Định hướng và giải pháp thực hiện chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 2006 -2010
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
* Lý do chọn đề tài
Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa với sự phát triển của sáu thành phần kinh tế Các thành phần kinh tế nàycùng hợp tác và cạnh tranh lành mạnh trong khuôn khổ pháp luật của nướcCộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Theo chủ trương của Đảng và Nhànước, thành phần kinh tế Nhà nước luôn đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh
tế Một trong những bộ phận quan trọng cấu thành nên kinh tế Nhà nướcchính là doanh nghiệp nhà nước Các doanh nghiệp Việt Nam nói chung cũngnhư các doanh nghiệp nhà nước nói riêng muốn đứng vững trên thị trường thìphải không ngừng hoàn thiện về cơ cấu quản lý và tổ chức sản xuất sao chotận dụng tối đa mọi nguồn lực của doanh nghiệp Do đó, để kinh tế Nhà nước
có thể phát huy tốt vai trò chủ đạo của mình thì doanh nghiệp nhà nước cũngphải thể hiện được vai trò then chốt trong phát triển kinh tế Muốn làm đượcđiều đó thì phải thực hiện chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước
Việc thực hiện chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Việt Namđược tiến hành bắt đầu từ năm 1992 Hơn 12 năm thực hiện chuyển đổi sởhữu bên cạnh những thành tựu đáng khích lệ thì vẫn còn đó những vướngmắc, khó khăn, tồn tại cần khắc phục để doanh nghiệp sau chuyển đổi hoạtđộng có hiệu quả hơn Do đó, trong kế hoạch chuyển đổi sở hữu doanh nghiệpnhà nước giai đoạn 2006 – 2010 cần đưa ra những giải pháp mạnh hơn nhằmhoàn thành mục tiêu phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanhnghiệp sau chuyển đổi
Với những lý do trên và được sự hướng dẫn của thầy giáo PGS.TS Ngô
Thắng Lợi, em đã quyết định chọn đề tài: “Định hướng và giải pháp thực
hiện chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010” làm đề tài nghiên cứu cho chuyên đề tốt nghiệp của mình.
* Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: các doanh nghiệp nhà nước hiện có ở
Trang 2Việt Nam, phân tích thực trạng hoạt động, tình hình thực hiện chuyển đổi sởhữu doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 2001 – 2005.
Phạm vi nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu và đánh giá quá trìnhchuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam, những mặt còn hạnchế và tồn tại cần phải khắc phục Bên cạnh đó, đề tài cũng nêu một số kinhnghiệm chuyển đổi sở hữu ở Trung Quốc từ đó rút ra những giải pháp phùhợp để vận dụng với thực tế chuyển đổi ở Việt Nam
* Phương pháp nghiên cứu
Kết hợp phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủnghĩa Mác – Lênin với phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp để thực hiệnnghiên cứu đối tượng
* Kết cấu của bài viết gồm 3 chương:
Chương I: Sự cần thiết phải thực hiện chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp
nhà nước ở Việt Nam
Chương II: Đánh giá thực trạng chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà
nước ở Việt Nam giai đoạn 2001 – 2005
Chương III: Định hướng và giải pháp thực hiện chuyển đổi sở hữu
doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010
Trang 3NỘI DUNG CHƯƠNG I: SỰ CẦN THIẾT PHẢI THỰC HIỆN CHUYỂN ĐỔI SỞ HỮU DOANH NGHIỆP
NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
I Doanh nghiệp nhà nước và sự cần thiết phải thực hiện chuyển đổi sở hữu
1 Khái luận chung về doanh nghiệp nhà nước
Khái niệm DNNN được hiểu theo nhiều cách khác nhau tuỳ theo cáchtiếp cận và mục đích nghiên cứu đối tượng này
Đối với Việt Nam, khái niệm về DNNN thay đổi qua nhiều thời kỳ,tương ứng với sự thay đổi quan niệm về sở hữu Nhà nước và sự thay đổi về
cơ chế quản lý kinh tế
Trong thời kỳ Kế hoạch hoá tập trung (1960 – 1986), tổ chức kinh tếNhà nước tồn tại dưới dạng các xí nghiệp (trong lĩnh vực công nghiệp), nôngtrường quốc doanh (trong lĩnh vực nông nghiệp) và các công ty (trong lĩnhvực thương mại) Khái niệm DNNN lúc này chưa xuất hiện mà chỉ có kháiniệm về xí nghiệp công nghiệp quốc doanh và xí nghiệp thương mại quốcdoanh Đặc trưng của những xí nghiệp này là: các xí nghiệp có tư cách phápnhân tức là những chủ thể pháp luật, chủ thể kinh tế độc lập; toàn bộ tài sảnthuộc sở hữu của Nhà nước; các xí nghiệp phải thực hiện các chỉ tiêu kếhoạch do Nhà nước đề ra do thị trường giai đoạn này chưa hình thành đúngnghĩa nên các nhu cầu xuất phát từ sự hoạch định chủ quan của các cơ quanlập kế hoạch
Cùng với việc chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN,cách tiếp cận thành phần KTNN, cách nhìn nhận các thành phần kinh tế ngoàiquốc doanh cũng có nhiều thay đổi Mặt khác, để DNNN có thể hoạt độnghiệu quả hơn, cần phải có một cơ sở pháp lý vững chắc cho loại hình doanhnghiệp được coi là có vai trò chủ đạo này Chính vì vậy, năm 1995 Nhà nước
Trang 4ta đã ban hành Luật doanh nghiệp nhà nước thể chế hoá nhiều quan điểm mới
về loại hình doanh nghiệp này Luật doanh nghiệp nhà nước năm 1995 địnhnghĩa doanh nghiệp như sau: “DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tưvốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động côngích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nước giao DNNN có
tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm vềtoàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý.DNNN có tên gọi, có con dấu riêng và có trụ sở trên lãnh thổ Việt Nam”.Khái niệm về DNNN được Quốc hội thông qua ngày 20-4-1995 đã phảnánh hai tính chất đặc trưng của DNNN là tính chất kinh doanh và công hữu.Với đặc trưng kinh doanh, DNNN được xem như là một công cụ hay phươngtiện để Nhà nước thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội rộng lớn củamình, bởi DNNN tự chủ tài chính, dùng kết quả hoạt động sản xuất kinhdoanh làm cơ sở tăng trưởng và phát huy vai trò chủ đạo Bên cạnh đó,DNNN lại được xem là một chính sách hay công cụ can thiệp của Chính phủ.Bởi với tính chất công hữu, lợi ích thu được từ các hoạt động của DNNNkhông sử dụng để phục vụ lợi ích riêng cá nhân mà phục vụ cho lợi ích chungcủa xã hội
DNNN dưới tác động của cạnh tranh và dưới tác động của những nhucầu phúc lợi xã hội, an ninh quốc phòng được phân thành DNNN hoạt độngkinh doanh và DNNN hoạt động công ích DNNN hoạt động kinh doanh cóchức năng chủ yếu là hoạt động kinh doanh trên số vốn và tài sản Nhà nước vìmục tiêu lợi nhuận Còn DNNN hoạt động công ích có chức năng chủ yếu làđáp ứng những nhu cầu xã hội với những sản phẩm và dịch vụ không thểthiếu được, yếu tố lợi nhuận không đóng vai trò quan trọng Sự phân loại này
có tác dụng trong việc thực hiện sự bình đẳng giữa các DNNN hoạt động kinhdoanh và có cách tiếp cận khác với DNNN hoạt động công ích
Đến Luật DNNN năm 2003, khái niệm DNNN được hiểu sâu hơn Điều
1 Luật DNNN năm 20003 định nghĩa: “DNNN là tổ chức kinh tế do Nhànước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ
Trang 5chức dưới hình thức công ty nhà nước công ty cổ phần, công ty trách nhiệmhữu hạn” Như vậy, về khía cạnh sở hữu, quan điểm của Đảng và Chính phủViệt Nam có những mặt nới lỏng và năng động hơn Bên cạnh những doanhnghiệp có 100% vốn nhà nước, còn tồn tại những doanh nghiệp mà Nhà nướcchỉ có cổ phần chi phối ở một số ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quantrọng Khái niệm DNNN trong Luật DNNN năm 2003 chứa đựng một sốđiểm mới cơ bản sau:
Việc xác định DNNN không hoàn toàn dựa vào tiêu chí sở hữu nhưtrước đây Trước đây, chỉ những doanh nghiệp được Nhà nước thành lập vàđầu tư vốn, hoàn toàn do Nhà nước quản lý thì mới được coi là DNNN Trong
số đó, tiêu chí sở hữu là tiêu chí cơ bản nhất để quyết định doanh nghiệp làDNNN
Thừa nhận sự tồn tại bình đẳng của các hình thức sở hữu trong mộtDNNN Điều này có nghĩa là có những DNNN trong đó các hình thức sở hữukhác nhau hoàn toàn bình đẳng trên nguyên tắc nền dân chủ cổ phần
Pháp luật hiện hành thừa nhận khả năng chuyển đổi DNNN thànhdoanh nghiệp thông thường thông qua cơ chế chuyển nhượng, mua bán cổ phần
Tiêu chí xác định DNNN theo Luật DNNN năm 2003 không dựa vàotiêu chuẩn sở hữu và quản lý như điều kiện cần và đủ Hiện nay, tiêu chí xácđịnh DNNN là quyền kiểm soát và quyền chi phối Nếu không sở hữu mộtlượng cổ phần cần thiết thì không thể nắm quyền kiểm soát doanh nghiệp.Tiêu chí sở hữu để xác định DNNN hoàn toàn mang tính định tính Còn tiêuchí quyền chi phối được áp dụng trong Luật DNNN năm 2003 là tiêu chímang tính chất định lượng Tính định lượng thể hiện ở tỷ lệ phần vốn góp củaNhà nước trong toàn bộ vốn của doanh nghiệp Như vậy, quyền kiểm soátđược coi là tiêu chí cơ bản để xác định một doanh nghiệp có phải là DNNNhay không Đây chính là điểm mới trong cách tiếp cận DNNN Do cách tiếpcận DNNN như vậy nên hình thức pháp lý của DNNN trở nên đa dạng hơnbao gồm: công ty nhà nước độc lập hoặc tổng công ty nhà nước, công ty cổphần nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên, công
Trang 6ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước hai thành viên trở lên, doanh nghiệp có cổphần hoặc vốn góp chi phối của Nhà nước, công ty Nhà nước giữ quyền chiphối và loại hình doanh nghiệp mà Nhà nước chỉ là cổ đông bình thường.
2 Sự cần thiết phải thực hiện chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước
ở Việt Nam
Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đã được xác định rõ từ Đại hội Đạibiểu toàn quốc lần thứ VI Đó là phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thànhphần trong đó thành phần KTNN giữ vai trò chủ đạo Đến Đại hội Đại biểutoàn quốc lần thứ IX, quan điểm ấy vẫn không hề thay đổi mà phát triển caohơn thích nghi với điều kiện kinh tế - xã hội mới Nhưng thực tế cho thấy,trong những năm qua thành phần KTNN đặc biệt là bộ phận DNNN hoạtđộng không có hiệu quả Để có thể phát huy vai trò chủ đạo của DNNN trongnền kinh tế thị trường định hướng XHCN thì phải tiến hành chuyển đổi sởhữu DNNN Chuyển đổi sở hữu để thích nghi với nền kinh tế nhiều thànhphần, chuyển đổi để nâng cao khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế vàchuyển đổi để thích nghi với những yêu cầu của tình hình mới
2.1 Chính sách đa thành phần sở hữu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, thực hiện nhất quán chính sách của Đảng về xây dựng nềnkinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, các doanh nghiệp phát triển đadạng, phong phú gồm nhiều loại hình sở hữu, nhiều quy mô, hoạt động trongmôi trường hợp tác và cạnh tranh bình đẳng
Định hướng XHCN trong việc xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiềuthành phần được Đảng ta chỉ rõ: “Thực hiện nhất quán, lâu dài chính sáchphát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, lấy việc giải phóng sức sảnxuất, động viên tối đa mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài cho việc côngnghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao hiệu quả kinh tế và xã hội, cải thiện đờisống nhân dân làm mục tiêu hàng đầu trong việc khuyến khích các thành phầnkinh tế và hình thức tổ chức kinh doanh” Đối với KTNN, Đảng cũng chỉ rõ:
“Chủ động đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả KTNN KTNN đóng vai
Trang 7trò chủ đạo cùng với kinh tế hợp tác dần dần trở thành nền tảng”
Đến Nghị quyết Đại hội lần thứ IX, Đảng tiếp tục nhấn mạnh hơn nữa:
“Tiếp tục đổi mới và phát triển KTNN để thực hiện tốt vai trò chủ đạo trongnền kinh tế KTNN là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhànước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế” Về mặt kinh tế, việc đa dạnghoá các hình thức sở hữu: toàn dân, tập thể, tư nhân với nhiều hình thức đanxen, qua lại, từ đó hình thành nên 6 thành phần kinh tế là một thực tế hiệnnay Đó là:
Thành phần kinh tế Nhà nước, bao gồm các nguồn lực do Nhà nướclàm chủ sở hữu, đưa vào và biến thành tài sản được dùng trong quá trình sảnxuất – kinh doanh của các tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân Thành phầnKTNN về thực chất là phản ánh quy mô, cấu trúc, sức mạnh của hệ thống cácDNNN
Kinh tế tập thể là hình thức liên kết tự nguyện giữa những người laođộng nhằm kết hợp sức mạnh của từng thành viên với sức mạnh của tập thể
để giải quyết có hiệu quả hơn những vấn đề trong sản xuất – kinh doanh Kinh
tế tập thể phát triển dưới nhiều hình thức hợp tác đa dạng, trong đó hợp tác xã
là nòng cốt Các hợp tác xã dựa trên sở hữu của các thành viên về sở hữu tậpthể
Kinh tế cá thể, tiểu chủ là loại hình kinh tế với các chủ thể là các hộsản xuất kinh doanh nhỏ, loại hình kinh tế này dựa trên sở hữu tư nhân Các
hộ sản xuất kinh doanh ở cả phạm vi nông thôn và thành thị, với quy mô nhỏ,chủ yếu dựa vào vốn và lao động của gia đình
Kinh tế tư bản tư nhân là loại hình kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về
tư liệu sản xuất Tuy đều là sở hữu tư nhân nhưng kinh tế tư bản tư nhân phânbiệt với kinh tế cá thể, tiểu chủ ở quy mô hoạt động Kinh tế tư bản tư nhân cóquy mô sản xuất kinh doanh và quy mô sử dụng lao động lớn hơn Kinh tế tưbản tư nhân đại diện cho trình độ phát triển cao về kinh tế với trình độ côngnghệ, trình độ quản lý tiên tiến
Kinh tế tư bản Nhà nước là loại hình kinh tế dựa trên hình thức sở hữu
Trang 8hỗn hợp Đó là hình thức liên doanh, liên kết giữa kinh tế Nhà nước và kinh tế
tư bản tư nhân trong và ngoài nước
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là loại hình kinh tế dựa trên vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài Đây là loại hình kinh tế hỗ trợ và bổ sung quan trọngcho các loại hình kinh tế trong nước về vốn, công nghệ và thị trường So vớicác loại hình kinh tế trong nước, loại hình này thường có trình độ công nghệ
và trình độ quản lý cao hơn Do đó, đối với những nước như nước ta, việckhuyến khích và tạo môi trường thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài là vấn đề
có ý nghĩa quan trọng
Cùng với việc xác định rõ 6 thành phần kinh tế tồn tại ở nước ta, tại Đạihội lần thứ IX, quan điểm của Đảng ta về vị trí của các thành phần kinh tếđược hoàn thiện ở mức độ cao hơn Đảng và Nhà nước ta đã xác định, trongnền kinh tế thị trường định hướng XHCN các thành phần kinh tế cùng tồn tại
và phát triển trong một thể thống nhất, mọi thành viên đều bình đẳng và cóquyền lợi cũng như nghĩa vụ trước pháp luật là như nhau Các thành phầnkinh tế tồn tại với vị trí quan trọng của nó và cần phải được chú trọng pháttriển Hiện nay, ở nước ta thành phần KTNN và kinh tế tập thể vẫn là nềntảng cho sự phát triển kinh tế và KTNN phải đóng vai trò chủ đạo
2.2 Vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước trong thời kỳ chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam
DNNN là một công cụ quan trọng, một lực lượng vật chất hùng mạnhgiúp Nhà nước thực hiện ý đồ can thiệp của mình để đưa nền kinh tế vận hànhtheo đúng định hướng và đạt được những mục tiêu kinh tế - xã hội mà kinh tếthị trường thuần tuý không thể thực hiện nổi Vai trò chủ đạo nêu trên củaDNNN được thể hiện qua những khía cạnh chủ yếu sau:
2.2.1 DNNN là một tổ chức kinh tế có lợi thế so sánh so với các doanhnghiệp cùng loại thuộc các khu vực khác của nền kinh tế quốc dân
Lợi thế so sánh của DNNN thể hiện chủ yếu ở phương diện hiệu quả xãhội DNTN thuộc quyền sở hữu tư nhân nên mục tiêu chính của nó là phảiđem lại lợi nhuận tài chính cao cho chủ sở hữu doanh nghiệp, bất chấp một
Trang 9thực tế rằng để đạt hiệu quả đó, xã hội có thể phải hy sinh hiệu quả phân bổnguồn lực ở một nơi nào đó trong nền kinh tế Do đó, hiệu quả tổng thể kinh
tế - xã hội của doanh nghiệp tư nhân có thể không cao Việc hàng loạt DNTNhoạt động không chú ý đến những hậu quả về mặt môi trường do mình gây ra
là một thí dụ điển hình Trái lại, DNNN thuộc quyền sở hữu công cộng, nênmục tiêu chính của nó là phải tối đa hoá lợi ích của chủ sở hữu, tức là nhândân, thông qua đại diện của mình là Nhà nước Chính vì thế, đối với loại hìnhdoanh nghiệp này, hiệu quả kinh tế xã hội phải được đặt lên hàng đầu
2.2.2 DNNN là một nhân tố quan trọng góp phần vào sự tăng trưởng chungcủa nền kinh tế
Điều này thể hiện rõ nét ở việc DNNN thường được trao nhiệm vụ đầu tưvào những công trình kết cấu hạ tầng có quy mô tương đối lớn so với nănglực của khu vực tư nhân và các loại hàng hoá công cộng khác mà tỷ suất lợinhuận không hấp dẫn DNTN Đặc điểm chung của các công trình kết cấu hạtầng là quy mô vốn đòi hỏi tương đối lớn, thời gian thu hồi vốn lại lâu, kèmtheo nhiều rủi ro trong quá trình đầu tư mà bản thân DNTN không thể kiểmsoát nổi Chính những đặc điểm này đã làm cho việc đầu tư vào nhiều loại kếtcấu hạ tầng không hấp dẫn DNTN Bên cạnh đó, nhiều loại hàng hoá côngcộng còn có thuộc tính chung là rất khó loại trừ việc tiêu dùng của những cánhân “không sẵn sàng trả tiền” cho nó Vì thê, nếu DNTN đầu tư và thu hồivốn thông qua việc thu phí sử dụng thì sẽ rất khó khăn Trái lại, một DNNNđầu tư với sự hỗ trợ vốn của Chính phủ lại có thể giải quyết tốt vấn đề này.Nếu coi hàng hoá công cộng do DNNN cung cấp là tiền đề cho sự pháttriển kinh tế thì tính chất tiền đề đó càng thể hiện rõ và phát huy tác dụng trựctiếp nếu DNNN thiết lập mối quan hệ trực tiếp với các doanh nghiệp thuộccác khu vực cần hỗ trợ Bằng cách đó, DNNN sẽ góp phần tạo các mối quan
hệ xuôi chiều, ngược chiều, quan hệ mạng lưới với DNTN, trở thành đối tác
và là lực lượng hậu thuẫn cho sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân.Thông qua mối quan hợp tác này mà nền kinh tế sẽ đạt tốc độ tăng trưởngvững mạnh hơn nhiều
Trang 102.2.3 DNNN là một công cụ để góp phần khắc phục các khuyết tật của thịtrường
Điều này không chỉ thể hiện ở vai trò tiên phong của DNNN trong việccung cấp hàng hoá công cộng, mà còn thể hiện ở chỗ DNNN góp phần điềutiết “độc quyền”, tạo ra các “ngoại ứng tích cực” và nâng cao hiệu quả cungcấp thông tin thị trường
Do tính chất tự nhiên của nhiều loại thị trường mà độc quyền vẫn tồn tạinhư một tất yếu khách quan Bên cạnh những tác động tiêu cực của độc quyềnnhư bán với giá cao, thu lợi nhuận siêu ngạch, lũng đoạn thị trường cũngcần kể đến những tác dụng tích cực khác của nó như tăng cường tập trunghoá, tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng khoa học công nghệ mới, tranhthủ lợi thế kinh tế theo quy mô Vì thế, vai trò của Nhà nước không phải làxoá bỏ độc quyền, mà là điều tiết để tranh thủ lợi ích và hạn chế tác dụng củađộc quyền
Sự có mặt của DNNN trong những lĩnh vực kinh tế cơ bản như nghiêncứu, triển khai, bảo vệ môi trường vừa là tiền đề cho phát triển kinh tế bềnvững, vừa tạo ra những ngoại ứng tích cực mà các thành phần kinh tế kháccũng có thể tranh thủ được lợi ích của nó
Cuối cùng, DNNN có thể cải thiện thông tin thị trường bằng cách cungcấp các thông tin cạnh tranh để điều tiết giá cả thị trường hoặc trực tiếp thamgia vào lĩnh vực thông tin tuyên truyền Là một thành phần kinh tế chủ đạotrong nền kinh tế quốc dân, có khả năng chi phối một thị phần lớn, nhữngthông tin về giá cả do DNNN đưa ra sẽ là dấu hiệu quan trọng cho các doanhnghiệp khác theo dõi những biến động của môi trường kinh doanh
2.2.4 DNNN góp phần cải thiện tình hình phân phối phúc lợi xã hội
Với hai đặc trưng cơ bản là “kinh doanh” và “công hữu”, thặng dư docác hoạt động của DNNN tạo ra không bị phân tán cho các hoạt động tiêudùng và tái đầu tư tư nhân, mà được sử dụng tập trung cho khu vực công cộngthông qua Chính phủ Việc tự hạch toán và đóng góp cho Ngân sách Nhànước có vai trò tích cực nhằm giúp cắt giảm chi tiêu chính phủ và hạn chế
Trang 11tăng thuế cá nhân Tác dụng tạo công ăn việc làm và thu nhập của DNNNcũng là một đóng góp có ý nghĩa, đặc biệt là ở những vùng sâu vùng xa, vùng
có điều kiện khó khăn mà đầu tư tư nhân chưa vươn tới
Tóm lại, những phân tích trên nói lên “vai trò tiềm năng” mà DNNN có
thể đảm nhiệm Nhưng để biến vai trò đó thành hiện thực thì đòi hỏi bản thâncác DNNN phải tự phấn đấu vươn lên, đổi mới công tác quản lý, thích nghivới điều kiện cạnh tranh thị trường, thực sự giữ những vị trí then chốt trongnền kinh tế, đi đầu ứng dụng khoa học công nghệ, nêu gương về năng suất,chất lượng và hiệu quả kinh tế - xã hội
2.3 Xu thế đổi mới doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam
Quá trình sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN đã làm giảm bớttính độc tôn của hình thức sở hữu duy nhất tồn tại trong loại hình doanhnghiệp này Từ đó DNNN được chuyển sang một cấu trúc sở hữu mới: cấutrúc nhiều hình thức sở hữu Điều này cho thấy DNNN không nhất thiết phảichiếm tỷ trọng lớn mà quan trọng là DNNN phải giữ vị trí then chốt trong nềnkinh tế Bởi vậy, xu thế đổi mới, sắp xếp và nâng cao hiệu quả của DNNNphải đảm bảo thoả mãn những yêu cầu sau:
Một là, DNNN phải nắm giữ vai trò lãnh đạo nền kinh tế, bảo đảm an
ninh quốc gia, quốc phòng toàn dân DNNN là một trong những công cụ vĩ
mô quan trọng của Nhà nước góp phần dẫn dắt nền kinh tế phát triển theođịnh hướng XHCN DNNN là chỗ dựa để Đảng thực hiện truyền thống lãnhđạo toàn diện và tuyệt đối với nền kinh tế Đồng thời, DNNN phải đóng vaitrò là “anh cả” hướng dẫn và tạo điều kiện cho doanh nghiệp thuộc các thànhphần kinh tế khác phát triển và vươn lên trong cạnh tranh DNNN phải là hìnhmẫu cho sự phát triển các doanh nghiệp khác và là đại diện cho phương thứcsản xuất kinh doanh và quản lý mang đặc thù Việt Nam
Hai là, DNNN phải đi đầu trong hoạt động đầu tư vào các lĩnh vực, địa
bàn kinh doanh phức tạp và giải quyết các vấn đề xã hội Về lĩnh vực khoahọc công nghệ, DNNN phải đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ cao, sửdụng lao động có trình độ Về lĩnh vực nông nghiệp, DNNN phải đi đầu trong
Trang 12việc phục vụ nông nghiệp và tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp, cung cấpcông nghệ chế biến, máy móc thiết bị cũng như những yếu tố đầu vào phục vụcho quá trình sản xuất nông nghiệp Bên cạnh đó, DNNN phải đi đầu trongviệc giải quyết các vấn đề xã hội, đầu tư vào vùng sâu vùng xa, vùng biên giớihải đảo - những nơi mà các loại hình doanh nghiệp khác không có đủ “nhiệttình” vươn tới Mặt khác, DNNN phải đi đầu trong quá trình thực hiện liêndoanh liên kết với nước ngoài và thực hiện các cam kết quốc tế Để thực hiệncông bằng xã hội, bên cạnh việc tạo hành lang pháp lý cho thị trường vậnđộng, thực thi chính sách, điều tiết thu nhập, chính sách công cộng thì tất yếuphải phát huy vai trò của DNNN trong việc đảm bảo các sản phẩm và dịch vụcông ích Do đó, DNNN phải đi đầu trong việc hình thành các trung tâm kinh
tế mới, góp phần điều chỉnh cơ cấu ngành, lãnh thổ để thu hẹp khoảng cáchchênh lệch giữa các nhóm và các vùng dân cư
Ba là, DNNN phải là trọng điểm trong việc thực hiện tăng cường lực
lượng vật chất, góp phần tạo ra sản lượng hàng hoá và dịch vụ ngày càng cao,thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng côngnghiệp hoá và hiện đại hoá Mục tiêu của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
là tăng trưởng nhanh và phát huy có hiệu quả nội lực của từng doanh nghiệp.Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thể hiện chủ yếu ở việc hình thành xuhướng phát triển những ngành công nghiệp mới có trình độ công nghệ cao,cho ra đời thế hệ sản phẩm mới có khả năng sinh lời lớn, có triển vọng pháttriển lâu dài và khai thác có hiệu quả các nguồn lực phát triển của đất nước.Bên cạnh đó, trong xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý, các ngànhtruyền thống vẫn duy trì và hoàn thiện để giải quyết các vấn đề xã hội, bảođảm thu nhập và việc làm cho đại bộ phận dân cư Tất cả các nội dung trênphải có sự tác động mạnh mang tính chủ lực, tiên phong của DNNN
Bốn là, các DNNN có khả năng cạnh tranh quốc tế cao trên thị trường
trong và ngoài nước về giá cả, chất lượng, dịch vụ trong ngắn và dài hạn Đây
là một trong những lợi thế quan trọng của DNNN so với các loại hình doanhnghiệp khác Do đó, DNNN phải tạo ra những sản phẩm mang thương hiệu
Trang 13Việt Nam, có đặc điểm độc đáo, đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng trong nước
và nước ngoài Tiếp đến, chất lượng sản phẩm do DNNN sản xuất phải đạttrình độ quốc tế, bảo đảm ổn định lâu dài và được cải tiến liên tục, đượcchứng nhận đạt tiêu chuẩn quốc tế
Năm là, DNNN phải thực hiện được mục tiêu đạt hiệu quả kinh doanh
cao do những công nghệ hiện đại, lực lượng lao động có trình độ tay nghềcao Những chỉ tiêu hiệu quả cần đạt được của DNNN là tỷ suất lợi nhuậncao, tốc độ quay vòng vốn lớn, dự báo và kiểm soát được những rủi ro trongkinh doanh, gây dựng được chữ “tín” cho bạn hàng trong nước và quốc tế.Đây có thể nói là một thách thức, một yêu cầu khó khăn nhất của DNNN,nhưng nó lại củng cố vững chắc nhất cho vị trí chủ đạo của DNNN trong nềnkinh tế thị trường
2.4 Thực trạng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước và những yêu cầu mới đặt ra
2.4.1 Thực trạng kém hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp nhà nước
a Hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhànước thấp
Theo đánh giá chung của Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanhnghiệp Trung ương, số DNNN thực sự kinh doanh có hiệu quả chỉ chiếm40%, số doanh nghiệp chưa có hiệu quả, hoạt động sản xuất khi lỗ khi lãichiếm 31% và còn lại 29% số DNNN hoạt động không có hiệu quả, lỗ liên tụctrong nhiều năm liền Cũng trong năm 2000, DNNN chỉ đóng góp cho Ngânsách Nhà nước 39,2% tổng thu Ngân sách nhưng trong đó phần thuế thu nhậpdoanh nghiệp chỉ có 13,4% Một đồng vốn Nhà nước của doanh nghiệp chỉlàm ra 0,095 đồng lợi nhuận trước thuế Trong khi đó đối với DNNN sauchuyển đổi thì tỷ lệ vốn/lợi nhuận trước thuế bằng 0,19 đồng Điều này đặt rayêu cầu phải thực hiện chuyển đổi sở hữu DNNN nhằm nâng cao hiệu quảhoạt động của doanh nghiệp Đến năm 2002, tỷ lệ lợi nhuận/vốn của DNNNvẫn ở mức thấp 2,9%, tỷ lệ lãi/doanh thu tiêu thụ năm 2003 chỉ đạt 4,2% so
Trang 14với 13,6% của doanh nghiệp thuộc khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Bêncạnh đó, khả năng cạnh tranh của các sản phẩm do DNNN sản xuất trên thịtrường quốc tế và trong nước còn thấp Một số mặt hàng như sắt thép, phânbón, xi măng có mức giá cao hơn giá nhập khẩu từ 20 - 40%, riêng mặthàng dầu thô cao hơn 70 - 80%.
Hiệu quả sản xuất và sức cạnh tranh của DNNN thấp là những nguyênnhân chính dẫn đến tốc độ phát triển của DNNN không cao, thấp hơn nhiều sovới doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác
b Quy mô doanh nghiệp còn nhỏ bé
Xét về quy mô DNNN, các doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỷ đồng vẫnchiếm tỷ trọng lớn
Bảng 1: Quy mô vốn của doanh nghiệp nhà nước
S
T
T
Số lượng DNNN
Quy mô vốn Nhà nước
ra yêu cầu phải nỗ lực hơn nữa trong việc sắp xếp và đổi mới DNNN
c Công nợ của các DNNN ngày càng tăng, lao động thiếu việc làm và dôi dưcòn lớn, trình độ quản lý còn yếu kém
Nợ của các DNNN đang là một gánh nặng khó khắc phục, nợ quá hạn và
Trang 15nợ khó đòi ngày càng tăng Tổng số nợ phải trả của DNNN tính đến tháng 12năm 2003 theo Bộ Tài chính lên đến 207,8 nghìn tỷ đồng, trong đó 76% làvay nợ ngân hàng, còn lại là do chiếm dụng các khoản phải nộp ngân sáchhoặc chiếm dụng vốn của các doanh nghiệp khác Tình hình tài chính khônglành mạnh một phần là do lịch sử để lại, mặt khác là do lúng túng, chưa cógiải pháp khả thi xử lý dứt điểm Điều này làm cho hạch toán kế toán củadoanh nghiệp bị méo mó, không minh bạch và DNNN luôn ở trong tình trạng
bị động đối với các khoản nợ khó đòi
Lao động thiếu việc làm và dôi dư cũng là khó khăn lớn, ảnh hưởng đếnquá trình chuyển đổi sở hữu DNNN Không ít DNNN tuỳ tiện tăng biên chếgián tiếp, trực tiếp quá mức khiến cho bộ máy làm việc cồng kềnh dẫn đến chiphí tăng và năng suất lao động giảm Bên cạnh đó, các DNNN lại thiếu laođộng trẻ có trình độ chuyên môn cao, người lao động đang làm việc phần lớnchưa qua đào tạo hoặc làm việc trái nghề dẫn đến năng suất lao động thấp.Năm 2000, theo báo cáo của Bộ Lao động – thương binh và Xã hội, số laođộng mất việc và không có việc làm thường xuyên ở các DNNN là 20%, vàđến năm 2002, 2003 tăng lên tương ứng là 26% và 28%
Thêm vào đó là trình độ quản lý của lãnh đạo DNNN chưa đáp ứng đượcyêu cầu của cơ chế thị trường, chưa năng động, nhanh nhạy với điều kiệnmới Nhiều cán bộ quản lý chưa được đào tạo hoặc đào tạo lại nên không đápứng được nhu cầu chuyên môn của công việc Một bộ phận không nhỏ cán bộquản lý sa sút về phẩm chất đạo đức, dựa vào hoạt động sản xuất của doanhnghiệp để làm lợi cho cá nhân
d Trình độ công nghệ của DNNN còn lạc hậu
Theo khảo sát của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường tại nhiềuDNNN, thiết bị, máy móc, dây chuyền sản xuất lạc hậu so với thế giới 10 –
20 năm, trình độ cơ khí hoá, tự động hoá dưới 10%, tài sản ở dạng thanh lýchiếm 38% và 52% đã qua bảo dưỡng, sửa chữa Hậu quả là chưa tạo đượcnhiều sản phẩm mũi nhọn có hàm lượng chất xám cao trên cơ sở kết hợp pháthuy lợi thế so sánh, nội lực của đất nước với sử dụng có hiệu quả hợp tác
Trang 16quốc tế.
Tóm lại, với thực trạng hoạt động kém hiệu quả như trên của DNNN
trong thời gian qua đặt ra yêu cầu phải thực hiện các giải pháp mạnh mẽ vàcương quyết nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của DNNN Mộttrong những giải pháp quan trọng nhất là thực hiện chuyển đổi sở hữu DNNN
Có như vậy DNNN mới phát huy tác dụng trong việc nâng cao vai trò chủ đạocủa khu vực KTNN
2.4.2 Những yêu cầu mới đặt ra
a Gắn kết lợi ích của người lao động, lợi ích của người quản lý với lợi ích củaNhà nước
Trong các DNNN chưa có sự xác định thực sự mối quan hệ giữa chủ sởhữu và người điều hành Do đó không những không xác định rõ trách nhiệm
mà ngay cả trong quyền điều hành hoạt động của DNNN Bản thân yếu tố sởhữu được quan niệm là Nhà nước nhưng tồn tại một cách chung chung, thiếu
cụ thể về người đại diện Điều hành các DNNN là ban giám đốc, ban quản lýnhưng thiếu những yếu tố ràng buộc trách nhiệm và hạn chế cả về quyền hạnnên thiếu sự kiểm soát chặt chẽ từ phía chủ sở hữu và thiếu tính tích cực chủđộng sáng tạo trong điều hành của bộ máy quản lý Vì vậy, các doanh nghiệpnày thường chậm đổi mới về mọi mặt, kém năng động trên thị trường, nétránh thách thức và ít mạnh dạn trong hoạt động kinh doanh, bỏ lỡ nhiều cơhội kinh doanh và phát triển
Hệ thống quản lý của các DNNN thiết kế quá cồng kềnh, phức tạp, nhiềucấp trung gian nhưng trách nhiệm cá nhân lại không được ràng buộc chặt chẽ
và tương xứng với quyền hạn, đồng thời không gắn với lợi ích cá nhân củacác cán bộ quản lý một cách thoả đáng Nhiều khi đây lại là nguyên nhân làmcho các doanh nghiệp này mất đi lợi thế so với các doanh nghiệp thuộc cácthành phần kinh tế khác ở trong nước, làm chúng chịu thua thiệt trong kinhdoanh với khách hàng nước ngoài
Sự can thiệp nhiều khi quá sâu của các cơ quan Nhà nước vào hoạt độngcủa DNNN (quy định các định mức kinh tế - tài chính, quyết định mức chi
Trang 17tiêu hoặc hạn mức chi tiêu cho nhiều hoạt động cụ thể, quy định cách thứchoặc mức thù lao, cách thức hạch toán ) làm giảm tính tự chủ và giảm đi mộtphần trách nhiệm của cá nhân các cán bộ hoặc của cả tập thể ban quản lýDNNN Mặt khác, các thủ tục quá chặt chẽ về quá nhiều vấn đề có tính sự vụ(mua sắm, thanh lý tài sản ) làm cho tính chủ động của cán bộ quản lýDNNN bị hạn chế Tâm lý ỷ lại, trông chờ, thái độ thiếu tích cực cũng từ đó
mà phát sinh, gây ra những cản trở không nhỏ cho hoạt động kinh doanh củacác DNNN
b Khai thác các nguồn lực xã hội
Trong nhiều năm qua, theo báo cáo của DNNN cũng như bất kỳ cuộcđiều tra nào về doanh nghiệp này cũng có thể nhận thấy yêu cầu cấp bách củacác doanh nghiệp về việc cấp thêm vốn Cho đến nay, DNNN chỉ có thể bổsung vốn bằng cách xin cấp thêm vốn hoặc vay ngân hàng Hình thức vay vốncủa cán bộ, công nhân viên đã được thử nghiệm ở một số doanh nghiệp, đãphát huy tác dụng tích cực nhất định nhưng cũng làm xuất hiện thêm nhiềuvấn đề khó giải quyết Trong khi đó vẫn chưa tận dụng được nguồn vốn nhànrỗi trong nhân dân dẫn đến các nguồn lực xã hội chưa được khai thác đầy đủ
và có hiệu quả
c Quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế
Quan hệ kinh doanh với đối tác nước ngoài không chỉ đòi hỏi các doanhnghiệp phải có tiềm năng thích hợp, có khả năng ra quyết định kịp thời, độclập mà còn phải có những hình thức pháp lý quen thuộc đối với họ Việcchuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước sẽ cho phép tạo ra những hình thứcpháp lý phù hợp với thông lệ quốc tế Đứng trước yêu cầu hội nhập kinh tếquốc tế, hàng loạt những yêu cầu ngày càng trở nên bức thiết đòi hỏi cácDNNN phải tiến hành chuyển đổi sở hữu
Tóm lại, việc chuyển đổi sở hữu ở các doanh nghiệp là những hoạt động
bình thường trong hoạt động của chủ sở hữu Sự chuyển đổi đó là cần thiếtnếu nó liên quan, phục vụ trực tiếp cho lợi ích của chủ sở hữu và chủ đầu tư.Đối với các DNNN cũng không phải là ngoại lệ mặc dù trong nhiều trường
Trang 18hợp Nhà nước chú trọng đến lợi ích kinh tế - xã hội nhiều hơn lợi ích kinh tếđơn thuần Sự chuyển đổi đó là cần thiết vì xét cho cùng là vì lợi ích của Nhànước với tư cách là chủ đầu tư Khi các DNNN hoạt động kinh doanh kémhiệu quả thì chẳng những lợi ích kinh tế đã không được bảo đảm mà lợi íchchính trị - xã hội cũng bị ảnh hưởng không tốt.
II Các hình thức chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam
1 Căn cứ lựa chọn doanh nghiệp nhà nước tiến hành chuyển đổi sở hữu
Chuyển đổi sở hữu là quá trình đa dạng hoá các DNNN, làm cho doanhnghiệp đó không thuộc quyền sở hữu 100% của Nhà nước Nói cách khác,một công ty hay một doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu thuộc nhiều thànhphần kinh tế khác nhau Việc chuyển đổi sở hữu này sẽ giúp cho doanhnghiệp hoạt động hiệu quả hơn, tự chủ tự chịu trách nhiệm về hoạt động kinhdoanh của mình Chuyển đổi sở hữu được tiến hành theo ba hình thức: CPH,bán hoặc giao doanh nghiệp cho tập thể người lao động
Quyết định 155/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 24 tháng
8 năm 2004 về ban hành tiêu chí, danh mục phân loại công ty nhà nước vàcông ty thành viên hạch toán độc lập thuộc Tổng công ty Nhà nước được xem
là căn cứ để lựa chọn DNNN tiến hành chuyển đổi sở hữu Các DNNN sẽ dựavào nội dung của Quyết định này để đánh giá xem doanh nghiệp của mình cótiến hành chuyển đổi sở hữu được hay không
1.1 Những công ty mà Nhà nước giữ 100% vốn
Nhà nước nắm giữ 100% vốn đối với những công ty hoạt động trong cácngành, lĩnh vực sau:
Những công ty hoạt động trong một số lĩnh vực quan trọng: Sản xuất,cung ứng vật liệu nổ; Sản xuất, cung ứng hoá chất độc; Sản xuất, cung ứngchất phóng xạ; Hệ thống truyền tải điện quốc gia; Mạng trục thông tin quốcgia và quốc tế; Sản xuất thuốc lá điếu; Điều hành bay; Bảo đảm hàng hải; Sảnxuất, sửa chữa vũ khí, khí tài, trang bị chuyên dùng cho quốc phòng, an ninh,trang thiết bị, tài liệu kỹ thuật và cung ứng dịch vụ bảo mật thông tin bằng kỹ
Trang 19thuật nghiệp vụ mật mã; Các công ty được giao thực hiện nhiệm vụ quốcphòng, an ninh đặc biệt và các công ty đóng tại địa bàn chiến lược quan trọngkết hợp kinh tế với quốc phòng theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ; Intiền, chứng chỉ có giá, sản xuất tiền kim loại; Xổ số kiến thiết; Các nhà xuấtbản; Sản xuất phim khoa học, phim thời sự, phim tài liệu, phim cho thiếu nhi;
Đo đạc bản đồ; Quản lý, bảo trì hệ thống đường sắt quốc gia, cảng hàngkhông và cảng biển có quy mô lớn, vị trí quan trọng theo quyết định của Thủtướng Chính phủ; Quản lý, khai thác công trình thuỷ nông đầu nguồn, côngtrình thuỷ nông có quy mô lớn; Trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn, rừng phòng
hộ, rừng đặc dụng; Thoát nước ở đô thị lớn; Chiếu sáng đô thị; Một số lĩnhvực quan trọng khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ
Những công ty bảo đảm nhu cầu thiết yếu cho phát triển sản xuất vànâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc miền núi, vùngsâu, vùng xa
Những công ty đáp ứng đủ các điều kiện sau: vốn nhà nước từ 30 tỷđồng trở lên, mức thu nộp ngân sách nhà nước bình quân ba năm liền kề từ 3
tỷ đồng trở lên, đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ mũi nhọn, công nghệcao, góp phần quan trọng ổn định kinh tế vĩ mô và hoạt động trong nhữngngành, lĩnh vực sau: Chế biến dầu mỏ; Khai thác quặng có chất phóng xạ;Đóng và sửa chữa phương tiện vận tải đường không; In sách, báo chính trị;Bán buôn thuốc phòng bệnh, chữa bệnh, hoá dược; Bán buôn lương thực; Bánbuôn xăng dầu; Vận tải đường không, đường sắt
1.2 Những công ty tiến hành chuyển đổi sở hữu dưới hình thức cổ phần hoá, giao cho tập thể người lao động hoặc bán
Những công ty khi CPH, Nhà nước nắm giữ trên 50% tổng số cổ phần
là những công ty có vốn nhà nước từ 20 tỷ đồng trở lên, mức thu nộp ngânsách nhà nước bình quân ba năm liền kề từ 2 tỷ đồng trở lên, hoạt động trongnhững ngành, lĩnh vực đã nêu ở trên và các ngành, lĩnh vực sau: Sản xuấtđiện; Khai thác các khoáng sản quan trọng: than, bô xít, quặng đồng, quặngsắt, quặng thiếc, vàng, đá quý; Sản xuất các sản phẩm cơ khí: thiết bị kỹ thuật
Trang 20điện và vật liệu điện, máy công nghiệp chuyên dùng, máy móc, thiết bị phục
vụ nông, lâm, ngư nghiệp, đóng và sửa chữa phương tiện vận tải đường biển,đường sắt; Cung cấp hạ tầng mạng viễn thông; Sản xuất kim loại đen (gang,thép) trên 100.000 tấn/năm; Sản xuất xi măng công nghệ hiện đại, chất lượngcao, có công suất thiết kế trên 1,5 triệu tấn/năm; Sản xuất phân hóa học, thuốcbảo vệ thực vật; Sản xuất một số mặt hàng tiêu dùng, thực phẩm: muối ăn,sữa, bia trên 50 triệu lít/năm, cồn và rượu trên 10 triệu lít/năm; Khai thác, lọc
và cung cấp nước sạch ở các thành phố lớn; Vận tải đường biển; Kinh doanhtiền tệ, bảo hiểm; Sản xuất giống cây trồng, vật nuôi; Dịch vụ đánh bắt hảisản xa bời; Quản lý, bảo trì hệ thống đường bộ, đường thuỷ quan trọng; Quản
lý, khai thác các công trình thuỷ nông; Dịch vụ hợp tác lao động; Kinh doanhmặt bằng hội chợ, triển lãm
Những công ty không thuộc mục kể trên khi tiến hành CPH, cơ quanNhà nước có thẩm quyền căn cứ từng trường hợp cụ thể, quyết định việc Nhànước giữ cổ phần ở mức thấp hoặc không giữ cổ phần
Những công ty không CPH được, thì thực hiện chuyển đổi sở hữudưới hình thức giao công ty cho tập thể người lao động hoặc bán công ty theoquy định của Chính phủ
Đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư vàngười lao động trong doanh nghiệp
2.1.2 Yêu cầu
Thực hiện công khai, minh bạch theo nguyên tắc thị trường; khắc phục
Trang 21tình trạng cổ phần hóa khép kín trong nội bộ doanh nghiệp; gắn với phát triểnthị trường vốn, thị trường chứng khoán.
2.2 Đối tượng và điều kiện cổ phần hóa
Các công ty nhà nước không thuộc diện Nhà nước nắm giữ 100% vốnđiều lệ thực hiện CPH bao gồm: các Tổng công ty nhà nước (kể cả Ngân hàngthương mại nhà nước và các tổ chức tài chính nhà nước); công ty nhà nướcđộc lập; công ty thành viên hạch toán độc lập của tổng công ty do Nhà nướcquyết định đầu tư và thành lập; đơn vị hạch toán phụ thuộc của công ty nhànước
Những công ty nêu trên được tiến hành CPH khi còn vốn Nhà nước(chưa bao gồm giá trị quyền sử dụng đất) sau khi giảm trừ giá trị tài sảnkhông cần dùng, tài sản chờ thanh lý; các khoản tổn thất do lỗ, giảm giá tàisản, công nợ không có khả năng thu hồi và chi phí CPH
Việc CPH đơn vị hạch toán phụ thuộc của các công ty nhà nước chỉ đượctiến hành khi:
- Đơn vị hạch toán phụ thuộc của doanh nghiệp có đủ điều kiện hạchtoán độc lập
- Không gây khó khăn hoặc ảnh hưởng xấu đến hiệu quả sản xuất, kinhdoanh của doanh nghiệp hoặc các bộ phận còn lại của doanh nghiệp
2.3 Hình thức CPH công ty nhà nước
Có ba hình thức CPH như sau:
Giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành cổphiếu thu hút thêm vốn áp dụng đối với những doanh nghiệp CPH có nhu cầutăng thêm vốn điều lệ Mức vốn huy động thêm tuỳ thuộc vào quy mô và nhucầu vốn của công ty cổ phần Cơ cấu vốn điều lệ của công ty cổ phần đượcphản ánh trong phương án CPH
Bán một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợpvừa bán bớt một phần vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để thu hútvốn
Bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa
Trang 22bán toàn bộ vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để thu hút vốn.
3 Hình thức giao công ty nhà nước cho tập thể người lao động
Giao công ty cho tập thể người lao động được hiểu là việc chuyển đổi sởhữu công ty nhà nước và tài sản nhà nước tại công ty thành sở hữu của tập thểngười lao động trong công ty có phân định rõ sở hữu của từng người, từngthành viên với các điều kiện ràng buộc
3.1 Mục tiêu của việc giao công ty nhà nước
Giao công ty nhà nước là biện pháp tiếp tục sắp xếp và đổi mới nhữngcông ty nhà nước kém hiệu quả, thua lỗ kéo dài, Nhà nước không cần nắm giữ
và không CPH được nhằm:
Tạo điều kiện cơ cấu lại công ty nhà nước, nâng cao hiệu quả kinh tế
và sức cạnh tranh của khu vực kinh tế Nhà nước
Sử dụng có hiệu quả hơn số vốn, tài sản Nhà nước đã đầu tư vào công
ty, khai thác mọi tiềm năng trong các thành phần kinh tế để đầu tư phát triểnsản xuất kinh doanh
Bảo đảm việc làm cho người lao động, thay đổi phương thức quản lýcông ty, tạo động lực để phát huy quyền làm chủ của người lao động
Giảm bớt chi phí và trách nhiệm trực tiếp kinh doanh của Nhà nước,đảm bảo lợi ích chung cho cả Nhà nước và người lao động trong công ty.Giao công ty nhà nước (gọi tắt là giao công ty) áp dụng đối với công tynhà nước độc lập, công ty thành viên hạch toán độc lập của Tổng công ty cóvốn nhà nước ghi trên sổ sách kế toán dưới 5 tỷ đồng
3.2 Điều kiện giao doanh nghiêp cho tập thể người lao động
Tập thể người lao động trong công ty được xem xét giao công ty khi đápứng đủ các điều kiện sau:
Tự nguyện đăng ký nhận giao công ty
Cam kết đầu tư thêm để phát triển sản xuất kinh doanh, bảo đảm việclàm tối thiểu từ 3 năm trở lên, đóng đầy đủ bảo hiểm cho người lao độngtrong công ty theo quy định của pháp luật (trừ trường hợp tự nguyện chấm dứthợp đồng lao động theo quy định của pháp luật về lao động và chính sách đối
Trang 23với lao động dôi dư do sắp xếp lại công ty nhà nước).
Kế thừa phần công nợ và các nghĩa vụ tài sản của công ty sau khi xử
lý Kế thừa quyền và nghĩa vụ đối với người lao động theo Bộ luật Lao động
Không được cho thuê, chuyển nhượng, tự giải thể công ty trong thờigian tối thiểu 3 năm sau khi giao
4 Hình thức bán công ty nhà nước
Bán công ty hoặc bộ phận của công ty là việc chuyển đổi sở hữu sở hữu
có thu tiền toàn bộ công ty, bộ phận công ty sang sở hữu tập thể, cá nhân hoặcpháp nhân khác
4.1 Mục tiêu của việc bán công ty nhà nước
Việc thực hiện bán công ty nhà nước nhằm cơ cấu lại công ty, nâng caokhả năng cạnh tranh của công ty trong điều kiện nền kinh tế thị trường địnhhướng XHCN Thông qua đó, sử dụng có hiệu quả số vốn, tài sản của Nhànước và khai thác mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế khác cho đầu tưphát triển sản xuất kinh doanh
Khi tiến hành bán công ty nhà nước, người lao động sẽ được bảo đảmviệc làm, ổn định thu nhập và phát huy quyền làm chủ của người lao động.Lúc này, Nhà nước sẽ không sở hữu hoàn toàn DNNN đã thực hiện bán nêngiảm bớt chi phí và trách nhiệm kinh doanh của Nhà nước Do đó bảo đảmđược lợi ích của cả Nhà nước và người lao động
4.2 Các phương thức tiến hành bán công ty nhà nước
Việc bán DNNN được tiến hành theo ba phương thức: đấu thầu, đấu giáhoặc bán trực tiếp
Nếu có từ hai người trở lên đăng ký mua doanh nghiệp thuộc diện phảichuyển đổi sở hữu thì doanh nghiệp sẽ được bán theo phương thức đấu thầu.Trường hợp công ty đã giải quyết hết số lao động hoặc đã phê duyệtphương án giải quyết hết số lao động theo quy định mà lại có từ hai ngườiđăng ký mua trở lên thì phải bán doanh nghiệp theo phương thức đấu giá theoQuy chế bán đấu giá do Thủ tướng Chính phủ ban hành
Nếu chỉ có một người đăng ký mua thì doanh nghiệp sẽ được bán theo
Trang 24phương thức trực tiếp.
Người đăng ký mua doanh nghiệp có quyền đến doanh nghiệp nghiêncứu sổ sách kế toán, bảng kê tài sản và thực trạng hoạt động của doanh nghiệp
để quyết định có tiếp tục mua doanh nghiệp hay không
Kết luận: Việc thực hiện chuyển đổi sở hữu DNNN chỉ được cơ quan có
thẩm quyền phê duyệt khi có phương án sử dụng lao động trong doanh nghiệphợp lý Đây chính là mục tiêu chung và quan trọng nhất của các hình thứcchuyển đổi sở hữu DNNN
III Các nhân tố tác động đến quá trình chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam
Quá trình chuyển đổi sở hữu DNNN ở nước ta diễn ra nhanh hay chậm,thuận lợi hay khó khăn là do sự tác động của rất nhiều nhân tố Các nhân tố
đó có quan hệ tác động qua lại hoặc cùng chiều hoặc ngược chiều Nếu chúngtác động đồng thuận sẽ tạo điều kiện cho quá trình chuyển đổi sở hữu diễn ranhanh Ngược lại, nếu chúng tác động ngược chiều nhau sẽ làm chậm lại quátrình chuyển đổi Có rất nhiều nhân tố tác động nhưng theo em bốn nhân tốsau có tác động mạnh nhất
1 Cơ chế chính sách liên quan đến việc chuyển đổi sở hữu
Sở hữu luôn là một trong những vấn đề trọng tâm của mọi thời kỳ lịch
sử Nó vừa là kết quả của sự phát triển kinh tế xã hội, đồng thời nó cũng tácđộng trở lại đến quá trình kinh tế xã hội Chính vì vậy, vấn đề sở hữu luôn làmối quan tâm của các nhà chính trị - xã hội của Đảng và Nhà nước ta Việctiến hành chuyển đổi sở hữu DNNN đồng nghĩa với việc giảm sở hữu Nhànước, đây là vấn đề không mới nhưng chúng ta vẫn phải vừa làm vừa “dòdẫm” và học hỏi kinh nghiệm các nước bạn Bởi vậy, để việc chuyển đổi sởhữu được tiến hành thống nhất trên phạm vi cả nước, Đảng và Nhà nước đãkhông ngừng ban hành các quyết định, nghị định phù hợp với điều kiện thực
tế khi tiến hành chuyển đổi Cơ chế chính sách được ban hành có phù hợp vớithực tiễn, có phù hợp với yêu cầu đổi mới hay không phụ thuộc vào sự nhanhnhẹn và nhạy bén của cơ quan thường trực sắp xếp và đổi mới DNNN Chỉ
Trang 25khi nào những cơ chế chính sách không còn là rào cản cho quá trình chuyểnđổi thì quá trình đó mới diễn ra theo đúng mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đãđặt ra.
Một trong những chính sách có tác động mạnh đến sự chuyển đổi sở hữuDNNN chính là chính sách ưu đãi đối với người lao động Niềm tin của ngườilao động trong doanh nghiệp khi thực hiện chuyển đổi sở hữu về khả năngthành công có ý nghĩa vô cùng quan trọng Theo chủ trương của Đảng khi tiếnhành chuyển đổi sang hình thức công ty cổ phần là ưu tiên bán cổ phần chongười lao động để đảm bảo thu nhập và quyền làm chủ của người lao động.Nếu chuyển sang hình thức giao hoặc bán thì đối tượng nhận mua hoặc nhậngiao chủ yếu là tập thể người lao động Do vậy, nếu không có những chínhsách ưu đãi phù hợp với người lao động tạo cho họ niềm tin về sự hiệu quả vềkhả năng kinh doanh có lời sau khi tiến hành chuyển đổi sở hữu thì người laođộng sẽ không chủ động tham gia vào quá trình chuyển đổi
Xuất phát từ mục tiêu đảm bảo thu nhập, nâng cao mức sống của ngườilao động cùng với việc đẩy mạnh hiệu quả sử dụng đồng vốn kinh doanh sauchuyển đổi là những yếu tố quan trọng tạo niềm tin cho người lao động khitham gia chuyển đổi sở hữu Muốn như vậy thì cơ chế chính sách ưu đãingười lao động phải phù hợp và dễ hiểu để người lao động không cảm thấykhó khăn khi tiếp cận chính sách pháp luật
2 Sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước trong quá trình tổ chức thực hiện
Có được cơ chế chính sách về chuyển đổi sở hữu phù hợp đã quan trọngthì sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước lại càng quan trọng hơn Nó quyết địnhrất nhiều đến sự thành công hay thất bại của quá trình chuyển đổi sở hữu Bởimột nghị định hay quyết định được ban hành, không phải cơ quan nào, cấp cóthẩm quyền nào cũng có thể hiểu thông suốt, cũng có khả năng tiến hành thựchiện Việc thực hiện phải có sự chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể của Đảng và Nhànước Một nghị định được ban hành về một vấn đề kinh tế xã hội nào đó thìkèm theo nó là một thông tư hướng dẫn cụ thể việc thi hành nghị định ấy Màviệc chuyển đổi sở hữu DNNN khá phức tạp và “đụng chạm” đến quyền lợi
Trang 26của nhiều người Vì vậy, cần phải có sự chỉ đạo và hướng dẫn cụ thể thôngqua Ban chỉ đạo chuyển đổi.
Ban chỉ đạo chuyển đổi bao gồm nhiều cá nhân được lựa chọn và cùngnhau chuẩn bị các chương trình hành động, lên kế hoạch sắp xếp lại hay kếhoạch chuyển đổi sở hữu DNNN Ban chỉ đạo có trách nhiệm nghiên cứu vănbản quy phạm pháp luật của Nhà nước cũng như các Bộ, ngành có liên quan,tham khảo ý kiến tư vấn trong trường hợp cần thiết Ban chỉ đạo sẽ thay mặtĐảng và Nhà nước tiến hành chuyển đổi sở hữu các DNNN cần phải chuyểnđổi Đồng thời cũng thay mặt Nhà nước trực tiếp quản lý quá trình chuyểnđổi Do đó, Ban chỉ đạo có tầm quan trọng rất lớn, có ảnh hưởng không chỉvới tiến độ chuyển đổi mà còn ảnh hưởng đến khả năng phát triển trongtương lai của doanh nghiệp sau chuyển đổi Bởi vậy, việc lựa chọn các thànhviên trong Ban chỉ đạo chuyển đổi cũng vô cùng quan trọng Nếu các cá nhântrong Ban chỉ đạo chỉ đưa ra những ý kiến đánh giá nhằm duy trì quyền lợi cánhân hay các ý kiến mang tính chủ quan, duy ý chí thì mục tiêu hoạt động củaBan chỉ đạo chuyển đổi sẽ không thể thực hiện được Chính vì vậy, các thànhviên phải là những người quán triệt sâu sắc chủ trương đổi mới DNNN củaĐảng và Nhà nước, có trình độ, có kinh nghiệm, có nhiệt huyết đối với côngcuộc đổi mới để “thổi những luồng gió mới” vào quá trình chuyển đổi sở hữu
Có như thế, quá trình chuyển đổi sở hữu DNNN mới được tiến hành thuận lợi
và đạt hiệu quả cao
3 Nhân tố khách quan xuất phát từ chính trong nội tại doanh nghiệp
Quá trình chuyển đổi sở hữu DNNN có tiến hành thuận lợi khi bản thândoanh nghiệp vẫn còn tồn tại những rào cản cản trở sự chuyển đổi? Nhữngrào cản phải kể đến là: quá trình xác định giá trị doanh nghiệp, nợ của DNNN
và giá trị tài sản của doanh nghiệp trước khi chuyển đổi
Một là, bất cập từ quá trình xác định giá trị doanh nghiệp Giá trị doanh
nghiệp có vai trò quan trọng trong giá trị cổ phần của người lao động khi thựchiện giao doanh nghiệp cho tập thể người lao động, có vai trò trong việc hìnhthành cơ cấu cổ phần lần đầu khi thực hiện CPH và có vai trò trong việc xác
Trang 27định giá bán doanh nghiệp Giá trị doanh nghiệp cao hay thấp có ảnh hưởngđến việc đánh giá hiệu quả chuyển đổi Bởi sau khi tiến hành chuyển đổi sởhữu bằng CPH, giao, bán doanh nghiệp thì phải thông qua tỷ suất lợi nhuậnvốn góp của cổ động hoặc lợi suất của tài sản để đánh giá hiệu quả của việcchuyển đổi Giá trị của doanh nghiệp được xác định theo giá thực tế là tốtnhất Nếu đánh giá quá cao sẽ tạo tâm lý e ngại không muốn mua cổ phầnhoặc không muốn mua lại doanh nghiệp Ngược lại, nếu giá trị doanh nghiệpđược xác định ở mức thấp sẽ tạo lợi thế cạnh tranh để loại bỏ các đối thủkhác
Hai là, nợ tồn đọng của DNNN Do đầu tư kém hiệu quảm, nhiều doanh
nghiệp thua lỗ, không có vốn trả nợ ngân hàng, nợ tồn đọng của những nămtrước để lại còn quá lớn Sự khó khăn về tài chính và vấn đề xử lý tài chínhnhư thế nào đã gây trở ngại lớn cho quá trình chuyển đổi sở hữu DNNN Nếu
nợ tồn đọng quá nhiều và doanh nghiệp không có phương án giải trình khắcphục và đảm bảo khả năng trả nợ thì doanh nghiệp không thể tiến hànhchuyển đổi sở hữu Bởi trong hồ sơ chuyển đổi sở hữu, DNNN cần phải giảitrình cụ thể và chi tiết số tiền bán cổ phần hay số tiền bán doanh nghiệp sẽđược sử dụng như thế nào
Ba là, giá trị tài sản doanh nghiệp trước khi tiến hành chuyển đổi Việc
xác định giá trị tài sản doanh nghiệp vào giá trị doanh nghiệp có đúng haykhông? Việc làm này có làm nâng cao giá trị doanh nghiệp hay không? Đốivới những tài sản cần thanh lý thì thanh lý vào lúc nào, trước hay sau khichuyển đổi? Bên cạnh đó, những vướng mắc về đất đai và sở hữu tài sản cũnggây ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình chuyển đổi sở hữu Nếu giá trị tài sảncủa doanh nghiệp được xác định rõ ràng, quyền sở hữu tài sản và đất đai đượcgiải quyết dứt điểm thì việc chuyển đổi sở hữu sẽ gặp nhiều thuận lợi và quátrình chuyển đổi sẽ diễn ra nhanh hơn và đúng tiến độ
Bốn là, tính chất kinh tế của sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp cho thị
trường Những sản phẩm nào thích ứng với thị trường, đáp ứng yêu cầu củangười tiêu dùng, có lợi thế cạnh tranh so với đối thủ sẽ hấp dẫn các thành
Trang 28phần kinh tế khác nhảy vào Điều này sẽ tạo điều kiện cho việc thực hiệnchuyển đổi sở hữu nhanh hơn và hiệu quả hơn Ngược lại, đối với những sảnphẩm mà để sản xuất ra nó đòi hỏi phải có quy mô vốn đầu tư lớn, thời gianquay vòng vốn lâu thì không hấp dẫn các nhà đầu tư nên việc chuyển đổi sởhữu sẽ gặp nhiều khó khăn.
4 Tâm lý, nhận thức của cán bộ quản lý doanh nghiệp và người lao động
Khi nhắc đến chuyển đổi sở hữu là phải kể đến những người trực tiếptham gia chuyển đổi Đó là cán bộ quản lý doanh nghiệp và người lao động.Nếu thái độ và nhận thức của họ thông suốt, sẵn sàng tiến hành chuyển đổidoanh nghiệp thì sẽ đẩy nhanh tiến trình chuyển sở hữu
Đối với cán bộ quản lý doanh nghiệp, vẫn còn tồn tại trong họ tâm lý bất
di bất dịch “chủ nghĩa xã hội gắn liền với sở hữu nhà nước” Nếu những tâm
lý tiểu nông ấy không được gạt bỏ thì khó có thể thực hiện chuyển đổi sở hữudoanh nghiệp Bên cạnh đó, họ còn lo sợ bị mất lợi ích, lo sợ chuyển đổi sẽlàm chệch định hướng xã hội chủ nghĩa Đó là rào cản của quá trình chuyểnđổi sở hữu
Đối với người lao động, nếu họ thông suốt được vai trò và ưu thế củaviệc chuyển đổi, hiểu được vì sao phải tiến hành chuyển đổi thì chắc chắn họ
sẽ là lực lượng nòng cốt của quá trình chuyển đổi Nhận thức và tâm lý đượcgiải toả, người lao động sẽ sẵn sàng và quyết tâm thực hiện chuyển đổi sở hữuDNNN
IV Kinh nghiệm chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc
Trung Quốc là nước bạn láng giềng của Việt Nam, có diện tích lớn vàdân số đông, có nền kinh tế phát triển Việc lựa chọn Trung Quốc làm quốcgia để học hỏi kinh nghiệm về chuyển đổi sở hữu DNNN là tất yếu bởi sựphát triển của Việt Nam tương đối đồng nhất và diễn ra theo đúng tiến trìnhgiống như Trung Quốc Mặc dù trình độ phát triển của Việt Nam còn thuakém Trung Quốc rất nhiều lần Việt Nam cũng như Trung Quốc đi lên chủnghĩa xã hội từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung Cùng với sự phát triển của
Trang 29cơ chế kế hoạch hoá tập trung, số lượng DNNN được thành lập ngày mộtnhiều và khi chuyển lên chủ nghĩa xã hội giai đoạn đầu, DNNN vẫn tiếp tụcđược thành lập bởi chủ nghĩa xã hội là sự công hữu về tư liệu sản xuất Chủnghĩa xã hội là sở hữu toàn dân mà giai đoạn đầu của nó là sở hữu nhà nước.Chỉ khi nào lực lượng sản xuất phát triển đến mức độ hiện đại và tiên tiếnnhất định thì sở hữu nhà nước sẽ chuyển thành sở hữu toàn dân Học hỏi kinhnghiệm cải cách DNNN của Trung Quốc sẽ giúp Việt Nam định hướng nhữngquan điểm và giải pháp thực hiện sắp xếp, đổi mới DNNN có hiệu quả hơn.
1 Bối cảnh thực hiện chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc
Cải cách xí nghiệp quốc hữu ở Trung Quốc được bắt đầu sau Hội nghịTrung ương lần thứ 3 khoá XI của Đảng cộng sản Trung Quốc (tháng 12 năm1978) Mặc dù Chính phủ Trung Quốc đã có nhiều nỗ lực trong việc tạo cơchế cho các xí nghiệp quốc hữu thích nghi với cơ chế thị trường, song nhìnchung hoạt động của các xí nghiệp quốc hữu vẫn còn kém hiệu quả Nguyênnhân của những yếu kém là:
Hiệu quả kinh tế không phải là mục tiêu duy nhất mà các xí nghiệpquốc hữu theo đuổi Bên cạnh mục tiêu hiệu quả kinh tế, xí nghiệp quốc hữucòn phải theo đuổi một số mục tiêu xã hội như bảo đảm việc làm, việc sa thảilao động là một hành động rất khó thực hiện
Mức độ chênh lệch thu nhập không cao giữa xí nghiệp có hiệu quả vàkhông có hiệu quả, vì vậy không những không khuyến khích được người laođộng mà còn hạn chế cả luồng luân chuyển lao động, đặc biệt là lao động trítuệ
Những khó khăn trong việc tìm nguồn vốn, tìm kiếm và tuyển dụngnhân tài đã làm cho các xí nghiệp quốc hữu khó có thể tìm ra giải pháp đểnâng cao hiệu quả kinh tế của mình
Những gánh nặng mang tính lịch sử còn đè nặng lên các xí nghiệpquốc hữu Hầu hết các xí nghiệp quốc hữu đều do Nhà nước đầu tư trong thờigian trước do vậy cơ cấu tài sản được đầu tư có thể không phù hợp với chiếnlược kinh doanh trong nền kinh tế thị trường của xí nghiệp
Trang 30 Trình độ quản lý xí nghiệp yếu kém Chuyển sang hoạt động trong cơchế thị trường với những điều kiện mới nhưng đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở các
xí nghiệp quốc hữu vẫn chủ yếu là những người cũ với nếp nghĩ và tư duy cũ Với những hạn chế nêu trên chính là lí do khiến 2/3 DNNN ở TrungQuốc được lên kế hoạch chuyển đổi sở hữu theo hướng dẫn của Luật Công tyTrung Quốc Luật Công ty được ban hành năm 1993 nhằm mục tiêu khôngchỉ đưa ra một hình thức pháp lý mới cho các nhà đầu tư mà còn hỗ trợ choviệc cải cách các xí nghiệp quốc hữu theo hướng chế độ xí nghiệp hiện đại
2 Các hình thức và nội dung cải cách DNNN tại Trung Quốc
Cải cách DNNN ở Trung Quốc được chia làm 3 giai đoạn, mỗi giai đoạn
có đặc điểm và mục tiêu riêng do điều kiện cụ thể quyết định Nếu giai đoạnthứ nhất nhằm mở rộng quyền tự chủ cho các doanh nghiệp về cơ bản vẫntrên nền cơ chế kế hoạch hoá tập trung thì trong giai đoạn thứ hai thực hiện hệthống trách nhiệm của doanh nghiệp Giai đoạn thứ ba gắn với việc thiết lập
cơ chế thị trường xã hội chủ nghĩa, cải cách sở hữu đối với các DNNN vừa vàlớn, mỗi giai đoạn đều tổ chức thí điểm và rút kinh nghiệm
Việc cải cách DNNN được tiến hành theo các hướng sau:
Sắp xếp lại tài sản: trong cơ chế kế hoạch hoá trước đây, do doanhnghiệp phải đảm nhận nhiều chức năng, theo đuổi nhiều mục tiêu, tài sản củadoanh nghiệp bao gồm tài sản kinh doanh và tài sản phi kinh doanh Để tạođiều kiện cho các doanh nghiệp tập trung vào mục tiêu quan trọng nhất củamình trong cơ chế thị trường, trước hết cần phải tách phần tài sản phi kinhdoanh của các doanh nghiệp Phần này có thể giao lại cho chính quyền quản
lý hoặc tách ra thành đơn vị độc lập Phần tài sản còn lại sẽ được xử lý theo
cơ chế thị trường, nghĩa là phải phân định tiếp loại tài sản có hiệu quả và tàisản không có hiệu quả để tiếp tục sử dụng hoặc thanh lý
Sắp xếp lại các khoản vay: cũng như ở các nước có nền kinh tế kếhoạch hoá tập trung trước đây, các khoản nợ ngân hàng của doanh nghiệp rấtlớn, tỷ trọng nợ khó đòi, nợ quá hạn tương đối cao Tỷ trọng nợ khó đòi cao
đã làm cho khả năng vay nợ của doanh nghiệp rất kém dẫn đến doanh nghiệp
Trang 31không thể có hy vọng vay tín dụng đầu tư chiều sâu để đổi mới sản xuất kinhdoanh, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Một giải pháp được đưa ra xử lý làchuyển các khoản nợ này thành vốn góp, ngân hàng từ vị trí chủ nợ sang vị trí
cổ đông của doanh nghiệp
Sắp xếp lại sản phẩm: Đây là giải pháp cơ bản để chuyển doanhnghiếp sang hoạt động theo cơ chế thị trường Trên cơ sở nghiên cứu nhu cầuthị trường, khả năng cạnh tranh, các doanh nghiệp phải xác định lại cơ cấusản phẩm của mình để đạt hiệu quả cao nhất
Sắp xếp lại lao động: lao động dôi dư là vấn đề có tính phức tạp trongquá trình cải cách, đặc biệt khi hệ thống bảo hiểm thất nghiệp chưa thực hiệnđược chức năng của mình Để giải quyết vấn đề này, Trung Quốc đưa ra biệnpháp “ba người cùng gánh vác”, đó là chính quyền, bảo hiểm ở địa phương vàdoanh nghiệp
Sắp xếp lại quan hệ phân phối: việc xác định lại quan hệ phân phốitrong doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng vì đây chính là vấn đề để thốngnhất lợi ích của các nhóm trong doanh nghiệp Quan hệ phân phối mới đadạng hơn, không chỉ phân phối theo kết quả lao động mà còn phân phối theo
cả sự đóng góp về vốn, về trí tuệ
3 Quá trình chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc
Phương châm cải cách DNNN của Trung Quốc là từ từ, thực hiện từngbước, thí điểm trước sau đó mới áp dụng rộng rãi, nắm cái lớn, buông cái nhỏ,chỉ duy trì sở hữu nhà nước trong những ngành, những doanh nghiệp chủchốt Và cố gắng nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN bằng cách tạo ra sựcạnh tranh theo cơ chế thị trường và khuyến khích sự phát triển khu vực ngoàiquốc doanh để tạo công ăn việc làm và phát triển nhanh nền kinh tế, thay thếdần các DNNN trong nhiều ngành
Với phương châm đó, từ năm 1978 đến năm 1992, Nhà nước tập trungvào việc phân định rõ vai trò Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu và quyền tựchủ sản xuất kinh doanh của DNNN thông qua việc giao quyền tự chủ kinhdoanh và công ty hoá DNNN
Trang 32Năm 1994, Chính phủ đã lựa chọn 1000 doanh nghiệp trong nhữngngành chủ chốt để thành lập nhóm doanh nghiệp lớn, duy trì sở hữu nhà nước;
14000 DNNN cỡ lớn và vừa còn lại được cơ cấu lại thông qua đa dạng hóa sởhữu, sáp nhập và giải thể; khoảng 90000 DNNN cỡ nhỏ chuyển sang khu vựcngoài quốc doanh thông qua việc giao, bán doanh nghiệp Song song với việcgiao quyền tự chủ trong quản lý sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp, Chínhphủ Trung Quốc thực hiện chính sách giảm dần đi đến chấm dứt việc bao cấptài chính và ngân sách cho doanh nghiệp Đồng thời với việc cơ cấu lạiDNNN, tổ chức của Chính phủ từ Trung ương đến địa phương cũng tái cơ cấulại để giảm sự can thiệp trực tiếp của chính phủ vào nền kinh tế và củng cốkhả năng quản lý kinh tế vĩ mô
Công cuộc cải cách DNNN ở Trung Quốc đã mang lại những kết quảnhất định, song nó đang gặp phải một thách thức lớn vì DNNN của TrungQuốc chịu gánh nặng xã hội rất lớn Vì các doanh nghiệp này liên quan đếnkhoảng 40% việc làm và 3/4 số hộ gia đình ở thành thị, 57% quỹ hưu trí cũngnhư số lượng đáng kể các cơ sở y tế và trường học Vì vậy tiến trình cải cáchDNNN ở Trung Quốc phụ thuộc khá lớn vào cải cách phúc lợi xã hội
4 Bài học kinh nghiệm đối với quá trình chuyển đổi sở hữu doanh nghiêp nhà nước ỏ Việt Nam
Trong quá trình chuyển đổi phải quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảngvai trò chủ đạo của KTNN DNNN là lực lượng nòng cốt của KTNN, giữ vịtrí then chốt trong nền kinh tế, là công cụ vật chất quan trọng để Nhà nướcđịnh hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế DNNN phải không ngừng đượckiện toàn, phát triển, nâng cao hiệu quả, DNNN gắn liền với việc giữ vữngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển và ổn định kinh tế, xã hội củađất nước
Kiên quyết điều chỉnh cơ cấu DNNN theo hướng: tập trung vào nhữngngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng; DNNN phải được tổ chứcmạnh và vươn lên cạnh tranh chiếm thị phần lớn đối với các sản phẩm và dịch
vụ chủ yếu, làm tăng sức mạnh chi phối của DNNN trên tổng thể; không nhất
Trang 33thiết DNNN phải chiếm tỷ trọng lớn và phải tổ chức sản xuất kinh doanh ở tất
cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế Đại bộ phận DNNN phải có quy môvừa và lớn, có đủ vốn hoạt động, đội ngũ lao động có tay nghề cao, có khảnăng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế Củng cố và phát triển
có hiệu quả những DNNN có quy mô nhỏ kinh doanh những sản phẩm, dịch
vụ thiết yếu cho sản xuất và đời sống của nhân dân, nhất là những vùng sâu,vùng xa, vùng đồng bào dân tộc Nâng cao hiệu quả DNNN hoạt động côngích đáp ứng sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội và nhu cầu quốcphòng, an ninh
Phải chuyển các DNNN hoạt động kinh doanh sang thực sự kinh doanhtheo cơ chế thị trường, tự chủ, tự chịu trách nhiệm, cạnh tranh và hợp tác vớidoanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác trên cơ sở pháp luật chung.Nhà nước thực hiện bảo hộ cần thiết và có điều kiện đối với những ngành,lĩnh vực, sản phẩm quan trọng của nền kinh tế, phù hợp với lộ trình chủ độnghội nhập kinh tế quốc tế Độc quyền nhà nước trong những lĩnh vực cần thiết,nhưng không biến độc quyền nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp Kiênquyết xoá bỏ bao cấp, đồng thời có chính sách đầu tư đứng đắn và hỗ trợ phùhợp đối với những ngành, lĩnh vực, sản phẩm cần ưu tiên phát triển Phân biệt
rõ chức năng của cơ quan thực hiện quyền chủ sở hữu của Nhà nước vớiquyền sử dụng vốn và chức năng quản lý sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp, giao quyền quyết định nhiều hơn và đòi hỏi trách nhiệm cao hơn đốivới đại diện trực tiếp chủ sở hữu của doanh nghiệp
Việc chuyển đổi sở hữu DNNN phải được tiến hành đồng bộ, khẩntrương, vững chắc, bảo đảm ổn định và phát triển nền kinh tế Cần tiến hànhthường xuyên, kiên trì, có chương trình, kế hoạch cụ thể, có trọng tâm, trọngđiểm, vừa làm vừa tìm tòi, rút kinh nghiệm để có bước đi phù hợp Việcchuyển đổi này phải gắn liền với đổi mới khung pháp lý, chức năng quản lýnhà nước, cải cách hành chính và có tổ chức chỉ đạo tương xứng Phải có độingũ cán bộ quản lý doanh nghiệp giỏi, đáp ứng được yêu cầu
Chuyển đổi sở hữu DNNN là vấn đề hệ trọng, có tính nhạy cảm về chính
Trang 34trị, có liên quan đến sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội của đất nước Do
đó, phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng ở tất cả các cấp, các ngành và nângcao sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng ở các DNNN, bảo đảm quán triệt
và thực hiện có hiệu quả Nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước
Trang 35CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CHUYỂN ĐỔI SỞ HỮU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001-2005
I Mục tiêu chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2001-2005
1 Chủ trương và chính sách thực hiện chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước
Trong giai đoạn đổi mới, các chủ trương, chính sách thực hiện chuyểnđổi sở hữu lần lượt được ban hành, thay thế và bổ sung cho nhau nhằm hoànthiện hệ thống văn bản pháp luật có liên quan Cụ thể là:
Quyết định số 202/QĐ-HĐBT của Chính phủ ngày 8 tháng 6 năm
1992 về thí điểm CPH một số DNNN Sau một thời gian thực hiện thí điểmCPH, Nghị định số 28/NĐ-CP tháng 5 năm 1996 được ban hành về việcchuyển một số công ty nhà nước thành công ty cổ phần Năm 1998, với Nghịquyết số 08/NQ-CP, Chính phủ chính thức quyết định thực hiện thí điểm ởphạm vi rộng hơn các hình thức giao, bán DNNN có quy mô nhỏ, không cóảnh hưởng quyết định tới sự phát triển kinh tế - xã hội, không thuộc diện Nhànước phải quản lý Sang năm tiếp theo, Nghị định số 103/1999/NĐ-CP ngày
10 tháng 9 năm 1999 của Chính phủ về giao, bán DNNN cũng được ban hành.Mục tiêu của nghị định là quy định trình tự thủ tục bán, giao doanh nghiệp,xây dựng cơ chế chính sách nhằm khuyến khích tiếp tục đẩy mạnh sản xuất,tận dụng nguồn tài sản đã có sẵn ở các doanh nghiệp để tiếp tục duy trì vàphát triển sản xuất Nghị định này cũng xác định đối tượng thực hiện giao,bán là những DNNN có quy mô nhỏ (vốn dưới 5 tỷ đồng), không có ảnhhưởng quyết định đến sự phát triển kinh tế của đất nước và Nhà nước khôngnhất thiết phải quản lý chúng Với Nghị định này, Chính phủ chủ trương ưutiên giao, bán doanh nghiệp cho tập thể người lao động trong doanh nghiệp
Một thời gian sau khi thực hiện Nghị định số 103/1999/NĐ-CP ngày
10 tháng 9 năm 1999 của Chính phủ thì Nghị định số 49/2002/NĐ-CP ngày
Trang 3624 tháng 4 năm 2002 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của nghịđịnh 103 về giao và bán doanh nghiệp được ban hành Tháng 6 năm 2002,nghị định số 64/2002/NĐ-CP của Chính phủ đã cụ thể hoá thêm những thủtục, quy định rõ hơn một số nội dung của quá trình CPH DNNN Trong nộidung của nghị định, một chủ trương quan trọng liên quan tới việc giao và bánDNNN được tiếp tục khẳng định Đó là những DNNN có vốn Nhà nước dưới
5 tỷ đồng không thuộc diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ mà không
cổ phần hóa được thì sẽ cho bán và giao Như vậy, việc tiến hành bán và giaodoanh nghiệp sẽ được tiến hành phức tạp hơn, trước tiên phải tổ chức CPH vàchỉ rõ không thể CPH được mới có thể thực hiện chuyển đổi sở hữu bằng giao
và bán DNNN
Để đẩy mạnh hơn nữa công tác đổi mới DNNN đặc biệt là chuyển đổi
sở hữu, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá
IX đã ban hành năm 2004, khẳng định: Rà soát, thu hẹp hơn nữa diện doanhnghiệp mà Nhà nước giữ 100% vốn hoặc có cổ phần chi phối, kiên quyết đẩynhanh tiến độ chuyển đổi sở hữu DNNN Trên cơ sở này, Thủ tướng Chínhphủ đã có Quyết định số 155/2004/QĐ-TTg ngày 24 tháng 8 năm 2004 về banhành tiêu chí, danh mục phân loại công ty Nhà nước và công ty thành viênhạch toán độc lập thuộc Tổng công ty Nhà nước, thay thế Quyết định số58/2002/QĐ-TTg Tiếp đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số187/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 về chuyển công ty nhà nướcthành công ty cổ phần thay thế nghị định số 64/2002/NĐ-CP nhằm khắc phụcmột số vướng mắc mới nảy sinh Nghị định số 49/2002/NĐ-CP sau một thờigian đi vào thực tiễn xuất hiện nhiều điểm không phù hợp nên Thủ tướngChính phủ đã có Nghị định số 80/2005/NĐ-CP ngày 22 tháng 6 năm 2005 vềgiao, bán DNNN thay thế Nghị định số 49
Trong quá trình thực hiện chuyển đổi sở hữu DNNN, rất nhiều văn bảnquy phạm pháp luật đã được ban hành nhằm hướng dẫn quá trình chuyển đổi
đi theo đúng định hướng Nền kinh tế luôn vận động biến đổi không ngừng vàcác DNNN cũng vậy, luôn vận động sao cho hoạt động sản xuất kinh doanhđạt hiệu quả nhất Do đó không có một văn bản pháp luật nào là chuẩn tắc chomọi thời kỳ hay cơ chế chính sách về chuyển đổi sở hữu luôn phải được hoànthiện để thích nghi với thực tiễn cuộc sống
Trang 372 Mục tiêu chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2001– 2005
Hàng năm, các Bộ, ngành, địa phương tiến hành phân loại, sắp xếp lạicác DNNN thuộc diện phải tiến hành chuyển đổi sở hữu Từ đó các Bộ,ngành, địa phương xây dựng thành các đề án về sắp xếp, đổi mới DNNN đểtrình lên Chính phủ đề nghị xem xét và xét duyệt Các cơ quan thực hiện chứcnăng xét duyệt các đề án chuyển đổi sở hữu bao gồm Bộ Kế hoạch & Đầu tư,
Bộ Tài chính và Bộ Lao động thương binh Xã hội Hàng năm, căn cứ theoyêu cầu và tính cần thiết phải chuyển đổi sở hữu DNNN, các Bộ, ngành, địaphương sẽ trình lên ba cơ quan kể trên xin xét duyệt Ba Bộ cùng nhau xemxét và duyệt những đề án khả thi, có phương án sắp xếp lao động tối ưu vàphù hợp với yêu cầu của mục tiêu chuyển đổi sở hữu Số lượng các đề ánđược thông qua chính là con số chỉ tiêu kế hoạch của năm trong việc thựchiện kế hoạch chuyển đổi sở hữu
Bên cạnh đó, để xác định mục tiêu chuyển đổi sở hữu DNNN, các Bộ,ngành, địa phương cũng phải dựa vào những căn cứ sau:
Tính chất định tính của khu vực DNNN: Đảng và Nhà nước ta đãkhẳng định trong nền kinh tế, KTNN phải thực hiện tốt vai trò chủ đạo MàDNNN là một bộ phận quan trọng cấu thành nên KTNN do đó, DNNN cũngphải giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Nhưng DNNN không cần giữ vaitrò chủ đạo ở tất cả các ngành, địa phương mà chỉ chủ đạo ở những ngành nàoquan trọng, cần thiết Ngay cả trong những ngành mà DNNN đóng vai trò chủđạo thì cũng không nhất thiết chủ đạo bằng tỷ trọng áp đảo mà chủ yếu ở hiệuquả tổ chức, hoạt động liên kết…
Tính chất định lượng của DNNN: bước sang giai đoạn mới sau năm
2000, nhiều yếu tố đã thay đổi như môi trường kinh doanh ngày càng bìnhđẳng, Nhà nước không trợ cấp, không ưu đãi cho DNNN như trước, hội nhậpquốc tế ngày càng sâu đòi hỏi phải xoá bỏ từng bước các rào cản cạnh tranhnội địa và quốc tế… Do đó về định lượng, DNNN chắc chắn sẽ chỉ tăng về sốtuyệt đối còn về số tương đối, sang thời kỳ sau sẽ giữ nguyên và có xu hướnggiảm dần Xu hướng giảm tỷ trọng của DNNN là hợp lý và điều này khôngảnh hưởng đến vai trò, vị trí của KTNN và vai trò quản lý, điều hành nền kinh
tế của Nhà nước nói chung
Về cơ cấu, DNNN sẽ được cơ cấu theo hướng chỉ còn lại chủ yếu
Trang 38những doanh nghiệp có quy mô lớn, vừa với tỷ lệ sản xuất GDP trong côngnghiệp là chính, còn các DNNN trong nông nghiệp và thương mại sẽ chỉ cònlại một số chủ yếu hoạt động vì mục đích công ích.
Từ đó, trong giai đoạn 2001 – 2005 kế hoạch chuyển đổi sở hữu DNNNđược thể hiện ở bảng 2
Bảng 2: Kế hoạch thực hiện chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước
Nguồn: Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp Trung ương
II Đánh giá thực trạng chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 2001 – 2005
1 Thực trạng chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 2001 – 2005
Giai đoạn 2001 – 2005, giai đoạn cụ thể hoá các nội dung trong Nghịquyết Trung ương 3 và Nghị quyết Trung ương 9 khoá IX bằng những hànhđộng thiết thực, quá trình chuyển đổi sở hữu DNNN ở Việt Nam đã đạt đượcnhững kết quả tích cực, tăng vượt bậc so với 5 năm trước 1996 – 2000
Sơ đồ 1: 10 năm thực hiện chuyển đổi sở hữu DNNN ở Việt Nam thời kỳ 1995 – 2004
Nguồn: Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Hà Nội
346
607 796
0 200 400 600 800 1000
Trang 39Số lượng DNNN thực hiện chuyển đổi sở hữu bắt đầu tăng mạnh từ năm
2001, nguyên nhân là do: Có căn cứ pháp lý (Nghị quyết, Thông tư hướng
dẫn) và sức ép chủ quan (dưới hình thức chủ trương của Đảng và Nhà nước);
Nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp; Có sự chuẩn bị thích hợp của các cơ
quan, tổ chức có liên quan đến chuyển đổi sở hữu; Các doanh nghiệp sau
chuyển đổi tiếp tục được hưởng ưu đãi từ phía Nhà nước; Các doanh nghiệp
này có lợi thế nhất định đối với các nhà đầu tư (lợi thế về vị trí địa lý và mặt
bằng sản xuất, về khả năng khai thác tài nguyên và các nguồn lợi trên địa bàn)
Gần 5 năm triển khai thực hiện chuyển đổi sở hữu DNNN , Thủ tướng
Chính phủ đã tiến hành hai đợt xem xét và phê duyệt phương án sẵp xếp
DNNN Đợt 1 từ năm 2002 đến cuối năm 2003, toàn bộ 104 phương án tổng
thể sắp xếp, chuyển đổi sở hữu DNNN và đợt 2 bắt đầu từ năm 2004 đến hết
năm 2005 Theo đó, đến hết năm 2005, trong số 4722 DNNN hiện có sẽ còn
lại hơn 2000 doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước chiếm gần 50%
Trong quá trình triển khai thực hiện, các Bộ, ngành, địa phương gặp
không ít khó khăn, vướng mắc, kết quả là hầu hết các chỉ tiêu của kế hoạch
chuyển đổi sở hữu đều không hoàn thành Số lượng DNNN không thực hiện
chuyển đổi sở hữu trong năm nay thì dồn sang cho cho năm sau, làm cho
nhiệm vụ chuyển đổi sở hữu năm sau nặng nề hơn năm trước
Bảng 3: Kết quả thực hiện chuyển đổi sở hữu DNNN ở Việt Nam giai đoạn 2001 – 2005
Đơn vị: doanh nghiệp
Kết quả
% hoàn thành kế hoạch
Kết quả
% hoàn thành kế hoạch
Kết quả
% hoàn thành kế hoạch
Kết quả
% hoàn thành kế hoạch
Kết quả
% hoàn thành kế hoạch
Nguồn: Ban chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp Trung ương
Kết quả trên được thể hiện qua sơ đồ
Trang 40Sơ đồ 2: Kết quả thực hiện chuyển đổi sở hữu DNNN giai đoạn 2001-2005
Nguồn: Ban chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp Trung ương
Từ kết quả thực hiện cho thấy không năm nào kế hoạch chuyển đổi sởhữu DNNN hoàn thành mục tiêu đề ra Riêng hai năm 2004 và 2005 do cónhiều đổi mới về chính sách nên % hoàn thành kế hoạch cao hơn so với cácnăm cùng kỳ, đạt trên 90%
Đánh giá chung cho giai đoạn này là kế hoạch chuyển đổi sở hữu khônghoàn thành mục tiêu đề ra Nguyên nhân là do sự hạn chế về cơ chế chínhsách, nhận thức của người lao động và cán bộ lãnh đạo chưa thông suốt chưaquyết tâm thực hiện chuyển đổi Đối với từng loại hình chuyển đổi sở hữu, chỉ
có CPH là hoàn thành kế hoạch với tỷ lệ % cao so với hai hình thức còn lại.Bởi CPH được xem là nhiệm vụ trọng tâm của quá trình chuyển đổi Chỉnhững DNNN nào không thể tiến hành CPH thì mới chuyển đổi sở hữu bằnghình thức giao, bán Bên cạnh đó, việc thực hiện chuyển đổi bằng hình thứcCPH đem lại hiệu quả kinh doanh cao hơn so với các doanh nghiệp thực hiệngiao, bán
Bảng 4: So sánh tốc độ tăng một số chỉ tiêu quan trọng của DNNN sau chuyển đổi
Đơn vị: %
TT Tốc độ tăng trưởng so với cuối năm
trước khi chuyển đổi DNNN CPH
DNNN thực hiện giao, bán
0 200