1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tài liệu về lý thuyết tài chính

30 179 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 286,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vậy thì nợ xấu đã trốn đi đâu, khi các tỷ lệ cập nhật từ Ngân hàng Nhà nước qua tổng hợp báo cáo của các thành viên gần đây đều có từ 4,5 - 4,7%, chưa kể con số qua giám sát từ xa của cơ

Trang 1

Tình hình nợ xấu ngân hàng nửa đầu năm 2013

3% là giới hạn được xem là chấp nhận được trong kiểm soát nợ xấu, cũng là mục tiêu mà Ngân hàng Nhà nước đặt ra để rút tỷ lệ chung về đến năm 2015 Tuy nợ xấu ở mức an toàn, đạt tiêu chuẩn quốc tế, nhưng theo phân tích của các chuyên gia, vẫn còn rất nhiều vấn đề đáng lo ngại

6 tháng đầu năm 2013, nợ xấu của các ngân hàng là sự gia tăng liên tục của nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) Tại thời điểm 30/06/2013, nợ nhóm 5 đã chiếm gần 50% tổng nợ xấu của cácngân hàng này, tức là chỉ tính riêng với nhóm các ngân hàng niêm yết đã lên tới hơn 14 nghìn tỷ đồng Trong khi đó, số liệu từ 3 ngân hàng lớn nhất đã công bố số liệu là BIDV, Vietcombank vàVietinbank thì đã chiếm tới hơn 23.100 tỷ đồng nợ xấu, gần bằng mức tổng lợi nhuận là 24.000

tỷ đồng của toàn hệ thống trong 6 tháng đầu năm nay Trong đó, nợ xấu của BIDV gần 9.400 tỷ đồng, của Vietcombank 6.687 tỷ đồng và Vietinbank là 7.027 tỷ đồng Số nợ xấu của 3 ngân hàng này cũng cao hơn rất nhiều so với tổng nợ xấu của các ngân hàng top sau, bao gồm SHB,

MB, ACB, Sacombank, Techcombank, Eximbank cộng lại

Trong nửa đầu năm, chỉ có một số ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu giảm, còn phần đông đều có tỷ lệ

nợ xấu tăng đáng kể Điểm chung của các ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu tăng là tốc độ tăng trưởng

nợ xấu đều cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng tín dụng Cụ thể tỷ lệ nợ xấu tại thời điểm 31/12/2012 và đến 30/6/2013: Vietcombank từ 2,26% lên 2,81%; VietinBank từ 1,46% lên 2,1%;

Trang 2

Eximbank từ 1,32% lên 1,49%; Sacombank từ 1,89% lên 2,5%; MB từ 1,86% lên 2,45%; ACB

từ 2,5% lên gần 3%; SHB từ 8,51%lên 9,04%; Techcombank từ 2,69% lên 5,28%; Navibank từ 5,6% lên 6,1%

Số liệu chưa phản ánh chính xác

Nợ xấu cao sẽ dẫn theo nhiều hệ lụy Đây cũng chính là điều khiến các ngân hàng sẵn sàng tìm mọi cách, thậm chí cả giấu nợ xấu Nhìn vào sổ sách của các ngân hàng thì hầu như nợ xấu đều trong ngưỡng cho phép, dưới 3% Nhưng nhiều chuyên gia nghi ngờ các ngân hàng đã cố tình

"làm đẹp" sổ sách và số liệu nợ xấu của các ngân hàng chưa được phản ánh chính xác Bởi, ước tính nhóm ngân hàng này chiếm trên dưới 75% tổng dư nợ của hệ thống, nhưng nợ xấu lại đều dưới 3% Vậy thì nợ xấu đã trốn đi đâu, khi các tỷ lệ cập nhật từ Ngân hàng Nhà nước (qua tổng hợp báo cáo của các thành viên) gần đây đều có từ 4,5 - 4,7%, chưa kể con số qua giám sát từ xa của cơ quan tranh tra là cao hơn nhiều

Để giảm nợ xấu, nhiều ngân hàng tìm cách đưa tỷ lệ nợ xấu xuống mức thấp (dưới 3%) Họ có thể áp dụng nhiều cách như hỗ trợ giải ngân cho khách hàng để đảo nợ, thực hiện giải ngân lòng vòng giữa các ngân hàng hoặc mua chéo nợ của nhau… Nợ được phân thành 5 nhóm, từ nhóm 3 đến nhóm 5 mới bị coi là nợ xấu Nhưng nhờ tái cơ cấu, doanh nghiệp được khoanh nợ, giãn nợ nên nợ nhóm 3 được đẩy lên nhóm 2, nợ nhóm 4 lên nợ nhóm 2 Nợ xấu được giảm đi rõ song bản chất của những khoản nợ đó vẫn không vì vậy mà bớt xấu đi Vì vậy, khó quy được về giá trịtuyệt đối của nợ xấu và cũng khó để giải quyết bài toán nợ xấu đang ngày càng xấu đi

Theo các chuyên gia, các ngân hàng đưa nợ xấu về mức dưới 3% nhằm 2 mục đích là không phảibán nợ xấu cho Công ty Quản lý tài sản của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) và giảm trích lập dự phòng rủi ro

Theo quy định, các tổ chức tín dụng có nợ xấu trên 3% bắt buộc phải bán nợ cho VAMC, nhưng khi bán nợ rồi thì vẫn phải trích lập dự phòng rủi ro 20%/ năm cho số đã bán, sau 5 năm số nợ này VAMC không xử lý được thì lại trả về cho các tổ chức tín dụng

Trang 3

Vì vậy nhiều tổ chức tín dụng không muốn bán nợ cho VAMC, bởi bán nợ rồi mà vẫn phải trích lập dự phòng rủi ro Nợ xấu khi còn thuộc về các tổ chức tín dụng thì họ có toàn quyền xử lý, nay phải phụ thuộc vào 1 tổ chức khác mà chưa biết thế nào Để tránh phải bán nợ thì chỉ có cách

là đưa về mức dưới 3%

Điều thứ 2 là nếu tỷ lệ nợ xấu thấp, ở mức 3% thì đương nhiên việc trích lập dự phòng sẽ thấp vàchi phí thấp, sẽ đem lại lợi nhuận cao hơn Vì vậy nhiều ngân hàng trong thời gian qua đã "nhanhchóng" xử lý để đưa nợ xấu về con số an toàn

Nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, Cao Sĩ Kiêm cho biết, bản thân các ngân hàng lớn haynhỏ, hoạt động tốt hay không đều có xu hướng giấu nợ xấu Ngân hàng nhỏ giấu vì sợ nếu lộ ra

sẽ bị phân biệt đối xử, khách hàng rút chạy Còn những ngân hàng lớn, giấu nợ xấu, trích dự phòng rủi ro thiếu để tăng lợi nhuận, kích giá cổ phiếu cũng như thu hút khách hàng

Giải pháp điều hành

Nợ xấu ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của các ngân hàng Tuy nhiên, nếu ngân hàng cố tình che dấu nợ xấu thì càng khó giải quyết Nó chẳng những không phản ánh đúng thực trạng của hệ thống ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến nguồn cung vốn cho cả nền kinh tế Do đó, nếu nhìn nhận đúng về nợ xấu, các ngân hàng sẽ biết được điểm đứng, điểm xuất phát thực tế để tìm

ra thuận lợi, khó khăn từ đó đưa ra giải pháp phù hợp Trên cơ sở đó thực hiện giải pháp cơ cấu

nợ một cách hiệu quả nhất

Các ngân hàng cần minh bạch: Các ngân hàng cần phải nghiêm túc xem xét lại việc cơ cấu lại

nợ cho các khách hàng của mình trên cơ sở tình hình tài chính cụ thể của họ và xác định lại khả năng trả nợ để cơ cấu lại nợ Qua đó vừa phản ánh đúng thực trạng nợ xấu của mình, đồng thời tạo điều kiện để những khách hàng trả được nợ và vay vốn mới, tránh phát sinh nợ xấu Hiện nay, rất nhiều khoản nợ xấu được bảo đảm bằng bất động sản, trong khi thị trường bất động sản lại đang rơi vào trầm lắng Hơn thế, bảo đảm nợ bằng tài sản cũng đồng nghĩa là chấp nhận sự giảm dần giá trị theo thời gian và thị trường Như vậy thì chính giá trị của khoản nợ xấu cũng giảm theo, trong khi rủi ro ngày càng tăng cao, chi phí xử lý ngày càng lớn Chịu thiệt đầu tiên sẽ

Trang 4

chính là ngân hàng.

Hỗ trợ từ ngân hàng Nhà nước: Ngày 23/8/2013, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn

Bình đã ký Quyết định số 1085/QĐ-NHNN, ban hành kế hoạch hành động của ngành ngân hàng

về xử lý nợ xấu Với kế hoạch này, ngân hàng Nhà nước đề ra các nội dung công việc cụ thể, giao nhiệm vụ chủ trì triển khai thực hiện từng công việc cho các đơn vị, vụ, cục, chi nhánh Ngân hàng Nhà nước, các tổ chức tín dụng, các khách hàng vay của tổ chức tín dụng và quy định

rõ thời gian hoàn thành công việc Theo số liệu cập nhật gần nhất của Ngân hàng Nhà nước, tỷ lệ

nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng tính đến tháng 5/2013 ở mức 4,65%

_

“Bức tranh” nợ xấu giai đoạn 2011 - 2013?

Thứ ba 07/01/2014 10:00

HOÀNG THỦY YẾN - VỤ ĐẦU TƯ (BỘ TÀI CHÍNH)

(Tài chính) Nợ xấu được ví như “cục máu đông” có thể gây tắc nghẽn hoạt động của hệ thống ngân hàng và cản trở sự phát triển của nền kinh tế Liệu hai giải pháp chính mà Chính phủ đang đẩy mạnh áp dụng - cải cách hệ thống ngân hàng và thành lập Công ty Mua bán nợ quốc gia (VAMC) - có đủ giúp Việt Nam xử lý hiệu quản nợ xấu trong dài hạn hay không?

Trang 5

Nợ xấu được ví như “cục máu đông” có thể gây tắc nghẽn hoạt động của hệ thống ngân hàng Nguồn: internet

Thực trạng nợ xấu của Việt Nam

Năm 2011, lần đầu tiên Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chủ động công bố tỷ lệ nợ xấu trong các ngân hàng Theo đó, nợ xấu toàn hệ thống ngân hàng ở mức 3,6 - 3,8% tổng dư nợ Con số này tới cuối năm 2012, theo công bố của NHNN là 4,08 %, cho dù theo các tổ chức đánh giá độc lập

thì con số thực tế cao hơn nhiều

Bước sang năm 2013, tỷ lệ nợ xấu vẫn tiếp tục tăng cao, chạm mức 4,67% vào tháng 4/2013

Tuy nhiên, con số mà NHNN vừa cập nhật tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng tính đến tháng

6/2013 chỉ còn ở mức 4,46%, giảm đáng kể so với mức 4,65% tính đến cuối tháng 5/2013.

Dữ liệu cập nhật mới nhất cho thấy, nợ xấu của các tổ chức tín dụng (TCTD) đã giảm tháng thứ

2 liên tiếp với mức đáng kể

Tuy nhiên, con số trên được NHNN cập nhật trên cơ sở báo cáo định kỳ của các TCTD Còn con

số qua giám sát từ xa của cơ quan này, thường cao hơn nhiều, và hiện chưa có công bố chính thức để so sánh Nhiều chuyên gia kinh tế cũng lo ngại, con số thực mà các ngân hàng chưa công

bố còn cao hơn mức trên không ít Vì vậy, trên thực tế, nợ xấu vẫn là vấn đề đáng báo động.Hiện tại, đã có khoảng 15 ngân hàng công bố báo cáo tài chính 6 tháng đầu năm Trong số các ngân hàng đã niêm yết thì tỷ lệ nợ xấu của SHB đang dẫn đầu với 9%, tiếp đến là Navibank với 6,1% và TechcomBank (5,28%) Các ngân hàng còn lại đều có nợ xấu dưới 3% như ACB 2,99%;Sacombank 2,55%; Vietinbank 2,1%; Vietcombank 2,81%; Eximbank 1,49% và MB 2,44%

Như vậy, theo báo cáo của các ngân hàng, nợ xấu có vẻ đã giảm khi hầu hết ngân hàng đều

có tỷ lệ nợ xấu dưới mức 3%- mức được xem là an toàn, nằm trong tầm kiểm soát Tuy nhiên, theo tính toán, các ngân hàng này chiếm khoảng 75% tổng dư nợ của toàn hệ thống Điều này cho thấy, các khoản nợ xấu vẫn đáng lo ngại, đặc biệt là sự gia tăng liên tục của

nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) Tại thời điểm 30/06/2013, nợ nhóm 5 đã chiếm gần 50% tổng nợ xấu của các ngân hàng này, tức là chỉ tính riêng với nhóm các ngân hàng niêm yết đã lên tới hơn 14 nghìn tỷ đồng.

Trang 6

Trong khi đó, kết quả khảo sát mới đây của Vụ Dự báo thống kê tiền tệ, NHNN cho thấy, trong

số 124 TCTD tham gia khảo sát, có khoảng 30 TCTD khai báo tỷ lệ nợ xấu ở mức trên 3%, chiếm khoảng 1/4 số lượng TCTD hiện nay Báo cáo cũng cho thấy, có tới trên 50% TCTD dự kiến tỷ lệ nợ xấu tại thời điểm cuối năm 2013 sẽ không đổi hoặc tăng so với cuối năm 2012

Xử lý nợ xấu và tái cấu trúc ngân hàng là 2 nhiệm vụ song song để phục hồi hoạt động trì trệ củangành ngân hàng trong nước Mục tiêu của Chính phủ là xử lý nợ xấu gắn với tái cơ cấu ngân hàng thương mại cổ phần Có xử lý tốt vấn đề nợ xấu thì việc tái cấu trúc ngành Ngân hàng mới diễn ra thuận lợi và ngược lại

Báo cáo Cập nhật tình hình phát triển kinh tế Việt Nam 2013 được Ngân hàng Thế giới (WB) công bố gần đây cho thấy, ở khu vực tài chính ngân hàng, tuy những rủi ro về hệ thống đã có phần được cải thiện nhưng quá trình cải cách và tái cơ cấu ở khu vực này vẫn còn mong manh, chưa được thực hiện quyết liệt

Giải pháp xử lý nợ xấu

Giải quyết vấn đề nợ xấu vẫn là bài toán nan giải của ngành Ngân hàng và của Chính phủ Việt Nam Để đạt mục tiêu giảm tỷ lệ nợ xấu xuống 3% vào năm 2015 và quản lý tốt nợ xấu trong dài

Trang 7

hạn, xử lý nợ xấu không thể chỉ được giải quyết thông qua một vài công cụ là VAMC hay sáp nhập các ngân hàng… NHNN cần có những điều chỉnh linh hoạt để giúp giảm thiểu tổn thương

Đặc biệt, do VAMC mới đi vào hoạt động, Việt Nam chưa có nhiều kinh nghiệm về vấn đề này

và chắc chắn sẽ có nhiều vấn đề phát sinh giữa các chủ thể liên quan tới hoạt động thu, mua nợ, nên Việt Nam cần chủ động xây dựng các quy định và quy chế giải quyết những vấn đề phát sinhliên quan tới hoạt động này

Kinh nghiệm quản lý thu, mua nợ của nước ngoài

Việt Nam có thể cân nhắc học hỏi kinh nghiệm của Australia về xử lý nợ xấu

Australia là một quốc gia phát triển với GDP bình quân đầu người năm 2012 là 67.000 USD và

có nhiều kinh nghiệm trong quản lý thu, mua nợ Australia đã giao hai cơ quan chịu trách nhiệm ban hành pháp luật và quản lý, giám sát thu, mua nợ xấu là Ủy ban Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng (ACCC) và Ủy ban Đầu tư và Chứng khoán (ASIC) ACCC chịu trách nhiệm về các khoản nợ phát sinh từ việc cung cấp các hàng hóa và dịch vụ phi tài chính ASIC chịu trách nhiệm về thu, mua các khoản nợ phát sinh từ các dịch vụ tài chính

Trang 8

Hai cơ quan này giám sát và báo cáo định kỳ về hoạt động của tất cả các chủ thể liên quan thu, mua như Hiệp hội các tổ chức thu, mua nợ, Hiệp hội các cơ quan điều tra, Hiệp hội thương mại… Hai cơ quan này chịu trách nhiệm phối hợp với các cơ quan liên quan để đề xuất những giải pháp tối thiểu hóa những hành vi thu, mua nợ bất hợp pháp Để đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả của hệ thống, hai cơ quan này có trách nhiệm công khai các luật và quy định về thu, mua nợ.

Đồng thời, hai cơ quan này tiếp nhận và xử lý những khiếu nại, ví dụ như khiếu nại của các cơ quan mua nợ về việc không được cung cấp đầy đủ thông tin liên quan tới khoản nợ Đặc biệt, để giám sát hoạt động thu mua, khuyến khích việc đưa ra nhiều sáng kiến về thu, mua nợ xấu, năm

2008, hai cơ quan này còn cung cấp dịch vụ đường dây nóng để mọi người gọi điện, phán ánh các hành vi và vấn đề phát sinh trong quá trình thu mua nợ

Như vậy, từ kinh nghiệm của Australia, Việt Nam có thể tham khảo áp dụng một số giải pháp như: xây dựng pháp luật, hướng dẫn về thu, mua nợ; phân công rõ trách nhiệm của các chủ thể liên quan đến thu mua nợ; quy định các hành vi bị cấm như hù dọa, cố tình làm con nợ hiểu sai

về hậu quả của việc không thanh toán…

Trang 9

Đồng thời, xây dựng quy chế tiếp nhận và giải quyết nhanh chóng các đơn khiếu nại về các hành

vi phạm pháp trong thu, mua nợ; đảm bảo nguyên tắc minh bạch thông qua việc công khai các quy định về thu, mua nợ; đặc biệt là xây dựng đường dây nóng để giải đáp các mắc thắc trong các quy định thu, mua nợ và giải quyết các bức xúc liên quan tới thu, mua nợ và để tiếp nhận cácgóp ý của mọi người về việc hoàn thiện hệ thống thu, mua nợ Đường dây nóng là một biện phápquan trọng để Chính phủ nâng cao hiệu quả hoạt động thu, mua nợ, thể hiện kiên quyết của Chính phủ trong vấn đề này và nâng cao niềm tin của xã hội đối với quyết tâm này của Chính phủ

Bài đăng trên Tạp chí Tài chính số 12 – 2013

Trang 10

(tạp chí tài chính online, 20/08/2014 )

Tổng nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5 của 8 ngân hàng niêm yết tại thời điểm cuối tháng 6/2014

là 37.209 tỷ đồng, tăng 53,57% so với cuối năm ngoái So với tổng dư nợ cho vay, nợ xấu chiếm 3,14%.

Báo cáo tài chính của Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) không nêu chi tiết các nhóm nợ, mà chỉ ghi chung chung là nợ quá hạn Theo đó, tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ cho vay khách hàng của ngân hàng này tại thời điểm cuối tháng 6/2014 là 8,17% Con số này tăng 72,4% trong vòng 6 tháng đầu năm.

Theo tiêu chí phân nhóm nợ quy định tại Thông tư 02/2013/TT-NHNN, VietinBank là ngân hàng có con số nợ xấu tăng nhanh nhất, từ 3.370 tỷ đồng tại thời điểm cuối năm ngoái lên 9.576 tỷ đồng vào cuối tháng 6/2014, tức tăng 1,54 lần Tuy nhiên, nếu so với tổng dư nợ cho vay thì nợ xấu của VietinBank vẫn thấp hơn nhiều ngân hàng khác, ở mức 2,53% tại thời điểm cuối tháng 6.

Xét về số tuyệt đối thì Vietcombank có nợ xấu lớn thứ hai sau VietinBank, với hơn 9.032 tỷ đồng, tương đương với tỷ lệ 3,1% tổng dư nợ Con số này tăng 21% trong 6 tháng đầu năm.

Dù dư nợ cho vay của Eximbank tăng trưởng âm, nhưng nợ xấu của ngân hàng này vẫn tăng mạnh Cụ thể, tổng nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5 tại thời điểm cuối tháng 6/2014 là hơn 2.364 tỷ đồng, tăng trên 43% so với cuối năm ngoái Tỷ lệ nợ xấu hiện tại là 2,95%.

Trang 12

Thực trạng nợ xấu tại các ngân hàng Việt Nam năm 2012

Mặc dù đã có nhiều ý kiến trao đổi về nợ xấu tại các ngân hàng thương mại (NHTM), nhưng cho đến nay, vẫn chưa có tiếng nói thống nhất nợ xấu về tỷ lệ nợ xấu của hệ thống NHTM Việt Nam Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho rằng tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ tại các NHTM khoảng 10% Trong khi cơ quan Thanh tra NHNN lại đưa ra con số tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng khoảng 8,6%, tương đương với trên 200.000 tỷ đồng Bên cạnh những con số được NHNN công bố nói trên, Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia cũng đưa ra tỷ lệ nợ xấu là 11,8%, tương đương với khoảng 270.000 tỷ đồng Vậy nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam là bao nhiêu vẫn còn là ẩn số nhưng đa số các ý kiến đều cho rằng nợ xấu tại các ngân hàng là con số không nhỏ Tại sao có sự khác nhau về tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng? Có thể lý giải về sự khác nhau này như sau:

Thứ nhất, do cách phân loại nợ Theo quy định hiện hành về phân loại nợ, trích lập và sử dụng

dự phòng rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng (TCTD), “nợ xấu” là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 (Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN) Trong đó nợ nhóm 3 (nợ dưới chuẩn) là các khoản nợ được đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc

và lãi; Nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) là các khoản nợ có khả năng tổn thất rất cao và nợ nhóm 5 (nợ

có khả năng mất vốn) là các khoản nợ được coi là không còn khả năng thu hồi, mất vốn Thông thường ở các nước đang phát triển, nếu nợ xấu của các ngân hàng được phân loại theo các chỉ tiêu định lượng và định tính phù hợp với thông lệ quốc tế, thì tỷ lệ này dưới 5% cũng là bình thường Tuy nhiên, ở Việt Nam còn có sự khác nhau về năng lực quản trị rủi ro và việc xếp hạng tín dụng nội bộ Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ tại các NHTM Việt Nam hiện nay đều được xây dựng theo phương pháp chuyên gia, nghĩa là việc lựa chọn, quyết định toàn bộ các yếu tố cơ bản của hệ thống xếp hạng (bộ chỉ tiêu, trọng số của từng chỉ tiêu) hoàn toàn phụ thuộc vào quanđiểm chủ quan của các chuyên gia thay vì dựa trên dữ liệu thống kê lịch sử và phân tích mô hình kinh tế lượng Kết quả xếp hạng tín dụng nội bộ chưa là cơ sở xây dựng các thước đo lượng hóa rủi ro, hỗ trợ tính toán chuẩn xác tổn thất dự tính và yêu cầu vốn tối thiểu bù đắp rủi ro Điều nàydẫn đến hạn chế trong quản trị rủi ro danh mục, định giá tín dụng và xác định khẩu vị rủi ro… của từng ngân hàng

Hiện nay, quản trị rủi ro tín dụng tại mỗi ngân hàng thường theo những khẩu vị rủi ro riêng Vấn

đề này đã dẫn đến một số bất cập trong việc so sánh, đánh giá cùng một đối tượng khách hàng

Trang 13

nhưng lại có kết quả khác nhau, nhiều khi xung đột (cùng 1 khách hàng, có ngân hàng phân loại vào nhóm nợ cao, có ngân hàng lại phân loại vào nhóm nợ thấp) Mặt khác, việc triển khai xếp hạng khách hàng đòi hỏi đội ngũ chuyên gia nhiều kinh nghiệm thực tiễn cũng như am hiểu sau sắc mô hình xếp hạng tín dụng (modelling), trong khi thị trường nhân lực hiện tại của Việt Nam còn rất thiếu.

Thứ hai, thông tin về khách hàng vừa thiếu, vừa không chuẩn xác Điều này gây không ít khó

khăn cho ngân hàng trong việc thiết lập quan hệ tín dụng

Ở Việt Nam, trên 90% là DN nhỏ và vừa, không ít DN có báo cáo tài chính không chuẩn xác, lại không qua kiểm toán Ngay cả đối với các DN lớn được kiểm toán thì sự chậm trễ trong công bố báo cáo tài chính cũng như chất lượng kiểm toán chưa cao cũng gây nhiều khó khăn cho các ngân hàng Vì thế, việc dựa vào một số thông tin đầu vào để cấp tín dụng, đã dẫn đến một số khoản vay vừa ra khỏi ngân hàng đã khó có khả năng thu hồi Đặc biệt, khi ngân hàng và DN lại có mối quan hệ “mật thiết”, phụ thuộc lẫn nhau (sở hữu chéo) thì nguồn lực dễ bị phân bổ sai lệch, bất hợp lý, cho vay bất chấp các quy định về an toàn vốn, nợ xấu tất yếu sẽ tăng lên

Thứ ba, hoạt động thâu tóm, mua bán, sáp nhập, các công ty sân sau, sở hữu chéo trong ngân hàng đã tạo ra những vòng luẩn quẩn của dòng tiền Đây cũng là những hoạt động tiềm ẩn

nhiều nợ xấu nhưng rất khó chỉ ra để xử lý, khi tính minh bạch và giải trình còn hạn chế Tổng phương tiện thanh toán (M2) của 9 tháng đầu năm tăng 12,21%, nhưng tín dụng chỉ tăng 2,5%, trong khi chứng khoán cũng không phải là kênh được các ngân hàng quan tâm kể từ khi có văn bản hạn chế cho vay chứng khoán của NHNN; bất động sản cũng đóng băng; vay tiêu dùng không được xem là kênh ưu tiên trong thời gian qua Như vậy, phải chăng nợ xấu đang chạy òng vòng giữa ngân hàng và các Doanh nghiệp có quan hệ mật thiết Nếu thế, nợ xấu sẽ ngày một phình to và càng khó xác định, lãi suất sẽ tiếp tục bị đẩy lên cao, DN sản xuất kinh doanh càng khó tiếp cận được vốn

Thứ tư, nợ xấu còn có nguyên nhân sâu xa từ đạo đức nghề nghiệp của một số cán bộ ngân hàng

và khách hàng Kinh doanh ngân hàng dựa trên sự tin cậy và mức độ tín nhiệm thì đạo làm nghề

ngân hàng không chỉ cần thiết mà còn mang tính bắt buộc Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân mà một số cán bộ ngân hàng đã cấu kết với khách hàng để che giấu sự thật, gian lận, cố ý làm trái quy định của NHNN, của NHTM Mặc dù chưa có số liệu công bố nhưng trong tổng số nợ xấu

đó, một tỷ lệ không nhỏ nảy sinh từ vi phạm đạo đức nghề nghiệp

Trang 14

Tóm lại, những bất cập trong phân loại nợ, vấn đề sở hữu chéo, vấn đề đạo đức nghệ nghiệp đãlàm nảy sinh nợ xấu tại các ngân hàng và có chiều hướng ngày càng tăng Cho dù nợ xấu ở mức nào thì hiện tại đã và đang tác động tiêu cực đến điều hành chính sách tiền tệ của NHNN, đến việc lưu thông dòng vốn vào nền kinh tế và tính an toàn, hiệu quả kinh doanh của chính các ngânhàng Chừng nào chưa xử lý được vấn đề này thì việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽkhông đạt hiệu quả

Đề xuất cơ chế xử lý nợ xấu ngân hàng

Về phía các ngân hàng thương mại

Đối với khối nợ xấu cũ, các NHTM cần:

Xử lý từ nguồn trích lập dự phòng rủi ro theo quy định Tìm mọi biện pháp để thanh lý/phát mại tài sản bảo đảm cho các khoản nợ xấu để thu hồi nợ

Chủ động phối hợp khách hàng thực hiện cơ cấu lại nợ, giãn thời gian trả nợ đối với những khách hàng có khó khăn tài chính tạm thời nhưng có triển vọng kinh doanh khi giải quyết được

nợ xấu; Tiếp tục giảm lãi suất xuống để thực hiện các khoản cho vay mới, giúp DN giảm chi phí đầu vào, bán được hàng, có điều kiện trả nợ ngân hàng

Bán nợ qua công ty quản lý nợ và khai thác tài sản của các NHTM, Công ty mua bán nợ trực thuộc NHNN, Công ty Mua bán nợ Việt Nam (DATC) của Bộ Tài chính

Cần phải thấy rằng, để xảy ra nợ xấu, trách nhiệm đầu tiên thuộc về ngân hàng (do nguyên nhân khách quan và chủ quan mang lại) nhưng các ngân hàng không thể tự tạo ra nợ xấu Nợ xấu là docác con nợ - DN/cá nhân vay vốn đến hạn không trả được nợ, mà việc không trả được nợ cho cácngân hàng có nguyên nhân cơ bản do yếu kém chủ quan của bản thân DN nhưng không thể bỏ qua nguyên nhân từ cơ chế chính sách, từ quản lý vĩ mô Vì vậy, xử lý nợ xấu lúc này không chỉ

là trách nhiệm đơn lẻ của các ngân hàng, DN mà cần có sự tham gia của Nhà nước với mục tiêu phải đạt được trong việc xử lý nợ xấu là tạo điều kiện để các ngân hàng thiết lập quan hệ tín dụng mới, giúp DN còn khả năng hoạt động vay vốn, đồng thời thanh lọc những DN, ngân hàng yếu kém trong sản xuất kinh doanh; Thông qua xử lý nợ xấu, các ngân hàng mới có điều kiện tiếp tục hạ lãi suất tiền vay

Trang 15

Việc xử lý nợ qua công ty quản lý nợ và khai thác tài sản của ngân hàng cũng có điểm thuận lợi

là công ty con của ngân hàng nên có điều kiện hiểu rõ từng khoản vay đối với khách hàng Khi chuyển nợ xấu cho công ty quản lý nợ và khai thác tài sản của ngân hàng, công ty có thể chủ động, nhanh chóng tìm khách hàng để bán tài sản thu hồi vốn cho ngân hàng Tuy nhiên, để công

ty quản lý nợ và khai thác tài sản của ngân hàng xử lý nợ xấu hiệu quả, cần xây dựng cơ chế muabán nợ rõ ràng, minh bạch, có sự tham gia giám sát chặt chẽ của NHNN, để tránh tình trạng nợ xấu trên bảng cân đối của ngân hàng có thể giảm nhưng chất lượng nợ không thay đổi, do không giải quyết tận gốc vấn đề

Nếu bán nợ xấu cho DATC thuộc Bộ Tài chính thực hiện, rất cần một cơ chế mua bán rõ ràng thìhoạt động mua bán các khoản nợ xấu của ngân hàng mới có hiệu quả

Do tính phức tạp của các khoản nợ xấu trong ngân hàng, trong bối cảnh áp lực xã hội rất lớn về vấn đề giải trình thì vấn đề đặt ra là thành lập công ty mua bán nợ trực thuộc NHNN hay công ty mua bán nợ quốc gia (AMC) phải đủ quyền lực, được hỗ trợ bởi các chuyên gia giỏi về lĩnh vực này, với những bước đi hợp lý, với sự phát triển của thị trường mua bán nợ Việt Nam

Cùng với với việc xử lý nợ xấu cũ, các NHTM cần coi trọng đúng mức đến việc hạn chế nợ xấu mới nảy sinh bằng cách:

Rà soát lại phân loại nợ, tiến tới việc phân loại nợ theo thông lệ quốc tế Để làm được việc này các ngân hàng cần phải (i) Hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ theo chuẩn Basel II Việc xếp hạng tín dụng phải căn cứ trên các số liệu thống kê lịch sử của chính ngân hàng cho cácđối tượng khách hàng để tính toán các thước đo rủi ro xác suất/khả năng xảy ra vỡ nợ (PD); tổn thất có thể xảy ra do vỡ nợ (LGD) và rủi ro vỡ nợ (EAD) cho các đối tượng này; đồng thời áp dụng các điều chỉnh cần thiết trên cơ sở ý kiến của chuyên gia Có như vậy, việc xếp hạng tín dụng mới thực sự là công cụ hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng và là căn cứ để định giá theo rủi ro của ngân hàng (ii) Mặt khác chất lượng của xếp hạng khách hàng phụ thuộc lớn vào

mô hình tổ chức và đội ngũ nhân sự của chính ngân hàng Vì thế, việc hoàn thiện mô hình tổ chức theo hướng tuân thủ các nguyên tắc về quản trị DN, đảm bảo phân tách rõ trách nhiệm giữa các bộ phận liên quan trong việc quản lý rủi ro; tránh xung đột lợi ích là vấn đề cốt lõi để giảm thiểu nợ xấu nảy sinh trong hoạt động tín dụng

Giám sát việc triển khai và ứng dụng xếp hạng tín dụng trong hoạt động để giảm thiểu rủi ro

Ngày đăng: 07/06/2015, 18:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w