Nhu cầu sử dụng hoa Lily tăng dần lên, trong khi đó ở nước ta, mặc dù đã được đưa vào sản xuất từ lâu song chủ yếu là ở Đà Lạt và một số tỉnh phía bắcsong nguồn cung chưa đáp ứng đủ nhu
Trang 1Đặc biệt tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy PGS.TS Lê Hữu Cần
- Người trực tiếp hướng dẫn tôi Những người luôn tận tình chỉ bảo phương phápnghiên cứu phân tích kết quả và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt đềtài thực tập tốt nghiệp này
Tuy nhiên do thời gian không có nhiều, với kinh nghiệm và tầm nhìn còn hạnchế nên báo cáo thực tập không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sựgóp ý chân thành của giáo viên hướng dẫn và các thầy cô giáo trong khoa, cùng toànthể các bạn trong lớp ĐH TTK14 Trường Đại Học Hồng Đức để tôi khắc phục đượcnhững hạn chế của mình, đúc kết thêm kinh nghiệm trong học tập, cũng như sau này
ra trường công tác
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thanh Hoá, tháng 06 năm 2015
Sinh viên
Kim Khămmyphon
Phần 1.MỞ ĐẦU
Trang 21.1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoa là một loại cây trồng có vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Ở nước
ta nghề trồng hoa đã mang lai hiệu quả kinh tế cao cho nhiều địa phương, góp phầnkhông nhỏ trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng
Ở Việt Nam hoa đã được dùng trong các ngày vui, hội hè, lễ tết, cưới xin, ma chay,các nhu cầu của tầng lớp quan lại giàu có từ lâu đời Nhưng ngày nay nhu cầu tiêudùng hoa quanh năm phổ biến trong mọi tầng lớp
Không có nhiều ghi chép về nghề này trong lịch sử, nhưng lưu truyền trong dân gian
cá giai thoại về nghề hoa Từ năm 1995 trở về trước hoa được trồng chủ yếu ở cáclàng hoa truyền thống, gần thành phố khu nghỉ mát, khu công nghiệp
Các loại hoa: Hồng, Cẩm Chướng, Lan, Cúc, Đồng Tiền, Lay ơn, Lily đã đượctrồng phổ biến ở Thanh Hóa Các loại hoa tươi có giá trị văn hoá và thẩm mĩ đápứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao cả về số lượng và chất lượng Việc ứng dụngcác công nghệ tiên tiến trồng ở quy mô thích hợp để nâng cao chất lượng sản phẩmhoa là yêu cầu cấp thiết của thực tế sản xuất hoa ở nhiều địa phương của tỉnh ThanhHoá
Hoa Lily là loài hoa đẹp, màu sắc đa dạng phong phú, có rất nhiều giống hoa Lily cómùi thơm quyến rũ vì vậy hoa Lily đã và đang được trồng trọt và sử dụng ở hầu khắpcác nước trên thế giới Các nước đi đầu trong sản xuất hoa Lily như Hà Lan, Pháp,Chi Lê… đã hình thành một hệ thống hoàn thiện và chuyên nghiệp từ khâu nhângiống, sản xuất hoa thương phẩm, thương mại hóa hoa cũng như các ngành phụ trợcho việc sản xuất hoa Lily
Hoa Lily ngày càng được ưa chuộng sử dụng rộng rãi, đặc biệt là trong các ngày lễ,tết, làm quà tặng dành cho các bà các mẹ, hoặc dùng để trang trí trong các buổi tiệccưới, sinh nhật Nhu cầu sử dụng hoa Lily tăng dần lên, trong khi đó ở nước ta, mặc
dù đã được đưa vào sản xuất từ lâu song chủ yếu là ở Đà Lạt và một số tỉnh phía bắcsong nguồn cung chưa đáp ứng đủ nhu cầu của người dân trong nước, phải nhậpkhẩu thêm từ nước ngoài, làm giá thành tăng lên cao
Từ những năm đầu của thế kỷ 21 hoa Lily đã bắt đầu được đưa vào trồng ở các tỉnhphía Bắc nước ta, với diện tích và quy mô trồng tăng lên nhanh chóng và đã mang lạinhiều lợi ích cho người nông dân
Trang 3Trước tiềm năng to lớn về lợi ích của giống hoa Lilysorbonne bên cạnh đó, là nhữngbất cập do sai khác về thời tiết và điều kiện tự nhiên ở Thanh Hóa so với các vùngkhác, chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của loài hoa này
là cần thiết để đưa giống hoa này vào sản xuất đại trà Do đó, chúng tôi tiến hành đề
tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của các chất kích thích sinh trưởng đến năng suất, chất lượng hoa lily Sorbonne trồng trong chậu tại Thanh Hóa”.
1.2 Mục tiêu, yêu cầu của đề tài
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Cơ sở khoa học của việc sử dụng chất KTST
Ở thực vật bất cứ hoạt động sinh trưởng và phát triển nào đều được điều chỉnhđồng thời bởi nhiều loại hormon trong chúng Chính vì vậy sự cân bằng giữa cáchormon trong cây có một ý nghĩa quyết định Nhìn chung có thể chia thành 2 loại
Trang 4đó là sự cân bằng chung và sự cân bằng riêng giữa các hormon.
* Sự cân bằng chung:
Sự cân bằng chung được thiết lập dựa trên cơ sở 2 nhóm phytohormon có hoạttính sinh lý trái ngược nhau: Nhóm chất kích thích sinh trưởng và nhóm chất ức chếsinh trưởng Sự cân bằng này xác định trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triểncủa cây
Trong quá trình phát triển cá thể của cây từ khi cây sinh ra cho đến khi cây chết đi thì
sự cân bằng trong chúng diễn ra theo quy luật là ảnh hưởng các chất kích thích giảmdần và ảnh hưởng của chất ức chế tăng dần
* Sự cân bằng riêng:
Trong cây có vô số các quá trình phát sinh hình thái và hình thành cơ quan khácnhư rễ, thân, lá, hoa, quả, sự nảy mầm, sự chín đều được điều chỉnh bởi sự cânbằng của hai hay một vài hooc mon đặc hiệu
- Tái sinh rễ và chồi được điều chỉnh bởi tỷ lệ g iữa Auxin và Xytokinin trong mô.Nếu tỷ lệ này nghiêng về Auxin thì rễ được hình thành nhanh hơn và ngược lại
Trang 5Hiện tượng ưu thế ngọn cũng được điều chỉnh bằng tỷ lệ Auxin/Xytokinin.Auxin làm tăng ưu thế ngọn còn Xytokinin lại làm giảm ưu thế ngọn
Tại bất cứ một thời điểm nào trong các quá trình đó cũng đều xác địnhđược một sự cân bằng đặc hiệu giữa các hoocmon đó Con người có thể điềuchỉnh các quan hệ cân bằng đó theo hướng có lợi cho con người (Hoàng MinhTấn, Nguyễn Quang Thạch, 1994) [2]
2.1.2 Nguồn gốc
Trung Quốc là nước trồng hoa lily sớm nhất Theo tài liệu cổ Thần nôngbản thảo thì củ lily có tác dụng thanh phế, nhuận táo, tư âm thanh nhiệt Vìvậy, củ lily ngoài tác dụng làm giống còn được dùng để ăn, làm thuốc chữabệnh…
Những nghiên cứu cho rằng việc trồng hoa lily để lấy củ ăn làm thuốcbắt đầu từ thời Đường (Trung Quốc), nhưng trước đó cũng đó cú nhiều bàithơ ca ngợi về hoa lily Vì vậy, chẳng những người ta thích ăn củ mà còn
thích thưởng thức vẻ đẹp của hoa lily
Đến thế kỷ XIII, ít nhất có ba loại lily được ghi chép lại Loại thứ nhất làlily Trắng, dùng làm thuốc chữa bệnh được gọi là loại hoang dược(L.Braxnu), loại thứ hai là Quyển Đan (L.Lancipilium), loại thứ ba là SơnĐan (L.Taralium)
Đến cuối thế kỷ XVI các nhà thực vật người Anh đã phát hiện và đặt têncho các giống lily Đến đầu thế kỷ XVII, lily được di thực từ châu Âu sangchâu Mỹ và đến thế kỷ XVIII các giống lily của Trung Quốc di thực sangchâu Âu, nhờ vẻ đẹp và hương thơm của hoa lily đó nhanh chóng pháttriển và được coi là cây quan trọng ở châu Âu và châu Mỹ.Sau đại chiến thế giới II, các nước châu Âu có cao trào tạo giống lily, rấtnhiều giống lily hoang dại đã được sử dụng làm giống bố mẹ và người ta đãtạo ra nhiều giống mới quý, có giá trị đến ngày nay
2.1.3 Phân loại giống
* Phân loại theo nguồn gốc nơi sinh và bố mẹ
Do sự mua bán lily trên thế giới phát triển nên công tác tạo giống được
mở rộng, giống mới ngày càng nhiều Để tiện cho việc giới thiệu buôn bán,
Trang 6hiệp hội làm vườn Hoàng gia Anh (Royal Horticulturral SocietyLylicommittie) năm 1963 đưa ra hệ thống phân loại Hệ thống này chủ yếudựa vào bố mẹ, con lai, người tạo giống và năm tạo giống chia giống trồngtrọt ra làm 5 nhóm:
Nhóm 1: Gồm L.Auratum, L.Spucicsum, L.Faponicum, L.Rubellum chủ yếu làcác giống lai có nguồn gốc khác nhau, nhóm này được hệ thống phân loại quy
về dòng tạp giao lily Phương Đông
Nhóm 2: Gồm L.Lancipollium, L.Lechttini var Maximwicgi, L.Caculamabel,L.Pumilum, L.Pulboerem var Ckoceum, L.Dacidu, L.Wiblanottiac, nhóm nàychủ yếu giống Carotiuoid là chính, hệ thống này phân loại quy về dòng lilychâu Á tạp giao
Nhóm 3: Gồm lily Thơm (L.Langiflorcum), lily Đài Loan (L.Sulyhureum), lilyTrắng (L.Candidum), lily Vương (L.Regala) là chính, hệ thống này phân loạiquy về dòng lily lai châu Á và dòng lai Phương Đông
Nhóm 4: Gồm lily Hỏn Lõm (L.Hansoni), lily Tinh Diệp (L.Martagou) làchính, cùng với L.Chalcudonicum, lily Ốc Đan, lai tạo chọn lọc ra, hệ thốngnày phân loại quy về dòng lily tạp giao, lily Tinh Diệp
Nhóm 5: Gồm lily lông (L.Coruum), lily Hồ Bắc lai tạo chọn ra, nhóm nàyđược quy về giống thuộc dòng lai châu Á và dòng lai Phương Đông
Năm 1982 hội hoa lily quốc tế đề ra hệ thống phân loại trên cơ sở hệthống phân loại của Anh năm 1963 Hệ thống này đưa ra nơi nguyên sản của
bố mẹ, quan hệ huyết thống, đặc trương hình thái và màu sắc hoa quy cácgiống lily vào 8 nhóm:
Nhóm 1: Dòng lai lily châu Á (Asiation tuybrias)
Nhóm 2: Dòng lai lily Tinh Diệp (Martagon tybrids)
Nhóm 3: Dòng lai lily hoa Trắng (Condidumhybrads)
Nhóm 4: Dòng lai lily châu Mỹ (Amarican hybrids)
Nhóm 5: Dòng lai lily Loa Kèn (Trunpethybrids)
Nhóm 6: Dòng lai lily Thơm (Longiplorum hybrids)
Nhóm 7: Dòng lai lily Phương Đông (Orienggal hybrids)
Trang 7Nhóm 8: Các loại hình khác (Miscellaneous hybrids)
* Phân loại theo thời gian ra hoa
- Loại hoa ra sớm: Từ trồng tới ra hoa 60 – 80 ngày, chủ yếu nhóm lai châu Á,thường gặp là Kinhs, Lotus, Sanciro, Lavocaro, Orango, Mountain
- Loại hoa ra vừa: Từ trồng đến ra hoa 85 – 100 ngày, chủ yếu thuộc dòng lai châu Á, một số giống thường thấy là: Avigon, Enchantmemt
- Loại ra hoa ra muộn: Từ trồng tới ra hoa 105 – 120 ngày, các giống chủyếu thuộc dòng lai Phương Đông và lily Thơm, các giống thường gặp là:
Olmypicstar, Stargazer…
- Loại hoa ra cực muộn: Từ trồng tới ra hoa 120 – 140 ngày, các giốngchủ yếu thuộc dòng lai Phương Đông và lily Thơm, các giống thường gặp là:Diablanca, Contesse, Casablanca
* Phân loại theo mầu sắc hoa
Chia ra dòng hoa đỏ (R2D), phấn hồng (Pinca), trắng (White), vàng mơ(Apricot), và nhiều mầu (Mutiple – color) 6 loại
2.1.4 Đặc tính sinh vật học hoa lily
* Đặc điểm thực vật học hoa lily
- Củ con và mầm hạt: Đại bộ phận hoa lily có nhiều củ con ở phần thân rễ,chu vi mỗi củ 0,5 – 3 cm, số lượng củ tùy thuộc vào giống Một số giống nhưĐan
Quyển và các giống tạp giao ở nách lá có mầm hạt chu vi 0,5 – 1,5 cm
- Rễ: Rễ gồm hai phần là rễ thân và rễ gốc, rễ thõn cũn gọi là rễ trên mọc
ở phần thõn dưới đất sinh ra có nhiệm vụ nâng đỡ thân, hút nước và dinhdưỡng Rễ gốc còn gọi là rễ dưới mọc ra từ gốc thân vảy, chủ yếu là hút nước
và dinh dưỡng
- Thân vảy: Là phần phình to của thân có hình cầu dẹt, hình trứng, hìnhtrứng dài, hình elip… Thân vảy không có vỏ bao bọc, màu sắc phụ thuộc vàogiống: Có màu trắng, vàng, cam, tớm… Kích thước củ to nhỏ phụ thuộc vàogiống, độ lớn của thân vảy tỉ lệ với số hoa ở trên cành Vảy thì có hình kimxòe ra, hoặc hình elip, có đốt hoặc không có đốt Mầm vảy to ở ngoài và nhỏ
Trang 8ở trong là nơi dự trữ chất dinh dưỡng và nước cho thân vảy.
- Hoa: Mọc đơn lẻ hoặc xếp đặt trên trục hoa, hoa chúc xuống, vươn nganghoặc hướng lên, cánh đài cùng màu với cánh tràng, hoa có nhiều màu như đỏ,hồng,hồng đậm, vàng, trắng… có hoặc không có hương thơm
- Quả: Hình trứng dài, mỗi quả có vài trăm hạt, bên trong có cánh mỏng hìnhbán cầu hoặc ba gúc vuông dài, trong điều kiện khô lạnh có thể bảo quảnđược 3 năm
* Đặc điểm sinh trưởng, phát dục:
- Đặc điểm sinh trưởng:
Thân vảy được coi như là mầm dinh dưỡng, thân vảy vùi trong đất khoảng haituần sẽ nảy mầm, tuy nhiên còn phụ thuộc vào nhiệt độ, ẩm độ…
Các giống khác nhau có sự chênh lệch nhau khá lớn về thời gian sinh trưởngcủa cây, chiều cao cây là một trong những yếu tố cấu thành chất lượng củacành hoa nó được quyết định bởi số lá và chiều của đốt, số lá chịu ảnh hưởngcủa chất lượng củ giống do vậy mà số lá đã được quyết định trước khi trồng,chiều cao cây vẫn chịu ảnh hưởng lớn của chiều dài đốt, trong điều kiện ánhsáng yếu ngày dài, nhiệt độ thấp và sử lý trước khi bảo quản lạnh lâu đều cútỏc dụng kéo dài đốt thân và ngược lại
- Đặc điểm phát dục:
Trong điều kiện miền bắc Việt Nam hoa lily được trồng vào tháng 9, tháng 10
và bắt đầu phân hóa mầm hoa vào tháng 11, 12 Quá trình phân hóa mầm hoakéo dài 40 – 60 ngày, khi cây bắt đầu nảy mầm cũng là lúc cây phânhóa mầm hoa, một số giống thuộc nhóm lai phương Đông và lily thơm thì saukhi cây nảy mầm một tháng mới bắt đầu phân hóa mầm hoa Sự phân hóa hoa
và số lượng mầm hoa chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện sau khi trồng Thờigian quả chín phụ thuộc vào giống dao động trong khoảng 60 – 150 ngày
* Sự ngủ nghỉ của hoa lily và biện pháp phá ngủ nghỉ:
Kỹ thuật quan trọng trong trồng lily phải phá ngủ nghỉ của củ, nếu trồng màkhông qua giai đoạn phá ngủ nghỉ sẽ cho tỷ lệ nảy mầm thấp, xuất hiện hiệntượng hoa mù Thường sử dụng nhiệt độ thấp để phá ngủ nghỉ, đây là biện
Trang 9pháp hữu hiệu nhất, hầu hết các giống bảo quản lạnh ở 5oC thì sau 4 – 6 tuần làphá được ngủ của củ song nhiều giống yêu cầu thời gian dài hơn: giốngYellow Blage cần 8 tuần, Stargazer cần ít nhất 10 tuần, từ các đặc điểm này ta
có thể xác định thời gian ra hoa, sắp xếp lịch thời vụ theo ý muốn ( Đặng VănĐông – Đinh thế lộc,2004) [7]
* Đặc tính thực vật học hoa lily Sorbonne
Giống Sorbonne: Là giống trồng phổ biến ở Việt Nam, chiều cao cây từ
85 – 90 cm, thời gian sinh trưởng ở các tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng 90 –
95 ngày, các tỉnh miền núi phía Bắc 108 – 115 ngày Lá to, dài, nhọn (dài 10– 12 cm, rộng 3 – 4 cm), có 5 – 7 nụ hướng lên trên, màu hoa hồng đậm, mùirất thơm
2.1.5 Yêu cầu sinh thái của hoa lily
2.1.5.1 Nhiệt độ:
Lily là cây chịu rột khỏ chịu nóng kém, nhiệt độ thích hợp chung là banngày 20 – 25oC còn ban đêm là 12oC, ngoài ra một số giống có nhiệt độ thíchhợp cao hơn: ban ngày 25 – 28oC còn ban đêm là 18 – 20oC Nhiệt độ ảnhhưởng lớn tới sự nảy mầm của củ, sự phát dục của thân và sự sinh trưởng của
lá Thời gian xử lý củ ở các nhiệt độ khác nhau ảnh hưởng lớn tới khả năngsinh trưởng phát dục sau này của cây, nhiệt độ còn ảnh hưởng tới sự phân hóamầm hoa, thời gian ra hoa, nở hoa, độ bền hoa… hoa lily là cây phụ thuộc rấtlớn vào nhiệt độ môi trường Trồng hoa lily trong điều kiện nhà ấm có chiếusáng có thể sản xuất hoa cắt cành quanh năm
2.1.5.2 Ánh sáng:
Lily ưa cường độ chiếu sáng trung bình, là cây ngày dài Việc chiếu sángkhông đủ khiến cây còi cọc, đồng thời gây ra hiện tượng rụng nụ, cây trở nênyếu, màu lá nhạt, cuối cùng là rút ngắn thời gian cắm bình của hoa Hoa lilyđặc biệt cần lượng ánh sáng đầy đủ để đáp ứng nhu cầu phát dục của nụ hoa,việc thay đổi thời gian chiếu sáng cũng có thể rút ngắn hoặc cũng có thể kéodài thời kỳ thu hoạch hoa Khi mầm hoa của lily phát dục vào mùa đông cần
Trang 10cung cấp đủ ánh sáng, nếu thiếu ánh sáng vào giai đoạn mầm hoa nhú ra đếnkhi cắt hoa, hoa sẽ trắng và rụng
Thông thường ánh sáng dùng cho tác dụng quang hợp là cứ 10m2lắp đặt
hệ thống đèn 400Wh/m2cú kèm tấm phản quang để cung cấp Một số nghiêncứu chung cho thấy, sự ra hoa của cỏc nhúm giống không những có nhu cầukhác nhau về số ngày có thời gian chiếu sáng ngắn mà cũn cú sự khác nhau về
số giờ của từng giai đoạn như giai đoạn phân hóa hoa, giai đoạn hình thành vàphát triển của hoa Nhà sinh lý học Burchi (Burchi, G và cộng sự, 1995),
đã sớm nhận thấy những giống có thời gian sinh trưởng ngắn, yêu cầu thờigian chiếu sáng trong ngày cũng ngắn hơn giống có thời gian sinh trưởng dài.Choosak (1998) đã kiểm nghiệm bằng cách dựng cỏc giống khác nhau, trồngtrong điều kiện nhiệt độ ban đêm là 15,5oC sau đó đo thời gian chiếu sángtrong ngày suốt thời kì từ lúc phân hóa mầm hoa cho đến lúc phát dục hoàntoàn và cũng đưa ra kết luận tương tự (Choosak Jompuk) Thời gian chiếusáng ảnh hưởng đến việc nở hoa lily Thông thường trồng vào vụ xuân, trongthời kỳ chiếu sáng ngắn việc kéo dài thời lượng nhân tạo có thể giúp cho một
số giống hoa lily nở sớm Từ lúc số nụ đạt 50% thời lượng chiếu sáng cho hoalily cần tăng lên đến 16 giờ, kéo dài liên tục đến 6 tuần hoặc đến tận khi thấy
nụ hoa, cần bật bóng đèn (khoảng 20W/m2) trước lúc ánh sáng mặt trời xuấthiện hoặc sau khi tắt nắng để kéo dài được thời gian chiếu sáng
2.1.5.3 Nước và không khí:
Thời kỳ đầu cây cần nhiều nước, thời kỳ ra hoa nhu cầu nước của câygiảm dần vì thừa nước lúc này sẽ làm rụng nụ, củ dễ bị thối Lily thích khôngkhí ẩm ướt, độ ẩm thích hợp nhất là 80 – 85%, độ ẩm không được thay đổiđột ngột sẽ dẫn đến tác hại cho cây, ức chế sinh trưởng cháy lá… Việc cherâm thông gió kịp thời và tưới nước có thể phòng chống được vấn đề này (BùiBảo Hoàn) Hoa lily rất mẫn cảm với khí Ethylen, tuy nhiên tùy vào giống mà
độ mẫn cảm không giống nhau
Trong nhà lưới, sự thông gió kém, nhất vào vụ Đụng, nờn thông gió đểđiều tiết không khí, đồng thời giảm nhiệt độ và ẩm độ Cỏch thụng gió với
Trang 11nhà kính là mở cửa, còn nhà nilon thì mở mái cho không khí trong và ngoàinhà lưu thông.
Bổ sung CO2: Nồng độ duy trì ở mức 1000 – 2000mg/g, nếu cao quá sẽ
hại cho cây và người chăm sóc
2.1.5.4 Đất và dinh dưỡng:
Lily có thể trồng trên mọi loại đất, tuy nhiên đất trồng tốt nhất là đất nhiềumùn và đất thịt nhẹ, đất có lớp mựn trờn mặt khoảng 30 cm có thể chấp nhậnđược Lily có bộ rễ ăn nụng nờn cần thoát nước tốt Lily rất mẫn cảm vớimuối, đất nhiều muối cây khụng hút được nước, ảnh hưởng đến sinh trưởng,phân hóa hoa và ra hoa Nói chung hàm lượng muối không được vượt quá 15mg/cm2, chất ôxy hóa không cao quá 1,5 mmol/l
Đất quá chua cây hút I-on sắt, nhụm, magiê nhiều gây hại cho cây, đấtkiềm quá lượng hút sắt, magiê, không đủ sẽ dẫn tới thiếu các sắc tố Cácgiống thuộc nhóm tạp giao châu Á và lily thơm yêu cầu pH là 6 – 7, còn vớinhóm phương Đông là 5,5 – 6,5
Về dinh dưỡng lily yêu cầu phân bón cao nhất ở 3 tuần đầu kể từ khitrồng, tuy nhiên rễ non dễ bị ngộ độc muối Muối trong đất do 3 nguồn làphân bón, nước và hàm lượng phân bón của cây trồng vụ trước Vì vậy, đểbiết tác hại của muối trong đất trước khi trồng 6 tuần phải phân tích đất để biếthàm lượng muối Lily cũng mẫm cảm với Clo và Flo Yêu cầu Clo trong đấtkhông vượt quá 1,5 mmol/l nếu không sẽ hại rễ, hàm lượng Flo trong khôngkhí cao dễ gây ngộ độc cho cây
2.1.6 Nhân giống hoa lily
Có thể nhân giống hoa lily bằng cách cắm vảy, tách củ, nuôi cấy mụ,
nhõn bằng hạt, mầm hạt
2.1.6.1 Giâm vảy (cắm vảy)
Đây là phương pháp nhân giống cổ truyền đối với lily Trờn thõn vảy(củ) có rất nhiều vảy, mỗi vảy có thể sinh ra vài vảy nhỏ ở gốc, mỗi thân vảynhỏ sẽ hình thành một cơ thể mới Vì vậy, cách nhân giống này có hệ số nhângiống tương đối cao
Trang 122.1.6.2 Nhân giống bằng cách tách củ.
Tách củ là phương pháp nhân giống bằng tách củ con được sinh ra từ củ
mẹ Trồng cây để nhân giống, cũng có thể kết hợp với sản xuất hoa vụ Hè đểnhân giống, nhưng do khí hậu núng nờn chất lượng củ loại này kém
2.1.6.3 Nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào (Invitro)
Lily nhân bằng củ có hệ số nhân giống thấp, mặt khác nếu nhân liên tục nhiềunăm, vi rút tích lũy lại và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, làm cho câysinh trưởng yếu, hoa nhỏ Để khắc phục nhược điểm trên người ta đã sử dụngphương pháp nuôi cấy mô tế bào Cho đến nay, kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào đãtrở nên quen thuộc và được ứng dụng rộng rói trong sản xuất củ hoa lily.2.1.6.4 Nhân giống bằng hạt
Ưu điểm:
Dễ làm, giá thành thấp, thu được nhiều cây khỏe, không bị bệnh, ngoài ra dođặc điểm của thụ phấn chéo vì vậy có thể thu được những dòng biến dị làm vậtliệu cho công tác chọn tạo giống mới
Nhược điểm:
Mất nhiều thời gian, từ gieo hạt đến cây ra hoa có chất lượng tốt phải 3 – 4năm, vì vậy phương pháp nhân giống này ít được áp dụng
2.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ hoa trên thế giới và ở Việt Nam
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa trên thế giới
2.2.1.1 Tình hình sản xuất hoa trên thế giới
Ngày nay sản xuất hoa trên thế giới đang phát triển mạnh mẽ và trởthành một ngành thương mại cao Sản xuất hoa mang lại lợi ích to lớn cho nềnkinh tế các nước trồng hoa, cây cảnh, trong đó cú cỏc nước châu Á Sản xuấthoa ở các nước châu Á đang phát triển mạnh và cạnh tranh quyết liệt đểchiếm lĩnh thị trường hoa trên thế giới và đang trở thành trung tâm sản xuấthoa lớn của thế giới
Nghề trồng hoa ở châu Á có từ lâu đời nhưng trồng hoa tăng mạnh từnhững năm 80 của thế kỉ XX Khi các nước châu Á mở cửa tăng cường đầu
Trang 13tư, đời sống của người dân được nâng cao, yêu cầu hoa cho khách sạn du lịchlớn nờn cỏc thị trường hoa phát triển
Các loài hoa được trồng ở châu Á chủ yếu 2 nhóm giống hoa có nguồngốc nhiệt đới và ôn đới Nhóm giống hoa có nguồn gốc nhiệt đới và ôn đớigồm các loài hoa lan (Orchidacea), hoa đồng tiền (Gerbera) Nhúm cú nguồngốc từ ôn đới như hoa hồng (Rosa sp), cúc (Chrysanthemum sp), layơn(Gladiolus),… Đặc biệt hoa lan là sản phẩm hoa nhiệt đới, đặc sản hoa châu Áđược thị trường châu Âu và châu Mỹ ưa chuộng
Cùng với chất lượng cuộc sống người dân cao hơn, nhu cầu thưởng thứchoa cũng cao hơn nên sản lượng và giá trị hoa trên thế giới không ngừngtăng lên theo thời gian Theo thống kê của Viện Rau Hoa Quả thì giỏ trịsản lượng hoa trên thế giới năm 1997 đạt 27 tỷ USD, đầu thế kỷ 21 đạt 40
tỷ USD, trong đó Nhật Bản đạt 3,731 tỷ USD, Hà Lan 3,558 tỷ USD, Mỹ3,270 tỷ USD
Giá trị do sản xuất hoa đem lại là rất to lớn nên diện tích trồng và sảnlượng hoa trên thế giới tăng đang tăng mạnh Theo Nguyễn Xuân Linh (2002),châu Á là trung tâm sản xuất hoa lớn của thế giới, gồm các nước: NhậtBản, Israel, Ấn Độ, Thái Lan, Malaisia, Hàn Quốc, Trung Quốc, Việt Nam.Tổng diện tích trồng khoảng 15.500 ha, diện tích có mái che khoảng 8.000 hađược trồng trong nhà kính, che phủ nilon hoặc các loại che chắn khác Một sốnước đã xuất khẩu hoa sang châu Âu và các nước lân cận khác như Nhật Bản,Israel, Thái Lan, Trung Quốc Tuy nhiên số lượng hoa xuất khẩu còn rấtkhiêm tốn Thống kê từ năm 1982 đến 1998 trong 16 năm diện tích trồng hoacủa Trung Quốc từ 8.000 ha tăng lên đến 90.000 ha, tăng trên 11 lần Giá trịnăm 1982 là 13.000 USD, đến 1998 là 100 triệu đôla Mỹ tăng trên 130 lần.Sản xuất hoa thế giới tiếp tục phát triển mạnh mẽ ở các nước châu Á,châu Phi, châu Mỹ Hướng sản xuất hoa trên thế giới là tăng năng suất hoa,giảm chi phí lao động, giảm giá thành hoa Mục tiêu sản xuất hoa cần hướngtới là giống hoa đẹp, chất lượng cao và giá thành thấp
2.2.1.2 Tình hình tiêu thụ hoa trên thế giới
Trang 14Theo Hoàng Ngọc Thuận (2005) , trên thế giới việc tiêu thụ hoa cắtcành tập trung vào ba khu vực chủ yếu là Tây Âu, Bắc Mỹ và Nhật Bản,lượng tiêu thụ tăng rất nhanh Năm 1995, lượng tiêu thụ là 31 tỷ USD Do sựtiến bộ của sản xuất, sự nhập khẩu và kinh tế tăng trưởng mạnh, dự kiến thịtrường tiêu thụ hoa cắt trên thế giới là 80 tỉ USD năm 2005.
Bên cạnh đó, lượng tiêu thụ hoa trồng chậu cũng không ngừng gia tăng,tổng lượng tiêu thụ hoa năm 1990 khoảng 14,2 tỉ USD, năm 2005 là khoảng25- 30 tỉ USD Sự phát triển trong lĩnh vực này có nhiều hứa hẹn do mức tiêuthụ và nhu cầu tiêu thụ ở nhiều khu vực trên thế giới tăng nhanh Mỹ chiếmkhoảng 30% tổng lượng tiêu thụ trên thế giới, Đức là nước tiêu thụ nhiều thứ
2, khoảng 20%, tiếp theo là Italia và Pháp
Theo Nguyễn Xuân Linh (2002), Đức và Mỹ là 2 quốc gia chiếm trên 50% thịtrường nhập khẩu hoa với các loài hoa phổ biến là cẩm chướng, cúc, hồng,layơn, lan…
Nguyễn Thị Kim Lý (2005), dự đoán trong những năm tới, nhu cầutiêu thụ hoa sẽ lên tới 35 tỉ USD Các thị trường lớn gồm có Tây Âu, Bắc Mỹ
và Nhật Bản Trong đó, thị trường Nhật Bản tăng mạnh nhất, thị trường Bắc
Mỹ và Tây Âu được coi là bão hòa, thị trường các nước châu Á tăng do thunhập của người dân ngày càng tăng
2.2.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ hoa ở Việt Nam
Việt Nam có diện tích đất tự nhiên là 33 triệu ha nhưng diện tích trồnghoa ở Việt Nam chỉ chiếm 0,02% diện tích đất đai, với điều kiện khí hậu nhiệtđới gió mùa nên cây hoa ở nước ta có thể gieo trồng quanh năm, sở hữu sự đadạng về các loại hoa và đặc biệt là có nhiều giống hoa quý như hoa lan, hoatrà
Hoa được trồng lâu đời và tập trung một số vùng trồng hoa truyền thốngnhư Ngọc Hà, Quảng An, Tây Tựu (Hà Nội), Đằng Hải, Đằng Lâm (HảiPhòng), Hoành Bồ, Hạ Long (Quảng Ninh), Triệu Sơn (Thanh hoỏ), Gũ Vấp,Húc Mụn (TP Hồ Chí Minh) với tổng diện lích trồng khoảng 3.500 ha.Phong trào trồng hoa ở Việt Nam trong những năm gần đõy đã được chú
Trang 15ý phát triển, diện tích hoa tăng nhanh Hiện nay, diện tích hoa cây cảnh cókhoảng 16.000 ha, tăng gấp đôi so với năm 2001 Điều này thể hiện qua bảngdưới đây:
Bảng 2.1 Diễn biến diện tích trồng hoa ở Việt Nam
Thu nhập từ trồng hoa là rất cao từ đó đã góp phần chuyển dịch cơ cấucây trồng ở các địa phương, thay đổi cuộc sống của người trồng hoa Theo sốliệu điều tra của Viện Di truyền Nông nghiệp, tại một số địa phương, hoa làcây trồng cho thu nhập khá Chẳng hạn, cú vựng ở Hà Nội, so với sản xuất 2lúa 1 màu trong cùng thời điểm, trên cùng một đơn vị diện tích thì trồng hoa
có lợi nhuận cao hơn gần 12 lần Ở Thái Bình, có doanh nghiệp trồng hoa đãthu lãi tới 160 triệu đồng ha/năm, hay ở Lâm Đồng, bình quân cho mức lãi
250 - 300 triệu đồng/ha/năm từ sản xuất hoa
Theo Viện Nghiên Cứu Rau Quả thì hiện nay lợi nhuận thu được từ 1 hatrồng hoa cao hơn 10 - 15 lần so với trồng lúa và 7 - 8 lần so với trồng rau.Gần 90% các loài hoa được trồng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ở trongnước, tuy nhiên thị trường xuất khẩu cũng đang tăng nhanh với 1 số loại hoađặc thù của Việt Nam (hoa sen, hoa nhài và một số loài hoa mà các nước ônđới trồng khó khăn trong mùa Đông như hồng, cúc )
Ngành hoa Việt Nam trong những năm qua đã đạt được nhiều kết quảtrong sản xuất, thị trường hoa tiêu thụ ngoài đáp ứng được nhu cầu ngày càngtăng trong nước mà còn đạt được giá trị xuất khẩu Riêng lượng hoa xuất khẩu
Trang 16của công ty sản xuất hoa Hasfarm 100% vốn nước ngoài ở Đà Lạt đã đem lạidoanh thu trên 4 triệu USD/năm Theo phân tích của các chuyên gia, nhu cầutiêu thụ hoa sẽ ngày càng tăng cả ở thị trường trong nước lẫn quốc tế Nhằmđáp ứng nhu cầu của thị trường, Việt Nam có kế hoạch phát triển diện tíchtrồng hoa lên khoảng 10.000 ha, với sản lượng 3,5 tỷ cành và đạt kim ngạchxuất khẩu khoảng 60 triệu USD vào năm 2010 Theo đó, một số vùng sảnxuất chính đã được quy hoạch, gồm Hà Nội, TP.HCM, Sapa (Lào Cai), ĐàLạt, Đức Trọng (Lâm Đồng), Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Thái Bình
2.3 Tình hình sản xuất hoa lily trên thế giới và Việt Nam
2.3.1 Tình hình sản xuất hoa lily trên thế giới
Hoa lily là một trong những loại hoa được ưa chộng nhất thế giới và làmột trong 6 loại hoa cắt phổ biến và có giá trị nhất là hoa hồng, cúc, phăng,lay ơn, đồng tiền và lily
Hà Lan là nước xuất khẩu hoa lớn nhất thế giới, chiếm tới 64,8% thị trường,trong các loài hoa nổi tiếng được xuất khẩu từ Hà Lan có hoa lily Năm 1997,
Hà Lan có 356 ha hoa lily, đứng thứ hai sau hoa tuylip về tổng diện tích hoacắt trồng bằng củ Hiện nay mỗi năm trồng 18.000 ha hoa lily trong đó xuấtkhẩu 70%
Những năm gần đây Hàn Quốc là một trong những nước phát triển nghềtrồng hoa mạnh, lượng xuất khẩu lớn nhất khu vực Đông Bắc Á Theo thống
kê năm 2002 Hàn Quốc có 15.000 ha trồng hoa giá trị sản lượng đạt 700 triệuUSD, gấp 8 lần năm 1989 Trong đó, lily là loại cây có hiệu quả kinh tế caonhất trong các loại hoa ở hàn Quốc
Công nghệ sản xuất hoa lily cắt cành ở Đài Loan rất tiên tiến, năm 2001nước này đó cú 490 ha trồng hoa lily, trong đó xuất khẩu đạt 7,4 triệu USD
Ở châu Phi, Kenia là nước xuất khẩu hoa lớn nhất, hiện nay nước này có
3 vạn nông trường với 2 triệu người trồng hoa, chủ yếu là hoa phăng và lily.Ngoài các nước kể trờn còn có nhiều nước trồng hoa lily lớn như khácnhư Ý, Mỹ, Đức, Culumbia, Israel…
2.3.2 Tình hình sản xuất hoa lily ở Việt Nam
Trang 17Lily là một trong các loại hoa cắt cành có giá trị kinh tế cao Tuy nhiênhiện nay ta vẫn chưa chủ động sản xuất được củ giống, hầu hết các giống lilytrồng ở Việt Nam chủ yếu được nhập từ Hà Lan, Đài Loan hoặc Trung Quốc.
Đà Lạt là nơi hiện đang có diện tích trồng lily nhiều nhất so với các địaphương khỏc trờn cả nước chiếm khoảng 8% trong tổng diện tích trồng hoa,còn ở Hà Nội, Hải Phòng chỉ mới trồng mang tính chất thử nghiệm Tình hìnhphát triển hoa lily ở Đà Lạt khá thuận lợi, một phần do thiên nhiên ưu đãi cho
sự phát triển của các giống hoa nói chung và cho hoa lily nói riêng, một phần
do kỹ thuật trồng hoa ở Đà Lạt tương đối cao nên sinh trưởng phát triển khátốt Hiện nay lily đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho một số công ty hoa ở
Đà Lạt
* Hiệu quả của trồng hoa lily Sorbonne đối với sản xuất hiện nay
- Hiệu quả kinh tế trực tiếp
Theo kết quả thu thập của Viện Nghiên cứu Rau quả, hiệu quả kinh tếtrực tiếp đem lại cho các hộ nụng dân, doanh nghiệp từ trồng lily là rất cao.Lãi thuần thu được từ trồng lily trung bình đạt khoảng 250 triệu/1.000m2/năm,như vậy chỉ tính trong năm 2009, người dân và doanh nghiệp ở miềnBắc Việt Nam đã thu lãi được từ trồng hoa lily (chủ yếu là giống Sorbonne)khoảng 20 tỷ đồng
- Hiệu quả gián tiếp
+ Từ chỗ ở miền Bắc Việt Nam năm 2002 trở về trước chưa trồng đượchoa lily, phải nhập hoàn toàn từ Trung Quốc hoặc từ Đà Lạt, đến nay đã tự sảnxuất và cung cấp được số lớn hoa lily cho nhu cầu thị trường, bên cạnh đú cúthời điểm hoa lily trồng tại miền Bắc Việt Nam còn xuất khẩu sang TrungQuốc
+ Góp phần nâng cao nhận thức về sản xuất nông nghiệp theo phươngthức công nghiệp, giúp người dân thay đổi dần phương thức canh tác lạc hậu,nhanh chóng tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến để sản xuất cácchủng loại hoa có giá trị cao
Trang 18+ Thông qua các mô hình sản xuất hoa lily, đã tạo công ăn việc làm, tăngthu nhập cho người lao động, doanh nghiệp và góp phần thực hiện có kết quảchủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng của Đảng và Nhà nước .
* Triển vọng nghề trồng hoa lily
Ngày nay, đời sống người dân đã được nâng cao, nhu cầu hoa tươi ngàycàng lớn Ở Hà Lan bình quân mỗi người mỗi năm tiêu thụ 150 cành hoa cácloại Pháp 80 cành, Anh 50 cành, Mỹ 60 cành, Việt Nam chỉ có 4,5 cành Nhưvậy tiềm năng thị trường hoa ở Việt Nam còn rất lớn Hoa lily cắt cành mớiphát triển gần đây nhưng có dáng đẹp, mùi thơm quý phái, mầu sắc hấp dẫnquanh năm có hoa, được rất nhiều người ưa chuộng do vậy nhu cầu tiêu dùng
sẽ ngày càng cao Hiện nay, ở Việt Nam hoa lily được xếp vào loại hoa caocấp, thường đắt gấp 10 – 15 lần so với các loại hoa cúc, hồng, cẩm chướng,hồng môn, chỉ sau phong lan, địa lan Vì bán được giá cao nên việc trồng lilyđang thu hút lớn các nhà đầu tư cả trong và ngoài nước, chính vì thế nghề nàyrất có triển vọng phát triển
2.4 Tình hình nghiên cứu hoa lily trên thế giới và ở Việt Nam
2.4.1 Tình hình nghiên cứu hoa lily trên thế giới
Năm 1960 Suker đã nghiên cứu ảnh hưởng của ánh sáng lam, đỏ, hồngngoại đến sự hình thành củ con của giống lily CasaBalanca, kết quả cho thấytia hồng ngoại (FR) làm tăng số lượng củ con, tia đỏ (R) và tia tử ngoại có thểdẫn đến sự ngủ nghỉ của một số giống thuộc nhóm châu Á.Beatic (1993), đã nghiên cứu bảo quản lạnh của hoa lily trước khi trồng trongnhà lưới Kết quả đối với các giống Asiatic hybrids cần bảo quản ở nhiệt độ 2–5oC trong 6 – 10 tuần, các giống Oriental hybrids cần bảo quản ở nhiệt độ 2 –
4oC trong 8 – 10 tuần
Joong Suklee, Young A Kim và Huyn Jin Wang (1996), đã tiến hành xử lí lạnh
củ hoa lily trong thời gian 2, 4, 6, 10 tuần ở nhiệt độ 5oC đem trồng trong chậu
và duy trì nhiệt độ ban đêm là 15oC Kết quả cho thấy củ giống sử lý trên 4tuần làm củ nảy mầm nhanh hơn và cho ra hoa sớm hơn, 100% ra hoa và tăng
số bụng trờn một cây
Trang 19Thống kê gần 60 loài và 18 giống phân bố ở Trung Quốc, chiếm 50% tổng sốgiống hoa lily của thế giới, gần đây họ nghiên cứu 12 loài có sức chống chịutốt với điều kiện bất lợi của Trung Quốc để phục vụ sản xuất.Hiện nay trên thế giới, Hà lan là nước có công nghệ tạo giống và trồnglily tiên tiến nhất, mỗi năm tạo ra 15 – 20 giống mới và sản xuất 1,315 triệu
củ giống lily cung cấp cho 35 nước khác nhau trên thế giới Ở châu Á, côngnghệ sản xuất hoa lily cắt cành ở Đài Loan cũng rất tiên tiến, trình độ canh táccòn cao hơn Hàn Quốc, chỉ kém Nhật Bản
2.4.2 Tình hình nghiên cứu hoa lily ở Việt Nam
Ở Việt Nam, hoa lily được xếp vào loại hoa cao cấp, nhu cầu tiêu dùngloại hoa này ngày càng cao trong những năm gần đây Hầu hết các giống hoalily trồng ở Việt Nam chủ yếu đư
ợc nhập từ Hà Lan, Đài Loan và Trung
Quốc Từ năm 2002 đến 2005, một số giống lily nhập nội từ Hà Lan đã đượcViện Nghiên cứu Rau quả và Viện Di truyền Nông nghiệp trồng khảo nghiệm.Kết quả đã tuyển chọn được giống hoa lily Sorbonne phù hợp với điều kiện
vụ Đông miền Bắc Việt Nam Giống hoa lily Sorbonne đã được BộNN&PTNT công nhận là giống tạm thời Giống này có đặc điểm: chiều caocây trung bình từ 80 – 90 cm, số nụ hoa/cây 5 – 7 nụ, cây sinh trưởng pháttriển tốt, màu sắc hoa đẹp, cành cứng, ít sâu bệnh gây hại Song song với việc khảo nghiệm sản xuất các giống hoa lily, Viện Rau Quả
đã nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật thâm canh sản xuấthoa
thương phẩm và cho kết quả:
- Mật độ thích hợp trồng lily là 25 củ/m2 (khoảng cách 20 x 20 cm) và 20 củ/
m2 (khoảng cách 25 x 20 cm)
- Trong điều kiện miền Bắc Việt Nam nên áp dụng phương pháp xử lýmát củ giống trước khi trồng, trong đó thời gian xử lý mát trong kho lạnh ởnhiệt độ 12 – 13oC trong 15 ngày giúp cây sinh trưởng, phát triển tốt, giảmhiện tượng cháy lá và nụ hoa bị biến dạng
Trang 20- Sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt để tưới nước cho lily trong nhà có máiche với chế độ tưới 30 phút/ngày là thích hợp nhất.
2.4.2.1 Thời vụ trồng hoa lily
Hoa lily là cây ôn đới, chủ yếu trồng ở các nước xứ lạnh nên với cỏcvựng cú khí hậu mát mẻ như SaPa, Mộc Châu, Tam Đảo, Đà Lạt… có thểtrồng và cho thu hoạch quanh năm Đối với các tỉnh vùng Đồng Bằng SôngHồng chỉ nên trồng hoa lily vào vụ thu đông là thuận tiện nhất và sẽ cho hoatrong khoảng thời gian từ 20/11 đến 15/3 năm sau, tốt nhất trồng lily để thuhoạch vào dịp Tết nguyên đán (trồng trước Tết từ 95 - 97 ngày) và trồng đểthu hoa vào dịp 8/3 (trồng trước 8/3 từ 105 – 107 ngày) Một số tỉnh miền núiphía Bắc, để thu hoạch vào dịp Tết nguyên đán thì trồng trước Tết 108 - 117ngày và để thu hoa vào dịp 20/11 thì trồng trước từ 86 - 92 ngày
Thanh hóa thời gian thích hợp là vụ thu đông, để thu hoạch vào tết nguyên đánthì trồng trước tết từ 95-97 ngày, thời gian khoảng 23/11 đến
2.4.2.2 Giỏ thể và chậu trồng hoa Lily
- Giá thể phải tơi xốp và có khả năng thoát nước tốt Có thể phối trộntheo công thức gồm: 1 phần đất phù sa + 1 phần phân chuồng đã được ủ hoaimục và 2 phần xơ dừa đã được xử lý loại bỏ ta nanh trộn đều trước khi vàochậu hoặc tỉ lệ 1:1:1 gồm than bùn: chất mùn: nham thạch hay là đất vườn:than bùn: phân hoai mục trộn đều
- Chậu trồng có thể sử dụng các loại chậu gốm, chậu đất nung hoặc chậunhựa với các kích cỡ khác nhau tùy theo cách chơi 1 cây, 3 cây, 5 cây hay 7cây để lựa chọn cho phù hợp Thông thường kích thước chậu có đường kính
25 cm, chiều cao 30 cm, đáy đục lỗ để thoát nước dễ dàng nhưng đường kính
lỗ đáy không quá 3 cm
2.4.2.3 Kỹ thuật trồng, chăm sóc
* Xử lý củ giống:
Phân loại củ theo kích thước để trồng nhằm đảm bảo tính đồng đều củavườn lily sau này Chọn những củ to (đường kính củ 12-15cm), đó lờn mầmsau khi đã qua xử lý lạnh để phá ngủ, cắt bớt rễ, chỉ chừa lại khoảng 1cm để