1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

DÂN CA DÂN TỘC THÁI TẠI THÔN CO CỌI 2 XÃ SƠN A HUYỆN VĂN CHẤN TỈNH YÊN BÁI

87 459 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 2,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÌM HIỂU DÂN CA DÂN TỘC THÁI TẠI THÔN CO CỌI 2, XÃ SƠN A, HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI GIẢNG VIÊN: Th.S Nguyễn Phƣơng Hoa. SINH VIÊN: ĐỖ THU HÀ Thái Nguyên, tháng 3 năm 2014 - 2 - LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành, không phải chỉ là thành quả và cố gắng của nhóm chúng tôi khi viết đề tài. Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, nhóm chúng tôi đã nhận đƣợc sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa Văn - Xã hội, trƣờng Đại học Khoa học Thái Nguyên đã tận tình chỉ bảo hƣớng dẫn để hoàn thành bài tiểu luận. Qua đây nhóm chúng tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô và các bạn. Quá trình thực hiện tiểu luận, do hạn chế về kinh nghiệm, thời gian nên tiểu luận còn nhiều thiếu sót. Nhóm chúng tôi rất mong nhận đƣợc sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để bài viết hoàn chỉnh hơn cũng nhƣ kinh nghiệm thực hiện các bài nghiên cứu sau này. Nhóm chúng tôi xin chân thành cảm ơn! - 3 - MỤC LỤC BÁO CÁO THỰC TẾ CHUYÊN MÔN 1 . Error! Bookmark not defined. LỜI CẢM ƠN .......................................................................................................... - 2 - CÔNG TÁC CHUẨN BỊ ......................................................................... - 5 - 1 Nội dung đề tài cần nghiên cứu ......................................................... - 5 - 2. Công tác tại nơi thực địa .................................................................. - 5 - MỞ ĐẦU ................................................................................................. - 5 - 1. Lí do chọn đề tài ............................................................................... - 6 - 2. Lịch sử nghiên cứu ........................................................................... - 6 - 3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài nghiên cứu ...................................... - 7 - 4. Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài ...................................................... - 8 - 5. Phạm vi, thời gian nghiên cứu .......................................................... - 8 - 6. Phƣơng pháp nghiên cứu .................................................................. - 8 - 7. Đóng góp mới của đề tài .................................................................. - 9 - 8. Bố cục của bài báo cáo ..................................................................... - 9 - NỘI DUNG ............................................................................................ - 10 - CHƢƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN ....................................................... - 11 - 1.1. Khái quát địa bàn thực tế ............................................................................ - 11 - 1.1.1. Khát quát huyện Văn Chấn ............................................... - 11 - 1.1.2. Lịch sử hình thành huyện Văn Chấn ................................. - 11 - 1.1.3 Giới thiệu khát quát về xã Sơn A ....................................... - 12 - 1.1.4. Khái quát Thôn Co Cọi 2 .................................................. - 15 - 1.2. Khái quát chung về ngƣời Thái ................................................................. - 16 - 1.2.1. Vài nét lịch sử dân tộc Thái ............................................... - 16 - 1.2.2 Ngƣời thái ở thôn Co Cọi 2, xã Sơn A, ............................. - 20 - 1.3. Dân ca dân tộc Thái ...................................................................................... - 21 - 1.3.1. Khái niệm dân ca ............................................................... - 21 - 1.3.2 Dân ca dân tộc Thái ............................................................ - 22 - CHƢƠNG 2. KẾT QUẢ SƢU TẦM ................................................. - 24 - VÀ GIÁ TRỊ NỘI DUNG CỦA DÂN CA THÁI ................................. - 24 - 1. Kết quả sƣu tầm. ......................................................................... - 24 - 2. Giá trị nội dung dân ca dân tộc Thái ........................................................... - 26 - 2.1. Dân ca trong những dịp trọng đại ............................................................. - 26 - 2.1.1. Dân ca trong Lễ Tết ........................................................... - 26 - 2.1.2. Dân ca trong lễ cƣới .......................................................... - 29 - 2.2. Dân ca Thái trong cuộc sống thƣờng ngày ............................................. - 36 - - 4 - 2.2.1. Mừng Đảng mừng xuân ..................................................... - 36 - 2.2.2. Hát đồng giao (hát đóng đu) .............................................. - 41 - 2.2.3. Hát gia đình ....................................................................... - 45 - 2.2.4. Hát giao duyên (Khắp báo slao) ........................................ - 52 - 2.2.5. Hát mời trầu, mời rƣợu, mời thuốc ................................... - 63 - 2.2.6. Hát trong lao động ............................................................. - 66 - 2.3. Nhạc cụ dân tộc Thái ................................................................................... - 68 - 2.3.1. Đàn Tính Tẩu ..................................................................... - 68 - 2.3.2. Pí Thiu (sáo đơn-sáo dài) .................................................. - 71 - 2.3.3. Pí Pặp (sáo đôi-sáo ngắn) .................................................. - 71 - 2.3.4. Măk Híng ........................................................................... - 72 - CHƢƠNG 3. THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ ............. - 74 - 3.1. Thực trạng nền dân ca dân tộc Thái ở Văn Chấn – Yên Bái.............. - 74 - 3.2. Một số biện pháp bảo tồn và phát triển nền dân ca của dâ ................. - 75 - KẾT LUẬN ............................................................................................ - 78 - TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................... - 80 - PHỤ LỤC ............................................................................................... - 87 - - 5 - CÔNG TÁC CHUẨN BỊ 1 N i u ề tài ầ i u - Đề tài nghiên cứu “Tìm hiểu dân ca dân tộc Thái tại thôn Co Cọi 2, xã Sơn A, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.” - Địa điểm xác định thực tế nghiên cứu tại thôn Co Cọi 2, xã Sơn A, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. - Xác định mục đích nghiên cứu là tìm hiểu đƣợc thể loại dân ca dân truyền thống của dân tộc Thái hiện nay. Để từ đó xây dựng đƣợc hệ thống bảng hỏi cho phù hợp và đầy đủ với đề tài. - Dự kiến thời gian đi điền dã: 6 ngày. - Dự kiến thông tin thu đƣợc: những hiểu biết của mình về dân ca dân tộc Thái và giá trị ý nghĩa mà nội dung bài dân ca đó mang lại. - Dự kiến tài chính: 800.000 đồng/ngƣời - Tìm kiếm thông tin viên nơi điền dã. - Số lƣợng ngƣời tham gia nghiên cứu: 7 ngƣời - Chuẩn bị thuốc men, các tƣ trang cần thiết… 2. C t t i i t ự - Khi đến nơi thực tế nhóm đến làm việc với lãnh đạo chính quyền địa phƣơng thôn Co Cọi 2, xã Sơn A, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. - n định chỗ ăn, ở, sinh hoạt tại nơi thực địa. - Tìm kiếm và tập huấn thông tin viên. - Thu thập thông tin: Bảng hỏi, phóng vấn, ghi âm, chụp ảnh….. tại nơi thực địa.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

KHOA VĂN - XÃ HỘI

-o0o -

Đề tài:

TÌM HIỂU DÂN CA DÂN TỘC THÁI TẠI THÔN CO CỌI 2,

XÃ SƠN A, HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI

GIẢNG VIÊN: Th.S Nguyễn Phương Hoa

SINH VIÊN: ĐỖ THU HÀ

Thái Nguyên, tháng 3 năm 2014

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành, không phải chỉ là thành quả và cố gắng của nhóm chúng tôi khi viết đề tài Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, nhóm chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa Văn - Xã hội, trường Đại học Khoa học Thái Nguyên đã tận tình chỉ bảo hướng dẫn để hoàn thành bài tiểu luận Qua đây nhóm chúng tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô và các bạn

Quá trình thực hiện tiểu luận, do hạn chế về kinh nghiệm, thời gian nên tiểu luận còn nhiều thiếu sót Nhóm chúng tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để bài viết hoàn chỉnh hơn cũng như kinh nghiệm thực hiện các bài nghiên cứu sau này

Nhóm chúng tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

MỤC LỤC BÁO CÁO THỰC TẾ CHUYÊN MÔN 1 Error! Bookmark not defined

LỜI CẢM ƠN - 2 -

CÔNG TÁC CHUẨN BỊ - 5 -

1 Nội dung đề tài cần nghiên cứu - 5 -

2 Công tác tại nơi thực địa - 5 -

MỞ ĐẦU - 5 -

1 Lí do chọn đề tài - 6 -

2 Lịch sử nghiên cứu - 6 -

3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài nghiên cứu - 7 -

4 Đối tượng nghiên cứu của đề tài - 8 -

5 Phạm vi, thời gian nghiên cứu - 8 -

6 Phương pháp nghiên cứu - 8 -

7 Đóng góp mới của đề tài - 9 -

8 Bố cục của bài báo cáo - 9 -

NỘI DUNG - 10 -

CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN - 11 -

1.1 Khái quát địa bàn thực tế - 11 -

1.1.1 Khát quát huyện Văn Chấn - 11 -

1.1.2 Lịch sử hình thành huyện Văn Chấn - 11 -

1.1.3 Giới thiệu khát quát về xã Sơn A - 12 -

1.1.4 Khái quát Thôn Co Cọi 2 - 15 -

1.2 Khái quát chung về người Thái - 16 -

1.2.1 Vài nét lịch sử dân tộc Thái - 16 -

1.2.2 Người thái ở thôn Co Cọi 2, xã Sơn A, - 20 -

1.3 Dân ca dân tộc Thái - 21 -

1.3.1 Khái niệm dân ca - 21 -

1.3.2 Dân ca dân tộc Thái - 22 -

CHƯƠNG 2 KẾT QUẢ SƯU TẦM - 24 -

VÀ GIÁ TRỊ NỘI DUNG CỦA DÂN CA THÁI - 24 -

1 Kết quả sưu tầm - 24 -

2 Giá trị nội dung dân ca dân tộc Thái - 26 -

2.1 Dân ca trong những dịp trọng đại - 26 -

2.1.1 Dân ca trong Lễ Tết - 26 -

2.1.2 Dân ca trong lễ cưới - 29 -

2.2 Dân ca Thái trong cuộc sống thường ngày - 36 -

Trang 4

2.2.1 Mừng Đảng mừng xuân - 36 -

2.2.2 Hát đồng giao (hát đóng đu) - 41 -

2.2.3 Hát gia đình - 45 -

2.2.4 Hát giao duyên (Khắp báo slao) - 52 -

2.2.5 Hát mời trầu, mời rượu, mời thuốc - 63 -

2.2.6 Hát trong lao động - 66 -

2.3 Nhạc cụ dân tộc Thái - 68 -

2.3.1 Đàn Tính Tẩu - 68 -

2.3.2 Pí Thiu (sáo đơn-sáo dài) - 71 -

2.3.3 Pí Pặp (sáo đôi-sáo ngắn) - 71 -

2.3.4 Măk Híng - 72 -

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ - 74 -

3.1 Thực trạng nền dân ca dân tộc Thái ở Văn Chấn – Yên Bái - 74 -

3.2 Một số biện pháp bảo tồn và phát triển nền dân ca của dâ - 75 -

KẾT LUẬN - 78 -

TÀI LIỆU THAM KHẢO - 80 -

PHỤ LỤC - 87 -

Trang 5

CÔNG TÁC CHUẨN BỊ

1 N i u ề tài ầ i u

- Đề tài nghiên cứu “Tìm hiểu dân ca dân tộc Thái tại thôn Co Cọi 2,

xã Sơn A, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.”

- Địa điểm xác định thực tế nghiên cứu tại thôn Co Cọi 2, xã Sơn A, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái

- Xác định mục đích nghiên cứu là tìm hiểu được thể loại dân ca dân truyền thống của dân tộc Thái hiện nay Để từ đó xây dựng được hệ thống bảng hỏi cho phù hợp và đầy đủ với đề tài

- Dự kiến thời gian đi điền dã: 6 ngày

- Dự kiến thông tin thu được: những hiểu biết của mình về dân ca dân tộc Thái và giá trị ý nghĩa mà nội dung bài dân ca đó mang lại

- Dự kiến tài chính: 800.000 đồng/người

- Tìm kiếm thông tin viên nơi điền dã

- Số lượng người tham gia nghiên cứu: 7 người

- Chuẩn bị thuốc men, các tư trang cần thiết…

2 C t t i i t ự

- Khi đến nơi thực tế nhóm đến làm việc với lãnh đạo chính quyền địa phương thôn Co Cọi 2, xã Sơn A, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái

- n định chỗ ăn, ở, sinh hoạt tại nơi thực địa

- Tìm kiếm và tập huấn thông tin viên

- Thu thập thông tin: Bảng hỏi, phóng vấn, ghi âm, chụp ảnh… tại nơi thực địa

MỞ ĐẦU

Trang 6

1.2 Cùng với sự phát triển của đất nước, xã hội và sự du nhập nhiều nét văn hóa từ phương Tây đã ảnh hưởng không nhỏ đến nhiều nét văn hóa của Việt Nam, điều đó đặt ra cho thế hệ trẻ của chúng ta biết bao nhiêu câu hỏi làm thế nào để bảo tồn, gìn giữ và phát huy những nét đẹp văn hóa của dân tộc Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang chú trọng việc vừa phát triển kinh tế nông thôn, miền núi vừa giữ gìn và bảo tồn những nét văn hóa truyền thống Nghị quyết V của ban chấp hành TW Đảng Cộng Sản Việt Nam khóa VIII đã khẳng định vị trí và tầm quan trọng trong việc bảo tồn

và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam

1.3 Như một dòng sông mãnh liệt hòa ra đại dương văn hóa bao la của dân tộc, dân ca dân tộc Thái đã có mặt, phát triển và được lưu truyền qua biết bao thế hệ cha ông Nó có vai trò rất quan trọng trong đời sống sinh hoạt cũng như đời sống tinh thần của dân tộc Thái nói chung Nó là hơi thở, là món ăn tinh thần không thể thiếu của những người dân nơi đây Vấn đề đặt ra là cần phải có những chính sách tích cực nhằm duy trì, phát triển giá trị văn hóa này, góp phần giới thiệu đến rộng rãi người dân Việt Nam nói riêng và bạn bè quốc tế nói chung Với những lí do như vậy, nhóm chúng tôi tiến hành nghiên cứu vấn đề về dân ca dân tộc Thái để giải

mã nhưng điều còn bí ẩn trong đó

2 L sử i u

Trang 7

Dân ca dân tộc Thái nói riêng và dân tộc Thái nói chung đã được rất nhiều nhà văn hoá học, lịch sử học,… nghiên cứu Đó là một loại hình nghệ thuật, một sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng lâu đời của người Thái ở Việt Nam

Hiện nay hát dân ca vẫn đang là hình thức sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng tồn tại mạnh mẽ trong cộng đồng các dân tộc người Thái Nhưng hát dân ca của mỗi cộng đồng dân tộc, mỗi địa phương đều có những nét chung và những đặc trưng riêng Chính vì vậy, nó làm cho dân ca dân tộc Thái đa dạng, phong phú hơn rất nhiều

Về vấn đề dân ca dân tộc Thái đã được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu Có công trình nghiên cứu đề cập toàn diện về văn hóa người Thái, có công trình chỉ đề cập đến một số vấn đề Đối với văn hóa dân ca của người Thái thì đã có nhiều công trình nghiên cứu tìm hiểu khác nhau

3 Mụ í , iệm vụ ủ ề tài i u

3.1 Mục đích nghiên cứu

Khi nghiên cứu về đề tài này chúng em hướng tới làm sáng tỏ giá trị vật chất tinh thần của dân ca dân tộc Thái Tìm hiểu để thu thập các bài dân

ca, góp phần làm tăng số lượng bài dân ca dân tộc Thái trong kho tàng dân

ca của dân tộc Việt Nam nói chung và làm đồ sộ thêm cho kho báu của dân tộc Thái nói riêng Việc nghiên cứu đề tài này nhằm mô tả nét đẹp đó cho mọi người cùng biết đến, cũng như giải mã những giá trị nội dung và nghệ thuật trong những làn điệu dân ca - những lời hát tuy rất mộc mạc nhưng lại ẩn chứa nhiều giá trị sâu sắc và thiêng liêng Từ đó mà chúng ta đề ra ra những chính sách tích cực để góp phần giữ gìn, bảo tồn và phát triển giá trị này

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đoàn chúng tôi đến thôn Co Cọi 2, xã Sơn A, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái để nghiên cứu, tìm hiểu, khảo sát về tình hình sử dụng dân ca của

Trang 8

người dân tộc Thái tại đây Đến với địa phương chúng tôi tham gia tìm hiểu, thu thập thông tin, ghi hình bằng các phương tiện kĩ thuật cần thiết cho nghiên cứu

Sau chuyến đi chúng tôi phiên âm dịch nghĩa các bài dân ca mà mình đã thu thập được, làm sáng tỏ ý nghĩa nội dung và nghệ thuật trong

nó, giải mã những tín hiệu tâm linh trong dân ca gắn với đời sống tinh thần của người Thái

4 Đối tượ i u ủ ề tài

Dân ca dân tộc Thái tại thôn Cọi 2, xã Sơn A, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái

5.2 Thời gian nghiên cứu

Quá trình nghiên cứu từ ngày 06/02/2014 đến ngày 11/02/2014 (tức ngày 07/01/2014 đến ngày 12/01/2014 âm lịch)

6 P ư p p i u

6.1 Phương pháp điền dã

6.1.1 Phương pháp quan sát

Nhóm nghiên cứu của chúng tôi đã đến địa phương thôn Co Cọi 2,

xã Sơn A, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái vào thời gian 07/01/2014 đến ngày 12/01/2014 (âm lịch) và thu thập được nhiều thông tin cũng như âm thanh, bài hát qua thính giác về dân ca truyền thống của dân tộc Thái Kết quả thu được là những thông tin dưới dạng âm thanh, lời hát cụ thể, chính

Trang 9

xác để phân tích vấn đề Thu thập thông tin trực tiếp cho nên phản ánh được thực trạng sử dụng dân ca truyền thống trong hoàn cảnh cụ thể Do vậy, việc thu thập thông tin từ phía người dân đảm bảo tính khách quan, đánh giá chính xác hơn

6.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Chúng tôi dựa trên cơ sở đã thu thập được từ các nghệ nhân và người dân để phân tích làm sáng tỏ những ý nghĩa tinh thần của các bài hát dân ca truyền thống của dân tộc Thái

Sau khi phân tích thấy được những khía cạnh của dân ca dân tộc Thái chúng tôi tổng hợp lại để thấy được nội dung tư tưởng của bộ phận nghệ thuật tạo nên nền văn hoá đặc sắc này lâu nay

7 Đó óp mới ủ ề tài

Như chúng tôi tìm hiểu, đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu, tham luận,

đề án nghiên cứu về dân tộc Thái và dân ca dân tộc này Nhưng hầu hết các

đề tài chưa đi sâu làm nổi bật rõ nội dung tư tưởng và ý nghĩa tinh thần của người dân tộc Thái qua những tác phẩm văn hoá dân gian đậm nét - dân ca truyền thống Chúng tôi đã phân thu thập được khá nhiều bài dân ca và phân chia ra từng nội dung nhỏ để dễ dàng cho mọi người đọc và tìm hiểu

về vấn đề này Ví dụ như vấn đề dân ca trong mời rượu, mời khách, trong lao động hàng ngày, trong dịp tết, trong lễ cưới,…

8 Bố ụ ủ bài b o o

Trang 10

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục, Phụ lục thì phần Nội dung của báo cáo gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 2: Kết quả sưu tầm và giá trị nội dung dân ca dân tộc Thái Chương 3: Thực trạng và đề xuất kiến nghị

NỘI DUNG

Trang 11

CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 K i qu t bà t ự tế

1.1.1 Khát quát huyện Văn Chấn

Huyện Văn Chấn, có 31 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn (03 thị trấn và 28 xã) Dân số 145.711 người, gồm 23 dân tộc anh em cùng sinh sống: Kinh, Thái, Tày, Mường, Dao, H'Mông, Nùng, Hoa, Khơ Mú, Phù

Lá, Bố Y Trong đó 8 dân tộc chủ yếu Kinh 34,05 %; Thái 22,38%; Tày 17,11%; Dao 8,93 %; Mường 7,57%; H'Mông 6,22 %; Giáy 1,48%; Khơ

Mú 0,74 %, chia thành 3 vùng cư trú; vùng ngoài đại đa số dân tộc Tày; vùng đồng bằng đa số đồng bào Thái, đồng bào Kinh và Mường; vùng cao chủ yếu dân tộc Dao, H'Mông Mật độ dân số 121 người/km2

Tổng số lao động trong độ tuổi 88.554 người; số lao động trong độ tuổi hoạt động kinh tế 70.866 người; số lao động trong độ tuổi không hoạt động kinh tế 17.688 người, với lực lượng lao động đông đảo chính là nguồn lực, tiềm năng phát triển kinh tế của huyện

Năm Quang Thuận thứ 7 (1446), để tăng cường sự thống nhất về hành chính, Lê Thánh Tông chia cả nước thành 15 đạo thừa tuyên Đến năm thứ 10 (1469), thì định lại bản đồ cả nước để thống nhất cả phủ, huyện vào các thừa tuyên Lúc đó Văn Chấn thuộc phủ Quy Hoá, đạo thừa tuyên Hưng Hoá

Đến triều Nguyễn thuộc vùng Thập Châu, tỉnh Hưng Hoá, sau đó là vùng Tam tổng Nghĩa Lộ, thuộc tỉnh Hưng Hoá

Thời Pháp thuộc, châu Văn Chấn thuộc hạt Nghĩa Lộ, tỉnh Lào Cai

Trang 12

Ngày 11 tháng 4 năm 1900 thực dân Pháp đã lấy các hạt Bảo Hà, Nghĩa Lộ, Yên Bái và châu Lục Yên của tỉnh Tuyên Quang để thành lập tỉnh Yên Bái, theo đó Văn Chấn là một châu thuộc tỉnh Yên Bái Từ năm

1940 đến năm 1945 châu Văn Chấn được đổi thành phủ Văn Chấn

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà ra đời, Văn Chấn là một huyện thuộc tỉnh Yên Bái

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, vùng Tây Bắc được hoàn toàn giải phóng, tháng 5 năm 1955, Đảng, Nhà nước quyết định thành lập Khu tự trị Thái – Mèo, Văn Chấn là một trong 16 châu thuộc Khu tự trị

Tháng 10 năm 1962, Quốc hội quyết định đổi tên Khu tự trị Thái – Mèo thành Khu tự trị Tây Bắc và lập các tỉnh trực thuộc Ngày 24 tháng 12 năm 1962, tỉnh Nghĩa Lộ thuộc Khu tự trị Thái – Mèo chính thức được thành lập, Văn Chấn thuộc tỉnh Nghĩa Lộ

Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khoá V (1976) quyết định bỏ cấp khu trong hệ thống các đơn vị hành chính trong cả nước Ngày 03 tháng 01 năm 1976, tỉnh Hoàng Liên Sơn được thành lập, huyện Văn Chấn trực thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn

Ngày 01 tháng 10 năm 1991, thực hiện Nghị quyết kỳ họp thứ 9 Quốc hội (khoá VII), tỉnh Yên Bái được tái thành lập, huyện Văn Chấn trực thuộc tỉnh Yên Bái

1.1.3 Giới thiệu khát quát về xã Sơn A

Trang 13

Có 10 thôn bản, 1141 hộ, với 4869 nhân khẩu, 4 thôn bản đặc biệt khó khăn thuộc chương trình 135 của chính phủ, gồm 9 dân tộc cùng sinh sống Trong đó dân tộc Thái chiếm 55%, tập trung tại 5 thôn Bản Cóc, Bản Viềng, Co Cọi 1, 2, 3, Dân tộc Mường 38%, còn lại là dân tộc Kinh, Tày, Hoa, Dao, Nùng, Sán Dìu, Dáy Có 23 hộ (130 khẩu) theo đạo thiên chúa

Năm 2013 dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy, ngay từ đầu năm UBND

xã đã tập trung tổ chức thực hiện các giải pháp chỉ đạo, điều hành thực hiện các giải pháp chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng của xã Cán bộ nhân dân các dân tộc

xã Sơn A, đã có nhiều cố gắng, nỗ lực vượt qua khó khăn, thử thách giành thắng lợi, đã hoàn thành vượt mức hầu hết các mục tiêu nhiệm vụ đặt ra Đảng bộ đạt danh hiệu vững mạnh tiêu biểu

1.1.3.2 Phát triển kinh tế

* Sản xuất nông lâm nghiệp

Nhìn chung tổng diện tích gieo cấy cả năm 2013 là 410 ha/năm gieo cấy đạt 100% diện tích với cơ cấu giống

Tổng sản lượng lương thực có hạt là 2910 tấn đạt 100,4% kế hoạch huyện giao năm 2013, lương thực bình quân đầu người đạt 598 kg/người/năm tương đương với 50 kg/người/tháng

* Nông nghiệp

Nghề nghiệp ở đây chủ yếu là sản xuất nông nghiệp lúa nước Ngoài trồng trọt ra xã còn chú trọng nghề chăn nuôi để tăng thu nhập về kinh tế Về chăn nuôi hiện nay tổng đàn trâu, bò, ngựa 540 con giảm 14 con, đàn lợn 3902 con tăng 582 con Gia cầm trung bình mỗi hộ nuôi từ 25 con trở lên

1.1.3.3 Về văn hóa xã hội

* Về giáo dục đào tạo

Trang 14

Năm 2013 - 2014 có tổng số học sinh là: 1079 học sinh Trong đó: mầm non 271 học sinh, trường tiểu học 441 học sinh,trường trung học cơ

sở 414 học sinh

* Công tác y tế - Dân số GDTE

Đội ngũ cán bộ của trạm y tế trực 24/24 giờ, trong năm 2013 tổ chức khám cho 10.070 lượt người, điều trị 9.278 lượt người, chuyển tuyến 792 lượt Thực hiện tiêm chủng đầy đủ 7 loại 7 loại vắc xin, tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi 25,6%, trẻ dưới 2 tuổi 17,2% Toàn xã thực hiện môi trường vệ sinh, sử dụng nước đảm bảo và có nhà tiêu hợp vệ sinh

Công tác dân số: Mức tăng dân số tự nhiên 1,3%, có 1 trường hợp sinh con thứ 3 tại thôn Co Cọi 3

* Hoạt Động Văn Hóa - Văn Nghệ - TDTT

Phong trào VHVN - TDTT được duy trì và giữ vững ở các thôn bản, trong năm 2013 đã tổ chức giao lưu văn nghệ giữa các thôn bản được 12 đợt (nhân dịp mừng Đảng, mừng xuân Quý Tỵ và nhiều sự kiện trọng đại của năm, giao lưu giữa lực lượng dân quân năm thứ nhất của huyện huấn luyện tại xã)

Duy trì hoạt động thường xuyên khu Suồi nước nóng thôn Co Cọi 1

và quản lí tốt khu vực Hang Thẩm Han Ao Luông 3

Duy trì, bảo tồn những nét văn hóa tiêu biểu đặc sắc của dân tộc Thái, Mường trên địa bàn như tiếng nói, trang phục, ẩm thực, lễ hội (xíp xí,

lễ cúng cơm mới)

Trang 15

Hình ảnh: Cán bộ xã, thôn địa phương báo cáo tình hình tại nhà văn hoá thôn Co Cọi 2

1.1.4 Khái quát Thôn Co Cọi 2

1.1.4.1 Về đặc điểm tình hình

Thôn Co Cọi 2, nằm ở phía tây của xã Sơn A có con đường quốc lộ

32 chạy qua phía bắc giáp thôn Co Cọi 3, phía đông giáp ao luông 1, phía tây giáp thôn Bản Cóc, phía nam giáp bản Viềng

Toàn thôn có 120 hộ với 543 nhân khẩu Có 4 thành phần dân tộc cùng sinh sống, đó là Thái, Tày, Kinh, Mường

Trong đó: Thái có 101 hộ

Kinh có 12 hộ

Mường có 5 hộ

Tày có 4 hộ

Thôn có một chi bộ Đảng lãnh đạo gồm có 19 Đảng viên, trong đó

có 1 Đảng viên được tặng huy hiệu 30 năm tuổi Đảng, 3 Đảng viên được tặng huy hiệu 40 năm tuổi Đảng Thôn có 1 chi hội phụ nữ,1 chi hội người cao tuổi, 1 chi hội cựu chiến binh, 1 chi hội thanh niên và các đoàn thể thường xuyên sinh hoạt đều đặn

Trang 16

Toàn thôn có nghề nghiệp chính là sản xuất nông nghiệp chuyên canh cây lúa nước

1.1.4.2 Về sản xuất nông nghiệp

Toàn thôn có tổng diện tích là 39 ha diện tích đất canh tác, trong đó lúa nước là 19,9 ha, sắn là 5 ha, ngô đồi là 4 ha còn lại là các loại rau mầu khác

1.1.4.3 Về đường giao thông nông thôn

Có đường xuyên suốt các thôn với nhau, có thể đi lại bằng ô tô, xe máy

1.1.4.3 Về văn hóa xã hội

* Về văn hóa giáo dục

Các cháu đủ tuổi đến lớp đều được đến lớp 100%, cụ thể:

 Tiểu học 52 học sinh

 Trung học cơ sở 27 học sinh

 Phổ thông trung học 14 học sinh

 Mẫu giáo 17 học sinh

Ngoài ra, hiện nay các học sinh đã và đang theo học tại các trường Trung cấp, Cao đẳng, Đại học và các trường chuyên nghiệp khác

Năm học vừa qua (năm 2012 - 2013) có 17 học sinh Tiểu học đạt danh hiệu học sinh giỏi cấp trường

* Về hoạt động văn hóa, văn nghệ

Thôn củng cố và duy trì 2 đội văn nghệ của hội phụ nữ và hội người cao tuổi để biểu diễn giao lưu trong các ngày lễ tết của thôn và các đơn vị bản

Thôn đã vận động nhân dân đóng góp công, của xây dựng được nhà văn hóa thôn tại trung tâm

1.2 K i qu t u về ười T i

1.2.1 Vài nét lịch sử dân tộc Thái

1.2.1.1 Lịch sử tộc người Thái

Trang 17

Đất nước Việt Nam trải dài theo hình chữ S, có 54 dân tộc anh em cùng sinh sống đoàn kết với nhau Trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, có một cộng đồng người tự nhận mình bằng tên riêng Tăy hay Thăy

và được gọi chính thức là Thái

Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm Theo những sử liệu còn lưu lại thì người Thái có mặt ở Việt Nam khoảng thế kỷ VI Dân tộc thái có dân số khá đông, theo tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 người Thái

có dân số 1.550.423 người, là dân tộc có dân số đứng thứ 3 ở Việt Nam, có mặt trên tất cả 63 tỉnh thành phố Người thái cư trú tập trung tại các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An… Người Thái còn có tên gọi là Táy bao gồm các nhóm Táy Đăm, Táy Khao, Tày Mười, Tày Thanh Hàng Tổng, Pu Thay, Thổ Đà Bắc Thái thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái Bắt đầu từ phía Đông với miền đất Thái gọi là Mường Lò ở tây bắc Yên Bái Sang phía Tây gồm toàn bộ địa phận ba tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn La Phía Nam người thái sinh sống ở Tây Bắc, Hòa Bình và hai tỉnh miền tây Thanh Hóa, Nghệ An

Ảnh: Người Thái ở Việt Nam

Ngoài ra người thái còn sinh sống rải rác trong các tỉnh thuộc vùng núi Tây Nguyên như Đăk lăk, Đăk Nông là nơi họ tập trung hơn cả Trải

Trang 18

qua hàng nghàn năm sinh sống trên dải đất Việt Nam, dân tộc Thái cũng đã cùng 53 dân tộc anh em khác, tham gia dựng nước và giữ nước Đây cũng chính là quá trình hình thành tộc người phát triển cho tới ngày nay, kế thừa một nền văn minh cổ truyền của cha ông, người Thái đã đóng góp không nhỏ vào kho tàng văn hóa chung của các dân tộc Việt Nam

Người thái không theo một tôn giáo chính thống nào trên thế giới mà theo một trong những tập tục có nghi thức thờ Nước (nặm) và Đất gọi là Cạn (bốc) Nước có biểu tượng hình con Rồng, Đất có biểu tượng là loài chim trên núi mang tên chủ đất và tục thờ này nằm trong toàn bộ nghi thức

lễ cúng Mường (xên mương) Theo truyền thống Thái Đen và Thái Trắng

có tục lệ thờ cúng Mẹ - Cha gắn với biểu tượng Rồng - Nước Điều này cho thấy mối quan hệ giữa văn hóa biểu tượng cội nguồn giữa người Thái với truyền thuyết thủy tổ của người việt Truyền thuyết kể rằng xưa Âu Cơ

và Lạc Long Quân tương ứng Mẹ thủy tổ là Âu Cơ còn Cha thủy tổ là ông Lạc Mẹ Âu Cơ sinh được bọc trăm trứng và nở thành trăm người con trai, khi các con lớn cũng là lúc mẹ Âu Cơ và cha lạc Long Quân phải rời xa nhau và năm mươi người con theo mẹ lên núi và năm mươi người con theo cha xuống biển Từ đó hình thành nên bức tranh về sự hình thành người thuộc nói tiếng Thái có liên hệ mật thiết với người Việt trong hàng ngàn năm hình thành và phát triển của loài người Theo các nhà nghiên cứu ,thì

tổ tiên của người Thái đã sinh cơ lập nghiệp tại một vùng đất nào đó trên lãnh thổ đất nước ta hiện nay, đã có một phần người Thái cư trú ở đất Mường Thanh bây giờ Dân tộc Thái chia thành nhiều nghành, mỗi nghành chia thành nhiều nhóm khác nhau Thái Trắng (Tay khao hoặc Tay Đon)

cư trú ở huyện Mường La, Mường Chiến (Huyện Quỳnh Nhai) thuộc tỉnh Sơn La;các huyện Mường Lay, Mường Tè và Mường So (huyện Phong Thổ) tỉnh Lai Châu; Mường Tấc, Mường Xang (huyện Mộc Châu) tỉnh Hòa Bình; các bộ phận có tên gọi là Tay Mường, Tay Chiêng, Hàng Tổng thuộc nhóm Tay Dọ hiện nay

Trang 19

Thái Đen (Tay Đăm) cư trú ở Mường Lò (Văn Chấn, Yên Bái) Mường Than, Mường Mua, Mường La, Mường Muổi, Mường Dôn, Mường Vạt Yên thuộc tỉnh Sơn La, tỉnh Điện Biên; các bộ phận tên gọi Tay Thanh, Tay Đèng thuộc nhóm Tay Nhại cư trú ở miền Tây hai tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An

Lịch sử phát triển và tồn tại của người thái theo con đường dích dắc qua hàng nghàn năm, nhưng những người nói tiếng Thái vẫn giữ được mạch tư duy văn hoa, lưỡng phân, lưỡng hợp để tưởng nhớ quê cha đất tổ

xa xưa

1.2.1.2 Dân tộc Thái ở Tây Bắc

Theo những ghi chép trong các tập sử thi của người Thái, thì họ thiên di từ Tây Nam, Vân Nam (Trung Quốc) vào Tây Bắc việt nam với nhiều đợt từ thế kỷ VII đến thế kỷ XIV, trong đó có ba đợt di thiên lớn vào thế kỷ IX đến thế kỷ XI Cũng có ý kiến cho rằng, ngành thái Trắng và ngành Thái Đen có cùng nguồn gốc tổ tiên Vào đầu thiên niên kỷ I TCN,

tổ tiên của người Tày - Thái cổ đã từng tham gia vào việc xây dựng quốc gia Âu Lạc của Thục An Dương Vương (sau đó một bộ phân di cư người tày hiện nay Còn bộ phân thái Đen có mặt đầu tiên tại Mường Lò (Văn Chấn, Yên Bái) là con cháu Tạo Xuông và Tạo Ngần gốc từ Vân Nam, Trung Quốc di cư sang

Là dân tộc cư trú khá đông ở miền Tây Bắc, năm 1955 người Thái ở Tây Bắc nước ta có 22 vạn người, thì đến năm 1989 riêng người Thái ở tỉnh Sơn La đã có khoảng 40 vạn người, năm 2005 có khoảng 52 vạn người Có thể thấy rõ điều này khi khảo sát phân bố dân cư ở Sơn La Người Thái ở Tây Bắc là một bộ phận tiêu biểu của người Thái Mặc dù có những đặc trưng, phong tục cơ bản riêng biệt, nhưng người Thái ở Tây Bắc vẫn chia thành hai ngành Thái đen và Thái trắng

Trang 20

Ảnh: Cụ bà người Thái ở Tây Bắc

Người Thái ở Sơn La có khoảng 572.441 người, chiếm 53,2% dân

số toàn tỉnh và 36,9% tổng dân số người thái, Điện Biên 186.270 người, chiếm 38,0% dân số toàn tỉnh và 12,0% tổng dân số người thái, Yên Bái 53.140 người, Hòa Bình 31.386 người Sự phân chia hai ngành Thái Trắng, Thái Đen ở Tây Bắc Việt Nam Hiện nay là kết quả của một quá trình di cư của người Thái dẫn tới sự phân bố không đồng đều Đến nay mặc dù người Thái vẫn có các nhóm địa phương ở phía bắc và phía nam, nhưng tựu trung lại chỉ là một dân tộc mà tên thường gọi là “người thái ở Tây Bắc Việt Nam”

1.2.2 Người thái ở thôn Co Cọi 2, xã Sơn A, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái

Người Thái ở thôn Co Cọi 2, xã Sơn A, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái là một bộ phận của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam Dân tộc Thái có khoảng 41.000 người chiếm 6,1% dân số tỉnh Yên Bái, có 4 đơn vị hành chính, phía tây tỉnh là thị xã Nghĩa Lộ với các huyện Văn Chấn, Trạm Tấu,

Mù Cang Chải là nơi người Thái sinh sống nhưng đông hơn cả là ở 11 xã gồm Tú Lệ, Hạnh Sơn, Phúc Sơn, Thanh Lương, Phù Nham, Sơn A, Sơn Lương, Gia Hội và Nghĩa Phúc, Nghĩa An, Nghĩa Lợi Riêng người Thái

Trang 21

sinh sống ở Văn Chấn chiếm 8,96% tổng số người thái ở Yên Bái Ngoài ra người Thái còn ở 4 phường của thị xã Nghĩa Lộ, xã Hát Lừu và một số ít ở huyện Mù Cang Chải

Theo các nhà khoa học và căn cứ vào cuốn sử chép tay của người Thái “Quam tô Mường” (Chuyện kể bản Mường) và “Táy Pú Sấc” (bước đường chinh chiến của cha ông), thì vào thế kỉ XI, nhóm người Thái do anh em Tạo Xuông, Tạo Nguồn đẫn đầu đến Việt Nam, nơi đặt chân đầu tiên là Mường Min (Huyện Văn Chấn), bon phận thía Đen từ Mường Ôm, Mường Ai thượng sông hồng đầu tiên đến khai phá cánh đồng Mường Lò (Văn Chấn)…

Người Thái ở thôn Co Cọi 2 tổng số 120 hộ với 534 nhân khẩu và có

4 thành phần dân tộc cùng sinh sống nhưng trong đó người Thái chiếm phần đông hơn cả, người Thái ở đây vẫn giữ được truyền thống sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước Tắm suối là tập quán lâu đời của người dân tại nơi đây nhất là đối với phụ nữ và thiếu nữ Suối Nung suối nước nóng ở bản Co Cọi xã Sơn A là nơi thường xuyên diễn ra sinh hoạt văn hóa có nhiều nét riêng biệt này người Thái ở đây sống với nhau rất đoàn kết và thân thiện Áo cỏm và váy là trang phục riêng biệt nhất của dân tộc Thái tại đây, trang phục và trang sức đều rất đặc sắc Đồng bào Thái tự hào với nguồn gốc lịch sử của dân tộc, với văn minh lúa nước lâu đời Đồng bào đoàn kết với các dân tộc anh em khác vươn lên xóa đói giảm nghèo góp phần đưa thôn Co Cọi 2, xã Sơn A, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái trở thành tỉnh giàu mạnh

1.3 Dâ â t T i

1.3.1 Khái niệm dân ca

Trước hết, dân ca là một thể loại của văn học dân gian Dân ca là những bài hát đã đi vào kho tàng nghệ thuật dân gian bằng cách truyền khẩu trong nhân dân Chúng luôn được biến đổi và không thuộc bản quyền của một tác giả nào từ ban đầu Như vậy có thể nhiều dị bản khác nhau cho

Trang 22

một bài dân ca vì trong quá trình lưu truyền, nhân dân sẽ có nhiều sáng tạo

bổ sung thêm vào bài ca nguyên thủy

1.3.2 Dân ca dân tộc Thái

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc đều có những nét văn hóa đặc trưng riêng của dân tộc đó mà mỗi dân tộc không giống nhau Trong đó dân ca là một đặc trưng cơ bản của dân tộc Thái đã được lưu truyền từ bao đời nay Là một bộ phận hợp thành của nền văn học việt nam dân ca dân tộc Thái đã có những đóng góp quan trọng đối với sự phát triển của nền thơ ca Việt Nam Thực tế cho thấy thơ ca đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống của dân tộc Thái Dân ca dân tộc Thái có nhiều thể loại rất phong phú như hát ru, hát đồng dao, hát giao duyên, hát trong lao động, hát then, hát mo và hát phong tục và còn nhiều thể loại khác bài hát kể về những chuyện đời thường như hát trách người say, hát

bò ăn váy , những bài dân ca này thường được hát theo chủ đề trong đời sống hàng ngày hay các dịp lễ hội Tất cả những thể loại đó đã góp phần tạo nên một kho tàng dân ca phong phú và đắc sắc của người Thái Những bài dân ca ấy đã ăn sâu vào trong tiềm thức các thế hệ, là một thể loại không thể thiếu trong cuộc sống của con người dân tộc Thái Dân ca vừa

có ý nghĩa tinh thần đối với dân tộc thái vừa có ý nghĩa văn hóa đối với kho tàng dân ca mang đậm đà bản sắc dân tộc Việt nam Đối với người dân tộc Thái dân ca là món ăn tinh thần không thể thiếu, dân ca trở thành một phần quan trọng trong đời sống sinh hoạt cũng như trong lao động Những bài dân ca hát theo chủ đề ấy nuôi dưỡng tâm hồn cho bao lớp thế hệ, là áng văn thơ thuần khiết Hát giao duyên thường hát vào mùa xuân, vào các dịp lễ hội con trai con gái hát đối đáp với nhau, hát về tình yêu đôi lứa, yêu quê hương đất nước con người Tiếng hát lao động, hát then, hát khắp, hát

mo và hát phong tục và còn nhiều thể loại khác bài hát vui về những chuyện đời thường như hát trách người say, hát bò ăn váy Mỗi khi có dịp vui thì thì người dân tộc Thái lại cất tiếng hát, đem niềm vui lan toả khắp

Trang 23

nơi Một lần khắp thường có 5 - 8 người, trong đó một người khắp chính

và những người còn lại thì hát đáp lời… Tất cả những thể loại đó đã góp phần tạo nên một kho tàng dân ca phong phú và đặc sắc của người Thái mang đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam Đồng thời là di sản văn hóa phi vật thể cần được lưu giữ và bảo tồn

Trang 24

CHƯƠNG 2 KẾT QUẢ SƯU TẦM

VÀ GIÁ TRỊ NỘI DUNG CỦA DÂN CA THÁI

1 Kết quả sưu tầm

Trong suốt thời gian tìm hiểu địa bàn thực tế, được tiếp xúc với người dân của bản Thái ở thôn Co Cọi 2, xã Sơn A, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái nhóm nghiên cứu chúng tôi đã thu thập được những thông tin quan trọng

và có giá trị phục vụ cho đề tài nghiên cứu của nhóm mình Qua đó thấy được tính thiết thực của đề tài nghiên cứu cũng như chắc chắn hơn về hướng nghiên cứu đã được vạch ra từ trước đó Tài liệu thực tế thu được

bao gồm:

1.1 Tài liệu bằng văn bản

1.1.1 Dân ca trong các dịp trọng đại

1.1.1.1 Lễ Cưới

- Ta Nai Hẩư Lụk Pên Phua Mia (Cha Mẹ Bên Gái Ưng Thuận)

- Chai Tô Xo Po Me Pay Tham Pâư (Nam Nói Xin Bố Mẹ Đi Hỏi Cưới Con Dâu)

- Po Me Tốp Quam Lụ Nhung (Bố Mẹ Đáp Lời Con Gái)

1.1.1.2 Lễ Tết (tài liệu ghi âm)

1.1.2 Dân ca trong cuộc sống hàng ngày

- Dọn Tung Quân (Mượn Điếu Hút)

- Tham Dọn Tăng (Mượn Hỏi Ghế)

-Tặc Tuộng (Chào Hỏi)

- Xư Chắng Bắu Pua Ma? (Sao Không Mang Theo?)

- Khửn Hạn Lẹo Nhăng Xông Dưn (Lên Sàn Rồi Còn Đứng)

Trang 25

- Chuốp Hịn Nhung Kin (Bị Dĩn, Muỗi Đốt)

- Bắu Hê Mi Lay Khửn (Chưa Có Thang Lên)

- Bấu Âu Láy Nọong Bắu Phãng (Anh Sẽ Cưới Em Bằng Được)

- Thả Peng Xia Lạ (Tiếc Phận Đợi Chờ)

- Va Pi Tham Ha Nọong (Nếu Anh Hỏi Thăm Em)

- Chang Xấư Nộc Dẻng Dẹ (Than Thân Với Chích Chòe)

- Quam Xăng Bấu Ău Lây Căn (Lời Chào Dặn Không Lấy Được Nhau)

- Tham Lôm (Hỏi Gió)

- Hát Thương Yêu (Khắp Báo Xao)

- Khép Mon Lôi Vạy Thả (Ghép Gối Đôi Đợi Chờ)

- Quam Hẹn Chao (Lời Hẹn Ước)

- Bươn Xiểng Nọong Non Lẹo Qua (Trăng Sáng Chắc Ngủ Rồi)

- Ái Êm Khốm Ău Phua (Cha Mẹ Ép Lấy Chồng)

1.1.6.Hát Mời Trầu, Mời Rượu, Mời Thuốc

- Khắp Mú Lẳu Pan Khẳu (Hát Ở Mâm Cơm, Mâm Rượu)

1.1.7 Hát Lao Động

- Xao Bai Hay (Cô Xới Nương)

- Púk khẩu khẩu li liệng quai quai pe (Trồng Lúa Lúa Tốt Nuôi Trâu Trâu Nhiều)

1.2 Tài Liệu Ghi Âm

Trang 26

Ngoài ra nhóm nghiên cứu chúng tôi còn thu được các tài liệu bằng video, hình ảnh,… và một số văn bản quan trọng khác

và mang đến nền văn hóa riêng Cũng như các dân tộc anh em khác người Thái ăn Tết rất linh đình nhộn nhịp Họ thường ăn Tết tới ngày mười lăm tháng Giêng Cũng như các dân tộc trong ngày Tết mọi người đi chơi đến xông nhà và chúc nhau những điều tốt đẹp nhất Mong cho một năm mới

có nhiều niềm vui, sức khoẻ dồi dào, mùa màng bội thu Họ chúc nhau những câu chúc ân tình:

“Cầu nguyện cho năm mới gia đình Năm hết tết đến

Tết năm ngoái không vui bằng Tết năm nay Tết năm ngoái không có gì hết Tết năm nay có nhiều Chăn nuôi giỏi nuôi được nhiều trâu bò

Lá Bương rơi xuống nước thành cá

Lá Rướng xuống ruộng biến thành lúa

Lá cây rơi xuống cửa biến thành tiền.”

Lời thơ tuy giản dị mộc mạc mà chan chứa bao tình cảm của những người dân miền núi chân chất hiền lành Từ xưa tới nay đời sống của các dân tộc miền núi luôn vất vả gian truân, cuộc sống của họ luôn gắn liền với nương rẫy núi đồi, điều kiện canh tác gặp muôn vàn khó khăn mới làm ta được những hạt lúa hạt ngô để nuôi sống gia đình Giao thông đi lại gặp rất nhiều khó khăn nên họ chậm bắt nhịp được với cuộc

Trang 27

sống nơi đô thị đông người Nhưng dù cho cuộc sống có khó khăn thì họ vẫn vui vẻ lạc quan Cuộc sống càng khó khăn thì họ càng mơ ước có một cuộc sống tươi đẹp hơn Như là một điều thần kì sẽ đến với họ Giống như trong truyện cổ tích có những bà tiên Phải chăng chính họ là những bà tiên ông bụt có thể biến ước mơ đó trở thành hiện thực

" Lá Bương rơi xuống nước thành cá

Lá Rướng rơi xuống nước thành lúa

Lá cây rơi xuống cửa sổ thành tiền."

Dù là dân tộc thiểu số hay dân tộc đa số mỗi dịp tết đến Xuân về họ luôn giành cho nhau những lời chúc tốt đẹp nhất mong chờ cho một năm mới an lành hạnh phúc cuộc sống no đủ đó là tình cảm thiêng liêng của những người con đất Việt

Những tục lệ đón Tết đều mang một ý nghĩa đặc biệt và mang đến nền văn hóa riêng Cũng như các dân tộc anh em khác người Thái ăn Tết rất linh đình nhộn nhịp Họ thường ăn Tết tới ngày mười lăm tháng Giêng Cũng như các dân tộc trong ngày Tết mọi người đi chơi đến xông nhà và chúc nhau những điều tốt đẹp nhất Mong cho một năm mới có nhiều niềm vui, sức khoẻ dồi dào, mùa màng bội thu Họ chúc nhau những câu chúc

Lá Bương rơi xuống nước thành cá

Lá Rướng xuống ruộng biến thành lúa

Lá cây rơi xuống cửa biến thành tiền

Lời thơ tuy giản dị mộc mạc mà chan chứa bao tình cảm của những người dân miền núi chân chất hiền lành Từ xưa tới nay đời sống của

Trang 28

các dân tộc miền núi luôn vất vả gian truân, cuộc sống của họ luôn gắn liền với nương rẫy núi đồi, điều kiện canh tác gặp muôn vàn khó khăn mới làm ta được những hạt lúa hạt ngô để nuôi sống gia đình Giao thông đi lại gặp rất nhiều khó khăn nên họ chậm bắt nhịp được với cuộc sống nơi đô thị đông người Nhưng dù cho cuộc sống có khó khăn thì họ vẫn vui vẻ lạc quan Cuộc sống càng khó khăn thì họ càng mơ ước có một cuộc sống tươi đẹp hơn Như là một điều thần kì sẽ đến với họ Giống như trong truyện cổ tích có những bà tiên Phải chăng chính họ là những bà tiên ông bụt có thể biến ước mơ đó trở thành hiện thực

Lá Bương rơi xuống nước thành cá

Lá Rướng rơi xuống nước thành lúa

Lá cây rơi xuống cửa sổ thành tiền

Dù là dân tộc thiểu số hay dân tộc đa số mỗi dịp tết đến Xuân về họ luôn giành cho nhau những lời chúc tốt đẹp nhất mong chờ cho mộtrhn năm mới an lành Chuyện vui Xuân đón Tết của người Thái ở Văn Chấn Yên Bái luôn gắn liền với những phong tục tập quán Với người Thái những tục lệ đón Tết đều mang một ý nghĩa đặc biệt và mang đến nền văn hóa riêng Cũng như các dân tộc anh em khác người Thái ăn Tết rất linh đình nhộn nhịp Họ thường ăn Tết tới ngày mười lăm tháng Giêng Cũng như các dân tộc trong ngày Tết mọi người đi chơi đến xông nhà và chúc nhau những điều tốt đẹp nhất Mong cho một năm mới có nhiều niềm vui, sức khoẻ dồi dào, mùa màng bội thu Họ chúc nhau những câu chúc ân tình:

Cầu nguyện cho năm mới gia đình Năm hết tết đến

Tết năm ngoái không vui bằng Tết năm nay Tết năm ngoái không có gì hết Tết năm nay có nhiều Chăn nuôi giỏi nuôi được nhiều trâu bò

Lá Bương rơi xuống nước thành cá

Trang 29

Lá Rướng xuống ruộng biến thành lúa

Lá cây rơi xuống cửa biến thành tiền

Lời thơ tuy giản dị mộc mạc mà chan chứa bao tình cảm của những người dân miền núi chân chất hiền lành Từ xưa tới nay đời sống của các dân tộc miền núi luôn vất vả gian truân, cuộc sống của họ luôn gắn liền với nương rẫy núi đồi, điều kiện canh tác gặp muôn vàn khó khăn mới làm ta được những hạt lúa hạt ngô để nuôi sống gia đình Giao thông đi lại gặp rất nhiều khó khăn nên họ chậm bắt nhịp được với cuộc sống nơi đô thị đông người Nhưng dù cho cuộc sống có khó khăn thì họ vẫn vui vẻ lạc quan Cuộc sống càng khó khăn thì họ càng mơ ước có một cuộc sống tươi đẹp hơn Như là một điều thần kì sẽ đến với họ Giống như trong truyện cổ tích có những bà tiên Phải chăng chính họ là những bà tiên ông bụt có thể biến ước mơ đó trở thành hiện thực

Lá Bương rơi xuống nước thành cá

Lá Rướng rơi xuống nước thành lúa

Lá cây rơi xuống cửa sổ thành tiền

Dù là dân tộc thiểu số hay dân tộc đa số mỗi dịp tết đến Xuân về họ luôn giành cho nhau những lời chúc tốt đẹp nhất mong chờ cho một năm mới an lành hạnh phúc cuộc sống no đủ đó là tình cảm thiêng liêng của những người con đất Việt Hạnh phúc cuộc sống no đủ đó là tình cảm thiêng liêng của những người con đất Việt

2.1.2 Dân ca trong lễ cưới

Tình yêu luôn là một đề tài muôn thuở trong dân ca của các dân tộc miền núi Tình yêu của họ luôn được dãi bày qua những lời dân ca ngọt ngào đằm thắm Dù là của dân tộc nào đi nữa, khi trai gái yêu nhau họ luôn

có một mơ ước sẽ đến với nhau trở thành vợ chồng Sau khi đôi trai gái tìm hiểu rõ về nhau họ quyết định tổ chức đám cưới Người con trai xin gia đình cho đi xin cưới dâu Nam nói xin bố mẹ đi hỏi cưới con dâu:

Bây giờ anh mừng vui bày tỏ nỗi niềm,

Trang 30

Anh đi tìm kiếm nơi nương tựa xây dựng gia đình

Thưa cha cùng mẹ nghe con tỏ bày, Con cùng em ấy chuyện trò với nhau, Đôi bên tính kỹ suy sâu hiểu tìm

Se duyên hai nhỏ thành đôi vợ chồng Nghe con cha mẹ vui lòng liệu lo

Kiếm tìm quả nhỏ bánh ngọt kèm theo

Rồi nhà rảo bước rủ cùng ra đi

Đi đến bên kia gặp đằng nhà gái

Tỏ lòng xin hỏi tính kỹ dở hay

Xin hỏi bên ngoại ông bà nghĩ sao

Hãy thương đôi trẻ cho nhà trai rõ cùng

Nếu thương hai đứa cho thành đôi được lòng

Sau khi chàng trai bày tỏ tình cảm của mình cùng người yêu với cha

mẹ, rằng tình yêu đã đến độ chín muồi và xin cha mẹ sang hỏi cưới cô gái

về làm vợ, làm con dâu trong gia đình Cũng như các dân tộc khác khi đi hỏi cưới (lễ ăn hỏi) nhà trai gồm bố mẹ người con trai cùng anh em họ hàng trong nhà với chàng trai mang lễ vật sang hỏi cưới người con gái Bằng những lời dân ca ngọt ngào thắm đượm tình cảm chàng trai đã nói :

Con cùng em ấy chuyện trò với nhau Đôi bên tính kỹ suy sâu hiểu tìm…

Đó là lời của người con trai khi xin bố mẹ đi hỏi cưới vợ cho mình cùng song song với việc chàng trai thưa cùng cha mẹ việc cưới vợ thì bên phía cô gái cũng xin cha mẹ về việc có tình cảm với người con trai

Trang 31

Nói ra những lời ngọt ngào trăm câu Đáp chàng con cũng ngọt ngào ái ân Cha sinh mẹ dưỡng nghĩ sao việc này Xin cha luận ý đáp lời bảo con thưa cha

Người thiếu nữ khi xuống chơi ở Hạn Khuống, đã gặp được rất nhiều chàng trai ở các nơi khác nhau, mường khác nhau, nàng đã đem lòng yêu thương một anh Tình cảm của đôi trai gái đã nảy nở họ mang niềm vui về dãi bày cùng cha mẹ Cô gái đã thưa với gia đình ràng cô đem lòng yêu anh chàng dưới Hạn Khuống và xin ý kiến của cha mẹ hi vọng cha mẹ

sẽ đồng ý chuyện tình cảm của đôi uyên ương này

Cha sinh mẹ dưỡng nghĩ sao việc này Xin cha luận ý đáp lời bảo con thưa cha

Mặc dù cô gái đã đem lòng yêu thương chàng trai rất nhiều nhưng

cô vẫn đặt chữ hiếu lên hàng đầu, phải được sự đồng lòng của cha mẹ Chứng tỏ cô vừa là một người con hiếu thảo nhưng cũng rất tình nghĩa

Biết được rằng con gái mình là một người con có hiếu nên đã thuận theo ý của con đồng ý tình yêu mà con mình lựa chọn:

“Cha mẹ nhà gái ưng thuận”

Phiên âm:

Ta nai hẩư lục pền phua mia

Ta nai leo Khan quam fản fứm

Va hẩu chính chê hại hươn dảo khó cặt fẹ Chỉ păn hẩư pên lôi xôm xẻng

Ban bêng hẩư xoong nọi pên cu đôi xoong

Po thẳu po bẩu heng

Chăư kin xạ phắc xeng

Chăư kin heng khửa lả Chăư kin xạ pa há khươi lun Têng xoong nọi dươn choóng chện lỏ

Trang 32

Hẩư pek châu pi noọng hươn dảo xáng bang Têng êm ái xoong hươn cạy tó

Coi choóng dượn mưa nả xáng bang lụk ơi !

Và cha mẹ đôi bè được cậy nhờ Hãy gắng siêng làm lụng sau này vẻ vang con ơi !

Sau khi chấp thuận theo ý con gái cha mẹ của cô gái có đôi lời với bên nhà chàng trai:

Nếu không chê gia đình chúng tôi nghèo túng thực lòng

Sẽ cho hai trẻ tác thành

Se duyên hai đứa nên đôi vợ chồng

Mong rằng chàng trau cô gái sẽ được hạnh phúc Cha mẹ rồi cũng già đi không thể là chỗ dựa mãi cho người con gái Cầu mong cho hai đứa nên duyên vợ chồng, cố gắng làm lụng để làm nên sự nghiệp cho cha mẹ hai bên được cậy nhờ, được mở mày mở mặt vì các con Cha mẹ của cô gái

đã đặt niềm tin rất lớn vào chàng trai mong rằng anh ta sẽ mang lại hạnh phúc cho người con gái của mình để cha mẹ cũng được trông cậy một phần

Trang 33

Mong ăn rổ rau xanh Mong nhờ sức rể út Mong ăn nhờ rỏ cá anh vũ của rể cuối Khuyên hai con gắng chăm sức lụng làm Sao cho bằng người cửa nhà đủ đầy

Và cha mẹ đôi bè được cậy nhờ Hãy gắng siêng làm lụng sau này vẻ vang con ơi!

Phải rất cố gắng để vun đắp cho gia đình, đây không chỉ là niềm tin

sự mong đợi của cha mẹ vợ vào người con rể tương lai mà còn là trách nhiệm của chàng rể Cá “Anh Vũ” là một loài cá quý có cách đây 4000 năm là họ hàng của loài cá chép Đây là một chi tiết đặc biệt được tác giả dân gian nhắc tới trong bài thơ Nó càng làm tăng thêm niềm tin của cha

mẹ cô gái vào chàng rể tương lai và cũng là trách nhiệm của anh với gia đình Sau khi được cha mẹ của người yêu chấp nhận chàng trai về thưa với cha mẹ mình để chuẩn bị làm lễ cưới dâu cho anh

Phiên âm:

Ái cưn hươn tản xứ pò mè

Chơ nặn chà chẳng cưn xư hươn ha dảo Uôn chẳng tận xu chẩu me liêng tênh po chom king Nâu khuống bôn bao xao muôn mua hưn hưn…

Dịch:

Anh trở về thưa với mẹ cha, Khi ấy anh trở lại về với gia đình, Anh thưa câu chuyện kể cùng với cha mẹ,

“Hạn Khuống”nọ nam thanh nữ tú xum vui…

Chàng trai vui mừng trở về bày tỏ cùng cha mẹ Thưa với cha mẹ câu chuyện anh đi chơi ở Hạn Khuống, gặp được ý chung nhân, được cô gái yêu thương và cha mẹ bên ấy cũng chấp thuận cho hai đứa yêu nhau, đến với nhau Cha mẹ chàng trai nghe xong vui lòng khôn xiết “Lúc đấy

Trang 34

cha mẹ biết được tỏ ý mừng vui” rồi chuẩn bị khăn áo cho con trai sang báo tin cho người vợ tương lai của mình rằng cha mẹ bên này cũng chấp thuận cho tình yêu của họ “Con sắp xuống nhà mẹ vội tìm cho con chiếc

áo mới Con sắp đi chơi với người thương mẹ vội tìm cho con chiếc khăn…” Chàng trai vội vàng sang báo tin cho nhà gái, người mình thương,

“đến gặp nhau nơi nhà người thương…” Vì quá mừng vui và hạnh phúc, chàng trai vội vàng đến với người yêu băng núi len rừng…

Báo tin cho người yêu để người yêu được vui, thêm mừng, hạnh phúc được nhân đôi Rằng họ đã được hai bên gia đình chấp thuận và hơn thế là họ sẽ sớm đến với nhau

Cha mẹ nèo mà chẳng yêu thương con cái, lo lắng cho con Và cha

mẹ cô gái cũng vậy, họ dặn dò cô gái rất nhiều điều khi cô chuẩn bị lên xe hoa về nhà chồng…

Người con gái nghe xong liền đáp lời cha mẹ:

Con xin thưa lại mẹ cha tỏ tường, Anh ấy thương con đời trao hẹn ước bền lòng Ngọt ngào cha mẹ xem bề cùng vui

Dặn dò suy kĩ đẹp đôi nên chăng

Cô gái nghe lời dặn dò của cha mẹ và cho cha mẹ thấy chàng trai yêu thương cô như thế nào “anh ấy thương con đòi trao hẹn ước bền lòng”

Và cô rất cảm động trước lời dặn dò của cha mẹ để khi cô về nhà chồng sẽ làm tốt nghĩa vụ của người con dâu

Đến đây lo việc cửa nhà ruộng nương, Xin làm con rể gắng công đáp đền thưa cha

Em trình cha mẹ thuận tình ưng cho, Nếu chàng không chê em nhà túng nghèo, Hãy nói cùng cha mẹ của chàng tới đây Đôi bên hai họ gặp nhau dãi bày

Trang 35

Cô gái nói với chàng trai “đến đây lo việc của nhà ruộng nương’ Biết chăm lo cho gia đình nhà chồng, vun vén hạn phúc gia đình, một lần nữa cô gái cho chàng trai biết về gia cảnh của minh “nhà túng nghèo” nhưng chàng trai đã bỏ qua tất cả và quyết định cưới cô gái về làm vợ

Cuối cùng chàng trai đã cưới được nàng về làm vợ, đưa nàng về nhà Dịch:

Lấy con dâu

Vừa nhìn đã thấy ưng ở mắt, Thuận mắt ưng cả mặt, Vừa thuận mắt bà nội cả hai nhà, Con dâu quý mẹ khéo biết nắm sôi đưa tay chị Khéo nướng xôi đưa tay cô

Khéo biết trộn cá nướng xôi đưa tay mẹ Con quý của mẹ ơi, mẹ mừng hân hoan không có lúc già

Mẹ vui vui không có lúc yếu đau

Sẽ già bên tao trên trần ba đời Lạp ông nội khéo mời cơm bữa sáng Lớp ông ngoại khéo mời ăn cơm

Khi đưa cô dâu về nhà vừa mới nhìn cha mẹ chàng trai đã rất ưng thuận cô gái, một người con gái vừa xinh đẹp lại vừa khéo léo “vừa nhìn thấy đã ưng ở mắt Thuận mắt ưng ở mặt” Một người con gái vừa duyên dáng xinh đẹp, mới nhìn qua mà đã chiếm được tình cảm của gia đình nhà chồng hơn thế còn được bà nội khen ngợi vừa lòng, mẹ chồng cũng rất vui mừng vì con trai mình đã chọn được người vừa xinh đẹp, vừa giỏi giang, khéo léo, biết làm vừa lòng mọi người traong gia đình

Con dâu quý mẹ khéo biết nắm sôi đưa tay chị Khéo nướng xôi đưa tay cô

Khéo biết trộn cá nướng xôi đưa tay mẹ

Trang 36

Qua đây ta thấy, cô gái đã được lớn lên trong một gia đình có nề nếp, gia giáo

Người mẹ nói với con trong niềm vui hạnh phúc, đó như một lời khen con trai mình khéo chọn vợ Mong rằng con trai con dâu của mình cố gắng xây dựng hạnh phúc gia đình, con trai phải biết bảo ban vợ để mọi

bề được yên vui

2.2 Dâ T i tro u số t ườ ày

Người Thái cũng giống như những dân tộc khác trên đất nước Việt Nam xinh đẹp đều có những giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc ngoài những nét đẹp về nghi lễ, lễ hội, tín ngưỡng thì dân ca Thái cũng là một đặc điểm nổi bật mang cái hồn của dân tộc Qua dân ca mà đồng bào người Thái muốn bày tỏ tâm tư nguyện vọng của mình Dân ca là sự phản ánh đời sống sinh hoạt và tinh thần một cách linh hoạt và tinh tế nhất Đó là sự cô đọng đúc kết thành những lời ca tiếng hát giai điệu mang giá trị hết sức quan trọng đối với văn hóa dân tộc Người Thái rất hay hát, thường thì những làn điệu dân ca hay còn gọi là Khắp Thái được thể hiện ở mọi lúc mọi nơi, bất kể lúc nào có việc vui ở trong nhà hay cả bản thì người ta đều hát dân ca Những là điệu dân ca không chỉ được "khắp" trong các dịp trọng đại như lễ tết, lễ cưới, lễ hội mà đồng bào Thái còn hát dân ca trong

cả đời sống lao động và sinh hoạt hàng ngày, về Đảng về Bác Hồ, về mùa xuân, tình yêu đôi lứa, về tấm lòng của gia chủ đối với khách đến thăm nhà, hay đơn giản là về điệu hát ru con ngủ, hay những trò chơi dân dã như đánh đu, đánh đáo của trẻ thơ Tất cả những nét đời sống sinh hoạt ấy đều được tái hiện một cách cụ thể và đặc sắc qua các bài dân ca theo các

chủ đề khác nhau

2.2.1 Mừng Đảng mừng xuân

Chủ đề về mùa xuân về Đảng, Bác Hồ luôn là nguồn cảm hứng vô tận trong kho tàng thi ca Việt Nam nói chung và dân ca dân tộc Thái nói riêng Nhờ vào sức mạnh, khối đại đoàn kết dân tộc, sự lãnh đạo sáng suốt

Trang 37

của Đảng, Bác Hồ đã đưa nhân dân, đồng bào các dân tộc đứng lên từng bước giành chiến thắng Có thể nói tư tưởng yêu nước, theo Đảng theo Bác

Hồ đã ăn sâu vào tâm thức và cuộc sống hàng ngày của người dân Việt, của đồng bào các dân tộc thiểu số Đảng lãnh đạo đồng bào rót từ cây nứa cây tre làm chông, làm giáo đánh giặc, đến đào hầm dựng lũy ngăn quân thù Tình nghĩa quân dân thì như cá với nước, cũng chính nhờ tinh thần đùm bọc bảo vệ cách mạng của đồng bào mà trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc của dân tộc luôn có sự trợ giúp của dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số; luôn đảm bảo "thóc không thiếu một cân quân không thiếu một người"; những cơ sở căn cứ bí mật của ta ở vùng chiến khu luôn được đồng bào bảo mật

Có thể nói Đảng và Bác Hồ đã trở thành một niềm tin, một tượng đài bất diệt trong lòng một người dân Việt Nam nói chung và các dân tộc thiểu

số ở vùng núi phía Bắc nói riêng

Đồng bào dân tộc Thái ở huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái cũng đã từng theo tiếng gọi của Đảng, Bác Hồ đứng lên đánh giặc giành lại từng tấc đất nương ngô nương sắn bảo vệ bản mường Dân cả của người Thái ở Văn Chấn - Yên Bái cũng có mảng về chủ đề về mừng Đảng, Bác Hồ như sau:

Poo hay céng mé ra

Châư mâng ná kau kiều

Tông ná hâư pay văn minh

Ná đi pây đơi dân khổ

Cần pay pi na nay phưa

Mốn dân hâư đày chơ piêu

Chiềng pày há mau sam

Boom chăng chớ canh chơ

Dân mí co pay đoong hê

Chính phủ mì khau liệng quản

Bộ đội tắc sức au mương

Trang 38

Mé tây au đảy dú yên

(Làm ruộng)

Theo lời chia sẻ của nghệ nhân Sa Thị Hềnh: ngày trước khi còn thời Pháp thuộc, Pháp bắt đóng thuế, người dân phải ra đồng làm ruộng nhiều hơn ngày thường để nộp các loại thuế thóc thuế gạo, đời sống đồng bào vất

vả Nhưng từ khi có Đảng, Bác soi đường, có cách mạng, có bộ đội về kháng chiến đánh Pháp, đánh Mĩ giành thắng lợi thì ruộng đất mới được trả

về cho dân Chính nhờ ơn Đảng, ơn bộ đội mà đời sống của người dân mới được đổi mới, ấm no, có ruộng để trồng lúa, trồng ngô có trâu để cày bừa

có thóc để ăn và đồng bào được sống trong hòa bình độc lập Đảng đã đem ánh sáng đến nơi mỗi bản mường, mỗi người dân trong tâm thức của đồng bào các dân tộc thiểu số nói chung và cộng đồng dân tộc Thái nói riêng thì Đảng luôn là một niềm tin tuyệt đối, vừa thiêng liêng quý giá vừa gần gũi thân thuộc Cách mang, bộ đội về bản thân được người dân chào đón một cách nồng nhiệt, đậm nghĩa tình quân- dân, cá - nước Mỗi khi nhắc đến bài ca "Làm ruộng" là nhớ đến công lao của Đảng, của Bác Hồ Người Thái đã khéo léo trong từng lời ca tiếng hát để sáng tác ra những bài dân ca đặc sắc để nói lên tình yêu, sự biết ơn của dân tộc mình đối với công lao của Đảng "poo hay", "me na" theo tiếng Thái nghĩa là chỉ xã niên Cuộc cách mạng đổi mới đến, ruộng đất được chia cho dân, mỗi người dân trước kia bị tước ruộng đất, không có ruộng để canh tác, trồng lúa, trồng ngô thì nay ruộng đã được chia cho đồng bào, có đất tốt, lao động mới ổn định, đời sống tinh thần được nâng cao, người dân lại say mê lao động và

ca hát "Quang năm hóp bụng cày bừa, quanh năm nhặt bát cơm, thừa miếng ăn"

Xẩư mon lẳng, khắp piêu khắp pien ỉn hồ Bản mương au đảng choi nơ Tổng na khau tung lương Dân pay ong vòi óoc, dân pay au còi oóc

Rườn nhac mạ piệt tri ơm

Trang 39

Pú Hồ at pek thương dân

Khắp le bộ đội pang dân nhặt sắt au mương

Nớ bộ đội đánh chừ ná biên thôn cọi na dân pay au, nớ sắpnfiệc nớ dân pay au, cọi óc

Bài dân ca trên cũng mang nội dung biết ơn Đảng, Bác Hồ, bộ đội

đã đánh hết giặc Pháp, giặc Mĩ, đuổi chúng khỏi bản làng, mang cho dân

có cuộc sống độc lập, ấm no, hạnh phúc

Không chỉ ca ngợi công lao của Đảng, của Bác Hồ, dân ca Thái còn

có bài "khắp oóc hói " nói về tinh thần đoàn kết dân tộc trong kháng chiến

và trong cả đời sống sin hoạt hàng ngày:

ơ ời Bo đảy dú củng bản

Bo đảy dú cưng phường Bo đảy nơ ơ !

Bo đảy dú củng mương

Bo đảy dú buôn phồng Đảy dú củng Đảng Lao Động, củng pú Hồ Chí Minh đế ê!

Được ở cùng chung Đảng Lao Động, cùng cụ Hồ Chí Minh đó!

Sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc, tuy không cùng bản không cùng mường nhưng đồng bào luôn giữ tinh thần đoàn kết, giúp đỡ trong chiến đấu và đời thường Lời hát có ý nghĩa cả đất nước là một khối đoàn kết vững mạnh gồm tất cả những dân tộc anh em, tất cả đều chung một nhà, chung một Đảng, cùng chung Bác Hồ, quyết tâm đi theo tiếng gọi của Đảng để bảo vệ xây dựng đất nước

Những bài dân ca Thái mừng Đảng đều mang ý nghĩa là thể hiện tình yêu quê hương đất nước, sự biết ơn đối với công lao bảo vệ Tình yêu

Trang 40

Tổ quốc của Đảng, của Bác Hồ và những chiến sĩ bộ đội Khúc hát mừng Đảng cũng thể hiện niềm tin, niềm tự hào, lòng tự tôn dân tộc và ý chí quyết tâm theo Đảng, Bác Hồ của đồng bào dân tộc Thái

Mùa xuân luôn là mùa đẹp nhất trong năm, mùa xuân hoa nở khắp núi rừng Trai gái tìm nơi hò hẹn người già quên đi tuổi tác mà đi chơi xuân, vui xuân, mọi công việc bận rộn đời thường, mọi người gặp nhau thì vui cười, khắp lên câu hát chúc mừng đầu xuân năm mới thắng lợi mới Bài khắp dưới đây là lời của các cụ già gửi chúc mừng mùa xuân mới với nhau, chia sẻ niềm vui tuổi già khi xuân mới đến:

Ơi …ơi… ơi … bươn chiêng te bơ điện nam ới ì un hơn pi ới ơi ! o ì cần nà

bấu chắc đìn xê chô mằm đài mừa bản goóc kin nớ đóc ới !

tị oóc đấy đóoc ti bản pun ne un hơn nớ ơi !

van góoc cầu đè nóoc đảy chi phu si đe nơ

ma bản bun khảu na ning chi hội nơ pi ới!

Bài khắp được tam dịch đó là “mùa xuân đến, hoa ban nở khắp nơi, những người già gặp nhau, nhận nhau về bản chơi mùa xuân này, tuổi xuân khi già đi rồi sẽ không đến nữa, mai kia tuổi xuân già đi qua sẽ không quay trở lại nữa ”

Qua bài khắp có thể cho thấy đồng bào Thái có một tư tưởng lối sống vô cung lạc quan, không chỉ đối với thế hệ trẻ tràn đầy nhiệt huyết mà sức sống lạc quan còn trong thế những bậc phụ lão trong bản Những người già luôn sống vui khỏe có ích, thời trai tráng thì xung phong đánh trận cứu nước, khi về già vui cùng bản mường, thành lập hội văn nghệ phụ lão cùng nhau khắp lên những làn điệu đân ca của dân tộc mình vừa để tạo cái thú vui tao nhã lúc tuổi dã xế chiều, vừa để lưu truyền duy trì và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Bài hát mừng xuân đó là niềm vui xuân, mừng xuân, đón chào một mùa xuân năm mới đến, nhiều cái mới đến hi vọng niềm tin vào những điều tốt đẹp cho bản thân, gia đình, bản làng của mình người

Ngày đăng: 08/06/2015, 00:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh: Cán bộ xã, thôn địa phương báo cáo tình hình tại nhà văn - DÂN CA DÂN TỘC THÁI TẠI THÔN CO CỌI 2 XÃ SƠN A HUYỆN VĂN CHẤN TỈNH YÊN BÁI
nh ảnh: Cán bộ xã, thôn địa phương báo cáo tình hình tại nhà văn (Trang 15)
Hình ảnh: Ta Nai Hẩƣ Lụk Pên Phua Mia (Cha Mẹ Bên Gái Ƣng - DÂN CA DÂN TỘC THÁI TẠI THÔN CO CỌI 2 XÃ SƠN A HUYỆN VĂN CHẤN TỈNH YÊN BÁI
nh ảnh: Ta Nai Hẩƣ Lụk Pên Phua Mia (Cha Mẹ Bên Gái Ƣng (Trang 81)
Hình ảnh: Chai Tô Xo Po Me Pay Tham Pâƣ (Nam Nói Xin Bố Mẹ Đi - DÂN CA DÂN TỘC THÁI TẠI THÔN CO CỌI 2 XÃ SƠN A HUYỆN VĂN CHẤN TỈNH YÊN BÁI
nh ảnh: Chai Tô Xo Po Me Pay Tham Pâƣ (Nam Nói Xin Bố Mẹ Đi (Trang 81)
Hình ảnh: Tham Dọn Tăng (Mƣợn Hỏi Ghế). - DÂN CA DÂN TỘC THÁI TẠI THÔN CO CỌI 2 XÃ SƠN A HUYỆN VĂN CHẤN TỈNH YÊN BÁI
nh ảnh: Tham Dọn Tăng (Mƣợn Hỏi Ghế) (Trang 82)
Hình ảnh: Dọn Tung Quân (Mƣợn Điếu Hút). - DÂN CA DÂN TỘC THÁI TẠI THÔN CO CỌI 2 XÃ SƠN A HUYỆN VĂN CHẤN TỈNH YÊN BÁI
nh ảnh: Dọn Tung Quân (Mƣợn Điếu Hút) (Trang 83)
Hình ảnh: Khửn Hạn Lẹo Nhăng Xông Dƣn (Lên Sàn Rồi Còn Đứng). - DÂN CA DÂN TỘC THÁI TẠI THÔN CO CỌI 2 XÃ SƠN A HUYỆN VĂN CHẤN TỈNH YÊN BÁI
nh ảnh: Khửn Hạn Lẹo Nhăng Xông Dƣn (Lên Sàn Rồi Còn Đứng) (Trang 84)
Hình ảnh: Bắu Hê Mi Lay Khửn (Chƣa Có Thang Lên). - DÂN CA DÂN TỘC THÁI TẠI THÔN CO CỌI 2 XÃ SƠN A HUYỆN VĂN CHẤN TỈNH YÊN BÁI
nh ảnh: Bắu Hê Mi Lay Khửn (Chƣa Có Thang Lên) (Trang 85)
Hình ảnh: Tham Lôm (Hỏi Gió). - DÂN CA DÂN TỘC THÁI TẠI THÔN CO CỌI 2 XÃ SƠN A HUYỆN VĂN CHẤN TỈNH YÊN BÁI
nh ảnh: Tham Lôm (Hỏi Gió) (Trang 86)
Hình ảnh: Phỏng vấn nghệ nhân tại nhà ông Lò Văn Khánh. - DÂN CA DÂN TỘC THÁI TẠI THÔN CO CỌI 2 XÃ SƠN A HUYỆN VĂN CHẤN TỈNH YÊN BÁI
nh ảnh: Phỏng vấn nghệ nhân tại nhà ông Lò Văn Khánh (Trang 87)
Hình ảnh: Phỏng vấn nghệ nhân Đinh Thị Lòn. - DÂN CA DÂN TỘC THÁI TẠI THÔN CO CỌI 2 XÃ SƠN A HUYỆN VĂN CHẤN TỈNH YÊN BÁI
nh ảnh: Phỏng vấn nghệ nhân Đinh Thị Lòn (Trang 87)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w