Tài chính kiềm chế là một cơ chế tài chính được đặc trưng hoá bởi sự can thiệp quá mức của nhà nước vào các hoạt động và các quá trình tài chính
Trang 1[2009]
GVHD: GS TS Bình Minh Nhóm 4 - Chuyên đề 6 Cải cách tài chính Việt Nam theo hướng tư do hóa trong thời hội nhập
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Hội nhập kinh tế quốc tế luôn là vấn đề được Chính phủ Việt Nam hết sức quan tâm Từ khi Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa, chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp XHCN sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, kinh tế đất nước đã có những bước tiến đáng kể trong việc ổn định và phát triển, trên cơ sở từng bước hội nhập cùng nền kinh tế thế giới Việc chính thức là thành viên của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) kèm theo những cam kết tham gia khu vực mậu dịch tự do Châu Á (AFTA), việc ký kết hiệp định thương mại song phương Việt – Mỹ, gia nhập Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) đã đánh dấu quá trình mở cửa và hội nhập của Việt Nam
Theo cam kết với WTO, Việt Nam sẽ thực hiện mở cửa ở hầu hết các lĩnh vực, xóa bỏ bảo hộ của Nhà nước đối với các ngành kinh tế, trong đó tự do hóa tài chính là vấn đề cấp thiết Quá trình này đặt ra rất nhiều những cơ hội và thách thức cho chúng ta
Nhằm tìm hiểu về lộ trình tự hóa tài chính ở Việt Nam, thực trạng, thành tựu và những hạn chế còn tồn tại của quá trình tự do hóa tài chính, từ đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp tháo gỡ để góp phần thúc đẩy hội nhập thành công chính là mục đích của đề tài tiểu luận:
“Cải cách tài chính ở Việt Nam theo hướng tự do hóa
trong thời kỳ hội nhập”
Trang 3CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
I Tài chính ki ề m ch ế và T ự do hóa Tài chính:
1) Tài chính kiềm chế
Tài chín kiềm chế à một cơ chế ài chín được đặc rưng hoá bởi sự c n hiệp quá mức của nhà nước vào c c h ạt động và c c q á rìn ài chín Biểu hiện cụ hể à việc n à nước ấn định mức ãi suất trần, trực iếp điều iết q á rìn p ân phối t n dụn ,
ưu iên cho k u vực kin ế nhà nước và đặtra c c ỷ ệ dự rữ bắtbuộc q á c o…
Việc heo đuổi tài chín kiềm chế có n u ên n ân chủ yếu ừ n ững đòi hỏi và
mo g muốn của n à nước và ng ồn ài chính để đảm bảo một tỷ ệ ăng rưởng c o,tỷ ệ thấtng iệp hấp cũng n ư c c mục iêu p áttriển kinh ế xã hộikhá
Hậu quả cơ bản của việc heo đuổichín sá h àichín kiềm chế à nhữn hạn chế
về ăng rưởng kin ế,n ữn mấtổn định ro g kin ế vĩ mô
2) Tự d hó TC à gì?
Tài chính ự d hóa à cơ chế ro g đó k ô g có h ặc chỉ có sự c n hiệp rất hạn chế của chín phủ vào c c hoạt đ n ài chính như: Phân p ối vốn ín dụn , hình hàn
lãisuất ỷ giá hối đoáivà sự ham gia của c c hể chế àichín vào c c hị rường
Tự d hóa ài chính à giảm hiểu sự c n hiệp của nhà nước vào c c quan hệ và giao dịch àichín ,c c hoạtđ n àichính được ự d hực hiện heo ín hiệu hị rường
Tự do hoá tài chính trong bối cảnh hội nhập còn có ý nghĩa là mở cửa thị trường vốn trong nước nhằm tranh thủ cơ hội từ việc khai thác các dòng vốn quốc tế
Trang 4Tự do hóa tài chính được phân làm hai cấp độ: Tự do hóa tài chính nội địa (xóa bỏ kiểm soát lãi suất và phân bổ tín dụng) và tự do hóa tài chính quốc tế (loại bỏ kiểm soát vốn và các hạn chế trong quản lý ngoại hối) Hạt nhân của tự do hóa tài chính là tự do hóa lãi suất và cần thiết phải kiểm soát quá trình tự do hóa lãi suất
3) Nội dung hoá ự d ài chính được sắ đặt theo rình ự ốiưu:
Chính phủ p ảikiểm soátđược chín sá h ài k oá và hực hichín sá h àikh á
có hiệu quả.Ng ồn h của nhà nước p ảichu ển dần sang kh vực ư n ân
Tự d h á c c dịch vụ ài chín c c dịch vụ bảo hiểm và c c dịch vụ iên quan đến bảo hiểm;dịch vụ n ân hàng và c c dịch vụ àichín khá
Mở cửa hị rườn vốn ro g nước sao cho n ười gửi tền n ận được ãi suất thực
đã điều chỉnh heo ạm p át mở cửa hị rường vốn ro g nước và ự d hoá ãisuất
Tự do hoá ỷ giá hốiđoái
Tự do hoá c c giao dịch rên àik oản vốn
I L ợ i ích và nh ữ ng thách th ứ c trong quá trình t ự do hóa tài chính.
1) Lợi ích của tự do hoá tài chính : Cải cách tài tài chính ở VIỆT NAM theo
hướng tự do hóa sẽ mang lại nhiều lợi ích đáng kể qua các khía cạnh sau:
Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: Có được là do sự tăng lên trong mức độ đầu tư & kèm theo đó là tỷ suất sinh lợi của các khoản đầu tư được cải thiện do tiếp cận được kinh nghiệm quản lý hiện đại, lĩnh hội được các thành quả công nghệ mới, tiếp cận được thị trường rộng lớn, các thông tin được phản hồi một cách đầy đủ và kịp thời vào giá cả hàng hóa của các nhà sản xuất…
Cho phép cá nhân tự bảo vệ chính mình: Các nhà đầu tư có thể sử dụng các công
cụ phòng ngừa rủi ro thông qua các sản phẩm phái sinh không cân đối trong nền kinh tế Các nhà đầu tư có thể tự đa dạng hóa đầu tư, khai thác các thị trường mới…
Xử lý mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư: Theo WB thì nếu dòng vốn vào đạt 3% - 4% GDP thì tốc độ tăng trưởng của tỷ suất sinh lợi là 0,5% - 1 đôla FDI sẽ làm tăng
Trang 5tổng số đầu tư trong nước và nước ngoài hơn 1 đôla, FDI bổ sung chứ không làm giảm đi đầu tư nội địa…
Kích thích sự phát triển của thị trường vốn: Làm gia tăng chiều sâu & tính thanh khoản trên thị trường vốn Việc tiếp cận nguồn vốn đầu tư gián tiếp sẽ thúc đẩy mạnh mẽ thị trường chứng khoán – qua đó giá trị cổ phiếu được niên yết trên TTCK ngày càng phát triển, giả được chi phí sử dụng vốn, giúp các doanh nghiệp trong nước tiếp cận được các nguồn vốn quốc tế có chi phí sử dụng vốn thấp hơn
Thúc đẩy cải cách kinh tế vĩ mô tốt hơn: Sự tác động hai chiều sẽ làm các chính sách kinh tế vĩ mô ổn định hơn trong ngắn hạn cũng như dài hạn
2) Thách thức của tự do hóa tài chính : Tuy có những lợi ích đáng kể trên những
bên cạnh đó cũng sẽ gặp phải những rủi ro trong quá trình hội nhập, có hai thách thức lớn
thường gặp như:
Dòng vốn chảy vào ào ạt (tương tự căn bệnh Hà Lan): Dòng vốn chảy vào ào ạt có mối quan hệ chặt chẽ với quy mô của nền kinh tế Dòng vốn chảy vào ào ạt làm tăng nguy cơ dễ bị tổn thương của nền kinh tế do tình trạng đầu cơ vào thị trường bất động sản…
Sự ngưng đọng đột ngột – sự đảo chiều của dòng vốn quá nhanh sẽ làm cho nền kinh tế đi vào khủng hoảng, dẫn đến bất ổn trong điều hành các chính sách tiếp theo của Chính Phủ như: lạm phát, thất nghiệp, tiền lương, thâm hụt ngân sách, thâm hụt cán cân thanh toán, rối loạn tỷ giá hối đoái, rối loạn chính sách thuế, lãi suất…
III Lộ trình tự do hóa tài chính
Tự do hoá tài chính được tiến hành sau quá trình tự do hoá thương mại Lộ trình
thực hiện tự do hoá tài chính được tiến hành qua các bước sau:
Bước 1: Tiếp tục cải cách và hiện đại hóa ngân hàng (điều kiện cần thiết để phát
triển cơ sở hạ tầng trên thị trường tài chính)
Cải cách tài chính ở VIỆT NAM theo hướng tự do hóa tài chính thì Hệ thống Ngân hàng đóng một vai trò to lớn Hiện đại hóa ngân hàng chính là một ngôn ngữ của hội
Trang 6nhập kinh tế quốc tế Hệ thống Ngân hàng phải được hiện đại hóa để theo kịp sự phát triển kinh tế đất nước
Bước 2: Tự do hóa hoàn toàn lãi suất và thực hiện chính sách tỷ giá thả nổi có sự
quản lý của nhà nước
Tự do hóa lãi suất là một bộ phận quan trọng của tự do hóa tài chính, thực chất của
tự do hóa lãi suất chính là cơ chế điều hành lãi suất hoàn toàn để cho cung cầu vốn trên thị trường xác định lãi suất cân bằng Ngân hàng trung ương chỉ can thiệp bằng các công
cụ để điều chỉnh theo định hướng
Tự do hoá lãi suất phải gắn liền với cải cách cơ cấu, bao gồm: cơ cấu lại các khoản
nợ khó đòi trong bảng cân đối ngân hàng; tiến hành tư nhân hoá một số ngân hàng thuộc
sở hữu nhà nước; áp dụng các biện pháp kích thích cạnh tranh lành mạnh trong khu vực ngân hàng
Chính sách tỷ giá thả nổi có quản lý là xây dựng một hành lang tỷ giá cho phép tỷ giá giao động trong một giới hạn nhất định xung quanh tỷ giá chính thức của NHTW
Bước 3: Tự do hóa các giao dịch trên tài khoản vãng lai, xóa bỏ hoàn toàn cơ chế
phân bổ quota và những rào cản khác trên các giao dịch tài khoản vãng lai
Bước 4: Từng bước tự do hóa các giao dịch trên tài khoản vốn
Tự do hóa giao dịch vốn (GDV) là quá trình dỡ bỏ dần những hạn chế áp dụng đối với những giao dịch này như xóa bỏ hoàn toàn những quy định về hạn chế tỷ lệ nắm giữ
cổ phiếu của nhà đầu tư nước ngoài Cho phép các nhà đầu tư nước ngoài chuyển vốn về nước với các khoản đầu tư dài hạn – ngắn hạn thông qua hệ thống ngân hàng của Việt Nam Cho phép các doanh nghiệp trong nước tự do tiếp cận các nguồn vốn quốc tế thông qua phát hành cổ phiếu – trái phiếu
Đối với người dân, tự do hóa GDV cho phép họ thực hiện các hoạt động ở nước ngoài như mở tài khoản ngân hàng, tham gia hoạt động đầu tư nhằm đạt lợi nhuận cao Các doanh nghiệp được phép đầu tư và sở hữu những công ty khác, các dòng vốn được tự
do lưu chuyển từ nơi có tỷ suất sinh lợi thấp sang nơi có tỷ suất sinh lợi cao
Tự do hóa GDV tác động mạnh đến hệ thống ngân hàng, cả chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương và hoạt động kinh doanh của các TCTD, các tập đoàn và ngân
Trang 7hàng lớn ngày càng có ảnh hưởng mạnh đến chính sách của các quốc gia Quá trình tự do hóa GDV ảnh hưởng đến các NHTM – thành viên trực tiếp tham gia các GDV quốc tế và thông qua hoạt động của những khu vực khác trong nền kinh tế, gây khó khăn về quản lý tài sản, nhất là trong việc điều chỉnh tỉ giá, lãi suất, phòng ngừa rủi ro nhằm cân bằng lợi ích giữa việc nắm giữ ngoại tệ và nội tệ cũng như cơ cấu tiền gửi và cho vay
IV Điều kiện để phát triển tài chính theo hướng tự do hóa
Cải cách tài chính ở Việt Nam, hội nhập tài chính bằng cách mở cửa dần từng bước các giao dịch thương mại trên lĩnh vực tài chính là một xu hướng tất yếu Việt Nam muốn hội nhập tài chính thì chính sách tài chính và chính sách tiền tệ phải linh hoạt
- ổn định đáng tin cậy Những điều kiện cho việc tự do hóa tài chính thành công là:
+ Quản lý kinh tế vĩ mô vững chắc và tiết kiệm quốc gia cao
+ Thực hiện đúng lộ trình tự do hóa kinh tế
+ Hệ thống tài chính hoạt động hiệu quả
+ Hệ thống giám sát ngân hàng hợp lý và việc thi hành có hiệu quả
+ Không có khoản cho vay mang tính chất chính trị và lạm dụng hệ thống tài chính
+ Một Chính Phủ triệt để chống tham nhũng và lãng phí
+ Tính minh bạch trong công bố thông tin
Trang 8• Tăng chi ngân sách trong đó có trợ cấp cho đầu tư phát triển nhằm nâng cao năng lực các ngành hàng trong nước và đạt các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Đồng thời tăng cường phân cấp, phân quyền mạnh hơn cho các chính quyền cấp dưới, địa phương
Chính sách thuế quan của Việt Nam ngày càng tương thích hơn với các quy định của WTO như :
• Cắt giảm các hàng rào thuế quan và phi thuế quan : nhiều mặt hàng đang có thuế suất cao từ 20%-30% sẽ được cắt giảm thuế ngay khi gia nhập Những ngành có mức giảm thuế nhiều nhất bao gồm : dệt may (63%), cá và sản phẩm cá (38%), gỗ và giấy (33%),…
• Đối xử bình đẳng hơn giữa các Doanh Nghiệp thuộc các loại hình sở hữu, trong và ngoài nước
• Bãi bỏ nhiều loại trợ cấp đối với các ngành hàng trong nước nhằm tạo môi trường kinh doanh bình đẳng thu hút đầu tư của các nước trong khu vực và Quốc tế
• Mở cửa thị trường : Việt Nam cam kết mở cửa các thị trường tài chính : viễn
thông, bảo hiểm, thị trường bán lẻ, dịch vụ khai thác dầu khí, …
Dịch vụ khai thác hỗ trợ dầu khí, Việt Nam cho phép các doanh nghiệp
nước ngoài được thành lập công ty 100% vốn nước ngoài sau 5 năm kể từ khi gia nhập
Trang 9Đối với dịch vụ ngân hàng, cho phép thành lập ngân hàng con 100% vốn
nước ngoài không muộn hơn ngày 1/4/2007
Từ ngày 1/7/2010, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được
thành lập theo pháp luật Việt Nam đều được tham gia cung cấp dịch vụ viễn thông,…
Nhìn chung, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực đáng ghi nhận trong quá trình cải cách, điều chỉnh chính sách tài khóa để góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và gia nhập WTO
II Hoàn thiện hệ thống ngân hàng và chính sách tiền tệ
1 Cải cách hệ thống ngân hàng
Chính phủ Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc lành mạnh hoá khu vực ngân hàng thông qua việc triển khai Đề án củng cố, chấn chỉnh các NHTMCP (năm 1998) và
Đề án cơ cấu lại các NHTMNN (năm 2001) nhằm lành mạnh hoá tài chính, tăng cường
kỷ luật thị trường trong hoạt động ngân hàng và nâng cao khả năng cạnh tranh của hệ thống ngân hàng Chương trình cải cách ngân hàng cũng nhận được sự hỗ trợ quan trọng
về tài chính và kỹ thuật của cộng đồng quốc tế, đặc biệt WB, ADB, IMF và chính phủ các nước
Vấn đề cải cách hệ thống ngân hàng Việt Nam có thể chia theo 2 giai đoạn, tương ứng với sự phát triển và thay đổi chính sách của Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Giai đoạn 1: Trước thời điểm gia nhập WTO (07/11/2006)
a Tăng trưởng về quy mô và số lượng
Sau giai đoạn bùng phát vào đầu những năm 1990 và thu hẹp bớt trong giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính năm 1997, hệ thống NH Việt Nam trong những năm qua khá
ổn định về mặt số lượng Với khoảng 78 ngân hàng các loại trong năm 2006, bao gồm 5 NHTM nhà nước, 37 NHTMCP, 31 chi nhánh NH nước ngoài và 5 NH liên doanh Trong
đó, quan trọng nhất là hệ thống NHTM quốc doanh và NHTMCP
1991 1993 1995 1997 1999 2001 2005 2006
Ngân hàng TMQD 4 4 4 5 5 5 5 5 Ngân hàng TMCP 4 41 48 51 48 39 37 37 Chi nhánh NHNN 0 8 18 24 26 26 29 31 Ngân hàng LD 1 3 4 4 4 4 4 5 Tổng số 9 56 74 84 83 74 75 78
Bên cạnh sự tăng trưởng về số lượng, quy mô của các ngân hàng cũng tăng trưởng khá mạnh mẽ Sự tăng trưởng tập trung vào 2 mảng hoạt động truyền thống là cho vay và
Trang 10huy động Tốc độ tăng trưởng hoạt động tín dụng và huy động tiền gửi ở mức rất cao, đạt trung bình khoảng 30% trong suốt giai đoạn 2002 – 2006
Bảng 1: Tăng trưởng tín dụng và tiền gửi giai đoạn 2002 – 2006
Tuy nhiên, việc tăng trưởng nhanh của tín dụng khiến ngành ngân hàng có nguy
cơ đối mặt với rủi ro lớn hơn khi mà tỷ lệ tín dung/tiền gửi toàn ngành luôn ở mức trên 90%, cao hơn mức trung bình của khu vực (khoảng 83%)
Ngoài 2 mảng hoạt động truyền thống là tín dụng và huy động vốn, các mảng hoạt động dịch vụ khác của các ngân hàng trong giai đoạn này chưa có sự phát triển mạnh và
đa dạng
b CPH NHTM nhà nước diễn ra chậm chạp :
Là những trụ cột của nền tài chính Việt Nam, hệ thống NHTM quốc doanh đã đóng góp rất nhiều cho sự phát triển của nền kinh tế Tuy nhiên, xu thế hội nhập của nền kinh tế nói chung và của ngành ngân hàng nói riêng tạo ra sức ép cạnh tranh khá lớn, đòi hỏi phải có những cải cách lớn đối với hệ thống ngân hàng quốc doanh Vì thế chủ trương
Cổ phần hóa các Ngân hàng thương mại nhà nước ra đời với nhằm tạo sức bật mới cho hệ thống ngân hàng trước ngưỡng cửa gia nhập WTO Nhưng tiến trình này diễn ra hết sức chậm chạp Đến trước thời điểm Việt Nam gia nhập WTO vào cuối năm 2007, vẫn chưa
có NHTM nhà nước nào được cổ phần hóa, mặc dù chủ trưởng đã có từ nhiều năm trước
đó
Giai đoạn 2: Từ sau ngày 07/11/2006 đến nay
Từ ngày 01/04/2007, theo cam kết gia nhập WTO, Việt Nam chính thức cho phép thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài Ngành ngân hàng là ngành có tính đặc thù và được đánh giá là có mức độ cạnh tranh cao nên việc thành lập ngân hàng mới phải đáp ứng những quy định khắt khe Ngân hàng mới thành lập phải có vốn điều lệ tổi thiểu 1.000 tỷ đồng và phải đạt 3.000 tỷ đồng vào năm 2010 Room với các nhà đầu tư nước ngoài vẫn hạn chế ở mức 30% Các cổ đông chiến lược nước ngoài chỉ được nắm giữ tối
đa 20% vốn điều lệ và các tổ chức này phải có tổng tài sản tối thiểu là 20 tỷ USD Tuy
Trang 11nhiên, sức hấp dẫn về tiềm năng tăng trưởng và lợi nhuận của ngành ngân hàng đã khiến nhiều tổ chức trong và ngoài nước tham gia thành lập ngân hàng mới
Bảng 2: Số lượng các ngân hàng giai đoạn từ 2006 - 2009
2006 2007 2008 2009
Ngân hàng TMCP 37 37 39 39
Chi nhánh NHNN 31 33 39 40
Ngân hàng liên doanh 5 5 5 5
Ngân hàng 100% vốn nước ngoài 0 0 5 5
Tổng số ngân hàng 78 80 91 92
Tăng trưởng tín dụng trong giai đoạn này khá nhanh, đặc biệt vào năm 2007, khi
mà tăng trưởng tín dụng đã lên tới 54% do nhu cầu tín dụng trong nền kinh tế tăng cao, trong đó bao gồm cả nhu cầu vốn đầu tư chứng khoán và bất động sản
Ngoài 2 mảng hoạt động truyền thống, mảng hoạt động dịch vụ cũng có sự phát triển mạnh mẽ Các NHTM đẩy mạnh hiện đại hoá công nghệ và nâng cao năng lực quản trị, điều hành trên cơ sở tăng cường áp dụng các thông lệ quốc tế về quản trị doanh nghiệp và từng bước thiết lập các định chế quản trị rủi ro Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng được đưa vào vận hành năm 2002 và hạ tầng công nghệ thông tin của ngành ngân hàng được hiện đại hoá một bước góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển các dịch vụ ngân hàng mới, đặc biệt các dịch vụ thanh toán và ngân hàng điện tử (internet banking, telephone banking, ATM, thẻ tín dụng, thẻ thanh toán,,,,) Các NHTM Việt Nam ngày càng hoạt động mang tính chuyên nghiệp và có uy tín hơn với quốc tế Điển hình là các NH: ACB, Techcombank, Phương Nam,
Các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng bán lẻ tăng trưởng mạnh cùng với sự tăng trưởng kinh tế Theo IMF, số lượng tài khoản ngân hàng tại Việt Nam trong năm 2006 ước tính chỉ ở mức hơn 8 triệu tài khoản, chiếm khoảng 9,4% dân số và tập trung chủ yếu vào các đối tượng có thu nhập cao tại các khu đô thị và các doanh nghiệp Phương thức thanh toán tiền măt vẫn là phương thức thanh toán khá phổ biến Mặc dù tỷ lệ Tiền mặt/Tổng phương tiện thanh toán (M2) có xu hướng giảm dần nhưng tỷ lệ này ở Việt nam vẫn là cao nhất trong khu vực Điều nay mở ra tiềm năng cho ngành ngân hàng khi các sản phẩm dịch vụ đã hoàn thiện
Trang 12Theo cam kết với WTO về ngành ngân hàng, từ tháng 12/2007, Việt Nam đã chính thức thực hiện việc cổ phần hóa Ngân hàng thương mại quốc doanh đầu tiên là Vietcombank Tiếp sau đó là Vietinbank và sắp tới là BIDV Việc đẩy mạnh cổ phần hóa các ngân hàng thương mại quốc doanh đã góp phần vào việc nâng cao trình độ quản lý, tinh gọn bộ máy nhân sự, đồng thời tạo điều kiện cho các ngân hàng cải cách cơ chế của hoạt động kinh doanh, giảm bớt sự phụ thuộc vào Nhà nước, đem lại những cơ hội mới
về huy động nguồn vốn dài hạn hiệu quả, nhanh chóng và thuận tiện từ thị trường chứng khoán
Cho vay chính sách được tách khỏi cho vay thương mại và chấm dứt tình trạng cơ quan quản lý nhà nước can thiệp vào hoạt động kinh doanh của các TCTD để bảo đảm các TCTD, kể cả các NHTMNN, thực hiện kinh doanh theo nguyên tắc thị trường, tối đa hoá lợi nhuận Quyền tự chủ kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về tài chính và các rủi ro ngày càng được thể chế hóa rõ ràng và thực hiện tương đối hiệu quả, nhất là khu vực ngân hàng cổ phần và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài
2 Tự do hoá lãi suất - lộ trình tự do hoá ở Việt nam
a Giai đoạn trước tháng 6/1992 : NHNN can thiệp ở mức độ cao và trực tiếp vào lãi suất thông qua ấn định các mức lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay Cơ chế lãi suất âm và mang nặng tính chất bao cấp đựơc duy trì trong suốt thời kỳ này
b Giai đoạn từ tháng 6/1992 – 1995 : Chuyển từ cơ chế lãi suất thực âm sang
cơ chế lãi suất thực dương, xoá bỏ về cơ bản sự chênh lệch lãi suất cho vay giưã các thành phần kinh tế, quản lý lãi suất theo một khung bao gồm lãi suất tối thiểu về tiền gửi
và lãi suất tối đa về tiền vay NHNN cho phép NHTM được thoả thuận lãi suất với khách hàng (áp dụng trong trường hợp huy động vốn bằng phát hành kỳ phiếu –lãi suất huy động có thể cao hơn lãi suất tiết kiệm cùng kỳ hạn 0.2%/tháng và cho vay cao hơn mức trần 2.1%/tháng)
c Giai đoạn từ năm 1996 - tháng 7/2000 : Chuyển quy định khung lãi suất tối thiểu về tiền gửi – lãi suất tối đa về tiền vay thành quy định các mức lãi suất “trần” theo thời hạn cho vay và khống chế chênh lệch giữa lại suất cho vay và lãi suất huy động vốn bình quân 0.35%/tháng Đến cuối tháng 1/1998, NHNN xoá bỏ quy định chênh lệch lãi suất chỉ còn quy định trần lãi suất cho vay Tháng 11/1999, NHNN đưa vào sử dụng nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ cho các NHTM, lãi suất tái chiết khấu được quy định ở mức thấp hơn 0.05%/tháng so lãi suất tái cấp vốn Tháng 7/2000, NHNN đưa vào sử dụng nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất thị trường mở được hình thành qua các phiên giao dịch
d Giai đoạn từ giữa năm 2000 đến nay (giai đoạn tiền tự do hoá lãi suất) : Tháng 8/2000, NHNN điều hành cơ chế lãi suất theo luật Ngân Hàng để thay thế cho cơ chế lãi suất trần Các ngân hàng không đựơc tính lãi suất cho vay vượt quá lãi suất cơ bản +0.3%/tháng đối với vốn ngắn hạn và 0.5%/tháng đối với vốn trung Dài hạn Tháng 11/2001, trần lãi suất cho vay ngoại tệ được xoá bỏ, từ đó cho phép người vay ngoại tệ
Trang 13trong nước có thể thương lượng lãi suất với Ngân hàng nội địa và ngân hàng nước ngoài Quyết định số 546/2002 QĐ-NHNN về thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận trong hoạt động tín dụng là một bước ngoặc lớn đánh dấu sự mở đầu trong việc thực hiện cơ chế tự
do hoá lãi suất Hiện nay NHNN đang thông qua việc thực hiện xoá bỏ hoàn toàn công bố lãi suất cơ bản hàng tháng như hiện nay, tức là chính thức thực hiện tự do hoá lãi suất
3 Chính sách tỷ giá ở Việt Nam :
Trong điều kiện của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, tác dụng điều tiết của tỷ giá hối đoái bị hạn chế rất nhiều và hầu như không phát huy tác dụng Trong một thời gian dài ở nước ta tỷ giá hối đoái cố định được ấn định rất cao, vừa không phản ánh đúng quan
hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối, vừa không phản ánh đúng giá trị của đồng tiền nội
tệ Có thể nói tỷ giá hối đoái của đồng tiền Việt Nam lúc bấy giờ chỉ là hệ số quy đổi để các công ty thương mại quốc doanh lập kế hoạch và tính toán nội bộ Tất cả điều đó làm cho nền kinh tế trong một thời gian dài bị khủng hoảng trầm trọng Xuất hiện nhiều tỷ giá khác nhau: tỷ giá chính thức do nhà nước quy định cao và các tỷ giá trên thị trường tự do theo quan hệ cung cầu
Trong xu thế cải cách từ một nền kinh tế kế hoạch đóng cửa sang một nền kinh tế thị trường mở, thể chế kinh tế mới ngày càng được xác lập và phát triển NHNN Việt Nam đã chuyển từ chế độ tỷ giá cố định sang chế độ tỷ giá linh hoạt có sự kiểm soát của Nhà Nước, là một sự lựa chọn đúng đắn của Nhà Nước trong điều kiện quá trình hội nhập Việt Nam với Thế giới Việc áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết sẽ có các điều lợi sau: Một là, nó phản ánh kịp thời mọi quan hệ cung cầu trên thị trường, tránh được tình trạng xác định tỷ giá quá cố định, xa rời thực tế của nền kinh tế Hai là, sự can thiệp kịp thời của nhà nước đến tỷ giá sẽ tránh được những biến động không mong muốn có ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình kinh tế-xã hội Ba là, giúp cho các doanh nghiệp thương mại
có cơ sở để quyết định chính sách kinh doanh của mình, bởi vì họ có thể dự đoán được một cách tương đối các giá cả, chứ không phải luôn vật lộn với những biến động thất thường của một chế độ tỷ giá linh hoạt hoàn toàn
NHNN đã thực hiện việc công bố tỷ giá trên cơ sở tỷ giá bình quân chung trên thị trường liên ngân hàng và kèm theo biên độ dao động cho phép Các biên độ tỷ giá này ngày càng được nới rộng ra : Ngày 1-7-2002, biên độ này được nới từ +/-0,1% lên +/-0,25%; ngày 31-12-2006, tăng từ +/-0,25% lên +/-0,5% và ngày 7-3-2008, tăng từ +/-0,75% lên +/-1% và 24-3-2009 biên độ tỷ giá là +/-5%
III Khả năng chuyển đổi của đồng tiền Việt Nam
1 Vấn đề đô la hóa :
Đô la hóa (dollarization) được nhìn nhận là một hiện tượng trong đó ngoại tệ được
sử dụng rộng rãi để thay thế một hay nhiều chức năng của đồng nội tệ