1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

D:TUANTƯ LIỆU SỨC KHỎEthuốc bắc chữa bệnh.doc

82 169 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 10,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thường dùng sao các vị Xuyên sơn giáp, Phá cố chỉ… + Sao với bột Hoạt thạch, Cáp phấn: để làm cho các vị thuốc có độ dẻo, có chất keo, chất nhựa, dầu… không dính vào nhau như A giao, Một

Trang 1

PHƯƠNG PHÁP BÀO CHẾ THUỐC

Để một vị thuốc dễ dàng được người tiêu dùng chấp nhận, phải chú ý rất nhiều từ khâu sơ chế đến bào chế Tây y có những quy trình rất rõ về việc bào chế từng vị thuốc Đông y từ trước đến nay, đa số bào chế theo truyền khẩu, theo kinh nghiệm, ít có đơn vị, cơ quan chính thức làm hẳn công việc này Ngoài ra việc bào chế thuốc Đông y còn yêu cầu chế biến theo diễn biến bệnh nên

có nhiều vị thuốc không thể làm sẵn được.

Quy chế và phương pháp bào chế theo người xưa được mô tả rõ nhất trong quyển ‘Bào Chích Luận’ của Lôi Hiệu, viết khoảng năm 420 – 479 Sau này dựa vào tên tác giả đổi thành ‘Lôi Công Bào Chích’ Quyển sách này hiện nay vẫn còn được coi là quy phạm cho những người bào chế thuốc

Một vị thuốc khi đến tay người tiêu dùng thường trải qua 3 giai đoạn:

Mỗi cây thuốc, vị thuốc có cách trồng hoặc nuôi dưỡng riêng.

- Thời điểm trồng có thể sẽ mang thêm hiệu quả Thí dụ có những cây trồng vào đầu màu xuân,

có cây lai trồng vào dịp hè thu… Nếu trồng sai thời vụ, kết quả thu hoạch sẽ kém hơn.

- Cách chăm sóc cho cây sinh trưởng cũng sẽ giúp thu hoạch đạt năng suất hơn Thí dụ, cũng cùng một loại cây, nếu biết phân bón đúng thời điểm, lượng thu hoạch cho 4-5 tấn/hecta so với 1 tấn/ hecta nếu không chăm sóc, phân bót.

2- THU HÁI

Xác định đúng thời kỳ thu hái.

+ Đối với cây lấy củ: thu hái lúc cây bắt đầu vàng úa, lá gốc đã già, lúc này hoạt chất tập trung nhiều ở củ.

+ Đối với cây lấy lá: thường thu hái lúc cây ra nụ.

+ Đối với cây lấy tinh dầu: thường thu hoạch vào thời kỳ hoa nở rộ, là lúc hàm lượng tinh dầu thường cao nhất.

Kỹ thuật thu hái:

+ Nên chọn ngày nắng ráo để dễ dàng trong việc phơi, sấy chế biến.

Trang 2

+ Thu hoạch củ khi đào, tránh làm sây sát hoặc đứt rễ.

+ Thu hoạch lá: cắt lá theo đúng yêu cầu (loại lá già hoặc bánh tẻ…), trải mỏng, không nên xếp đống hoặc vất bừa bài vì lá sẽ bị hấp nóng dễ bị thối ủng.

+ Thu hoạch cây để lấy tinh dầu: Cắt lá sau khi tan hết sương cho đến khoảng 15-16 giờ sẽ đỡ hao tinh dầu.

+ Thu hái vỏ cây thì phải dùng dây thắt ngang cây hoặc cành làm chuẩn rồi dùng dao rạch thành từng miếng cho đều, dễ phơi sấy và uốn thành từng thanh Nếu bóc tùy tiện sẽ ảnh hưởng đến

sự sinh trưởng của cây và giảm giá trị của vị thuốc.

Nên phơi trong râm cho héo dần, không nên phơi nắng to sẽ làm cho thuốc khô giòn, vụn nát.

Trước khi phơi hoặc sấy, thường người ta dùng phép ‘diệt men phân hủy’ để giữ nguyên hoạt chất có trong lá Thí dụ: vị thuốc Cam thảo dây, nếu thu hái xong mà phơi ngay thì lá biến thành mầu nâu xám, vị thuốc không ngọt, hoạt chất giảm đi, nhưng nếu chế biến bằng cách sao lá tươi trên chảo nóng bỏng, sau đó giảm dần lửa cho đến khi khô hẳn thì lá Cam thảo dây vẫn giữ nguyên mầu xanh lục và vị ngọt đậm vì chất Glyxyrizin không bị phá hủy đi.

+ Các loại thân cây có nhựa khô như Thạch hộc, nên luộc sơ qua rồi phơi nắng to cho khô

+ Các loại củ, phải sấy từ từ, lúc đầu nhiệt độ khoảng 40 – 500C, sau tăng dần lên 70 – 800C, để tránh tình trạng bên ngoài vỏ đã khô mà trong ruột còn ướt.

Các giai đoạn chế biến dược liệu:

THÁI, BÀO

Dùng dao cắt dược liệu thành những miếng mỏng.

Đa số các nhà thuốc đều mua loại dao chế sẵn, tùy theo yêu cầu dược liệu, gọi là Dao Cầu, Dao Bào hoặc Dao Thái.

+ Dao Cầu: Bản dao to hơn, thường dùng thái các dược liệu to và cứng.

+ Dao Bào: có hình dáng giống chiếc bào gỗ của thợ mộc, thường dùng để cắt những dược liệu

đã được ủ mềm cho đều và không bị nát vụn như Đương quy, Thương truật, Xuyên khung… + Dao Thái: Loại dao sắc để cắt dược liệu nhỏ, mềm như lá: Bạc hà, Kinh giới…

Trang 3

Cho dược liệu vừa đủ vào cối, nhiều quá thì thuốc khó giã mà dễ bị bắn ra ngoài; Nếu thuốc ít quá, chầy có thể đập mạnh vào lòng cối, dễ gây vỡ cối…

Nếu dược liệu thuộc loại mềm, nếu giã sẽ làm cho thuốc dính lại thành tảng Trường hợp này nên dùng cách nghiền: Không nhấc cao chầy ra khỏi cối mà đưa đầu chầy xoay thành vòng tròn,

ép mạnh dược liệu vào thành cối cho nát.

+ Tán bằng Thuyền Tán: Nếu dược liệu cứng, khó cắt, cần nghiền nát với số lượng lớn thì nên dùng Thuyền tán Thuyền tán đa số làm bằng gang, giống hình một chiếc thuyền Khi cần tán, cho dược liệu vào lòng thuyền (sau khi đã cắt nhỏ hoặc sao khô), dùng một bánh xe cũng bằng gang có cạnh sắc lăn qua, lăn lại cho đến khi dược liệu bị phân chia nhỏ ra.

Hiện nay, có thể dùng máy tán vừa nhanh vừa đỡ mất sức mà dược liệu đạt độ mịn hơn.

RÂY

Sau khi đã tán dược liệu thành bột, tùy yêu cầu chế biến mà dùng các loại rây khác nhau để tạo nên bột có độ mịn khác nhau.

+ Nếu làm thành bột uống thì càng mịn càng tốt cho dễ uống.

+ Nếu dùng để chế thành viên hoặc hoàn tễ thì không cần mịn lắm cũng được

SAO

- Sao là phương pháp dùng hơi nóng của lửa làm cho thuốc khô, sém vàng hoặc cháy đen Mục đích để thay đổi tính năng của thuốc theo ý muốn của người dùng.

- Dụng cụ để sao: thường là chảo bằng gang hoặc nồi bằng đất và một đôi đũa to để đảo thuốc.

- Có nhiều cách sao thường dùng:

+ Sao vàng: Sao cho đến khi vị thuốc bên ngoài có mầu vàng nhưng trong ruột vẫn còn mầu như

cũ Khi sao, để lửa nhỏ, thời gian sao lâu Mục đích để cho thuốc bớt tính hàn.

Trang 4

+ Sao vàng hạ thổ: Quét sạch đất, sau khi sao thuốc xong, đổ trải thuốc ra nền đất sạch, đậy lại,

để khoảng 15 phút cho thuốc nguội Mục đích để khử hỏa độc do sao nóng của vị thuốc, làm cho thuốc tăng thêm phần âm của đất để điều hòa âm dương (khí của đất là âm, khí của hỏa nhiệt khi sao thuốc là dương).

+ Sao vàng xém cạnh: Sao làm cách nào để mặt ngoài thuốc hơi vàng xém nhưng bên trong ruột không thay đổi mầu Cách sao này thường dùng đối với vị thuốc quá chua, chát như Hạt cau, Trần bì, Chỉ thực…

+ Sao đen: Dùng lửa to, dợi khi chảo thật nóng thì cho thuốc vào, đảo đều cho đến khi thấy bên ngoài cháy đen, bẻ ra thấy bên trong mầu vàng là được Thường dùng để sao Toan táo nhân, Chi tử, Kinh giới… Nhằm mục đích tăng tác dụng cầm máu hoặc tiêu thực của vị thuốc.

+ Sao tồn tính: Sao cho gần cháy hết nhưng chưa thành than Dùng lửa to, để cho chảo thật nóng, cho thuốc vào đảo đều cho đến khi thấy khói bốc lên nhiều, bắc chảo xuống, đậy nắp lại cho hơi nóng nung nấu thuốc rồi để nguội dùng Thường dùng để tăng tác dụng cầm máu của thuốc như Trắc bá diệp, Cỏ mực…

+ Sao với cát: Chọn loại cát nhỏ, mịn, rang cho nóng rồi mới cho thuốc vào, trộn cho thật đều Mục đích sao với cát là để lấy sức nóng lâu của cát làm cho thuốc càng, phồng đều nhưng không cháy Thường dùng sao các vị Xuyên sơn giáp, Phá cố chỉ…

+ Sao với bột Hoạt thạch, Cáp phấn: để làm cho các vị thuốc có độ dẻo, có chất keo, chất nhựa, dầu… không dính vào nhau như A giao, Một dược, Nhũ hương…

+ Sao với cám: để rút bớt tinh dầu của vị thuốc ra như Chỉ thực, Thương truật, Trần bì…

TẨM

Mục đích là làm cho một chất lỏng khác thấm vào được thuốc.

Các chất lỏng dùng để tẩm thường là Rượu, Giấm, nước Muối, nước cốt Gừng, Đồng tiện (nước tiểu trẻ nhỏ)… Thời gian ngâm từ 2 – 4 giờ hoặc có khi phải ngâm qua đêm, ngâm mấy ngày… tùy yêu cầu của từng vị thuốc Sau đó lại sao cho khô.

Trung bình, cứ 1kg thuốc ngâm với 50 – 200ml.

+ Tẩm Rượu:

- Dùng rượu 30 – 400, trộn với thuốc, ngâm khoảng 2-3 giờ rồi sao vàng.

- Mục đích để giảm bớt tính hàn của thuốc, tăng thêm độ ấm.

- Rượu có tác dụng bốc và dẫn nhanh, vì vậy giúp cho thuốc đi nhanh ra các bộ phận cần dẫn thuốc đến.

+ Tẩm Nước Muối:

- Dùng nước muối 20%, ngâm chung với thuốc 2 – 3 giờ rồi sao vàng Thường dùng muối với tỉ

lệ 5% so với thuốc, để làm cho thuốc thêm mặn.

- Vị mặn là vị của Thận, vì thế muốn cho thuốc dẫn vào Thận, thì tẩm với nước muối.

Trang 5

+ Tẩm Giấm:

- Dùng 5% lượng Giấm ăn so với thuốc, ngâm ngập thuốc, để khoảng 1 – 2 giờ, đem sao.

- Vị chua đi vào kinh Can, vì vậy tẩm Giấm để dẫn thuốc đi vào Can.

là 50g – 150g Gừng tươi cho 1kg thuốc.

- Gừng có tính ôn ấm, kích thích tiêu hóa, vì vậy, tẩm vào thuốc sẽ giúp cho thuốc đó bớt hàn, tăng tác dụng kiện Tỳ, hòa Vị, kích thích tiêu hóa.

+ Tẩm Mật

Theo các tài liệu cổ thường là tẩm Mật Ong, nhưng hiện nay, đa số là tẩm Mật Mía Thường pha một phần mật với một phần nước cho loãng rồi ngâm với thuốc khoảng 4 – 6 giờ Mục đích tẩm Mật để giảm bớt vị đắng, chát của thuốc.

Vị ngọt đi vào Tỳ, vì vậy muốn tăng tác dụng kiện Tỳ của vị thuốc thì tẩm với mật.

+ Tẩm Nước Đậu Đen

Dùng 100g Đậu đen cho một lít nước, đun sôi một giờ, gạn lấy nước, ngâm với thuốc Thường theo tỉ lệ 10 – 20% so với thuốc Tẩm nước Đậu đen thường tăng ác dụng bổ Can Thận

+ Tẩm Nước Cam Thảo

Dùng 100g Cam thảo cho một lít nước, nấu sôi một giờ, gạn lấy nước, ngâm với thuốc, theo tỉ lệ

10 - 20 % so với thuốc.

Mục đích để giảm bớt độc tính của thuốc, làm cho thuốc êm dịu, đỡ chát.

+ Tẩm Nước Gạo

Dùng nước gạo đặc mới vo, ngâm với thuốc theo tỉ lệ 5 – 10%, để qua đêm, rồi sấy khô.

Mục đích để làm cho thuốc bớt tính ráo, nóng hoặc giảm bớt độc.

+ Tẩm Hoàng Thổ

Trang 6

Dùng 100g đất sét vàng (Hoàng thổ) cho vào 1 lít nước, đun sôi, khuấy đều Gạn bỏ nước phía trên, chỉ lấy nước ở giữa, bỏ căn, tẩm với thuốc theo tỉ lệ 40 – 50%, để 2 –3 giờ rồi đem sao vàng.

Dùng Hoàng thổ sao để hút bớt tinh dầu có trong một số vị thuốc như Bạch truật, làm cho thuốc bớt tính ráo, nóng.

Mầu vàng là mầu của Tỳ, vì vậy, sao với Hoàng thổ để dẫn thuốc vào Tỳ, tăng tác dụng kiện Tỳ cho vị thuốc.

+ Tẩm Sữa

Ngày xưa thường dùng sữa người (Nhân nhũ) và phải là loại sữa của người mới sinh làn đầu (gọi là sữa con so), hiện nay có thể dùng sữa bò (nguyên chất chứ không phải loại sữa đặc có đường đã pha chế), dùng một nửa sữa, nửa nước để tẩm vào dược liệu, để khoảng 1-2 giờ rồi sao vàng Mục đích tẩm Sữa để làm bớt tính khô ráo của vị thuốc Ngày xưa dùng sữa người theo ý sữa là tinh huyết, tẩm vào thuốc để tăng tác dụng bổ huyết

Dùng lượng nước ít phun hoặc rắc cho thấm đều dược liệu rồi dùng vải ướt hoặc bao tải đậy kín vài giờ hoặc vài ngày cho dược liệu mềm ra cho dễ thái và chế biến, hoặc giúp cho dược liệu lên men… Phương pháp này dùng cho các loại không thể ngâm lâu vì sợ mất hoạt chất như Ô dược, Tỳ giải, Thổ phục linh…

Có một số dược liệu trước khi phơi cần phải ủ cho dược liệu lên men, có mầu đẹp như Ngưu tất, Đương quy, Huyền sâm…

Trang 7

Dùng mật tẩm dược liệu xong đem nướng (chích) cho đến khi thấy khô, thơm là được Mục đích lấy vị ngọt của mật làm tăng tác dụng kiện Tỳ của vị thuốc Thí dụ: Chích Hoàng kỳ, Chích Cam thảo…

ĐỐT

Thường dùng cồn đốt rồi đem vị thuốc hơ lên lửa cho cháy lông, hơi rượu bốc lên thấm vào thuốc làm cho thuốc có mùi thơm hơn, bớt tanh và bảo quản được lâu Nhung Hươu, Nai… thường dùng cách đốt này.

LÙI

Khi tro bếp đang nóng, đặt vị thuốc vào trong đó để láy sức nóng của tro làm cho thuốc chín Khi

áp dụng phương pháp này, thường dùng giấy bản ướt hoặc lấy Cám ướt bọc bên ngoài vị thuốc, đến khi giấy hoặc cám khô hẳn là được Mục đích là tăng thêm tính ấm của vị thuốc đó Thí dụ như Gừng, Cam thảo, Mộc hương…

NUNG

Dùng nhiệt độ cao để đốt trực tiếp vị thuốc đó cho chảy hoặc dễ tán thành bột Thí dụ như Phèn chua (nung cho chảy ra, gọi là Phèn phi), Mẫu lệ, Thạch cao thường là nung cho đỏ để dễ tán thành bột.

SẮC

Cho thuốc vào nồi đất (siêu) hoặc dụng cụ để nấu… cho nước theo yêu cầu (thường là 4 chén nước), đun sôi nhẹ một thời gian cho thuốc thấm ra hết, chiết lấy nước để dùng như thang thuốc sắc vẫn thường dùng.

NGÂM

Dùng một chất khác (nước, nước muối, Đồng tiện, rượu…) ngâm với vị thuốc muốn dùng để làm cho thuốc mềm hơn, giảm trừ bớt độc tính của thuốc hoặc tăng tác dụng khác cho vị thuốc đó Thí dụ:

+ Bán hạ ngâm nước Gừng để giảm bớt độc tính của thuốc.

+ Đỗ trọng ngâm nước muối để tăng tác dụng bổ Thận.

+ Hậu phác ngâm nước Gừng để tăngtác dụng tiêu thực…

HÃM

Dùng nước đang sôi rót vào dược liệu rồi đậy kín lại cho thuốc thấm ra trong thời gian theo yêu cầu từng vị thuốc Phương pháp này dùng cho các vị thuốc mềm như hoa, lá non, rễ nhỏ… Thường dùng dưới dạng chế biến thành chè để uống.

Trang 8

Mục đích xông làm cho thuốc khô, chống mọt, để được lâu.

Có thể xông bằng Diêm sinh (Lưu huỳnh) Thí dụ: Bạch chỉ, Hoài sơn xông bằng Lưu huỳnh sẽ

có mầu trắng tinh; Ngưu tất xông Lưu huỳnh và ủ kỹ sẽ có mầu hồng trong…

Những điểm cần lưu ý khi xông bằng Diêm sinh:

- Khi sấy bằng Diêm sinh cần tính toán lượng Diêm sinh cho phù hợp với lượng thuốc cần xông.

Có thể theo cách sau:

+ Những lần sấy đầu: cứ 100kg thuốc, dùng 0,800g – 1,2kg Diêm sinh, đốt làm hai lần.

+ Những lần xông định kỳ để Bảo quản: cứ 100kg thuốc dùng 0,100 – 0,150kg Diêm sinh.

- Khi sấy bằng Diêm sinh, nên xếp thuốc thành từng lớp ngang, dọc khác nhau để cho hơi của Diêm sinh tỏa thấm đều tất cả thuốc.

- Hơi Diêm sinh bốc lên có độc, vì vậy chỗ sấy phải làm nơi thoáng Lò sấy phải kín.

- Sau khi xông xong, phải mở cửa buồng sấy cho tỏa bớt hơi Diêm sinh đi rồi mới lấy dược liệu

ra để tránh bị ngộ độc, nghẹt thở do hơi độc của Diêm sinh.

- Vị Cam thảo bắc không bao giờ được sấy bằng Diêm sinh.

Một vài lưu ý khi chế biến thuốc:

+ Để ý phòng cháy nhất là những khâu sao thuốc Nếu sơ ý sẽ dễ cháy thuốc lẫn vật dụng chung quanh.

+ Nếu xông thuốc, cần đeo khẩu trang tránh hơi độc của Diêm sinh hoặc Luu huỳnh bốc lên + Một vài dược liệu có chất ăn da, khi rửa, nên để ở dưới vòi nước chảy Thí dụ:

Trang 9

- Bạch chỉ nếu rửa vào chậu nước trong nhiều giờ chất Acid Angelic sẽ làm phồng và loét da tay.

- Bán hạ, Thiên niên kiện nếu rửa lâu sẽ gây dị ứng lở ngứa da.

Phương pháp sắc thuốc thang của YduocNHH.net

Cập nhật: 16/04/2009

PHƯƠNG PHÁP SẮC THUỐC THANG CỦA YDUOCNHH.NET

Dụng cụ sắc: sắc nấu với siêu đất là tốt nhất, bởi vì chất liệu siêu đất ổn định, không xảy ra phản ứng hóa họcvới các thành phần có trong thuốc thang, và truyền nhiệt đồng đều

Nhiệt độ: thường sắc thuốc bằng lửa nhỏ (văn hỏa) Tốt nhất là cho dược liệu ngâm nước trước 15 phút, sẽ giúp cho các tế bào thực vật của thảo dược giãn nở, rồi dùng lửa nhỏ để sắc, như thế các dược chất không bị phá hỏng

Thời gian: thường sắc trên 30 phút là thích hợp Những thuốc làm ra mồ hôi, phát tán… chỉ cần sắc 20 phút (khoảng 5 phút kể từ lúc sôi); đối với thuốc bổ thì thời gian sắc nấu lâu hơn

Nhiều người có thói quen nhìn màu sắc đậm hay lợt để quyết định thời gian sắc thuốc, cho rằng thuốc sắc có màu đậm mới là tốt Thật ra một số màu của thảo dược càng sắc càng đậm, nhưng trên thực tế các hoạt chất

đã được rút ra hết Một số thảo dược sắc thời gian dài sẽ bị mất thành phần tinh dầu

Số lần sắc: mỗi thang thuốc cần sắc 2 lần (gọi là nước 1 và nước 2), nước sắc lần đầu nên cho ngập qua mặt dược liệu là thích hợp; nước sắc lần hai có thể bớt đi một ít Một số dược liệu là chất khoáng (như vỏ sò) cần sắc đến 3 lần

Ngoài ra, một số dược liệu chất khoáng như tử thạch anh, hàn thủy thạch có độ hòa tan rất thấp, nên cần sắc trước rồi mới sắc chung với các dược liệu khác

Trên đây chỉ là những điểm cần lưu ý thường gặp Mỗi khi khám bệnh, cần hỏi thầy thuốc xem thuốc dùng có những yêu cầu đặc biệt nào khi sắc, nấu

Phân biệt mật gấu thật giả

Cập nhật: 28/07/2009

Hùng đởm có vị đắng, ngọt mát, tính hàn, mùi thơm dịu, có tác dụng đặc hiệu giảm các chứng đau, tiêu viêm tán ứ, diệt trừ vi khuẩn

Lâu nay, nhiều người vẫn quan niệm rằng mật gấu là một vị thuốc quý có tác dụng bổ dưỡng cao Do đó, họ đổ

xô tìm mua mật gấu với mục đích tăng cường sức khỏe, nâng cao thể lực Nhưng phân biệt mật gấu thật, giả thế nào thì rất nhiều người chưa biết

Thực ra, theo y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian, mật gấu với tên thuốc là hùng đởm có vị đắng, ngọt mát, tính hàn, mùi thơm dịu, có tác dụng đặc hiệu giảm các chứng đau, tiêu viêm tán ứ, diệt trừ vi khuẩn Thành phần hóa học của mật gấu gồm sắc tố mật bilirubin, cholesterol, muối mật, acid cholic, đặc biệt là chất acid ursodesoxycholic (chỉ có trong mật gấu) ở dạng liên kết tạo thành muối mật tanro-ursodesoxycholat làm cho chất mật sáng bóng óng ánh Muối mật này là tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng của mật gấu và phân biệt thật, giả Dược liệu được dùng trong những trường hợp sau:

- Chữa viêm tấy, đau nhức, tụ máu bầm tím do ngã hay chấn thương, hoàng đản: Lấy 0,5g mật gấu khô hòa vào nước ấm mà uống, ngày 3-4 lần Hoặc 0,5-1g hòa vào 10ml rượu 45o để xoa bóp Có thể phối hợp mật gấu với mật trăn, huyết lình, nghệ trắng, rễ ô đầu, nhân hạt gấc, ngâm rượu dùng xoa bóp chữa bong gân, sai khớp.Đặc biệt, chất acid ursodesoxycholic trong mật gấu làm giảm sưng đau nhanh và mạnh hơn

Trang 10

- Chữa mắt đau sưng đỏ, có màng mộng: Lấy 1-2g mật gấu khô mài với nước đun sôi để nguội, lọc, dùng nhỏ mắt hằng ngày Dung dịch nước cất chữa 2-3% mật gấu dùng nhỏ mắt còn làm tan máu nhanh trong vòng 2-3 ngày đối với trường hợp xuất huyết dưới kết mạc do chấn thương hoặc do biến chứng của bệnh sởi, cúm, ho gà.Chú ý: Các dạng bào chế mật gấu dùng nhỏ mắt đều phải được tiệt khuẩn và chỉ dùng từ 5-7 ngày đối với dạng pha chế đơn giản.

Ngoài ra, mật gấu còn chữa viêm loét dạ dày, mật và tụy hoạt động kém, sỏi mật, viêm khớp, viêm xoang, đái tháo đường, bệnh phụ khoa Gần đây, mật gấu đã được ứng dụng điều trị bệnh xơ gan Một số trường hợp ung thư cũng đã được điều trị bằng uống mật gấu kết hợp với các phương pháp trị liệu khác như hóa trị liệu, chiếu

- Nhận dạng: Túi mật có hình trứng dẹt, to nhỏ không đều, phần miệng thuôn nhỏ hẹp, phần đáy phình to, thường dài 10-20cm, rộng 5-8cm Mặt ngoài nhẵn, màu nâu xám hay đen xám, có những nếp gấp còn bám ít màng mỏng mỡ, thịt Khi soi túi ra ánh sáng thấy phần trên trong suốt, phần giữa và phần đáy có màu sẫm Nếu cắt mở túi sẽ thấy nước mật khô gọi là "đởm nhân" ở dạng cục khối, dạng hạt lổn nhổn hoặc dạng sánh đặcmàu sẫm nhạt không đều, óng ánh, mùi thơm dịu

Chất mật là thứ "đởm nhân" trong, màu vàng kim loại óng ánh như hổ phách, chất xốp giòn, vị đắng, sau ngọt gọi là "kim đởm" hay "đồng đởm" Thứ màu đen, chất chắc giòn hoặc ở dạng sánh đặc là "mặc đởm" hay "thiết đởm" Thứ màu lục vàng, ít óng ánh, chất kém giòn là "thái hoa đởm"

Dược liệu tốt là thứ túi to, "đởm nhân" màu vàng kim loại óng ánh, vị đắng sau ngọt "Đởm nhân" màu lục vàng, vị đắng sau không thấy ngọt là loại kém

- Phân biệt thật giả bằng 5 cách thử sau:

1 Dùng phương pháp hóa học để phân lập acid ursodesoxycholic, rồi thử các tính chất đặc trưng của acid này như độ chảy (202o), độ quay cực (+ 57o07), phản ứng màu (đỏ với dung dịch acid ursodesoxycholic trong nước, đường và acid sulfuric đặc; xanh lục với dung dịch acid ursodesoxycholic trong cloroforom, anhydrid acetic

Trang 11

đọc cách chọn xương, cách bào chế và cách nấu cao xương hổ với một quy trình hết sức nghiêm túc để bảo đảm cao có chất lượng và hiệu quả Không nên nghe tuyên truyền mà để tiền mất tật mang.

Người ta thường gọi là cao hổ cốt, có nghĩa là đối với cao hổ chỉ dùng xương để nấu, không có cách dùng thịt

hổ để nấu cao

Bộ xương hổ cần được đầy đủ không được thiếu một xương nào thì cao mới tốt Không được để lẫn xương khác vào, xương hổ quý nhất là xương tay (hai chân trước) thường gọi là "hổ lĩnh cốt", tốt nhất các xương từ đầu, chân cho đến đuôi vẫn còn dính với nhau bằng gân của nó

Hai chân trước của hổ bao giờ cũng có vặn ở khửu và có 2 lỗ "thông thiên" để phân biệt giữa xương hổ, xương báo, xương beo và các xương khác Răng hổ bao giờ cũng có hình chữ "tam sơn"

Xương hổ chết lâu ngày trong rừng thì có màu trắng bột, xương hổ tốt nhất là loại trắng ngà, có mùi hơi hăng

Bộ xương có đầy đủ các xương trọng lượng từ 10-15kg là loại tốt

Nấu cao xương hổ phải phối hợp với xương linh dương mới tốt, thường 2 bộ xương hổ, 5 bộ xương linh dương

là tốt nhất (ngũ dương nhị hổ)

Hổ ăn thịt thường thuộc âm nên hàn nhiều Linh dương ăn cỏ lá nên thuộc dương có tính ôn, nấu hai loại xương này có âm có dương, có hàn có nhiệt nên cao mới có hiệu quả, xương linh dương nấu với xương hổ cũng phải được bào chế như xương hổ

Nấu cao hổ có 3 giai đoạn: làm sạch xương, sao tẩm xương, nấu nước cao và cô đặc

Trước hết phải làm sạch thịt, gân, màng xương, tẩy nếu làm không sạch thì cao dễ hỏng Người xưa cho rằng nếu xương hổ làm không sạch, tẩy không hết tủy và màng xương thì cao đen, và khi uống vào dễ đau nhức xương cốt hơn là làm lành bệnh

Trước hết ngâm xương hổ với nước vôi loãng, cứ 100kg xương hổ ngâm với 500g vôi, được pha loãng, đổ ngập nước vôi đun sôi, tắt lửa ngâm một đêm, hôm sau đánh rửa sạch gân, thịt, màng xương, tủy, cũng có người dùng lá đu đủ đun thay nước vôi, xương lớn cưa khúc chẻ ra cạo sạch tủy, xương bé đạp dập cạo sạch tủy

Đối với xương nhỏ vì không dễ cạo sạch tủy có thể đun với dấm cứ 1kg xương dùng nước nấu rau cải cho ngập đun sôi 10 phút, sau đó dùng đá cuội xóc cho sạch tủy, đây là công đoạn quan trọng phải làm nơi xa khu dân cư để bảo đảm vệ sinh nước, rửa xương hổ phải đào hố chôn

đủ phương pháp bào chế các loại cao như: ban long, khỉ, quy bản

Cách nấu nước cao

Dùng thạp bằng đồng ở giữa đặt lồng đan bằng tre để dễ múc nước, cho xương vào chung quanh đổ ngập nước khoảng 10cm, đun sôi lửa và phải để liên tục, đun 2 ngày 1 đêm thì múc ra một lần, bên cạnh có nồi nước sôi để khi nước trong nồi cao còn 2/3 thì đổ tiếp nước vào cho ngập như lần trước Nước dùng để nấu cao thì dùng nước máy, nước mưa, hoặc nước cất thì độ an toàn cao hơn, không được dùng nước giếng Sau khi đun với thời gian 2 ngày 1 đêm còn 2/3 nước thì múc ra, tiếp tục cho nước vào đun đủ 3 lần, sau đó dồn

cả 3 nước để cô đặc thành cao Nước lần thứ nhất và lần thứ 2 cứ 6 tiếng đồng hồ thì phải đun sôi lên để tránh bị thiu Khi nấu xong cầm miếng xương bóp vụn ra là đạt yêu cầu Không nấu lần thứ 4 nước canxi trongxương tan ra làm hỏng cao

Phương pháp cô đặc cao: Lúc đầu dùng lửa đun trực tiếp lửa vừa không được đun lửa quá to khi cao gần đặc thì phải đun cách thủy để tránh cao bị cháy, bị khê, cao càng đặc thì lửa phải nhỏ dần, lúc đầu có thể ở nhiệt

Trang 12

độ 80oC xuống 60oC và 40oC lúc này phải đánh liên tục, để bay hết hơi nước và cao không bị dính.

Khi dùng dao rạch vào nồi cao mà một lúc sau mép rạch mới liền lại là được, hoặc lấy bát nước lã bỏ vào một giọt cao mà không tan là được

Khi cao đã đạt yêu cầu đổ lên khuôn (khuôn phải bôi mỡ hoặc dầu ăn để cao khỏi dính) khi đổ cao vào khuôn

để chỗ sạch, thoáng gió sau 24 giờ thì cắt thành miếng gói lại

Khi nấu xong miếng cao có màu ngà vàng, trong là loại cao tốt Nếu cao có màu đen là loại xấu

Để biết được cao hổ tốt hay xấu thì cắt một miếng nhỏ bỏ vào một chén rượu quấy nhẹ mà nước cao tan ra đục như nước gạo là cao hổ loại tốt

Cao hổ vị mặn, ấm vào kinh thận và kinh can, có tác dụng trục phong hàn, bổ gân cốt, thường dùng để điều trị các chứng phong hàn, tê bại, làm mạnh gân cốt

Ngày dùng từ 6-12g Thường ngâm với rượu uống, người không uống được rượu có thể ngâm vào mật ong, hoặc thái nhỏ cao cho nước cơm vào hấp lên uống cũng được

Người cấm dùng cao hổ: Người âm hư hỏa vượng có tăng huyết áp không được dùng cao hổ

Nấu cao hổ không làm đủ các quy trình trên thì không tốt, cao hổ có màu đen là không đạt yêu cầu

Hiện nay, một số cơ sở nấu cao hổ cho xương vào nồi áp suất ninh nhừ là điều lợi bất cập hại, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người dùng

Tại Phòng chẩn trị y học cổ truyền Tiến Hoa, ngoài dịch

vụ xông hơi thuốc Bắc còn có nhiều bài thuốc Bắc được đặc chế dùng riêng cho xông hơi thuốc và ngâm chân thuốc Bắc, đảm bảo về chất lượng, công dụng Bài thuốc xông hơi đuợc pha trộn, gia giảm theo một công thức riêng nên hương vị rất êm dịu và đặc biệt, đảm bảo người dùng sẽ cảm thấy sảng khoái và dễ chịu sau khi dùng Thuốc được sản xuất theo dạng bột nên sử dụng rất thuận tiện, có thể đun trực tiếp hoặc đặt bên trên lỗ thoát khí của máy xông hơi Rất thích hợp cho các Phòng xông hơi và Quý khách sử dụng tại nhà

Đông y bàn về xông hơi và tắm thuốc

Xông hơi thuốc và tắm thuốc là một trong những phương pháp dùng thuốc của Đông y Mục đích đưa thuốc vào cơ thể dưới dạng hơi bằng đường hô hấp, đường da, hoặc trực tiếp vào vị trí tổn

Trang 13

thương Được dùng chữa cả bệnh nội khoa và ngoại khoa, cả bệnh cấp tính và mạn tính.

Kỹ thuật xông thuốc và tắm thuốc

Chuẩn bị

Phòng chờ: Bệnh nhân nghỉ ngơi cho cơ thể bệnh tạm ổn định trước khi vào tắm hoặc xông hơi thuốc và sau

khi tắm, xông xong Bệnh nhân cần được nghỉ ngơi khoảng 5 - 10 phút

Trong phòng chờ nên có một số hình ảnh hướng dẫn về quy trình và cách sử dụng một số hệ thống đèn báo Có giường nằm cho một số bệnh nhân liệt

Phòng thay quần áo trước và sau khi tắm thuốc hoặc xông thuốc:

Phòng được thiết kế thông với phòng xông thuốc hoặc tắm thuốc nhưng phải có cánh cửa kín Trước khi vàoxông thuốc hoặc tắm thuốc thay bỏ quần áo Sau khi xông thuốc hoặc tắm thuốc xong lau người bằng khăn

ẩm, ấm hoặc tắm bằng nước ấm, tuỳ theo chỉ định cụ thể cho từng diện bệnh, sau đó lau khô người bằng khăn khô, thay quần áo sạch

Phòng xông hơi: Nếu xông từng khu vực, từng bộ phận riêng không cần phòng kín, chỉ cần 1 mảnh vải sạch

dày, gấp làm 2 lần đủ phủ kín người hoặc phủ kín vùng định xông để đưa hơi thuốc nóng vào đúng vị trí theochỉ định Tất cả bệnh nhân vào phòng xông nên đeo kính, hoặc nhắm mắt để bảo vệ mắt

Phòng tắm hơi thuốc: Phòng kín có đường dẫn hơi vào theo hướng từ dưới lên, có ghế ngồi cho bệnh nhân,

có giường nằm cho những bệnh nhân liệt Phòng có nhiệt kế quay mặt ra ngoài để tiện theo dõi và điều khiển nhiệt độ thích hợp với chỉ định điều trị; có hệ thống đèn báo đủ nhiệt độ (đèn xanh) và quá ngưỡng (đèn đỏ) kèm với chuông báo

Phòng tắm ngâm thuốc: Bảo đảm kín, có các hệ thống thông tin khi cần thiết; bồn tắm hoặc chậu tắm

Nồi thuốc xông hơi.

Bồn tắm thường làm bằng gỗ thông dầu có kích thước chiều dài từ 1,8 - 2m, chiều rộng từ 0,7 - 0,9m, chiều cao từ 0,5 - 0,6m; nên có nhiều kích cỡ khác nhau để phù hợp với từng người bệnh, sao cho khi bệnh nhân nằm ngửa đầu hơi cao chân duỗi thẳng thoải mái, nước thuốc đủ kín hết thân mình Một gối bằng gỗ thông dầu để kê cao đầu

Nồi sắc nước thuốc để ngâm tắm kín có áp suất cao đựng dược liệu và nước: Tùy theo yêu cầu của từng loại quy mô phòng xông, tắm hơi, tắm nước thuốc mà có loại nồi dung tích to, nhỏ cho phù hợp

Bếp để đun yêu cầu bảo đảm nhiệt độ đều và dễ điều khiển khi cần tăng, giảm theo chỉ định của thầy thuốc Thường dùng các loại bếp như: bếp củi, bếp than, bếp điện

Dược liệu thường dùng:

Thông thường dùng những dược liệu có mùi thơm, có tinh dầu như: bạc hà, bạc thau, bưởi bung, cà độc dược, cải trời, lá chanh, cúc hoa, cúc tần, đại toán, đơn tướng quân, địa liền, gừng, húng chanh, hương nhu,hoắc hương, hy thiêm, ích mẫu, ké đầu ngựa, kinh giới, khổ sâm, lá lốt, long não, mần tưới, mỏ quạ, ngải diệp, nghể răm, nghệ vàng, quế chi, sà sàng, sả, sắn thuyền, sơn đậu căn, thạch xương bồ, thiên lý, tía tô, trầu không, trinh nữ, trúc diệp, tỳ bà diệp, vọng cách, vông nem, xạ can, hoa bưởi, thiên niên kiện, bạch đàn hương, kim ngân hoa, trúc diệp, sài đất, lô căn, thạch xương bồ, cây cứt lợn, lậu lô, núc nác

Các bước tiến hành

Thầy thuốc

Khám chẩn đoán ra y lệnh, chỉ định phương pháp, thời gian xông thuốc hoặc tắm thuốc và hướng dẫn cho bệnh nhân những điều cần chú ý trong thời gian xông thuốc hoặc tắm thuốc

Trang 14

Bệnh nhân

Bệnh nhân nắm được những yêu câu cần thiết trong 1 liệu trình xông thuốc hoặc tắm thuốc và những bất thường xảy ra để thông báo kịp thời cho người trực tiếp theo dõi

Trình tự trong 1 lần xông thuốc hoặc tắm thuốc:

Xông hơi thuốc

Kỹ thuật viên chuẩn bị theo chỉ định của thầy thuốc bao gồm: Dược liệu, nồi xông to hay nhỏ phù hợp với chỉđịnh xông tại chỗ hay toàn thân Sau đó cho thuốc đã rửa sạch vào nồi kỹ thuật đun sôi từ 15 - 30 phút khi nào thấy mùi thơm nhiều là vừa đạt yêu cầu về hơi thuốc

Kiểm tra dụng cụ để xông như: Vải và những dụng cụ để bao, trùm kín để dẫn hơi thuốc vào toàn thân hay từng khu vực theo chỉ định và những dụng cụ cần thiết phù hợp để chuẩn bị cho bệnh nhân vào xông

Các thao tác kỹ thuật

Khi nồi thuốc xông đã đạt yêu cầu (đã có mùi thơm nhiều) trùm vải kín nồi thuốc sao cho hơi thuốc vào vị trí cần xông hay toàn thân vừa đủ nóng mà bệnh nhân chịu đựng được tránh ngạt gây khó thở, tránh nóng quá hoặc không đủ nhiệt độ để ngấm thuốc hoặc ra mồ hôi

Các bước tiếp theo:

Đối với các trường hợp cần cho ra mồ hôi thì khi mồ hôi đã ra vừa đủ bệnh nhân dùng khăn ấm, ẩm lau sạchđầu, thân, mình; sau đó lau lại bằng khăn khô, thay quần áo sạch, sang phòng chờ có thể ăn cháo hành hoặc uống nước ấm hoặc thuốc; đối với các bệnh ngoại khoa khi xông vào vị trí bị bệnh cần phải rửa bằng những nước thuốc theo chỉ định sau đó chấm bông cho khô rồi bôi thuốc Tùy theo điều kiện cụ thể và chỉ định của thầy thuốc

TTND BS Trần Văn Bản

(Nguồn Suckhoedoisong)

Châm cứu, bấm huyệt

1 Tác dụng của châm cứu theo Y học cổ truyền:

- Lập lại cân bằng âm dương: Theo lý luận YHCT, trong cơ thể âm và dương phải cân bằng nhau thì cơ thể mới khỏe mạnh, khi âm dương mất cân bằng thì sinh ra bệnh tật Điều trị bằng châm cứu là nhằm điều hòa lại cân bằng âm dương Cụ thể là: nếu chính khí hư thì phải bổ, tà khí thực thì phải tả, bệnh nhiệt thì châm, bệnh hàn thì cứu

- Điều hòa hoạt động bình thường của hệ kinh lạc: Hệ kinh lạc gồm những đường kinh (thẳng) nối từ tạng phủ ra ngoài da và những đường lạc (ngang) nối liền các đường kinh với nhau tạo thành một hệ thống chằng chịt khắp cơ thể Trong đường kinh có kinh khí vận hành để điều hòa dinh dưỡng làm con người luônkhỏe mạnh và thích ứng được với hoàn cảnh bên ngoài Mỗi đường kinh mang lại tính chất và hoạt động tùy thuộc vào công năng của tạng phủ mà nó xuất phát và mang tên

Bệnh tật phát sinh do nguyên nhân bên ngoài (tà khí), hoặc do nguyên nhân bên trong cơ thể bị suy yếu (chính khí hư) Nếu do nguyên nhân bên ngoài xâm nhập sẽ gây bế tắc sự vận hành của kinh khí, châm cứu vào các huyệt trên đường kinh để loại trừ tác nhân gây bệnh ra ngoài (gọi là khu tà) Nếu do nguyên nhân bên trong, chính khí hư, kinh khí không đủ thì châm cứu có tác dụng làm tăng kinh khí để đạt mục đích điều trị (gọi là bổ chính)

Trang 15

2 Tác dụng và cơ chế tác dụng theo học thuyết thần kinh:

Theo học thuyết thần kinh, đường đi của kinh mạch phần lớn trùng với đường đi của các dây thần kinh, ví

dụ như: đoạn kinh vị ở cẳng chân trùng với dây thần kinh chày trước, kinh Bàng quang thì trùng với dây hông to v.v Theo các nghiên cứu về thần kinh (Leweschuss 1975; Gun et al 1976), có thể chia huyệt thành

3 loại:

- Loại thứ nhất tương ứng với các điểm vận động của cơ

- Loại thứ hai, nằm trên vùng tập trung các sợi thần kinh bề mặt bắt chéo nhau trên một mặt phẳng nằm ngang

- Loại thứ ba, nằm trên các đám rối thần kinh bề mặt Cả 3 loại huyệt nhìn chung đều là nơi tập trung rất nhiều các đầu mút thần kinh (thụ cảm thể), châm cứu là một kích thích gây ra một cung phản xạ mới có tác dụng ức chế hay phá vỡ cung phản xạ bệnh lý Vogralic và Kassin (Liên xô cũ) căn cứ vào vị trí tác dụng của nơi châm cứu đã để ra 3 loại phản ứng của cơ thể, trên cơ sở này giải thích cơ chế tác dụng của châm cứu:

2.1 Phản ứng tại chỗ:

Châm cứu vào huyệt là một kích thích gây một cung phản xạ mới có tác dụng ức chế cung phản xạ bệnh lý như: làm giảm đau, giảm co thắt cơ Cơ chế được giải thích bằng Hiện tượng chiếm ức chế trội của Ukhơtômxki:

- Theo nguyên lý hiện tượng chiếm ức chế trội của Ukhơtômxki thì trong cùng một thời gian ở một nơi nào

đó của hệ thần kinh trung ương có hai luồng xung động của hai kích thích đưa tới, kích thích nào có luồng xung động mạnh hơn và liên tục hơn sẽ kéo các xung động của kích thích kia về nó và tiến tới dập tắt kích thích kia

- Bệnh lý là một kích thích (như cảm giác đau) được truyền về hệ thần kinh trung ương rồi được truyền trở

ra cơ quan có bệnh hình thành một cung phản xạ bệnh lý Châm cứu là một kích thích gây ra cung phản xạ mới, với cường độ kích thích đầy đủ sẽ ức chế ổ hưng phấn do tổn thương bệnh lý, tiến tới làm mất hoặc phá vỡ cung phản xạ này Như vậy khi châm cứu, kích thích phải đạt tới ngưỡng mà YHCT gọi là đắc khí trong thủ thuật châm tả và phải tăng cường cường độ của kích thích khi cần thiết để duy trì việc ức chế cảmgiác đau bệnh lý Hiện tượng chiếm ức chế trội cho phép giải thích tác dụng giảm đau của châm cứu trên các A thị huyệt và vùng lân cận

- Theo YHCT khi châm cứu đúng huyệt sẽ thấy cảm giác đắc khí: tê tức nặng, da vùng châm đỏ hoặc tái, cócảm giác kim bị hút chặt xuống Theo các nhà thần kinh, hiện tượng đó chỉ xảy ra ở vùng nhiều cơ, do kim kích thích làm co cơ, thay đổi vận mạch và tác động lên thần kinh cảm giác sâu

Trang 16

2.2 Phản ứng tiết đoạn:

- Khi nội tạng có tổn thương bệnh lý thì sẽ biểu hiện bằng những thay đổi cảm giác vùng da ở cùng tiết đoạn của nó Ngược lại dùng châm cứu kích thích vào các huyệt ở vùng da đó sẽ có tác dụng điều chỉnh các rối loạn bệnh lý của tạng phủ tương ứng trong cùng tiết đoạn Phản ứng tiết đoạn cho phép giải thích tác dụng chữa bệnh của các du huyệt như châm Vị du có thể cắt cơn đau dạ dày, châm Phế du có thể cắt

cơn hen Phản ứng tiết đoạn được giải thích bằng Thuyết về phép quy chiếu.

2.3 Phản ứng toàn thân:

- Khi điều trị một số bệnh, người ta dùng một số huyệt không ở cùng với vị trí đau và cũng không ở cùng tiếtđoạn với cơ quan bị bệnh, vậy tác dụng điều trị của nó thông qua phản ứng toàn thân Cơ chế tác dụng toàn thân được giải thích bằng nguyên lý hiện tượng chiếm ức chế của vỏ não Ngoài ra khi châm cứu gây những biến đổi về thể dịch và nội tiết, thay đổi các chất trung gian hóa học, như tăng số lượng bạch cầu, tăng tiết opiat nội sinh gây giảm đau, tăng tiết kích thích tố ACTH, tăng số lượng kháng thể Thuyết về phản ứng toàn thân cho phép giải thích tác dụng châm cứu của các huyệt ở xa vị trí bệnh lý và một số huyệt có tác dụng toàn thân, như Hợp cốc, Nhân trung

Phục hồi chức năng

Phòng Chẩn trị Y học cổ truyền Tiến Hoa trang bị hệ thống các thiết bị phục hồi chức năng hiện đại được nhập từ các nước có nền y học tiên tiến như : Nhật Bản, Italy, Australia…, đảm bảo các tiêu chuẩn an toàn quốc tế và hiệu quả điều trị cao.

a Kéo giãn cột sống

Trang 17

Phòng Chẩn trị Y Học cổ truyền Tiến Hoa trang bị 02 hệ thống kéo giãn cổ, cột sống, bao gồm:

+Hệ thống kéo giãn T5021 của NIHON MEDIX, Nhật Bản với hai đầu kéo: kéo giãn cột sống thắt lưng

và kéo giãn cột sống cổ kết hợp chườm nhiệt Không giống với các loại giường sản xuất tại Châu

Âu, Giường kéo giãn của Nhật Bản được nhiệt đới hoá, Châu Á hoá nên rất phù hợp với người Việt Nam

+Hệ thống kéo giãn cột sống BTL 16 Plus của Bulgaria với bàn kéo giãn nâng hạ bằng điện, đạt tiêu

chuẩn CE, tiêu chuẩn ISO 9001

Kéo giãn cột sống (tiếng Anh: traction therapy) là phương pháp dùng lực cơ học tác động theo chiều dọc của cột sống nhằm làm giãn nở khoảng cách các khoang gian đốt để đem lại hiệu quả điều trị

Tác dụng

• Làm giãn cơ tích cực

• Làm tăng thẩm thấu nuôi dưỡng đĩa đệm, giúp nhân nhày và đĩa đệm căng phồng trở lại, tăng dinh dưỡng cho đĩa đệm do đó làm giảm quá trình thoái hóa của đĩa đệm

• Có thể giúp thu nhỏ thể tích đĩa đệm bị lồi hoặc thoát vị nếu khối thoát vị chưa bị xơ hóa

• Điều chỉnh sai lệch của khớp đốt sống và cột sống: trong thoái hóa hoặc thoát vị đĩa đệm do chiều cao khoang gian đốt giảm làm di lệch diện khớp đốt sống Kéo giãn cột sống làm điều chỉnh di lệch, tăng tính linh hoạt của khớp đốt sống và giải phóng sự khóa cứng của các khớp đốt sống

• Giải phóng sự chèn ép lên các rễ và dây thần kinh sống: do làm tăng kích thước lỗ tiếp hợp, giảm thể tích khối thoát vị… từ đó làm giảm kích thích rễ và giảm đau

Trang 18

Paraffin có nhiệt dung cao, nhiệt độ của khối paraffin nóng giảm rất chậm, nên có thể truyền nhiệt cho cơ thể một lượng nhiệt lớn trong thời gian tương đối dài Do vậy nhiệt do paraffin truyền có thể vào tương đối sâu

Trang 19

Nhiệt do paraffin cung cấp là nhiệt ẩm, kích thích tăng tiết mồ hôi, nhưng mồ hôi này vẫn còn đọng lại làm cho da luôn ẩm, mềm mại và tăng tính đàn hồi (các phương pháp nhiệt khác gây bốc hơi mồ hôi làm cho dakhô và giòn).

Điều trị bằng paraffin không bị bỏng: khi paraffin nóng chảy ở nhiệt độ 52-53°C tiếp xúc với da ngay lập tức lớp paraffin tiếp xúc sẽ đông lại và giảm nhiệt độ tạo thành một lớp màng ngăn cách giữa paraffin nóng với

da nên không gây bỏng Trái lại với nước nóng trên 42°C đã có thể gây bỏng do không có tính chất trên

+Điện xung

Phòng Chẩn trị Y học cổ truyền Tiến Hoa được trang bị máy Điện xung Therapic 7200 EME của ITALY , với hàng trăm chương trình bệnh có sẵn và các chương trình tự cài đặt, điều trị đồng thời cho nhiều nhóm cơ và bệnh nhân khác nhau.

Điện xung trị liệu (electrotherapy) là một phương pháp điều trị trong vật lý trị liệu bằng các xung điện có tần

số thấp và trung bình

Tác dụng giảm đau và giảm trương lực cơ

• Dùng các dòng như Diadynamic,Burst - TENS có tác dụng giảm đau rõ rệt, giảm trương lực cơ co thắt,thư giãn cơ

Tác dụng kích thích thần kinh cơ

Các dòng điện xung có tần số thấp như dòng tam giác, chữ nhật, AMF, giao thoa, kiểu Nga có tác dụng kích thích thần kinh cơ, làm tăng dẫn truyền thần kinh, tăng trương lực cơ, tăng khối lượng cơ

Chỉ định điều trị

Trang 20

• Tăng dinh dưỡng tổ chức, tái tạo tế bào, nhanh lành vết thương

• Giảm đau: đau lưng, đau cổ vai, đau cơ, đau thần kinh ngoại vi, đau khớp, đau chấn thương

• Điều trị liệt, các dạng tê chân, tay…

Tác dụng của dòng điện 1 chiều đều:

*Tác dụng giãn mạch: Tác dụng giãn mạch sẽ làm tăng cường tuần hoàn và dinh dưỡng, tăng chuyển hóa, chống viêm Cơ chế do dòng điện tác dụng trực tiếp lên hệ thần kinh vận mạch

*Tác dụng lên hệ thần kinh: Tại cực dương có tác dụng giảm đau, giảm co thắt, giảm trương lực cơ Tại cựcâm: có tác dụng kích thích, làm tăng trương lực cơ

Xông hơi thuốc Bắc

Đến với Phòng chẩn trị YHCT Tiến Hoa, Quý khách sẽ được kết hợp điều trị bằng nhiều phương pháp trị liệu khác nhau, xông hơi thuốc Bắc là một trong những phương pháp vật lý trị liệu đem lại hiệu quả cao trong điều trị, không gây tác dụng phụ Bằng các bài thuốc được đặc chế dùng riêng cho xông hơi, với các dược liệu được chọn lọc và gia giảm phù hợp, bài thuốc xông hơi của Phòng Chẩn trị YHCT Tiến Hoa có một hương vị êm dịu, rất riêng biệt Quý khách sẽ cảm thấy thực sự khoan khoái và dễ chịu sau khi sử dụng

Chữa bệnh bằng phương pháp xông hơi

Trang 21

Ra mồ hôi là một hình thức điều tiết thân nhiệt của cơ thể do hệ thần kinh tự động điều khiển Từ lâu y học dân gian đã biết lợi dụng cơ chế nầy để trị bệnh qua hình thức xông hơi bằng nồi nước xông Việc tăng tiết mồ hôi và giãn nở những mạch máu ngoại biên qua xông hơi không những có thể giúp giải cảm, hạ sốt mà còn được vận dụng để làm tiêu thủng tán thấp,

hạ cao huyết áp và giải độc cho cơ thể trong nhiều trường hợp khác nhau.

Trong y học cổ truyền, giải biểu là phương pháp dùng những phương dược làm cho ra mồ hôi, phát tán biểu tà để chữa những chứng cảm mạo giai đoạn đầu khi tà khí còn trệ đọng ở da thứa hoặc kinh lạc Với cùng mục đích nhưng đơn giản mà ít tốn kém dân gian thường dùng cách xông hơi bằng nồi xông Hơi nước nóng bốc lên từ nồi xông làm giãn nở mạch máu dưới da vừa kích thích lưu thông khí huyết vừa thúc đẩy việc đào thải hàn khí hoặc thấp khí ra khỏi cơ thể theo đường mồ hôi Do đó xông hơi có thể làm giải cảm hoặc hạ sốt

Xông hơi trị huyết áp cao

Quá trình xông hơi làm giãn nở mạch máu ngoại biên vừa tăng tiết mồ hôi để thông thoát bớt nước ra khỏi

cơ thể Cả hai yếu tố nầy đều có tác dụng giảm nhẹ áp lực lên tim và lên thành mạch Việc bài tiết nước ra khỏi cơ thể bằng đường mồ hôi không những không làm mệt Thận mà còn tránh được những phản ứng phụkhông cần thiết khi phải dùng những chất hoá dược lợi tiểu để làm hạ huyết áp Ngoài ra do tính tương tác giữa thần kinh và cơ, việc giãn nở những cơ trơn của thành mạch máu còn có tác dụng điều hoà thần kinh giao cảm Đây cũng là lý do cho thấy xông hơi có thể giải toả căng thẳng và giảm stress Áp huyết cao thường kèm theo tình trạng cường cơ, gia tăng hoạt động của thần kinh giao cảm và sự tăng tiết chất adrenalin Những hệ quả nầy lại tác động ngược trở lại để tiếp tục làm tăng huyết áp Trái lại việc giãn mạchdưới da, thư giãn được các cơ trơn sẽ có tác dụng ức chế giao cảm, điều hoà nội tiết và làm hạ huyết áp Như vậy biện pháp xông hơi đã đảm bảo được một số cơ chế quan trọng để làm hạ huyết áp cao Do đó bên cạnh việc tuân thủ một chế độ ăn uống và sinh hoạt hợp lý việc xông hơi nhẹ từ 1 đến 3 lần mỗi tuần rất hữu ích cho những người có tiền sử áp huyết cao hoặc đang phải sống đồng hành cùng huyết áp cao

Xông hơi giải độc

Trang 22

Quá trình trao đổi chất và cung cấp năng lượng trong cơ thể tạo ra những sản phẩm không cần thiết và thậm chí có hại cho cơ thể cần phải được đào thải

ra ngoài Việc bài tiết những cặn bả sinh học và những chất độc hại thường thông qua 4 đường Đó là đường thở, đường đi tiêu, đường đi tiểu, đường mồ hôi Trên mặt da có khoảng 2,5 triệu tuyến tiết mồ hôi Một người trung bình tiết ra khoảng 1 lít mồ hôi mỗi ngày Nếu xông hơi có thể tiết đến 2 hoặc 3 lít mỗi ngày

Do đó hình thức xông hơi bằng nồi xông có thể giúp tăng cường giải độc cho nhiều trường hợp khác nhau

mà không phải đưa vào cơ thể bất cứ dược chất gì

Trước hết xông hơi có thể giúp trục thuỷ giải độc rất có hiệu quả trong các chứng sưng phù, ứ nước do gan,

do thận hoặc do tim Quá trình xông hơi nhiệt độ dần dần tăng lên khiến cơ thể phân huỷ một lượng mở nhất định để điều hoà thân nhiệt Do đó biện pháp xông hơi phối hợp với việc ăn uống và vận động hợp lý cũng hữu ích cho việc chống béo phì Liệu pháp xông hơi cũng có thể được dùng để giải độc ma tuý sau cainghiện Một chương trình nghiên cứu về phương pháp giải độc nầy đã được ông L.Ron Hubbard tiến hành

và công bố vào năm 1979 Ông cho biết việc xông hơi để thúc đẩy bài tiết chất độc theo đường mồ hôi phối hợp với việc uống bù nước và chế độ ăn uống nhiều rau tươi, bổ sung sinh tố, khoáng chất là một phương pháp rất có hiệu quả để giải độc và hồi phục sau cai nghiện

Xông hơi trị bệnh phong thấp

Ngoài việc xông hơi toàn thân ta cũng có thể vận dụng cách xông hơi cục bộ để giải quyết yêu cầu điều trị riêng lẻ cho một khu vực nhất định trên cơ thể Xông hơi vùng lưng, vùng hạ thể (từ lưng xuống chân), hoặcchỉ 2 bàn tay, hai bàn chân hoặc 2 khớp gối để chữa đau nhức trong các chứng phong thấp, thấp khớp

Công nghệ bào chế thuốc sạch và sắc thuốc tự động

Máy sấy thuốc

Phòng Chẩn trị Y học cổ truyền Tiến Hoa có một dây chuyền sản xuất thuốc hiện đại Dược liệu được chọn lọc

và bào chế theo công nghệ đảm bảo vệ sinh, không chứa chất bảo quản, thuốc được sấy bằng máy, giữ nguyên chất lượng và công dụng của dược liệu.

Phòng Chẩn trị Y học cổ truyền Tiến Hoa có dịch vụ sắc thuốc, đóng túi theo công nghệ hiện đại nhất của Hàn Quốc.

Trang 23

* Thuốc được sắc, ép theo một quy trình khép kín, liên hoàn, đảm bảo chất lượng tốt nhất, chiết xuất tối ưu các chất có trong dược liệu, không bị bay hơi, mất khí vị của thuốc và đảm bảo vệ sinh theo tiêu chuẩn dược phẩm.

* Thuốc sắc theo công nghệ này thơm ngon hơn, chất lượng hơn rất nhiều so với sắc bằng phương pháp

thông thường - phát huy tối đa tác dụng điều trị của thuốc

* Thuốc được đóng gói trong môi trường vô khuẩn và nhiệt độ sôi, với bao bì đặc biệt, nên có thể bảo quản thuốc trong thời gian dài 3 tháng = 90 ngày mà vẫn đảm bảo giữ nguyên chất lượng thuốc

Trang 24

* Chi phí rẻ hơn nhiều so với sắc thuốc theo cách thông thường bằng ga và điện.

* Tiết kiệm thời gian sắc thuốc

* Thuốc được chia liều rất tiện lợi cho sử dụng Mỗi túi dung tích 120 - 130 ml Mỗi lần quý vị uống 01 túi, ngày 2-3 lần Quý vị có thể mang túi thuốc nhỏ bé theo người, khi dùng chỉ cần cắt chéo túi thuốc và uống

I THUỐC CHỮA BỆNH TIÊU HÓA

Một số bài thuốc chữa đau dạ dày đơn giản mà hiệu nghiệm

Sau đây là một số bài thuốc khác:

- Xương cá mực 30 g, thịt gà 150 g, gừng 2 nhánh, táo tàu 2 quả, tất cả cho nước vào ninh nhừ, ăn cả nước lẫn cái; có tác dụng chữa đau dạ dày, hành tá tràng do thừa axit

- Nước ép cải bắp 250 g nấu sôi, uống trước bữa ăn ngày 2 lần, liên tục trong 10 ngày sẽ hết đau và lành dần vết loét ở dạ dày, hành tá tràng

- Củ cải và ngó sen tươi lượng bằng nhau, rửa sạch, giã nát, lọc lấy nước uống ngày 2 lần, mỗi lần 50 g; cótác dụng chữa xuất huyết dạ dày

- Mỗi ngày uống 100 mg vitamin E chia 3 lần, liên tục trong 2-3 tuần Có thể kết hợp với việc uống mật ong

BS Ngô Quang Thái, Nông Nghiệp Việt Nam

Món ăn, bài thuốc giúp hệ tiêu hóa khỏe mạnh

Trong cuộc sống hiện đại, hệ tiêu hóa của con người rất dễ bị quá tải do chế độ sinh hoạt hàng ngày, lúc thì quá no, lúc lại quá đói Thêm vào đó, các loại thực phẩm, đồ ăn, nước uống còn ẩn chứa nhiều hiểm nguy như: thuốc trừ sâu, lạm dụng hóa chất bảo quản, chất tạo màu, mùi và vị Ngoài ra việc sử dụng thuốc

Trang 25

kháng sinh chữa bệnh dài ngày sẽ dẫn tới mất cân bằng hệ vi sinh đường ruột Tất cả các nguyên nhân trênkhiến hệ tiêu hóa bị rối loạn Ngoài việc dùng thuốc, chúng tôi xin giới thiệu những món ăn bổ dưỡng giúp cho hệ tiêu hóa khỏe mạnh để bạn đọc tham khảo và áp dụng.

Cháo thịt dê, cao lương: Thịt dê 100g, gạo cao lương 100g, muối ăn vừa đủ Thịt dê rửa sạch thái quân cờ, cho cùng gạo cao lương đãi sạch, nước 1 lít nấu loãng cho chút muối ăn ngày 2-3 lần mỗi lần 1 bát Dùng cho các chứng bệnh tỳ, vị hư nhược, rối loạn tiêu hoá

Cháo cá diếc, táo đỏ: Cá diếc 250g, táo đỏ 50g, gạo lức 100g, hành, gừng, rượu vang, muối tinh vừa đủ

Cá diếc làm vẩy, bỏ mang và nội tạng, rửa sạch cắt miếng, cho vào nồi, cùng với nước, rượu vang, hành, gừng, muối nấu chín nhừ, dùng sàng lọc bỏ bã, lấy nước, cho gạo đãi sạch, táo đỏ thêm nước vừa đủ, đun nhỏ lửa từ từ đến khi hạt gạo nở ra, cho muối vừa đủ là được Dùng cho các chứng bụng lạnh đau do tràng

vị bất hoà, chống nôn mửa, chân tay phù thũng Ngày 1 bát, chia ăn vài lần không nên ăn các thức ăn sống nguội lạnh

Cháo ca la thầu: Ca la thầu 50g, thịt dê chín 50g, hành lá 5g, gừng lá 5g, muối tinh 2g, mì chính 2g, dầu thơm 25g, gạo nếp 100g Ca la thầu rửa sạch cắt vụn, thịt dê chín cũng thái vụn, sau đó cho dầu ăn vào xào qua ca la thầu, thịt dê cho thơm, cho 1 lít nước và gạo nếp đãi sạch vào, ban đầu lửa to đun sôi, sau lửa nhỏ nấu đến khi hạt gạo nở ra lại cho tiếp hành, gừng, muối vừa đủ đun qua là được Dùng cho chứng

ăn không tiêu, bụng lạnh đau, tiêu khát, hoàng đản Ngày 1 bát, chia ăn vài lần

Cháo ngưu đỗ (bao tử trâu, bò), song nha: Ngưu đỗ (bao tử bò) 100g, cốc nha 30g, mạch nha 30g, mề gà 100g, gạo lức 50g, muối ăn vừa đủ Ngưu đỗ rửa sạch, cắt quân cờ, cốc nha, mạch nha, mề gà cho vào túi vải, cho tiếp gạo lức đãi sạch, cùng ngưu đỗ, túi vải vào nồi, đổ nước nấu chín nhừ, cho gia vị là dùng được Dùng cho các chứng rối loạn chức năng tiêu hoá và chứng cam tích Ngày 1 bát, chia ăn vài lần.Cháo bát bảo: Khiếm thực 6g, sơn dược 6g, phục linh 6g, liên nhục 6g, nhân ý dĩ 6g, bạch biển đậu 6g, đẳng sâm 6g, bạch truật 6g, gạo lức 150g Lấy 8 vị thuốc đầu rửa sạch, cho nước nấu khoảng 40 phút, bỏ

bã lấy nước, cho gạo lức đãi sạch vào nước thuốc, nấu đến khi được cháo, cho gia vị vào dùng Dùng cho các chứng bệnh hấp thu kém do tỳ vị hư nhược Ngày 1 bát, chia ăn vài lần

Cháo lá lách, bao tử lợn, cà rốt: Lá lách 100g, bao tử lợn chín 50g, cà rốt 100g, rượu vang 5g, dầu ăn 25g, bột hồ tiêu 2g, hành lá 5g, gừng 5g, gạo lức 100g, gia vị vừa đủ Lá lách, bao tử lợn và cà rốt rửa sạch, cắt nhỏ hạt lựu, cho dầu ăn vào nồi, cho lá lách, bao tử lợn, cà rốt vào xào qua, cho rượu vang vào, cho tiếp 1

Trang 26

lít nước, gia vị, hành gừng, gạo lức đãi sạch vào rồi nấu cháo, cháo chín cho bột tiêu vào là được Dùng cho các chứng tỳ vị khí hư, rối loạn tiêu hoá Ngày 1 bát, chia ăn vài lần.

Cháo thần khúc: Thần khúc 10-16g, gạo lức 100g Thần khúc giã nát, cho 200ml nước nấu còn 100ml nước, bỏ bã lấy nước, cho gạo lức đãi sạch vào với 600ml nước nấu cháo loãng Dùng cho các chứng bệnh rối loạn tiêu hoá, ăn tích khó tiêu, đại tiện nước lỏng và người cảm mạo phong hàn Ngày 1 bát, chia

ăn hai bữa sáng tối

Cháo quả sung: Sung quả 50g, đường phèn 100g, gạo lức 100g Sung rửa sạch, cắt nhỏ, cho gạo lức đãi sạch vào nồi, nước 1 lít, đun sôi, cho sung và đường phèn vào nấu cháo Dùng cho các chứng bệnh khôngmuốn ăn, rối loạn tiêu hoá, viêm ruột, kiết lỵ Ngày 1 bát, chia ăn vài lần

Cháo phật thủ, đường phèn: Phật thủ 15g, đường phèn 15g, gạo lức 100g Phật thủ rửa sạch, cho nước đun, bỏ bã lấy nước, sau đó cho gạo lức đãi sạch, đường phèn vào nấu cháo Dùng cho chứng người già

dạ dày yếu, không thích ăn, rối loạn tiêu hoá, nôn mửa khó chịu Ngày 1 bát, chia ăn vài lần

Món ăn dành cho người viêm tụy

Đông y cho rằng viêm tuyến tụy thuộc phạm trù "đau bụng", "triệu chứng quyết" Viêm tuyến tụy bao gồm hai thể là viêm tuyến tụy cấp tính và viêm tuyến tụy mạn tính Viêm tuyến tụy cấp tính có thể chia thành loại phù thũng và loại xuất huyết ngoại tử Viêm tuyến tụy mạn tính lại chia ra 3 loại là viêm tuyến tụy mạn tính tái phát, viêm tuyến tụy mạn tính dạng không tái phát và viêm tuyến tụy mạn tính dạng không đau

Nguyên nhân bệnh do ăn uống, bệnh đường mật, uống nhiều rượu Biểu hiện trong giai đoạn cấp là phần bụng trên đau dữ dội kéo dài và tăng nặng thành cơn kèm buồn nôn, nôn mửa, sốt nhẹ Trường hợp xuất huyết hoại tử thì có thể đau cả phần bụng trên, mức độ rất nghiêm trọng, nhịp tim tăng nhanh, nhiệt độ cơ thể tăng cao, sốc, bụng trướng, xuất huyết đường tiêu hóa trên, phần eo xuất hiện các ban da màu lam, lục,nâu, quanh rốn xuất hiện các biến đổi màu lam

Bên cạnh việc dùng thuốc thì chế độ ăn uống cũng rất quan trọng đối với người bệnh bị viêm tụy Dù viêm tuyến tụy cấp hay mạn tính đều nên ăn lượng ít, nhiều bữa, kiêng tuyệt đối bia rượu, thức ăn mềm, hạn chếmỡ

Trang 27

Sau đây là một số món ăn bài thuốc có tác dụng hỗ trợ trị bệnh, bạn đọc có thể tham khảo:

Bài 1: Xích đậu 150g, đậu xanh 150g, sinh ý dĩ nhân 50g, thêm nước vừa đủ, nấu canh uống nhạt, mỗi giờ 50ml, cả ngày đêm, dùng cho người viêm tuyến tụy cấp tính loại phù và viêm tuyến tụy mạn tính phát cơn tái phát cấp tính, có công dụng giải nhiệt, giải độc thông ẩm

Bài 2: Mướp già 1.500g, rửa sạch, giã lấy nước uống, mỗi giờ 50ml, cả ngày đêm, dùng cho người viêm tuyến tụy phát cơn cấp tính

Bài 3: Lông ngỗng 20g, trong nồi nhôm sao xém (không cho mỡ), nghiền bột, đậu phụ 50g, sắc nước chiêu uống, chia 2 lần uống hết, dùng cho người viêm tuyến tụy phát cơn cấp tính

Bài 4: Miết giáp (mai ba ba) 1 cái, đốt tồn tính, nghiền bột mịn, uống với dầu vừng, mỗi lần 0,3g, ngày 3 lần, sau bữa ăn, dùng cho người bệnh viêm tuyến tụy mạn tính

Bài 5: Khoai môn 250g, rửa sạch, giã sống lấy nước, dùng nước sôi ngâm nóng, mỗi lần uống 50ml, số lần dựa theo tìnha trạng bệnh mà xác định Hoặc khoai môn thêm nước đun kỹ lấy nước, uống, dùng cho ngườibệnh viêm tuyến tụy cấp, mạn tính, loại xuất huyết hoạt tử giai đoạn thuyên giảm, nếu không có cấm kị, cũng có thể chọn dùng

Trang 28

Thể cấp tính: Nguyên nhân chính là do vấn đề ăn uống không hợp vệ sinh, thức ăn ôi thiu, thức ăn khó

tiêu, do kiết lỵ, do giun sán

Biểu hiện: Đau bụng từng đoạn hoặc đau dọc theo khung đại tràng, tiêu lỏng dai dẳng, đôi khi có sốt Viêm đại tràng trái hoặc viêm đại tràng sigma: Mót đi ngoài nhiều lần (10-20 lần) trong 24 giờ, cảm giác căng đầy trực tràng, phân lỏng có nhầy và có thể có máu

Viêm đại tràng phải và manh tràng: Phân lỏng, mùi thối, số lần ít hơn (3-6 lần) trong 24 giờ

Hiện tượng co thắt đại tràng: Ở vùng đại tràng bị viêm trong cơn đau bệnh nhân có cảm giác cứng bụng, sờthấy đại tràng nổi lên thành đoạn, thành cục và tan dần đi ở dưới bàn tay Nếu viêm đại tràng vùng thấp trong cơ co thắt có thể đẩy phân ra hậu môn Bệnh thường nhẹ, nếu được điều trị sớm và đúng hướng thì chỉ trong vòng 2-3 ngày là khỏi

Thể mạn tính: Do viêm tiểu đại tràng cấp, điều trị không đến nơi đến chốn, bệnh dần chuyển thành mạn

tính Do lỵ trực khuẩn hoặc lỵ amíp để lại tổn thương ở ruột Do nhiễm trùng Coli, protéus (loại trực khuẩn này thường xuyên có trong ruột, gặp khi rối loạn tiêu hóa, sức đề kháng giảm sút trở thành vi khuẩn gây bệnh) Nhiễm độc do urê huyết tăng, do thủy ngân Do lao ruột, do ký sinh trùng giun, sán, do táo bón lâu ngày, do rối loạn thần kinh thực vật

Biểu hiện: Miệng đắng, kém ăn, lưỡi to Đại tiện thất thường, mót đi ngoài sau khi ăn (phản xạ dạ dày - đại tràng) Đau bụng, trướng hơi Có thể đau toàn bộ đại tràng, có thể đau từng vùng Phân táo, lỏng xen kẽ Đại tràng co thắt gây đau quặn từng cơn Viêm manh tràng ngang gây nặng bụng, trướng hơi Viêm đại tràng sigma, sờ thấy đau, đại tiện nhiều lần Viêm trực tràng cảm giác nóng rát hậu môn, mót đi ngoài luôn

và đau

Đối với viêm đại tràng mạn điều trị phải kiên trì, chú ý tới vệ sinh trong ăn uống không ăn thức ăn khó tiêu, thức ăn ôi nguội Tránh ăn thức ăn rán, gia vị, đồ hộp Nên ăn thức ăn có nhiều vitamin

Táo bón: Ăn tăng rau tươi, chuối, khoai hầm, tiêu lỏng không nên ăn sữa, vì sữa dễ lên men sinh hơi

Theo y học cổ truyền viêm đại tràng thuộc phạm trù "phúc thống" (đau bụng) hoặc "đại tràng ung" (viêm đại tràng) Viêm đại tràng là bệnh ở tỳ vị do nhiều nguyên nhân xảy ra

Viêm đại tràng thường thể hiện ở 2 thể:

- Tỳ hư khí trệ

- Táo kết co thắt

Thể tỳ hư khí trệ: Biểu hiện bụng đầy, nóng ruột, sôi bụng (âm hư sinh nội nhiệt), khí thượng nghịch, đi ngoài nhiều lần, đau về đêm và gần sáng Tinh thần lo lắng, đau vùng hạ vị từng cơn, có lúc trung tiện đượccảm giác dễ chịu, bụng sôi, óc ách, rêu lưỡi trắng dày, mạch tế sác

Bài thuốc 1: Đẳng sâm 16g, đại táo 3 quả, hoàng kỳ 12g, bạch truật 16g, phục thần 12g, táo nhân 12g, quế tiêm 6g, mộc hương 8g, trích thảo 6g, đương quy 10g, viễn chí 6g, gừng nướng 4 lát Sắc uống ngày một thang

Bài thuốc 2: Đẳng sâm 16g, đại táo 3 quả, hoàng kỳ 12g, bạch truật 16g, xuyên quy 12g, táo nhân 12g, trần

bì 6g, hoàng tinh 12g, sinh địa 16g, cam thảo 6g, viễn chí 6g, mạch môn 16g Sắc uống ngày một thang.Thể táo kết co thắt: Thường do suy nghĩ, đau buồn (thất tình), ngồi nhiều, ít hoạt động, suy dinh dưỡng Triệu chứng thường thấy đầy hơi, ăn không tiêu, đau từng cơn vùng hạ vị tùy theo khung đại tràng co thắt, người mệt mỏi, ăn ngủ kém, lo lắng, đi ngoài táo kết hoặc phân đầu táo (khô), đuôi nhão, có lúc nhầy mũi Dùng một trong 2 bài thuốc sau:

Bài thuốc 1: Đẳng sâm 16g, lá mơ lông 16g, hoàng kỳ 12g, chỉ xác 8g, sinh địa 16g, rau má 16g, đại hoàng 4g, ngải tượng 12g, trần bì 6g, toan táo nhân 12g, viễn chí 6g, táo 3 quả Sắc uống ngày một thang dùng 10ngày liền

Trang 29

Bài thuốc 2: Đẳng sâm 16g, đại táo 3 quả, hoàng kỳ 12g, bạch truật 12g, xuyên quy 12g, táo nhân 12g, trần

bì 6g, hoàng tinh 12g, sinh địa 16g, cam thảo 6g, viễn chí 6g, mạch môn 16g Sắc uống ngày một thang, dùng 10 ngày liền

(Theo (Theo Sứckhỏe&đờisống))

Tự chữa bệnh trĩ bằng Đông y

Do quan niệm "thập nhân cửu trĩ" (mười người thì 9 người bị trĩ) nên kho tàng kinh nghiệm chữa trĩ của Đông y rất phong phú và hiệu quả Bạn có thể tham khảo một số bài thuốc và cách thức bấm huyệt để điều trị bệnh này

Bách hội có vị trí nằm chính giữa đỉnh đầu, giao điểm của đường chính trung và đường nối hai đỉnh vành tai Theo tài liệu cổ, bách hội là nơi hội tụ của lục phủ ngũ tạng, có tác dụng nâng được dương khí bị hạ hãm

Túc tam lý là huyệt thuộc kinh Túc dương minh vị, có vị trí nằm ở gần đầu gối, cách hõm ngoài đầu gối ngang một bàn tay khoảng 3 thốn Khi phối hợp với huyệt Thừa sơn, nó có tác dụng sơ thông trệ khí ở tràng vị (ruột và dạ dày) Cổ nhân cho rằng tràng vị hòa thì nhiệt độc được thanh, bệnh lỵ và trĩ sẽ khỏi

Trang 30

Thừa sơn là huyệt thuộc kinh Túc thiếu dương bàng quang, nằm ở bắp chân, chỗ trũng của 2 bắp cơ sinh đôi, khi co bắp chân sẽ hiện rõ khe của cơ sinh đôi này Theo Đông y, Thừa sơn có tác dụng làm mát huyết, điều hòa khí các phủ, trị trĩ, sa trực tràng.

Thượng liêm là huyệt thuộc kinh Thủ dương minh Đại tràng, nằm dưới đầu ngoài nếp gấp ở khuỷu tay 3 thốn

Dùng thuốc nam đơn giản

Ổi vừa chín tới, gọt bỏ vỏ ăn một ngày vài quả Bạn kiểm chứng sẽ thấy cái hay của bài thuốc này Nếu như

ăn cả vỏ thì có thể gây táo bón, nhưng nếu gọt vỏ thì có tác dụng như thuốc nhuận tràng

Rau sam tươi, rửa sạch, giã nát, đắp vào hậu môn, nơi trĩ sưng lòi ra

Chữa hậu môn sưng đau, lở nứt, lòi dom (sa trực tràng): Chua me đất, rau sam, mỗi thứ một nắm, bồ kết 1 quả giã nhỏ, nấu nước ngâm rửa, 1-2 lần/ngày

Theo Sức khỏe & đời sống

Bệnh trĩ- dùng thuốc như thế nào

Tôi 36 tuổi, sau khi sinh cháu thứ 2, tôi mắc bệnh trĩ khá nặng nên mỗi lần đại tiện tôi bị chảy máu Tệ hơn

là gần đây tôi thấy trĩ bị sa ra ngoài nên tôi hay bị đau và ngứa Chồng tôi khuyên nên đi mổ cắt trĩ nhưng tôirất ngại và lo sợ, tôi muốn được dùng thuốc để điều trị bệnh Xin quý báo cho biết loại thuốc nào có thể điềutrị được bệnh của tôi?

Nguyễn Thị Xuyến (Bắc Ninh)

Bệnh trĩ gặp nhiều ở những người phải thường xuyên đứng lâu hay ngồi nhiều như nhân viên văn phòng, lái xe đường dài hoặc phụ nữ sau sinh, người bị táo bón lâu dài Theo thư chị kể thì chị đã bị mắc bệnh trĩ sau sinh Để điều trị bệnh này trước hết cần ngăn chặn các yếu tố thuận lợi phát sinh bệnh trĩ bằng cách: tránh các chất kích thích như cà phê, rượu, trà, các thức ăn nhiều gia vị như ớt, tiêu; uống nước đầy đủ, ăn nhiều chất xơ Tập thể dục và chơi các môn thể thao nhẹ như bơi lội, đi bộ

Điều trị các bệnh mạn tính hiện có như viêm phế quản, giãn phế quản, bệnh lỵ Tập thói quen đi cầu đều đặn hàng ngày Một số thuốc có thể sử dụng trong điều trị bệnh trĩ ở giai đoạn 1 và 2 như các loại thuốc có tác dụng làm giảm tính căng giãn của tĩnh mạch, giảm ứ trệ ở tĩnh mạch đồng thời làm bình thường hóa tính thấm của mao mạch và tăng cường sức bền của mao mạch Vì vậy, thuốc được chỉ định điều trị các triệu chứng có liên quan đến suy tuần hoàn tĩnh mạch bạch huyết, các dấu hiệu chức năng có liên quan đếncơn đau trĩ cấp Tuy nhiên, thuốc không nên sử dụng cho phụ nữ đang cho con bú Khi dùng thuốc có thể gặp rối loạn tiêu hóa và rối loạn thần kinh thực vật nhẹ, không cần phải ngưng điều trị

Nếu bệnh nhân có táo bón, cần sử dụng các thuốc điều trị táo bón nhưng chỉ sử dụng các thuốc tạo khối phân, tránh sử dụng các thuốc nhuận tràng và thuốc sổ sẽ làm tình trạng táo bón nặng hơn

Ngoài ra, cần dùng cùng với các thuốc đặt tại chỗ là các tác nhân kháng viêm, vô cảm tại chỗ

Tuỳ theo mức độ tổn thương, vị trí và số lượng búi trĩ mà có thể sử dụng các biện pháp điều trị vật lý như tiêm xơ, thắt vòng cao su, quang đông hồng ngoại

Tuy nhiên, để có lời khuyên cụ thể cho trường hợp của chị là điều trị bằng phương pháp nội khoa hay ngoạikhoa thì chị cần đến chuyên khoa tiêu hóa để được thăm khám cụ thể Tuỳ thuộc vào tình trạng bệnh của chị, bác sĩ sẽ có chỉ định cụ thể để điều trị bệnh, tránh trường hợp dùng thuốc không an toàn mà tiền mất tật mang

ThS Nguyễn Bạch Đằng

Trang 31

Một số thảo dược tốt cho bệnh trĩ và táo bón

Bệnh trĩ là một bệnh rất phổ biến ở cả nam và nữ

Y học cổ Trung quốc có câu “Thập nhân cửu trĩ” (Thiên hạ 10 người thì 9 người bị trĩ) Bệnh trĩ thường không nguy hiểm nhưng gây các triệu chứng rất khó chịu, như đau rát, ngứa, chảy máu, và đôi khi có thể tiến triển thành ung thư Trĩ là một bệnh của tĩnh mạch.Khi các mạch máu tĩnh mạch bị ứ máu thì thành tĩnh mạch bị giãn ra, những tĩnh mạch bị giãn như vậy ở hậu môn thì được gọi là trĩ (lòi dom) Nguyên nhân chủ yếu gây ra bệnh trĩ là do táo bón lâu ngày tạo ra sức ép khiến các thành mạch ở búi tĩnh mạch hậu môn bị giãn và bị tổn thương kéo theo các viêm nhiễm, lâu ngày sẽ gây trĩ Thói quen ăn uống ít chất xơ, rau quả cũng dễ gây táo bón và trĩ Phụ nữ mang thai và sinh đẻ dễ bị trĩ do sức nặng của bào thai và chứng táo bón trong thời kỳ mang thai Những người hay ngồi nhiều, đứng lâu, ít vận động cũng dễ bị trĩ Phòng chống bệnh trĩ và chứng táo bón: cần có một chế độ ăn uống lành mạnh, giàu chất xơ và rau quả tươi, uốngnhiều nước Các bác sĩ khuyên nên uống ít nhất 1,5 lít nước mỗi ngày để cơ thể có đủ nước Nên tập thói quen đi cầu đều đặn vào mỗi giờ nhất định trong ngày để tránh táo bón, nhất là đối với trẻ em Rửa sạch hậu môn bằng nước sạch sau khi đi cầu là một biện pháp hiệu quả để tránh tĩnh mạch bị viêm nhiễm Với những người làm việc ở văn phòng, cần tích cực vận động, tập thể dục thể thao thường xuyên Điều trị trĩ: Tây y chỉ chủ yếu sử dụng các thuốc đặt và các thuốc làm bền thành mạch (diosgenin, rutin ) để điều trị triệu chứng chứ chưa có thuốc điều trị trĩ đặc hiệu Từ ngàn đời nay, đông y đã có nhiều phương pháp giúp điều trị trĩ và táo bón hiệu quả Các nhà khoa học ở Viện nghiên cứu thực phẩm chức năng Việt Nam đã dày công nghiên cứu về các thảo dược rất hiệu quả trong điều trị bệnh trĩ:

Ngư tinh thảo (rau diếp cá, rau dấp cá) có thành phần chính là Quercetin, một flavonoid có tác dụng bảo vệ thành mạch rất mạnh Tinh dầu Diếp cá có chứa decanonyl acetaldehyde có tác dụng kháng sinh mạnh, tiêudiệt cả trực khuẩn mủ xanh, do đó chống viêm nhiễm rất hiệu quả Cao diếp cá có tác dụng nhuận tràng, chống táo bón rất tốt

Trang 32

Đương quy là một vị thuốc quý, có tác dụng bổ máu, điều kinh, chống thiếu máu, suy nhược cơ thể Đương quy có tác dụng hoạt huyết giảm đau, giúp chữa viêm loét, mụn nhọt Ngoài ra, Đương quy còn có tác dụng nhuận tràng thông đại tiện, chống táo bón.

Rutin là một flavonoid aglycon có nhiều trong hoa Hòe Rutin có hoạt tính vitamin P, có tác dụng làm bền thành mạch, làm giảm tính “dòn” và tính thấm của mao mạch, làm tăng sự bền vững của hồng cầu, giảm trương lực cơ trơn, chống co thắt Ngoài ra, rutin còn có tác dụng kích thích sự bài tiết của niêm mạc ruột

và do vậy giúp nhuận tràng Rutin được dùng để phòng ngừa những biến chứng của bệnh xơ vữa động mạch, điều trị suy tĩnh mạch, giãn tĩnh mạch, trĩ, các trường hợp xuất huyết như chảy máu cam, ho ra máu,

tử cung xuất huyết, phân có máu…

Curcumin là một hoạt chất chính của củ nghệ (Curcuma domestica), có hoạt tính chống viêm do khả năng quét những gốc oxy có liên quan đến quá trình viêm Curcumin còn có tác dụng ức chế khối u, thông mật, lợi tiêu hóa Bổ sung Curcumin giúp chống viêm và làm mau lành các vết tổn thương của trĩ Magiê có tác dụng nhuận tràng, giúp hạn chế chứng táo bón vốn là căn nguyên gây bệnh trĩ Ngoài ra, Magiê còn là một khoáng chất rất cần thiết cho cơ thể (24h.com.vn)

Chữa rối loạn tiêu hoá kém ăn bằng củ khoai tây

Khoai tây được sử dụng làm thực phẩm hàng ngày, có rất nhiều cách chế biến từ khoai tây như: khoai tây hầm, rán, luộc, xào Theo quan niệm của y học cổ truyền, củ khoai tây vị ngọt, tính bình, có tác dụng hòa

vị (điều hòa chức năng dạ dày), kiện tỳ (tăng cường chức năng tiêu hóa), ích khí; có thể chữa chán ăn, tiêu hóa kém, bí đại tiện Sau đây là một số ứng dụng cụ thể:

Trang 33

Củ khoai tâyChữa viêm loét dạ dày, hành tá tràng: Khoai tây tươi (không bỏ vỏ) rửa sạch, thái nhỏ, giã nát, vắt lấy nước cốt, thêm chút mật ong vào uống, mỗi lần 1-2 thìa cà phê.

Hoặc: Khoai tây tươi để nguyên vỏ, rửa sạch, thái nhỏ, giã nát, vắt lấy nước cốt, đặt lên bếp đun sôi, sau đógiữ nhỏ lửa đến khi nước sánh lại, cho mật ong vào (một phần nước cốt 2 phần mật ong), đun cho đến khi đặc lại như cao, cho vào lọ dùng dần Ngày uống 2 lần, mỗi lần 1-2 thìa cà phê Mỗi liệu trình dài 20 ngày Trong thời gian điều trị, cần kiêng ăn ớt, hành, giấm, rượu và các chất kích thích khác Sau khi hết đau vẫn nên uống thêm một thời gian nữa

Chữa rối loạn tiêu hoá kém ăn: Khoai tây 100g, gừng tươi 10g, quýt 1 quả (bỏ vỏ và hạt) Tất cả giã nát, trộn đều, vắt lấy nước, trước mỗi bữa ăn uống một thìa canh

Điều hòa chức năng tiêu hóa: Khoai tây 1-2 củ, dùng than củi nướng chín, bóc vỏ, ăn lúc còn nóng

Chữa ung nhọt: Khoai tây rửa sạch, thái nhỏ, giã nhuyễn, đắp lên chỗ da bị bệnh và lấy gạc băng lại Ngày thay thuốc 2 lần

Chữa bỏng thể nhẹ: Khoai tây rửa sạch, mài lấy nước, bôi vào chỗ bị bỏng

Chữa táo bón: Khoai tây rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước, ngày uống 3 lần trước các bữa ăn, mỗi lần 1 bát con

Chú ý: Để chống những côn trùng và nấm, khoai tây tự tạo ra chất diệt trùng và chống nấm thiên nhiên là chất solanine và chất chaconine, rất độc, các chất độc này tích tụ nhiều ở da, mầm và hoa Vì vậy, tuyệt đối không dùng khoai tây đã mọc mầm Khi gọt khoai, cần khoét bỏ mắt và những chỗ đã chuyển sang màu xanh hoặc tím

BS Trần Thị Hải

Thuốc nam trị giun kim

Thuốc nam trị giun kim

Trang 34

Giun kim là loại giun nhiễm khá phổ biến ở mọi lứa tuổi, đặc biệt ở trẻ nhỏ Giun kim thường sống ở góc hồi– manh tràng Ngoài ra còn ở cả phần cuối của ruột non và phần đầu ruột già Tuổi thọ của giun kim rất ngắn, chỉ sống khoảng 1 – 2 tháng.

Các dấu hiệu bị nhiễm giun kim nếu không gây ngứa tại hậu môn thì cũng khó phát hiện Thông thường vàoban đêm giun bò ra hậu môn và đẻ trứng ở đấy khiến cho trẻ ngứa gãi vì không chịu nổi, nên khi gãi có thể

bị trầy cả hậu môn Ở một số bé gái, giun chui vào âm hộ đẻ trứng làm trẻ ngứa, bứt rứt, hay khóc đêm và nghiến răng

Giun kim cũng có thể vào phổi, thực quản, hốc mũi, cổ tử cung, vào bàng quang theo đường niệu đạo và gây viêm các cơ quan này

Lá trầu

Giun kim còn gây rối loạn tiêu hoá: thường bị đau bụng, ảnh hưởng đến quá trình tiêu hoá và hấp thu thức

ăn, nhất là ở trẻ nhỏ Song giun kim hay di động nên thường gây ra những kích thích, như là kích thích thầnkinh đối với trẻ nhỏ gây ra đái dầm, ngủ hay bị giật mình, hoảng sợ Giun kim còn có thể gây viêm ruột thừa, thậm chí có thể làm thủng ruột…

Xin giới thiệu vài cách trị giun kim giản đơn, dễ thực hiện, an toàn, hiệu quả:

* Tỏi giã nát 50g, rượu ½ lít, ngâm 1 tháng Uống sáng thức dậy lúc đói bụng và tối đi ngủ Mỗi lần 10 giọt, trong 10 ngày liền Trẻ nhỏ uống ½ liều trên (Những Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam)

* Rau sam tươi 50g, rửa sạch, thêm ít muối, giã nát, vắt lấy nước, thêm ít đường vào cho dễ uống Uống liên tục 5 – 7 ngày vào buổi sáng sớm, lúc bụng đói (Những Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam)

* Lá ớt non (tươi) 40g, nấu canh với thịt, cá, ăn vào bữa ăn chiều, giun sẽ ra vào sáng hôm sau (Những Câythuốc và vị thuốc Việt Nam)

Thuốc rửa: Dùng 2 – 3 lá trầu, phèn chua một ít, pha vào một ít nước sôi cho thấm thuốc, dùng thuốc này bôi vào hậu môn để rửa sạch tất cả trứng, tránh việc trứng tái phát triển

Dùng xà phòng rửa hậu môn hàng ngày vào buổi tối ngày kể cả sau khi đi tiêu, nhằm loại trừ trứng và ấu trùng giun kim Cần kiên trì rửa hàng tháng liền, để tránh bị tái nhiễm vì giun trưởng thành chỉ sống tối đa 2 tháng

Trang 35

Cách phòng ngừa: Cần điều trị cả một tập thể hoặc gia đình Cắt đứt chu kỳ sinh trưởng trứng giun bằng cách giữ vệ sinh cá nhân: Rửa tay trước khi ăn, sau khi đi tiêu, tiểu, cắt ngắn móng tay Không cho trẻ mút tay Không cho trẻ mặc quần thủng đít, không cho cởi truồng

BS Hoàng Xuân Đại

Đông y hỗ trợ chữa trị gan nhiễm mỡ

Bệnh chứng gan nhiễm mỡ có thể gặp ở mọi lứa tuổi, kể cả trẻ em nhưng hay gặp nhất ở tuổi trung niên thừa cân hay béo phì, người bệnh đái tháo đường, những người có nồng độ cholesterol và triglyceride cao

Có rất nhiều phương cách để hỗ trợ chữa trị gan nhiễm mỡ, tùy theo triệu chứng

Đau tức hạ sườn phải, gan sưng to có thể sờ thấy được, lưỡi đỏ tía, mạch căng như dây đàn:

- Củ tam thất 3g sấy khô, tán vụn, trà xanh 3g Hai thứ hãm với 200ml nước sôi trong 10 - 15 phút Uống thay trà và có thể ăn luôn cả xác

- Nghệ vàng 10g, vỏ quýt khô 10g Hai thứ phơi khô tán nhỏ cùng 3g trà xanh Chia 2 lần sắc uống

Thể bệnh chứng đàm thấp

Trang 36

Thường gặp ở người béo phì, bụng to, tay chân nặng nề, yếu mỏi không có sức, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng dày:

- Sơn tra 15g xắt mỏng, lá sen 15g phơi khô, bóp vụn Trộn hai thứ nấu chung với 600ml nước, sắc còn 300ml, chia 2 lần uống trong ngày

- Ý dĩ nhân 30g, lá sen tươi 50g thái nhỏ Hai thứ nấu chung với 100g gạo tẻ thành cháo nhừ Chia 2 lần ăn lúc đói bụng

Thể can thận âm hư

Biểu hiện đau tức vùng hạ sườn phải, chóng mặt, ù tai, đau lưng, mỏi gối Lòng bàn tay, bàn chân và ngực đều nóng, người gầy, da khô, khát nước, tiểu tiện vàng:

- Hà thủ ô 30g nấu với 1 lít nước, sắc còn 500ml Dùng nước vừa đủ để nấu với 100g gạo tẻ và đại táo (4 -

6 trái bỏ hạt) thành cháo nhừ Cho đường phèn hoặc mật ong vào khuấy đều Chia 2 lần ăn lúc đói bụng

- Hải sâm 15g ngâm nước ấm, mộc nhĩ trắng 15g ngâm nước nửa ngày cho mềm, bỏ cuống Hai thứ nấu với 100g gạo tẻ thành cháo nhừ, thêm gia vị Chia 2 lần ăn lúc đói bụng

Thể thấp nhiệt, đàm ứ

Biểu hiện gan sưng to đau tức; mắt vàng; da vàng; miệng khô, đắng; nước tiểu vàng; người buồn bực, dễ cáu gắt; rêu lưỡi vàng, dơ Thường gặp ở người bị viêm gan vàng da, viêm gan siêu vi (B, C), người nghiệnrượu Nếu gan nhiễm mỡ do can đởm thấp nhiệt thì dùng:

- Cúc hoa 15g, thảo quyết minh 30g sao vàng, tán nhỏ Hai thứ hãm với 200ml nước sôi trong 15 phút Chianhiều lần uống thay nước trà

- Bí đao 350g bỏ vỏ, hạt, nấm rơm tươi 150g Cho nước rau củ vào chảo cùng với bí đao và nấm rơm Nấu lửa lớn cho sôi, hớt bỏ bọt, nêm gia vị, hạ lửa nhỏ liu riu cho sôi đến chín đều Rưới bột ướt và dầu vừng vào, trộn đều Ăn với bữa cơm hoặc ăn riêng

BS HOÀNG XUÂN ĐẠI

Cây hoàn ngọc trị bệnh đường ruột

Cây hoàn ngọc đỏ

Cây hoàn ngọc đỏ còn có tên cây xuân hoa lá hoa, là cây bụi, cao từ 0,6 - 1,5m, sống nhiều năm Khi còn non, thân trơn nhẵn, mầu hơi vàng hồng, lá đơn, nguyên, mọc đối, cuống lá dài, phiến lá hình mũi mác Những lá non, ở ngọn có mầu nâu hoặc hơi vàng đỏ, phủ một lớp lông rất mịn Lá già màu xanh, mặt trên xanh đậm, mặt dưới xanh nhạt Cụm hoa dạng bông, mọc ở kẽ lá hay đầu cành, tràng hình ống, mau tím nhạt Cây mọc phổ biến ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng: Thái Bình, Nam Định, Hưng Yên, Hải

Trang 37

Dương Lá non nhấm có vị chát se, hơi chua, thường được dùng ăn kèm với thịt, cá như một loại rau gia

vị để giúp cho việc tiêu hóa tốt, tránh đầy bụng, sôi bụng, đau bụng

Khi cây bắt đầu ra hoa vào tháng 12 đến tháng 2 năm sau, người ta cắt lấy phần trên mặt đất, gồm các cành non và lá, rửa sạch phơi khô Khi dùng cần cắt ra từng đoạn 5 - 7cm, sao vàng

Hoàn ngọc đỏ có thể dùng để trị các bệnh viêm ruột cấp mạn tính, thuộc thể hàn: đau bụng, quặn bụng, sôi bụng, đầy hơi, đi ngoài phân sống nát, trĩ, đi ngoài ra máu Ngoài ra còn có tác dụng cầm máu vết thương, lấy lá tươi, rửa sạch, giã nát đắp và băng chặt vào chỗ vết thương chảy máu Song song có thể dùng lá tươi giã nát vắt lấy nước uống, hoặc sắc lá khô để uống khi bị chảy máu Có thể dùng riêng hoàn ngọc đỏ với liều 20 - 40g/ngày, sắc uống trị các bệnh đường ruột nói trên Hoặc phối hợp với một số vị thuốc khác, như hoàn ngọc đỏ 16g, nam mộc hương 12g, hậu phác 12g, trần bì 10g, thương truật 10g, sắc uống, ngày một thang Uống liền 3 tuần lễ

Cây hoàn ngọc (cây con khỉ)

Để trị viêm loét dạ dày, tá tràng, xuất huyết đường tiêu hóa, trĩ nội, có thể dùng hoàn ngọc trắng, ngày 2 - 3 lần, mỗi lần 8 - 10g Dùng liền 2 tuần lễ

Ngoài ra có thể dùng trị các vết thương khi té ngã bị chảy máu, tụ máu, lở loét Lấy lá tươi, rửa sạch, giã dập, đắp bó vào nơi bị đau

GS.TS Phạm Xuân Sinh

Đông y trị viêm đại tràng mạn tính

Theo cổ nhân, có rất nhiều nguyên nhân gây bệnh VĐTMT, trong đó có 4 nhân tố chính:

Ngoại tà lục dâm (mầm bệnh từ bên ngoài xâm nhập vào cơ thể), chủ yếu là phong, nhiệt, thử và thấp, trong đó thấp là thường gặp nhất

Trang 38

Ẩm thực bất điều, nghĩa là ăn uống không điều độ, kém vệ sinh, lạm dụng những đồ ăn bổ béo khó tiêu hoặc sống lạnh, uống quá nhiều rượu…

Thất tình nội thương (yếu tố tinh thần), trong đó đặc biệt là trạng thái lo lắng buồn phiền (ưu tư) hoặc cáu giận (khủng nộ) kéo dài

Tỳ vị tố hư, nghĩa là thể chất vốn dĩ suy nhược hoặc bị bệnh tật lâu ngày

Các nhân tố trên đây trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến công năng của tỳ vị và đại tràng khiến cho quátrình tiêu hóa thức ăn, hấp thu dinh dưỡng và bài tiết các chất cặn bã bị rối loạn, từ đó mà phát sinh các chứng trạng của VĐTMT như đau bụng (phúc thống), tiêu chảy (tiết tả) hoặc đi kiết (kiết lỵ), đầy bụng, chậmtiêu, chán ăn, nôn, buồn nôn…

Để trị liệu VĐTMT, nguyên tắc chung của Đông y là phải bảo đảm tính toàn diện, nghĩa là ngoài việc dùng thuốc phải đồng thời sử dụng nhiều biện pháp như tiến hành các kỹ thuật không dùng thuốc như châm cứu,xoa bóp bấm huyệt, điều chỉnh chế độ ăn uống và sinh hoạt cho phù hợp, tích cực tập luyện khí công dưỡng sinh để nâng cao chính khí (sức đề kháng), bảo đảm giấc ngủ và tạo lập đời sống tinh thần thoải mái… Đương nhiên, vấn đề dùng thuốc vẫn giữ một vai trò hết sức quan trọng và thường được tiến hành theo hai hướng: biện chứng thi trị và biện bệnh thi trị

Bệnh chứng thi trị, hay còn gọi là biện chứng luận trị, là phương thức trị liệu dựa trên cơ sở chứng trạng và thể bệnh cụ thể mà tiến hành lựa chọn các vị thuốc và bài thuốc cho phù hợp Ví như, với thể thấp nhiệt uẩn kết thì phải thanh nhiệt táo thấp, thường chọn dùng bài thuốc Thược dược thang mà gia giảm; với thể can tỳ bất hòa thì phải ức can phù tỳ, trọng dụng bài thuốc Thống tả yếu phương; với thể tỳ vị hư nhược thì phải kiện tỳ ích vị, phân thanh giáng trọc, thường dùng bài thuốc Sâm linh bạch truật tán để gia giảm; với thể tỳ thận dương hư thì phải ôn bổ tỳ thận, cố sáp chỉ tả, trọng dụng bài thuốc Phụ tử lý trung thang phối hợp với bài Tứ thần hoàn; với thể khí trệ huyết ứ thì phải hành khí hoạt huyết, kiện tỳ ích khí, thường dùng bài thuốc Cách hạ trục ứ thang để gia giảm; với thể âm huyết khuy hư thì phải tư âm dưỡng huyết, thanh nhiệt hóa thấp, chọn dùng bài thuốc Trú xa hoàn…

Biện bệnh thi trị là phương thức dựa trên cơ chế bệnh sinh chủ yếu của bệnh mà xây dựng một phác đồ điều trị chung cho nhiều thể bệnh Với VĐTMT, nguyên tắc trị liệu cơ bản là bổ tỳ ích tràng, thanh nhiệt hóa thấp, hoạt huyết hóa ứ Thuốc dùng theo biện bệnh thi trị có thể là các phương thuốc dân gian (thường dùng cho thể bệnh nhẹ), các bài thuốc tự chế (tân phương nghiệm phương) hoặc các đông dược thành phẩm sản xuất theo đơn cổ phương hay tân phương Có thể dẫn chứng một số ví dụ điển hình như sau:

Phương thuốc dân gian:

1 Ô mai 25g sắc uống hoặc sao đen, tán bột, mỗi ngày uống 10g với nước cơm hoặc rượu vàng

2 Vỏ cây lựu (thạch lựu bì) 15g, trần bì 15g, gừng khô 6g, sắc uống

3 Rễ và vỏ củ riềng 50g, gừng khô 6g, sắc uống

4 Mã dâu linh tươi 30-60g, tỏi giã nát 10-15g, sắc uống, đồng thời mỗi ngày uống 5g tỏi tươi

5 Trần bì 15g, lá sen khô 10g, sa nhân 2g, hãm uống mỗi ngày

Trang 39

2 Tràng dương ninh thang: bổ cốt chi, ngô thù du, bạch thược, bạch truật, phụ tử chế, hoài sơn, hoàng liên,đại hoàng, mộc hương, hoàng kỳ, đương quy, sắc uống.

3 Kiện tỳ ích khí thang: đẳng sâm, bạch linh, hoàng kỳ, đương quy, ô mai thán, nhi trà, huyền hồ, mộc hương, bạch thược, cam thảo, sắc uống

4 Dụ dương thang: đại hoàng, phụ tử, hoàng kỳ, ngũ bội tử, xích thạch chi…, sắc thụt đại tràng

5 Quán tràng thang: bạch cập, hòe hoa, tông lư thán, hoàng cầm, hoàng bá, sắc thụt đại tràng…

Đông dược thành phẩm: Là các loại thuốc thành phẩm được sản xuất theo cổ phương hay tân phương dưới các dạng như hoàn mềm, hoàn cứng, trà tan, viên nang, cốm thuốc… Ví dụ như: việt cúc hoàn, sâm linh bạch truật tán, tiêu dao tán, tứ thần hoàn, hương sa lục quân hoàn, quy tỳ hoàn, phụ tử lý trung hoàn, hương liên hoàn, bổ trung ích khí hoàn… (theo cổ phương); bổ tỳ ích tràng hoàn, nhân sâm kiện tỳ hoàn, tỳ thận song bổ hoàn, kết tràng viêm hoàn, tràng vị thích, cốc sâm tràng an, cốm bổ tỳ, đại tràng hoàn P/H… (theo tân phương)

(Theo ThS Hoàng Khánh Toàn // Báo Sức khỏe và Đời sống)

Bài thuốc chữa bệnh trĩ

Bài thuốc chữa bệnh trĩ

Nguyên nhân cơ chế bệnh sinh theo Đông y là do tạng phế và đại trường thông nhau mà hậu môn thuộc về

yếu thì hàn khí không thu liễm lại được làm cho trựctràng lòi ra, đại trường nóng cũng có thể thoát ra Một nguyên nhân nữalà do ăn uống không điều độ, dùng rượu quá mức, ăn nhiều thức ăn béo, ngồi lâu, ít vận động làm cho thấp tụ lại, mót đi tiêu mà không đi ngay, hoặc táo bón, rặn nhiều, dương minh phủ không điều hòa, quan lạc bị bế tắc, phong nhiệt không lưu thông mà gây nên bệnh

Tùy theo thể bệnh và mức độ bệnh tật mà có phương pháp điều trị thích hợp kể cả việc can thiệp ngoại khoa để loại bỏ búi trĩ Xin giới thiệu một số bài thuốc Đông y để điều trị bệnh này

Thuốc xông, rửa tại chỗ

Theo kinh nghiệm dân gian dùng một trong những phương sau:

- Nhân hạt gấc (mộc miết tử) 40g, giã nát trộn với một ít giấm thanh rồi bọc vào vải đắp vào nơi búi trĩ

- Lá muống biển, lá dây đau xương, thêm củ sả, một ít vỏ dừa đốt lên lấy khói xông vào nơi trĩ

Trang 40

- Lá thiên lý non hoặc loại bánh tẻ 100g, đem rửa sạch giã nhỏ trộn với 10g muối, thêm 300ml nước cất, lọcqua vải gạc, rồi tẩm bông băng vào vết trĩ sau khi đã rửa sạch bằng thuốc tím, ngày 1-2 lần, làm trong vài

ba ngày

- Diếp cá 50g sắc đặc uống ngày 2 lần, bã còn lại dùng đắp vào búi trĩ

- Xà sàng tử 40g, cam thảo 40g, tán thành bột trộn đều, ngày uống 9g chia làm 3 lần Đồng thời nấu nước

xà sàng tử xông và rửa

Hoặc dùng một trong các bài thuốc sau:

Bài 1: Hòe hoa 20g, kinhgiới 40g, chỉ xác 20g, ngải cứu 40g, phèn chua 12g Cho vào nồi dùng lá chuối bọckín, đem đun sôi độ 10 phút, chọc một lỗ thủng xông trực tiếp vào chỗ trĩ Khi nguội dùng nước đó ngâm rửa, ngày hai lần

Bài 2: Bạch chỉ 12g, mộcqua 18g, sinh bạch phàn 9g, rau sam 60g, ngũ bội tử 30g, xuyên tiêu12g, hòe hoa 30g, cam thảo 12g Sắc lấy nước dùng xông rồi rửa nơi đau

Bài 3: Nếu trĩ thoát ra bên ngoài, sưng đau dùng minh phàn 30g, đại hoàng 20g, huyền minh phấn 30g,sắc lấy nước ngâm rửa trong 15 phút, ngày 2 lần liên tục trong 3-4 ngày búi trĩ sẽ tiêu

Thuốc uống

- Trường hợp trĩ nội xuất huyết có khi thành giọt, màu đỏ sắc tươi, họng khô, miệng khát do nhiệt ủng, huyết

ứ phải hành huyết, tán ứ, lương huyết, chỉ huyết

Bài 1: Nụ hòe 50g, tam lăng 40g, chỉ thực 40g, tam thất 10g, thiến thảo 40g Sắc uống ngày một thang chia làm 3 lần

Bài 2: Sinh địa 20g, đương quy 12g, xích thược 12g, hoàng cầm 12g, địa du 12g, hòe hoa 12g, kinh giới 12g Sắc uống ngày một thang

Bài 3: Sinh địa 12g, bạch thược 12g, trắc bá diệp 12g, hắc chi ma 12g, đương quy 8g, xuyên khung 8g, hòehoa 8g, đào nhân 8g, chỉ xác 9g, đại hoàng 4g Sắc uống ngày một thang

Bài 4: Nếu thiên về huyết nhiệt phải lương huyết, chỉ huyết, tán ứ và lý khí Dùng khổ sâm 10g, hòe hoa 10g, tiểu kế 10g, sa nhân 10g, ô tặc cốt 10g, cam thảo 10g, địa du 10g, bồ công anh 20g, bạch đậu khấu 10g, bối mẫu 10g, lá sen 10g,tam thất bột 3g Sắc uống ngày một thang

- Trường hợp trĩ ngoại bị viêm nhiễm do thấp nhiệt, hậu môn sưng đỏ,đau, táo bón, nước tiểu đỏ, phải thanh nhiệt, lợi thấp, hoạt huyết, giảm đau

Bài 1: Hoàng liên 12g, hoàng bá 12g, xích thược 12g, trạch tả 12g, sinh địa 16g, đào nhân 8g,đương quy 8g, đại hoàng 8g Sắc uống ngày một thang

Bài 2: Hòe hoa 12g, trắc bádiệp 12g, địa du 12g, chi tử sao đen 12g, kinh giới sao đen 16g, kim ngân hoa 16g, chỉ xác 8g, xích thược 8g, cam thảo 4g Sắc uống ngày một thang chia 2 lần

- Trường hợp người lớn tuổi, trĩ ra máu lâu ngày gây thiếu máu, hoamắt, chóng mặt, ù tai, sắc mặt trắng, rêu lưỡi trắng, mỏng, người mệt mỏi, hơi thở ngắn, tự ra mồ hôi, thuộc thể khí huyết lưỡng hư, phải bổ khí huyết, thăng đề, chỉ huyết Dùng phương “Bổ trung ích khí”: Nhân sâm 12g, đương quy 10g, bạch truật 12g,cam thảo 10g, hoàng kỳ 24g,trần bì 12g, sài hồ 12g, thăng ma 12g Sắc uống ngày một thang

Tùy theo tình trạng bệnh tật và sức khỏe người bệnh, có thể kết hợp vừa dùng thuốc uống tác động toàn thân vừa điều trị tại chỗ sẽ cho kết quả tốt hơn

Ngày đăng: 08/06/2015, 09:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w