bộ giáo dục và đào tạo báo cáo
Trang 1Sau diễn văn khai mạc của đồng chí Bộ trởng Bộ Giáo dục và Đào tạo với những đánh giá tổng quan và định hớng chiến lợc cho công tác QHQT của ngành ta và bản báo cáo này, chúng tôi muốn mời các đồng chí đại diện các bộ, ban, ngành Trung ơng, các đồng chí lãnh đạo Bộ GD - ĐT và các
đồng chí lãnh đạo các cơ sở tham gia chỉ đạo thảo luận và đóng góp thêm nhiều ý kiến, kinh nghiệm cho công tác này
I Tình hình và kết quả công tác quan hệ quốc tế của ngành giáo dục và đào tạo trong 10 năm đổi mới
1.1 Bối cảnh quốc tế và Việt Nam trong 10 năm qua
Năm 1986, Việt Nam bắt đầu thực hiện công cuộc "Đổi mới" nhằm chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trờng nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nớc Tình hình thế giới lúc đó biến
đổi rất phức tạp và có ảnh hởng trực tiếp đến cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung, đến sự nghiệp GD - ĐT nói riêng Giữa lúc các Hiệp định hợp tác văn hoá và khoa học kỹ thuật 1986 - 1990 giữa Việt Nam và các XHCN sắp kết thúc và theo thông lệ các bên tham gia đang chuẩn bị các văn kiện cho Hiệp định hợp tác văn hoá và khoa học kỹ thuật 1991 - 1995 thì tát cả đã phải đình lại do Liên Xô và các nớc XHCN ở Đông Âu sụp đổ Cũng từ
đó công tác QHQT của ngành ta chuyển sang một giai đoạn mới với những thời cơ và thách thức mời đòi hỏi chúng ta phải có nhận thức và phơng pháp hoạt động mới Trong 10 năm qua, công tác QHQT trong GD - ĐT găp j những khó khăn và thuận lợi cơ bản sau đây:
Khó khăn
Trong những năm 1986 - 1990, mỗi năm ta gửi đợc 4.400 lu học sinh (LHS), trong đó có 2.400 LHS đại học, sau đại học và hơn 2.000 LHS trung học chuyên ng hiệp và dạy nghề đi Liên Xô và các nớc XHCN ở Đông Âu
Do những ảnh hởng thay đổi ở Liên Xô và các nớc Đông Âu cùng với chính sách cấm vận kinh tế của Mỹ đối với Việt Nam, đến năm 1991 còn 913 LHS
và sau đó chỉ còn khoảng 5% của những năm hng thịnh Nhân dây cũng xin nêu vài con số thống kê đáng nhớ: tính đến đầu năm 1990, các nớc thuộc Liên Xô cũ và các nớc XHCN cũng đã đào tạo cho Việt Nam 6.500 Phó tiến
sĩ, 283 Tiến sĩ, 34.000 sinh viên ĐH và 72.000 công nhân học nghề Thật là những con số to lớn ghi nhận công lao và tình cảm quý báu của Nhà nớc và nhân dân các nớc anh em đã giúp chung ta trong những năm tháng khó khăn mọi bề và chúng ta mãi mãi không quên điều đó!
Trang 2Cũng chính trong giai đoạn này, do chính sách cấm vận kinh tế của
Mỹ đối với Việt Nam, sự trợ giúp của các nớc, các tổ chức quốc tế rất hạn chế Chúng ta chỉ nhận đợc các nguồn tài trợ nhỏ nhoi từ các tổ chức phí chính phủ của Thụy Điển, Hà Lan, Pháp, Đức, úc, Mỹ, Canađa,…
- Ta cha có đủ vốn đối ứng để hợp tác quốc tế các cơ sở cha có một nguồn vốn riêng để hoạt động mà thơng đợc trích một phần rất nhỏ từ kinh phí sự nghiệp vốn đã rất hạn hẹp Mặc dầu theo Nghị định 20/CP Nhà nớc đã
đồng ý cấp vốn đối ứng, nhng cho đến nay trong số 90 dự án của ngành chỉ
có vài dự án đợc thực hiện theo Nghị định này
- Ta cha chuẩn bị và đào tạo kịp những cán bộ có trình độ chuyên môn
và ngoại ngữ giỏi để làm QHQT trong tình hình quốc tế thay đổi đột ngột và nhiều đối tác mới xuất hiện Cách thức quan hệ và hợp tác với các nớc trong khu vực ASEAN, Đông á, Tây Âu và Bắc Mỹ khác trớc rất nhiều Xu hớng quốc tế đang chuyển từ viện trợ nhân đạo sang viện trợ phát triển đòi hỏi các nớc đang chậm phát triển, trong đó có Việt Nam, phải tăng cờng nội lực tối
đa, mới có thể đủ sức đón nhận những cơ hội mới Vài những năm đầu của thập kỷ 90, do thiếu kinh nghiệm làmm việc với các đối tác mới, nên thủ tục
đoàn ra, đoàn vào, tiếp nhận các dự án, tài liệu và thông tin khoa học từ nớc ngoài và việc tiếp xúc trao đổi giữa các nhà khoa học Việt Nam và đồng nghiệp quốc tế còn chậm chạp Một số cán bộ làm QHQT không đợc đào tạo cơ bản và đồng bộ: ngời am hiểu ngành thì có thể không khá ngoại ngữ và ngợc lại ngời giỏi ngoại ngữ lại cha am hiểu yêu cầu đặc trng của ngành
- Trong tình hình quốc tế mới ta cha kịp xây dựng đợc một cơ chế và
bộ máy hữu hiệu để điều hành và quản lý công tác QHQT của ngành, từ việc
đào tạo và sử dụng cán bộ một cách hợp lý cho đến việc phân cấp quả lý công tác QHQT một cách rõ ràng từ Bộ đến các cơ sở Mặc dầu từ tháng 3 năm 1994, Bộ trởng GD - ĐT đã có oquy định việc quản lý công tác QHQT trong toàn ngành, nhng trên thực tế còn có chồng chéo Do đó có những việc nhiều đơn vị đều làm, nhng lại có việc bỏ ngỏ không ai làm
Thuận lợi
- Thành công của công tác công cuộc đổi mới đất nớc trong 10 năm qua và đờng lối đối ngoại rộng mở của Đảng và Nhà nớc ta là yếu tố thuận lợi đầu tiên cho sự phát triển QHQT trong GD - ĐT Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần VII (1991) đã gửi ra toàn thế giới bản thông giệp ngoại giao" Việt Nam "thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, mở rộng, đa phơng hoá, đa dạng hoá với tinh thần Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nớc trong
Trang 3cộng đồng thế giới, phấn đầu vì hoà bình, độc lập và phát triển" Chính vì thế, một trong 5 thành tựu nổi bật của 10 năm đổi mới vừa qua của Việt Nam là
"phát triển mạnh mẽ quan hệ đối ngoại, phá thế bị bao vây cấm vận, tham gia tích cực vào đời sống cộng đồng quốc tế" Tính đến này, CHXNCN Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 167 nớc trên tổng số 225 nớc trên thế giới, trong đó có đầy đủ 5 nớc thành viên Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc Nhvậy, Việt Nam đã "phủ sóng ngoại giao" suốt từ Bắc tới Nam, từ Đông sang Tây
- Sự chỉ đạo sát sao và ủng hộ tích cực của các cơ quan Đảng và Chính phủ, từ Trung ơng đến địa phơng, cho công tác QHQT trong giáo dục và đào tạo là một thuận lợi cơ bản cho công tác này
- Một sự chỉ đạo sát sao và ủng hộ tích cực của các cơ quan Đảng và Chính phủ, từ Trung ơng đến địa phơng, cho công tác QHQT trong giáo dục
và đào là một thuận lợi cơ bản cho công tác này
- Một số sự kiện quốc tế quan trọng xảy ra trong thời gian vừa qua đã tạo sinh khí mới cho công tác QHQT của ngành ta khởi sắc và phát triển
Tr-ớc hết phải kể đến ba sự kiện lớn đã xảy ra đối với nền ngoại giao Việt Nam,
đó là: Việc bình thờng hoá quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ (12/7/1995), Việt Nam trở thành viên đầy đủ của ASEAN (29/7/1995) và Ký hiệp định khung
về hợp tác với EU (17/7/1995) Nh vậy có thể nói rằng, tháng 7/1995 là tháng rất đặc biệt đối với nền ngoại giao Việt Nam Gần đây, Hội nghị Bộ trởng đại học và nghiên cứu khoa học các nớc Pháp ngữ (CONFEMER) (22-24/10/1997) và hội nghị thợng đỉnh các nớc có sử dụng tiếng Pháp (14-16/11/1997) đã đợc tổ chức thành công ở Việt Nam càng góp phần nâng cao
vị thế quốc tế của nớc ta
- Trong 10 năm qua, Chính phủ và các Bộ đã gần 20 văn bản pháp quy mới nhằm từng bớc cải tiến và nâng cao hiệu quả QHQT của cả nớc Đó là các Nghị định về công tác đoàn ra, đoàn vào (184/CP, 1989; 12/CP ; 24/CP ,1995) về việc tiếp nhận ODA (20/CP, 1995 và 87/CP, 1997) và tổ chức hội nghị, hội thảo (231/CT, 1992) Đặc biệt ngày 11/11/1997 vừa qua, thủ tớng Chính phủ đã ra quyết định số 957/QĐ- TTg, đơn giản hoá đi rất nhiều thủ tục xuất cảnh đối với ngời Việt Nam
- Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng rất cố gắng để từng bớc thể chế hoá các hoạt động hợp tác quốc tế của ngành, nhằm cùng với các cơ sở nâng cao hiệu quả HTQT và tránh đợc sai sót không đáng có Đáng lu ý là 3/1994, Bộ trởng Giáo dục và Đào tạo đã ký quyết định số 1523/GDĐT để ban hành quy chế quản lý đoàn ra, đoàn vào của ngành hớng dẫn tổ chức hội nghị, hội thảo và
Trang 4triển khai các dự án quốc tế Các đồng chí lãnh đạo Bộ cũng đã có những bài viết, cuốn sách giới thiệu với các bạn quốc tế về Giáo dục và đào tạo, nhờ sự
hỗ trợ của Nhà Xuất bản Giáo dục và các đơn vị liên quan, Vụ Quan hệ quốc
tế đã xuất bản bốn tài liệu để cung cấp các thông tin cần thiết cho các đối t-ợng quốc tế (Education in Vietnam, 1991; Education in Vietnam: Situation, issues, policies", 1993; Vietnam Education and training Diretory" 1995) và
hỗ trợ các cơ sở trong QHQT (Hớng dẫn về QHQT trong Giáo dục và Đào tạo" 1996)
- Sự năng động, sáng tạo trong QHQT của các Sở Giáo dục Đào tạo, các trờng ĐH, CĐ, THCN - DN, các Vụ, Viện… và của các giáo s, các nhà khoa học có uy tín quốc gia và quốc tế cao, của cán bộ giảng dạy, các bộ quản lý, cán bộ làm công tác QHQT… là cơ sở rất quan trọng bảo đảm thành công và hiệu quả của công tác này
1.2 Những kết quả chính của công tác quan hệ quốc tế Ngành Giáo dục và đào tạo trong10 năm đổi mới:
Tính đến hết năm 1997, Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam đã có quan
hệ và hợp tác chính thức với 69 nớc, 19 tổ chức quốc tế và 70 tổ chức phi chính phủ Có thể nói rằng, trong số các thành tựu của GD - ĐT qua 10 năm
đổi mới cổ phần đóng góp quan trọng của mang QHQT Nó đã góp phần khắc phục các khó khăn về nguồn lực của ngành, đồng thời cũng tạo điều kiện để GD - ĐT Việt Nam vơn lên theo kịp và hội nhập với giáo dục khu vực
và thế giới Cũng thông qua QHQT ta có thể giới thiệu với bạn bè, đồng nghiệp các nớc những thành tích nổi bật của GD - ĐT nớc nhà để làm tăng thêm uy tín của CHXHCN Việt Nam trên trờng quốc tế Trên các diễn đàn quốc tế quan trọng, các đại diện u tú của nền giáo dục Việt Nam (từ các g iáo s, nhà giáo xuất sắc, các nhà khoa học có uy tín cao, các cán bộ quản lý giàu kinh nghiệm cho đến các em học sinh đạt huy chơng vàng tại các cuộc thi Olypic quốc tế về toán, tin học, vật lý ) đã có tiếng nói làm rạng rỡ thêm khuôn mặt Việt Nam
Cũng một phần nhờ HTQT mà trong mấy chục năm qua ta đã xây dựng đợc các hớng đào tạo, NNKH và triển khai ứng dụng mạnh để phục vụ
đắc lực sự nghiệp đổi mới và CNH - HĐH đất nớc Đó là một số mũi nhọn trong khoa học cơ bản, khoa học xã hội, nhân văn, kinh tế, nông lâm, điện tử-viễn thông, vật liệu mới, tự động hoá, y - dợc môi trờng… Cần phải nói rằng, ngay trong những tháng khi ta gặp muôn vàn khó khăn, thử thách, cũng nh hiện nay, một mặt tiếp nhận hỗ trợ quốc tế, một mặt khác ta luôn thực hiện
Trang 5tốt nghĩa vụ quốc tế của mình, ví dụ dới hình thức gửi chuyên gia giáo dục và
ở một mức độ nhất định có viện trợ không hoàn lại
Gửi LHS đi đào tạo nớc ngoài
Nh phần trên đã nói, do những thay đổi to lớn ở Liên Xô cũ và các nớc XHCN cũ ở Đông Âu, số lợng LHS Việt Nam đợc cử đi học tập ở ngoài nớc (theo học bổng đợc thoả thuận giữa Chính phủ Việt Nam với các nớc) giảm nhiều ở các năm 1990 - 1992 và từ 1993 bắt đầu tăng lên, nhng cha thể nào bằng con số LHS trong những năm trớc 1990 Cũng do chủ trơng của chúng
ta, u tiên gửi nhiều Nghiên cứu sinh SĐH hơn là sinh viên ĐH, nên cũng từ
1993 đến nay số LHS SĐH tăng nhanh hơn LHS ĐH Xin nêu các số liệu thống kê sau đây về NCS đi học nớc ngoài
Năm 1987 1988 1989 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997
Đại học 847 783 973 751 606 43 73 140 150 150 155 Sau ĐH 1200 1215 1099 388 307 545 631 870 848 932 999 Tổng số 2047 1998 2072 1139 913 588 704 1010 998 1082 1154
Nh vậy, trong 10 năm từ 1987 đến 1998 ta đã cử 13.700 LHS đi học
n-ớc ngoài và phân bố theo khu vực địa lý nh sau: Liên Xô - Đông Âu 53,29%, Tây Bắc Âu 30,6%, úc - New Zealand 6,8%, Châu á 6,7% Mỹ - Canada 0,9%, Châu Phi - Mỹ Latin 0,32% Gần đây LHS của ta chủ yếu đợc gửi đi học tập ở những nớc sau đây: úc, Pháp, Nga, Đức, Nhật, Trung Quốc, Thái Lan (AIT), ấn Độ, Mỹ
Có thể nói bằng viện trợ không hoàn lại, úc là nớc đã và đang cung cấp cho Việt Nam nhiều học bổng dài hạn nhất: từ 150 đến 200 suất/ năm, trong đờt 1/3 đến 1/2 cho sinh viên đại học (4 năm) và từ 1/2 đến 2/3 cho đào tạo SĐH (2 năm) Từ năm học 1997 - 1998, theo đề nghị của ta, phía Bạn đã dành 20 học bổng (trong tổng số 150) cho mảng dạy nghề và tỷ lệ này sẽ dần dần đợc tăng lên trong các năm tới Bạn đã dùng một phần ba số viện trợ không hoàn lại hàng năm của mình để duy trì số học bổng này vì rất coi trọng vấn đề đào tạo nguồn lực cho Việt Nam So với các nớc khác thì úc là nớc phối hợp khá tốt với ta trong cả quá trình thông báo học bổng, tuyển chọn và đào tạo LHS, có chú ý các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, nhằm phục vụ có hiệu quả cho chiến lợc phát triển GD- ĐT, khoa học, công nghệ, kinh tế, xã hội của Việt Nam
Sau úc phải kể đến Pháp là nớc nhận nhiều LHS Việt Nam Mặc dù con số LHS đi học ở Pháp cao, nhng loại ngắn hạn và học tiếng Pháp chiếm
Trang 6phần nhiều và cách thức tuyển chọn của Pháp khác, qua nhiều bộ, nhiều ngành, nhiều địa phơng cho nên Bộ GD - ĐT cũng không biết hết quản lý
đ-ợc hết số LHS đi học nớc này Theo thống kê của bạn, từ năm 1990 đến
1997, Pháp cung cấp gần 3.000 học bổng ngắn và dài hạn, riêng hai năm vừa qua, có khoảng 1.000 ngời đi học tập tại tại Pháp Tuy nhiên, theo thống kê của Bộ ta thì từ năm 1991 đến 1996, chỉ có 30 LHS và ĐH và 47LHS SĐH đi học tập dài hạn Pháp và trung bình mỗi năm có khoảng 70 thực tập sinh tiếng pháp với thời hạn từ 3 đến 9 tháng
Gần đây, một hình thức du học mới du học tự túc hoặc bán tự túc, bắt
đầu hình thành và phát triển Theo thống kê cha đầy đủ, trong 5 năm vừa qua
có khoảng 5.500 LHS du học tự túc làm thủ tục từ các trung tâm qua bộ GD
-ĐT Số đi theo các con đờng khác ở các bộ, ngành, các địa phơng khác ta không đợc báo cáo và do đó không nắm đợc Du học tự túc là một hình thức
du học đáng khuyến khích theo chủ trơng xã hội hoá giáo dục mà nhiều nớc
đều áp dụng Tuy nhiên, từ chủ trơng đúng, chúng ta phải quản lý chặt chẽ
đảm bảo chất lợng cho loại hình du học mới này Để làm việc đó, Bộ GD
-ĐT đã soạn thảo và sẽ sớm ban hành bản quy chế về mở các văn phòng t vấn
du học tự túc
"Du học tại chỗ" cũng là một hình thức đào tạo mới nhiều triển vọng, liên kết giữa các trờng, các viện của ta và các đối tác nớc ngoài, tiến hành
đào tạo toàn thời gian hoặc bán thời gian tại Việt Nam (sandwich) chủ yếu là
đào tạo ở bậc SHĐ, các thầy giáo Việt Nam và nớc ngoài phối hợp với nhau trong giảng dạy Hình thức đào tạo này đang đợc triển khai tại AIT - CV, tr-ờng ĐHKTQD Hà Nội: CFVG, Dự án SIDA của Thuỵ Điển, ĐHQG Hà Nội; với úc, Mỹ; trờng ĐHBK Hà Nội; với Sigapore, ITIMS; trờng ĐH kỹ thuật, với úc và ĐHNL: với Pháp; trờng ĐHKT TP HCM chơng trình Fulright,
ĐHQT TP HCM, Trung tâm đào tạo SEAMEO (tổ chức Bộ trởng Giáo dục các nớc khu vực Đông Nam á) Trung tâm đào tạo SEAMEO (tổ chức Bộ tr-ởng Giáo dục các nớc khu vực Đông Nam á) tại TP Hồ Chí Minh… và một
số cơ sở khác
Tiếp nhận các dự án quốc tế
Trong 10 năm vừa qua, cùng với ngân sách Nhà nớc dành cho giáo dục
và sự đóng góp của cộng đồng thông qua xã hội giáo dục, các dự án quốc tế
đã hỗ trợ một phần cho ngành chúng ta, từ Trung ơng đến địa phơng, từ cơ sở vật chất đến quy trình đào tạo, từ giáo dục mầm non đến SĐH Theo thống kê sơ bộ, trong vòng 10 năm qua, ngành ta đã tiếp nhận 86 dự án quốc tế lớn
Trang 7nhỏ Có điều cần phải chú ý là nếu là đến 80 - 90 % ngân sách giáo dục (NSGD) phải dùng để trang trải lơng, học bổng và xây dựng cơ bản, thì phần lớn tiền từ các dự án quốc tế lại có thể dùng để đào tạo chuyên gia, mua sắm trang thiết bị hiện đại, hoá chất và để cải tiến chơng trình, giáo trình, sách giáo khoa…
Tính đa dạng của các dự án quốc tế mà chúng ta nhận đợc thể hiện ở nhiều khía cạnh: các nhà tài trợ có thể là các nớc, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ; các mục tiêu rất đa dạng, phong phú và trị giá dự án cũng rất khác nhau: có dự án hàng chục triệu USD khéo dài 3 - 4 năm, có dự
án chỉ vài chục ngàn USD nhng lại giải quyết những vấn đề thiết thực và cụ thể cho ngành Nói chung 86 dự án quốc tế trong 10 năm qua đã hỗ trợ Bộ ta thực hiện các mục tiêu quan trọng sau đây:
- Góp phần nghiên cứu tổng thể và hoạch định chiến lợc GD - ĐT Việt Nam, ví dụ: Báo cáo của dự án VIE/89/022 (1990 - 1992) do UNDP và UNESCO tài trợ là một tài liệu quan trọng cung cấp số liệu thống kê và t vấn chiến lợc quan trọng cho các chuyên gia giáo dục Việt Nam và quốc tế trong những năm qua
- Góp phần tăng cờng cơ sở vật chất, trang thiết bị và tài liệu, thông tin khoa học cho các cơ sở
- Góp phần nâng cao chất lợng GD - ĐT bằng nhiều hình thức nâng cao trình độ chuyên môn cho CBGD và NCKH, cán bộ quản lý, nâng cao chất lợng đào tạo ở các bậc học khác h từ mầm non, phổ thông, THCN - DN
đến CĐ, ĐH, SĐH
Phânt ích 86 dự án quốc tế ta nhận đợc kết quả phân bố nh sau:
* Xét theo các cấp bậc học: Mầm non và tiểu học 42,3% trung học 16,8%, THCN - DN 6,1%, ĐH, và SĐH 28,14% và nghiên cứu tổng quan, quản lý 6,1%
* Xét theo mục tiêu đầu t: đào tạo cán bộ và s phạm 17,4% hỗ trợ các cấp, bậc học39,6% phòng ốc và thiết bị 32,3% đánh giá tổng quan 2,9%, nghiên cứu khoa học và các loại 7,8%
Vì có tất cả là 86 dự án quốc tế, do đó chúng tôi chỉ xin nêu làm ví dụ một vài dự án lớn, điển hình có liên quan đến nhiều cơ sở Đối với giáo dục tiểu học có 3 dự án lớn mà hầu hết 61 tỉnh, thành 9 phố trong cả nớc đều có tham gia Đó là chơng trình hợp tác Việt Nam - UNICEF (2 - 3 triệu USD/ năm) Dự án vay vốn của Ngân hàng Thế giới (75 triệu USD) và dự án xây dựng các trờng tiểu học vùng bão bằng viện trợ ODA của Nhật Bản (cả 4 giai
Trang 8đoạn là 83 triệu USD) Có hai dự án dạy nghề lớn, một do CHLB Đức tài trợ tại trờng ĐH s phạm kỹ thuật Thủ Đức (ĐHQG TP HCM), 7,5 triệu USD và một do Hàn Quốc tài trợ tại trờng KTCN Hà Nội và trờng KT Cơ - Điện Quy nhơn (5 triệu giai đoạn là 23 triệu USD) và Hà Lan (MHO, 8,2 triệu USD) Ngoài ra còn rất nhiều đơn vị từ mầm non, tiểu học, trung học, THCN - DN, cao đẳng, ĐH, SĐH đã có nhiều cố gắng trong QHQT để tiếp nhận đợc các chơng trình và dự án quốc tế Những thành tích đó là rất đáng biểu dơng,
nh-ng chúnh-ng tôi khônh-ng thể nếu hết ra ở đây
Đoàn ra, đoàn vào
Cũng tơng tự nh việc cử LHS đi học nớc ngoài, trong các năm 1991
-1992 số đoàn/ ngời ra giảm hẳn, nhng từ đầu năm 1995 tăng lên nhanh, nhất
là từ 7/ 95 đến nay Riêng dự án tiểu học vay vốn của Ngân hàng Thế giới trong năm 1997 đã cử hơn 800 cán bộ quản lý tiểu học từ Trung ơng đến địa phơng đi tập huấn công tác quản lý ở các nớc trong khu vực Trong những năm cuối thập kỷ 80, hàng năm Bộ ta đón khoảng 400 lợt khách quốc tế, đến năm 1995 là 1.500 lợt và năm 1996 là 2.400 lợt Trong đó có 40% vào để trao đổi, hợp tác NKCKh và đào tạo, còn lại 60% số khách vào để giao l u và tham gia các hoạt động văn hoá, giáo dục Một vài cơ sở trong thời gian để giao lu và tham gia các hoạt động văn hoá, giáo dục Một vài cơ sở trong thời gian vừa qua đã để xảy ra những sơ suất, sai sót đúng ra không đáng có trong việc làm thủ tục Điều này cần phải đựơc rút kinh nghiệm và khắc phục một cách nghiêm túc
Tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Trong 5 năm gần đây, hàng năm ngành GD - ĐT đăng cai tổ chức trung bình 20 - 25 hội nghị/ hội thảo quốc tế quan trọng có quy mô lớn, đó là cha kể rất nhiều hội nghị/ hội thảo quốc tế có quy mô nhỏ hơn do các đơn vị
tổ chức Có ba loại hội nghị/hội thảo chỉnh: Hội nghị lớn do các tổ chức quốc
tế chủ trì, Việt Nam đăng cai; ví dụ nh Hội nghị Bộ trởng Đại học và Nghiên cứu khoa học các nớc nói tiếng Pháp (CONFEMER), Hội nghị của các nhà giáo dục Châu á Thái Bình Dơng (SEAPREAMS), Hội nghị SEAMEO -BIOTROP; loại thứ 2 thờng do ta chủ trì có mời khách quốc tế; loại thứ 3 gồm các hội nghị/ hội thảo nhỏ hơn phục vụ các đề tài hoặc các dự án cụ thể
Điều quan trọng là khi tham dự hội nghị/ hội thảo quốc tế các nhà khoa học, giáo dục và quản lý nớc ta có dịp rất tốt tiếp xúc và trao đổi với các đồng nghiệp quốc tế các nhà khoa học, giáo dục và quản lý nớc ta có dịp rất tốt tiếp xúc và trao đổi với các đồng nghiệp quốc tế để có thêm thông tin, nâng
Trang 9cao trình độ chuyên môn và ngoại ngữ Ngợc lại, các bạn nớc ngoài cũng có
điều kiện tốt để tìm hiểu thêm về đất nớc, con ngời Việt Nam qua đó tăng thêm hiểu biết, thiện cảm về Việt Nam và hợp tấc có hiệu quả hơn
Vừa qua, một vài đơn vị đã có sơ suất trong thủ tục xin phép và tổ chức hội nghị/ hội thảo quốc tế và chúng tôi cũng đã trực tiếp trao đổi với các đơn
vị này để rút kinh nghiệm
Tiếp nhận giáo viên tình nguyện
Số giáo viên tình nguyện từ các nớc Anh, Mỹ, Pháp, Canađa, úc, Nhật,
Bỉ… vào Việt Nam ngày một tăng, chủ yếu là các giáo viên dạy tiếng Anh, Pháp, Nhật Hầu hết họ đều là giáo viên giàu nhiệt tình, sẵn sàng đi dạy ở các thành phố nhỏ và những nơi xa xôi Trong lúc ta đang thiếu giáo viên dạy ngoại ngữ, nhất là ở các địa phơng, t hì các giáo viên tình nguyện đợc hoan nghênh Tuy nhiên, còn một số ít giáo viên có chất lợng s phạm thấp vì cha
đợc tuyển chọn cẩn thận trớc lúc gửi sang Việt Nam Cũng xin đề nghị các cơ
sở, các địa phơng phối hợp thờng xuyên với các cơ quan của Bộ nội vụ để quản lý chặt chẽ các giáo viên tình nguyện, nhất là những ngời có biểu hiện lồng các mục đích khác vào việc dạy học Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã soạn thảo và sẽ ban hành quy chế quản lý các giáo viên tình nguyện nớc ngoài
Tiếp nhận LHS nớc ngoài vào học tập tại Việt Nam
Khi vai trò và uy tín của Việt Nam trên trờng quốc tế tăng lên cùng với các thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới, thì số khách vào thăm, làm việc
và số LHS vào học tập, nghiên cứu ở Việt Nam cũng tăng lên rất nhanh Nếu trớc đây LHS thờng đến từ các nớc nh Liên Xô cũ và các nớc XHCN cũ, Trung Quốc, Lào và Camphuchia, thì nay ngày càng có thêm LHS từ các nớc ASEAN, Đông á , úc, EU, Bắc Mỹ Hai Đại học Quốc gia, trờng ĐH ngoại ngữ Hà Nội, trờng ĐH Ngoại thơng Hà Nội… là các trờng có nhiều LHS nớc ngoài Việc thu hút LHS các nớc đến Việt Nam học tập cần phải đợc xem là một hớng quan trọng, không chỉ vì ta có thêm ngoại tệ, mà còn vì mục đích hội nhập của GD Việt Nam vào khu vực quốc tế Nhng để tăng thêm sức hấp dẫn của GD Việt Nam đối LHS các nớc, chúng ta phải chú ý xây dựng một
số trung tâm đủ mạnh tại các địah ọc lớn để dạy tiếng Việt, Việt Nam học và các ngành học đặc thù khác mà bạn cần
Cử chuyên gia ra nớc ngoài giảng dạy và làm công tác viên
Hợp tác chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo bắt đầu từ năm
1961 (với Ghi - Nê) và phát triển tại nhiều nớc, nhiều ngành với số lợng lớn
Trang 10vào những năm từ 195 đến 1994 Việt Nam đã cử chuyên gia các ngành khoa học cơ bản, khoa học kỹ thuật, dạy tiếng việt ở các bậc sau ĐH, HĐ, Trung học kỹ thuật, trung học phổ thông, dạy nghề Tuyệt đại đa số chuyên gia tập trung ở các nớc Châu Phi nh Algiêri, Ăngôla, Côngô, Madagascar, Môzămbic, Lào, Campuchia và đã có gần 3.000 lợt chuyên gia giảng dạy tại các nớc này Ngoài ra, có một số không nhiều lắm dạy tiếng việt ở các nớc Nhật Bản, Pháp, Hàn Quốc, Mỹ, Thuỵ Điển, Đức, Ba Lan, Nga, Hugari, Tiệp Khắc… khoảng 300 cán bộ là chuyên gia hợp lý kỹ thuật tại Thái Lan, Libi, Bungari, Hungari Tiếp Khác, các nớc khác và 60 ngời lao động làm việc tại các nớc Libi, Irắc
Cho phép nớc ngoài mở các cơ sở đào tạo tại Việt Nam
Trong 10 năm vừa qua, thực hiện chủ trơng của Đảng về đa dạng hoá các loại hình đào tạo, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề nghị và đợc Chính phủ cho phép mở một số cơ sở đào tạo quốc tế với nhiều hình thức khá phong phú
ở các bậc học khác nhau từ mầm non đến SĐH, ví dụ: 7 trờng phổ thông quốc tế dành cho con em ngời nớc ngoài tại Việt Nam mà một số cơ sở đào tạo quốc tế SĐH nh AIT - CV, ITIMS, CFVG và các cơ sở khác ở một số đại học
Thanh thủ sự ủng hộ của ngời Việt Nam ở nớc ngoài cho GD - ĐT Xuất phát từ quan điểm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ là nhiệm vụ của toàn xã hội, cần phải huy động mọi nguồn lực của xã hội kể cả sự hỗ trợ của những ngời Việt Nam định c ở nớc ngoài Các sở GD - ĐT, các trờng đại học, viện nghiên cứu đã mời nhiều tri thức Việt Nam ở nớc ngòai về giảng bài, trao đổi kinh nghiệm trong đào tạo và NCKH Nhiều ngời rất có tâm huyết muỗn hỗ trợ ngành GD - ĐT Trong những năm gần đây, với sự giúp đỡ của
Uỷ ban ngời Việt Nam ở nớc ngoài, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức các cuộc gặp gỡ với trí thức Việt Nam ở nớc ngoài để trao đổi kinh nghiệm chuyên môn Việc tranh thủ sự hỗ trợ của ngời Việt Nam ở nớc ngoài để tăng thêm nguồn lực cho GD - ĐT trong nớc là rất quan trọng
II Phơng hớng công tác QHQT trong 5 năm tới và vài kiến nghị cụ thể
Hiện nay trong tơng lai khi mà sự hợp tác và cạnh tranh trong khu vực
và trên thế giới ngày càng mạnh mẽ thì việc định ra một chiến lợc cho công tác QHQT ngành GD - ĐT là rất cần thiết
Nh Nghị quyết TW 2 khoá VIII đã khẳng định: "muốn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi phải phát triển mạnh GD - ĐT phát huy