đối khả quan
12/6/2009: VN-Index đạt mức cao nhất trong nửa đầu năm tại
525,22 điểm với khối lượng giao dịch 66,3 triệu cổ phiếu
Giai đoạn 3 (12/6/2009 - 20/7/2009): Thị trường điều
chỉnh sau hơn 3 tháng tăng điểm liên tục, thanh khoản giảm dần nhưng nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu đẩy mạnh giao dịch
20/7: VN-Index giảm xuống mức 411,39 điểm, khối lượng giao dịch 28,7 triệu cổ phiếu
Giai đoạn 4 (20/7/2009 - 23/10/2009): Sự phục hồi
kinh tế ngày càng rõ nét, tăng trưởng tín dụng đạt mức cao khiến dòng tiền vào chứng khoán dồi dào Đây là giai đoạn xuất hiện sóng theo nhóm ngành và việc sử dụng đòn bẩy tài chính rất phổ biến, các công ty chứng khoán đẩy mạnh hoạt động giao dịch ký quỹ
23/10/2009: Phiên giao dịch kỷ lục, VN-Index đạt đỉnh cao nhất trong năm tại 633,21 điểm, khối lượng giao dịch lên đến 137 triệu cổ phiếu
Giai đoạn 5 (23/10/2009 - 31/12/2009): Những bất ổn
của kinh tế vĩ mô xuất hiện: tỷ giá, tăng trưởng tín dụng quá nóng…buộc NHNN phải có những biện pháp thắt chặt tiền tệ Các kênh đầu tư khác như vàng, Đô la trở nên hấp dẫn hơn chứng khoán
17/12/2009: Thị trường điều chỉnh mạnh về mốc thấp nhất tại 427,06 điểm, khối lượng giao dịch đạt 39,9 triệu cổ phiếu
Trang 8Các thống kê quan trọng
Kết quả kinh doanh năm 2009
Chỉ tiêu tăng
trưởng Quy mô
tài sản VCSH Doanh thu LNTT LNST
Biên lợi nhuận ròng ROE
Biên lợi nhuận gộp
Biên lợi nhuận ròng
Chi phí tài chính
Lợi nhuận tài chính
Tác động lên lợi nhuận trước thuế
(không bao gồm bất động sản) ghi nhận mức tăng 53%, bất động sản tăng 137%
và phi tài chính tăng 101% Tăng trưởng doanh thu của bất động sản và phi tài chính tương ứng là 109% và 34%
Quy mô tài sản và vốn chủ sở hữu tương ứng tăng trưởng gần 33% và 26% Bất động sản có mức tăng trưởng
tài sản mạnh nhất 61% Vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp phi tài chính tăng mạnh nhất, trung bình trên 27%;
Hiệu quả sử dụng vốn ROE tăng 7%
Tác động của hoạt động tài chính đóng góp 13,94% lợi nhuận trước thuế Các doanh nghiệp bất động sản
và phi tài chính ghi nhận sự cải thiện đáng kể từ đóng góp của hoạt động tài chính, doanh thu tài chính tăng 20,5%, chi phí tài chính giảm -35,7% Tác động tổng hợp đóng góp khoảng 13,94% vào lợi nhuận trước thuế
Trang 9GT mua ròng VNIndex
Nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu quay trở lại mua ròng tích cực hơn
vào giữa tháng 3 khi thi trường thế giới và trong nước đã có những tín
hiệu tích cực hơn Tổng cộng, năm 2009 NĐTNN mua ròng hơn 59
triệu đơn vị, tương ứng với 3.984 tỷ đồng Có 2 giai đoạn mua ròng rõ
nét gắn với những bước ngoặt của xu hướng đáng chú ý:
• Giai đoạn từ ngày 19/3 tới ngày 14/5, tổng cộng NĐTNN đã
mua ròng hơn 1.200 tỷ, VN-Index sau đó đã có bước tăng mạnh mẽ
từ dưới 400 lên 520 điểm; NĐTNN bán ròng trong giai đoạn tăng này,
từ giữa tháng 5 đến đỉnh của thị trường họ bán ròng khoảng 900 tỷ
• Giai đoạn thị trường điều chỉnh trong tháng 6 và 7, NĐTNN
mua ròng mạnh hơn, tổng cộng giá trị mua ròng trong từ ngày 26/6 tới
ngày 6/8 đạt gần 2.600 tỷ VN-Index chứng kiến mức tăng trưởng
mạnh mẽ từ 413 điểm lên hơn 624 điểm vào ngày 22 tháng 10
NĐTNN bán ròng 2.200 tỷ trong tháng 9 khi VN-Index dao động trong
khoảng 540-580 điểm
Nhìn chung, kết quả giao dịch của NĐTNN trong năm 2009 theo chúng tôi là tương đối tốt Khối này đã tận dụng triệt để các cơ hội trung hạn lớn của thị trường, nhịp mua vào và bán ra gắn liền với trước và cuối con sóng lớn nhất năm của VN-Index
Hiện tại, theo thống kê của VNDirect nhà đầu
tư nước ngoài sau khi bán ròng mạnh trước
đó đang tích lũy trạng thái trong vùng dao động của VN-Index từ 480-500 Khối này đã mua ròng trong gần 1 tháng liên tiếp (từ ngày 11/1/2010 đến ngày 8/2/2010) với giá trị mua đạt hơn 1.421 tỷ đồng
10 cổ phiếu nhà đầu tư nước ngoài mua và bán ròng nhiều nhất
cổ phiếu tăng cao phản ánh điểm rơi về lợi nhuận doanh nghiệp và triển vọng tăng trưởng không được đánh giá cao
Nổi bật nhất trong nhóm cổ phiếu được mua vào là FPT, EIB, DPM, PVD, PVS - những cổ phiếu có căn bản và định giá hấp dẫn; Đây cũng là những cổ phiếu ít tính đầu cơ trong năm 2009 FPT và EIB được mua mạnh nhất chiếm gần 60% tổng giá trị mua ròng của toàn bộ thị trường
Trang 1010 cổ phiếu có diễn biến giá tích cực và tiêu cực nhất trong năm
Nổi bật danh sách các cổ phiếu tăng giá nhiều nhất là sự góp mặt của các cổ phiếu phát triển bất động sản, xây dựng có phát triển dự án, các cổ phiếu được hưởng lợi từ biến động giá hàng hóa cơ bản và nhu cầu tiêu thụ gia tăng như: Vật liệu cơ bản VIS, BMP, NTP hàng tiêu dùng như DRC; Nhóm các cổ phiếu có diễn biến giá kém nhất bao gồm (1) bảo hiểm (2) xi măng (3) điện (4) vận tải biển (5) dịch vụ dầu khí
Cổ phiếu niêm yết mới
Mã CK Sàn
Ngày GD đầu tiên KL
Giá ngày 31/12/2009 (nghìn đ)
Giá trị (tỷ đ)
Nguồn: VNDirect tổng hợp