luận văn về Rủi ro và quản trị rủi ro đối với phương thức thanh toán tín dụng chứng từ trong thanh toán quốc tế tại chi nhánh NHNo & PTNT Nam Hà Nội
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Để bắt kịp với tốc độ phát triển nhanh chóng của thương mại quốc tếđang diễn ra nhanh chóng trên toàn thế giới đặc biết là việc nâng cao chấtlượng nghiệp vụ thanh toán quốc tế có ý nghĩa hết sức quan trọng trong sựphát triển của các Ngân hàng thương mại
Tại NHNo & PTNT chi nhánh Nam Hà Nội, kể từ khi bắt đầu triểnkhai nghiệp vụ thanh toán quốc tế, phương thức thanh toán bằng tín dụngchứng từ luôn chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng doanh số Do đó, việc cảitiến quy trình nghiệp vụ thanh toán bằng thư tín dụng theo hướng ngày mộthoàn thiện để có thể đảm bảo an toàn, giảm thiểu rủi ro là rất cần thiết
Bên cạnh những thành tựu rất đáng khích lệ đã đạt được trong hoạtđộng thanh toán quốc tế của chi nhánh Nam Hà Nội thời gian qua, khó tránhkhỏi tránh khỏi một số tồn tại nhất định nhưng điều quan trọng là phải tìm rađược những tồn tại đó để có thể sớm đưa ra những giải pháp khắc phục, nângcao hiệu quả của hoạt động thanh toán quốc tế nói chung và thanh toán thư tíndụng nói riêng
Với mục đích đó, trong khuôn khổ Chuyên đề thực tập tốt nghiệp này,
em chọn đề tài: “Rủi ro và quản trị rủi ro đối với phương thức thanh toán tín dụng chứng từ trong thanh toán quốc tế tại chi nhánh NHNo & PTNT Nam Hà Nội”
Phương pháp nghiên cứu cơ bản được sử dụng trong chuyên đề là phươngpháp phân tích, thống kê, tổng hợp so sánh cùng với việc tham khảo các tàiliệu tạp chí, báo cáo tổng kết của NHNo & PTNT Nam Hà Nộị và những cốgắng tìm hiểu độc lập trong suy nghĩ Em mong muốn đóng góp một phần nhỏ
bé vào việc nâng cao chất lượng hoạt động thanh toán thư tín dụng tại NHNo &PTNT Nam Hà Nội với hy vọng NHNo & PTNT Nam Hà Nội sẽ tìm được mộtvài ý kiến có giá trị trong chuyên đề này
Trang 2Chuyên đề được chia làm 3 chương:
Chương I: Tổng quan về rủi ro trong hoạt động tín dụng chứng từ của ngân hàng
Chương II Thực trạng kinh doanh tín dụng và rủi ro trong hoạt động tín dụng chứng từ tại chi nhánh NHNo&PTNT Chi nhánh Nam Hà Nội Chương III Biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng chứng từ tại NHNo&PTNT Chi nhánh Nam Hà Nội
Với sự hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm, thời gian nghiên cứu viếtchuyên đề cũng có hạn , bởi vậy chuyên đề không thể tránh khỏi những hạnchế thiếu sót, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô vàcác bạn
Trang 3CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG
TÍN DỤNG CHỨNG TỪ CỦA NGÂN HÀNG
1.1 Giới thiệu chung về tín dụng chứng từ
1.1.1 Khái niệm, đặc trưng của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
1.1.1.1 Khái niệm phương thức tín dụng chứng từ (TDCT)
Theo điều 2 UCP500 do ICC xuất bản 1993 thì thuật ngữ " tín dụng chứngtừ" <documentary credit> có nghĩa là bất cứ một sự thoả thuận nào cho dù đượcgọi hay mô tả như thế nào do đó một ngân hàng (ngân hàng phát hành) hành độngtheo yêu cầu và chỉ thị của khách hàng (người yêu cầu phát hành thư tín dụng)nhân danh chính mình:
- Uỷ quyền cho Ngân hàng khác chiết khấu, dựa vào những chứng từ đãđược quy định, đảm bảo rằng các điều kiện và điều khoản của tín dụng phải phùhợp
- Phải thực hiện việc trả tiền theo lệnh của người thứ ba (người thụ hưởng)hoặc phải chấp nhận và trả tiền hối phiếu do người thụ hưởng phát hành
- Uỷ quyền cho Ngân hàng khác thực hiện việc trả tiền như vậy, hoặcchấp nhận trả tiền hối phiếu đó
Nói một cách khác:Thanh toán bằng thư tín dụng là một sự thoả thuận,trong đó một Ngân hàng (Ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của kháchhàng (người yêu cầu mở thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho ngườikhác (người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu dongười này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho Ngânhàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong thưtín dụng
Trang 41.1.1.2 Đặc điểm của phương thức tín dụng chứng từ
a) Phương thức TDCT được thực hiện theo UCP500
Trong thanh toán quốc tế nói chung thì hình thức thanh toán bằng L/C được
sử dụng phổ biến và an toàn nhất Tuy nhiên, trong thực tiễn thương mại quốc tếcho thấy việc áp dụng phương thức TDCT tại các quốc gia khác nhau cũng có sựkhác biệt Chính vì thế, bản "Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứngtừ" ấn bản số 500 năm 1993 (gọi tắt là UCP500) do Phòng thương mại quốc tế(ICC) nghiên cứu, soạn thảo và sửa đổi, có hiệu lực từ 01/01/1994, đã có nhữngchỉ dẫn cụ thể, chi tiết về nội dung giao dịch của phương thức này
b) TDCT là một sự thoả thuận
Khi áp dụng Bản UCP500< mang tính chất pháp lý tuỳ ý>, có nghĩa là :các bên tham gia phải thoả thuận ghi vào văn bản của hợp đồng và có dẫn chiếutrong L/C TDCT là một thoả thuận, là một cam kết trả tiền có điều kiện: ngườihưởng lợi phải xuất trình bộ chứng từ đúng hạn và các nội dung trong bộ chứng
từ phải phù hợp với các điều kiện trong L/C Sự cam kết trả tiền của Ngân hàngphải căn cứ vào bộ chứng từ chứ không chỉ dựa vào thực tế giao hàng
c) TDCT dựa trên chứng từ
Hiện nay trong phương thức thanh toán TDCT, Ngân hàng chỉ căn cứ vàođơn yêu cầu mở thư tín dụng của người mua gửi đến để lập thư tín dụng cam kếttrả tiền cho người bán chứ không căn cứ vào hợp đồng thương mại Khi ngườibán cam kết giao hàng, nếu xuất trình bộ chứng từ thanh toán phù hợp với cácđiều khoản, điều kiện quy định trong thư tín dụng thì Ngân hàng phát hành sẽ trảtiền mà không căn cứ vào việc bộ chứng từ đó có phù hợp với hợp đồng haykhông =>điều đó có nghĩa là việc chi trả của Ngân hàng có liên quan mật thiếtvới việc thể hiện chứng từ mà không xét đến thực trạng của hàng hoá Nguyêntắc này được quy định trong Điều 4 của UCP 500: "Các nguyên tắc và cách sửdụng thích hợp liên quan tới tín dụng thư kèm chứng từ"
Trang 5Tuy nhiên dù được thực hiện dưới hình thức nào, hay bản chất của nó
là gì,có những chủ thể nào tham gia thì một yếu tố không thể không nhắc đếntrong phương thức này là thư tín dụng Đây chính là yếu tố căn bản cho việcxác lập cũng như thực hiện thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ
1.1.2.Thư tín dụng chứng từ (Letter of Credit - L/C)
1.1.2.1 Khái niệm thư tín dụng
Thư tín dụng (L/C) là một cam kết thanh toán của Ngân hàng cho người xuất khẩu nếu như họ xuất trình được một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với các điều khoản và điều kiện của L/C
Vì thư tín dụng có tính chất hết sức quan trọng nên nó được hình thànhtrên cơ sở của hợp đồng ngoại thương, tuy nhiên sau khi được thiết lập, nó lạihoàn toàn độc lập với hợp đồng này Tính chất độc lập của thư tín dụng được thểhiện ở chỗ nghĩa vụ của ngân hàng đối với người hưởng lợi (nhà xuất khẩu)hoàn toàn không phụ thuộc vào mối quan hệ giữa người bán và người mua Khinhà xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ phù hợp về mặt hình thức với những nộidung của L/C đã được mở, Ngân hàng phát hành L/C phải trả tiền vô điều kiệncho nhà xuất khẩu mà không phụ thuộc vào tình hình cũng như thực trạng củahàng hoá Nếu thực trạng của hàng hoá không khớp với chứng từ thì hai bênmua bán phải trực tiếp giải quyết với nhau Trong trường hợp người mua từ chốithanh toán tiền cho Ngân hàng thì Ngân hàng vẫn phải hoàn thành nghĩa vụ trảtiền cho người bán, thực hiện đúng và đầy đủ các điều khoản đã được quy địnhtrong L/C
Đặc trưng này thể hiện nghĩa vụ của Ngân hàng là không thay đổi Khihợp đồng ngoại thương thay đổi mà không sửa đổi thư tín dụng thì Ngân hàng vẫncăn cứ vào thư tín dụng để thanh toán mà không cần biết đến sự thay đổi của hợpđồng Ngược lại, khi thư tín dụng đã được sửa đổi mà không sửa đổi hợp đồng thìkhi xuất trình bộ chứng từ thanh toán, tuy phù hợp với hợp đồng nhưng trái với
Trang 6thư tín dụng thì Ngân hàng phát hành vẫn có quyền từ chối thanh toán.
1.1.2.2 Nội dung chủ yếu của thư tín dụng
* Số hiệu, địa điểm, ngày mở L/C
- Số hiệu L/C: Tất cả các thư tín dụng đều phải có số hiệu riêng để
thuận lợi trong việc trao đổi thư từ, điện tín có liên quan đến việc thực hiệnthư tín dụng, hoặc để ghi vào các chứng từ có liên quan như hối phiếu hay cácchứng từ cần thiết khác
- Địa điểm phát hành L/C: là nơi Ngân hàng mở L/C viết cam kết thanh
toán tiền cho nhà xuất khẩu Địa điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việcchọn pháp luật áp dụng khi giải quyết những tranh chấp về L/C
- Ngày phát hành L/C: là ngày bắt đầu phát sinh cam kết của Ngân
hàng mở L/C với người xuất khẩu, là ngày bắt đầu tính thời hạn hiệu lực củaL/C, là căn cứ để người xuất khẩu kiểm tra xem người nhập khẩu thực hiệnviệc mở L/C có đúng hạn như đã quy định trong hợp đồng không
* Tên, địa chỉ của những người có liên quan đến L/C
- Các thương nhân: bao gồm người xuất khẩu là người hưởng lợi L/C
và người nhập khẩu là người yêu cầu mở L/C
- Các Ngân hàng tham gia : bao gồm Ngân hàng mở L/C, Ngân hàng
thông báo, Ngân hàng trả tiền, Ngân hàng xác nhận và các Ngân hàng khác (nếucó)
* Số tiền của thư tín dụng
Số tiền này được ghi bằng số và được ghi bằng chữ, thống nhất với nhau,tên của đơn vị tiền tệ phải ghi rõ ràng Trên thư tín dụng không nên ghi số tiềntuyệt đối vì người xuất khẩu khó có thể giao hàng có giá trị đúng như L/C quyđịnh, khi đó khó có thể được thanh toán vì Ngân hàng sẽ đưa ra lý do chứng từkhông phù hợp với những điều kiện quy định trong thư tín dụng Nên ghi số tiềntheo một số giới hạn mà người xuất khẩu có thể đạt được hoặc là một giới hạn
Trang 7chênh lệch hơn kém % của tổng số tiền.
* Thời hạn hiệu lực, thời hạn trả tiền, thời hạn giao hàng
- Thời hạn hiệu lực của thư tín dụng: là thời hạn mà Ngân hàng mở
L/C cam kết trả tiền cho nhà xuất khẩu nếu người này xuất trình bộ chứng từtrong thời hạn đó và phù hợp với những quy định trong L/C Thời hạn nàyđược tính từ ngày mở L/C đến hết ngày hiệu lực của L/C
- Thời hạn trả tiền của L/C: là thời hạn trả tiền ngay hay trả tiền về sau,
tuỳ thuộc theo quy định trong hợp đồng Nếu thực hiện đòi tiền bằng hốiphiếu thì thời hạn trả tiền được quy định ở yêu cầu ký phát hối phiếu
- Thời hạn giao hàng: Được ghi trong L/C và do hợp đồng mua bán quy
định Thời hạn giao hàng có quan hệ chặt chẽ với thời hạn hiệu lực của L/C
* Những nội dung về hàng hoá
Bao gồm tên hàng, giá cả, quy cách phẩm chất, bao bì, mã ký hiệu,sốlượng, trọng lượng…
* Những nội dung về vận tải, giao nhận hàng hoá
Bao gồm điều kiện cơ sở giao hàng (FOB,CFR,CIF), nơi gửi, nơi giaohàng, cách vận chuyển, cách giao hàng…
* Những chứng từ người xuất khẩu phải xuất trình
Chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình được coi là 1 trong nhữngnội dung then chốt của thư tín dụng, bộ chứng từ quy định trong thư tín dụng
là một bằng chứng của người xuất khẩu chứng minh rằng mình đã hoàn thànhnghĩa vụ giao hàng và làm đúng những điều quy định trong thư tín dụng Nếu
bộ chứng từ phù hợp với những quy định trong thư tín dụng, Ngân hàng mởL/C sẽ tiến hành trả tiền cho người xuất khẩu
Bộ chứng từ thường bao gồm:
- Giấy tờ bảo hiểm
- Bản kê khai hàng hoá
Trang 8- Vận đơn
- Hóa đơn thương mại
- Giấy chứng nhận kiểm định, giấy chứng nhận xuất xứ
Và một số giấy tờ khác theo yêu cầu của người nhập khẩu
Thư tín dụng huỷ ngang chỉ được sử dụng trong các trường hợp:
- Giữa người mua và người bán có quan hệ tín dụng rất tốt
- Việc giao hàng được thực hiện giữa công ty mẹ và công ty con
* L/C có điều khoản đỏ
Là loại L/C đặc biệt, trong đó có một điều khoản ghi rõ Ngân hàng pháthành sẽ chuyển tiền hoặc uỷ quyền cho Ngân hàng thông báo (hay Ngân hàngxác nhận, Ngân hàng chiết khấu) để thực hiện ứng trước cho người hưởng lợimột số tiền nhất định, thông thường tính theo tỷ lệ phần trăm so với giá trị L/
C Người hưởng lợi phải xuất trình chứng từ tại Ngân hàng mà họ đã nhậntiền ứng trước và phải bồi hoàn lại số tiền này nếu không xuất trình đủ chứng
từ hợp lệ trong thời hạn quy định Số tiền ứng trước được thực hiện theo yêucầu của người mở L/C
Rủi ro trong thanh toán L/C có điều khoản đỏ là tiền ứng trước có thể
bị sử dụng không đúng mục đích, chứng từ do nhà xuất khẩu trình có thể
Trang 9không phù hợp hoặc người xuất khẩu không hoàn thành được việc sản xuấthàng hoá mà cũng không hoàn lại được tiền ứng trước cho Ngân hàng.
* L/C không thể huỷ ngang
Là loại L/C sau khi đã được Ngân hàng mở thì không thể sửa đổi, bổsung hay huỷ bỏ trong thời hạn hiệu lực của nó nếu chưa có sự thoả thuận củacác bên tham gia Như vậy, nếu không có sự nhất trí của bên bán, của Ngânhàng xác nhận thì Ngân hàng mở L/C không được phép thực hiện theo yêucầu của bên mua, do đó quyền lợi của người bán được đảm bảo hơn
* L/C chuyển nhượng
Là một L/C mà người hưởng đầu tiên có thể chuyển nhượng toàn bộ hoặcmột phần giá trị L/C cho một hoặc nhiều người hưởng lợi thứ hai Trong L/Cchuyển nhượng, người hưởng lợi thứ nhất không tự động cung cấp được hànghoá, mà chỉ là trung gian môi giới giữa người cung cấp hàng hoá và người muacuối cùng L/C này cũng chỉ đuợc chuyển nhượng một lần, có nghĩa là ngườihưởng lợi thứ hai không được chuyển nhượng cho người hưởng lợi thứ ba
Các bên tham gia trong phương thức L/C chuyển nhượng bao gồm:
- Nhà nhập khẩu
- Nhà xuất khẩu/ Người hưởng lợi thứ nhất
- Ngân hàng phát hành
- Ngân hàng thông báo/ chuyển nhượng (NH chấp nhận hoặc chiết khấu)
- Người cung cấp/ Người hưởng lợi thứ hai
L/C chuyển nhượng thường được sử dụng khi người hưởng lợi thứ nhất làđại lý cho nhà nhập khẩu, khi đó họ không cần phải giữ bí mật về người cung cấphàng hoá, còn trong trường hợp người hưởng lợi chỉ là người trung gian cung cấphàng hoá cho nhà nhập khẩu thì họ rất muốn giữ bí mật về người cung cấp
* L/C giáp lưng
Khi người hưởng nhận được một L/C (L/C gốc) không phải L/C
Trang 10chuyển nhượng song không thể tự mình cung cấp hàng hoá, khi đó họ có thểthoả thuận với Ngân hàng của mình phát hành một L/C thứ hai (L/C giáplưng) với nội dung tương tự cho người cung cấp hàng hoá
Các bên tham gia trong L/C gốc :
- Nhà nhập khẩu
- Ngân hàng trung gian (Ngân hàng thông báo)
- Người trung gian (Người hưởng lợi thứ nhất)
- Ngân hàng nhập khẩu
* L/C tuần hoàn
Là loại L/C không thể huỷ ngang mà sau khi sử dụng xong hoặc sau khihết hạn hiệu lực L/C thì sẽ tự động khôi phục lại giá trị như cũ mà không cần
mở L/C mới Quy trình nghiệp vụ giống như L/C không thể huỷ ngang
L/C tuần hoàn có thể khống chế việc thực hiện tuần hoàn theo hai cách:
- Theo thời gian: là khống chế thời hạn hiệu lực của L/C trong mỗi lần
tuần hoàn và tổng giá trị L/C Theo cách này có thể là L/C tích luỹ hoặckhông tích luỹ L/C tuần hoàn không tích luỹ không cho phép cộng số tiềncủa L/C trước để tăng giá trị của L/C sau nếu L/C trước chưa sử dụng hết
- Theo giá trị: là L/C được phép khôi phục lại giá trị ngay khi giá trị cũ
đã được sử dụng Loại L/C này ít được sử dụng vì nó tạo ra một cam kết vôhạn của Ngân hàng phát hành Do đó thông thường khi phát sinh nhu cầuthanh toán L/C tuần hoàn, các Ngân hàng thường phát hành L/C khống chếtheo thời gian hoặc vừa khống chế số tiền vừa khống chế thời gian
Có ba cách tuần hoàn:
- Tuần hoàn tự động: nghĩa là L/C tiếp sau tự động có giá trị, không
cần sự thông báo của Ngân hàng phát hành L/C
- Tuần hoàn không tự động: nghĩa là chỉ khi nào Ngân hàng phát hành
L/C thông báo cho người bán thì L/C mới có giá trị hiệu lực
Trang 11- Tuần hoàn hạn chế (bán tự động): nghĩa là nếu sau vài ngày kể từ
ngày L/C cũ hết hạn hiệu lực hoặc đã sử dụng hết mà không có ý kiến gì củaNgân hàng phát hành thì L/C kế tiếp tự động có giá trị hiệu lực
* L/C dự phòng
Là một loại tín dụng chứng từ hoặc một thoả thuận tương tự, dù đượcgọi hay miêu tả bằng cách nào, theo đó Ngân hàng phát hành cam kết vớingười thụ hưởng:
- Bồi hoàn về những thiệt hại do người yêu cầu mở không thực hiệnđược nghĩa vụ của chính mình
- Trả khoản tiền mà người yêu cầu mở thư tín dụng đã vay hoặcnhận ứng trước
L/C dự phòng cũng là cam kết thanh toán của Ngân hàng phát hành chongười hưởng lợi Song khác với thư tín dụng truyền thống, là phương tiện thanhtoán của người mua cho người bán theo hợp đồng thương mại, thì thư tín dụng dựphòng chỉ được sử dụng để phòng ngừa phía đối tác vi phạm nghĩa vụ hoặc camkết, gây hậu quả xấu cho người hưởng, và việc thanh toán sẽ được thực hiện khingười hưởng xuất trình được những bằng chứng nêu lên những điều kiện cam kếtkhông được tôn trọng
Như vậy, thực chất L/C dự phòng giống như một thư bảo lãnh của Ngânhàng Riêng trong xuất nhập khẩu hàng hoá, thư tín dụng dự phòng là L/C màtrong đó Ngân hàng mở cam kết với người hưởng lợi (nhà nhập khẩu) là sẽ thanhtoán lại cho họ trong trường hợp người xuất khẩu không hoàn thành nghĩa vụgiao hàng theo L/C đã đề ra
* L/C xác nhận
Là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang, được một Ngân hàng khác xácnhận, điều đó có nghĩa là ngoài cam kết thanh toán của Ngân hàng phát hành còn cóthêm sự cam kết thanh toán của Ngân hàng xác nhận Ngân hàng xác nhận có thể là
Trang 12Ngân hàng thông báo hoặc là một Ngân hàng thứ ba tuỳ theo thoả thuận giữa ngườimua, người bán và Ngân hàng phát hành Trong thực tế, việc yêu cầu xác nhận L/Ckhông xuất phát từ mong muốn của người mở L/C mà xuất phát từ yêu cầu củangười hưởng khi họ nghi ngờ khả năng thanh toán và uy tín của Ngân hàng pháthành, hoạc họ lo lắng về tình hình chính trị và khả năng an toàn của nước người mua.Khi Ngân hàng xác nhận đã thanh toán cho người hưởng theo đúng quy định củaL/C, nó có quyền truy đòi lại số tiền đã thanh toán từ Ngân hàng phát hành Để đảmbảo an toàn, Ngân hàng xác nhận có thể yêu cầu Ngân hàng phát hành ký quỹ theo tỷ
lệ nhất định Ngược lại, để đảm bảo quyền lợi của mình, Ngân hàng phát hành sẽthoả thuận với khách hàng để chọn Ngân hàng đại lý của mình ở nước người xuấtkhẩu làm Ngân hàng xác nhận, tránh những rủi ro về vốn ký quỹ tại Ngân hàng xácnhận
Hiện tại có một số Ngân hàng xác nhận L/C mà không cần có sự uỷquyền của Ngân hàng phát hành, loại L/C này được coi là xác nhận ngầm vàNgân hàng xác nhận chịu hoàn toàn rủi ro trong trường hợp này mà khôngđược phép dẫn chiếu theo các điều khoản của UCP500
b) Căn cứ vào thời hạn thanh toán của thư tín dụng
* L/C trả chậm
Là loại L/C trong đó Ngân hàng phát hành cam kết thanh toán chongười hưởng lợi số tiền của thư tín dụng một số ngày sau khi bộ chứng từhoàn hảo được xuất trình hoặc sau ngày giao hàng
Loại thư tín dụng này có hai dạng:
- L/C có kỳ hạn: Là loại L/C không huỷ ngang trong đó Ngân hàng phát hành
sẽ chấp nhận hối phiếu có kỳ hạn do người hưởng lợi ký phát khi họ xuất trình được
bộ chứng từ hoàn hảo Những hối phiếu này nhà xuất khẩu có thể giữ cho đến thờihạn thanh toán và lúc ấy trình nộp Ngân hàng để nhận tiền hoặc bán/chuyển nhượngtrên thị trường Các Ngân hàng phát hành có thể mua hối phiếu hoặc chấp nhận thanh
Trang 13toán cho chính mình
- L/C trả dần: Là loại L/C không thể huỷ ngang trong đó quy định người
hưởng sẽ được thanh toán dần toàn bộ số tiền của L/C theo những thời hạn đã quyđịnh rõ trong L/C đó Khác với loại thư tín dụng có kỳ hạn, loại L/C này khôngđòi hỏi hối phiếu do người bán ký phát Do đó, người bán không có quyền lợipháp lý đối với hối phiếu và quyền truy đòi liên quan đến hối phiếu đó
Rủi ro có thể gặp bất cứ lúc nào ngoài ý thức của con người, không lệ thuộc vào
ý muốn chủ quan của con người Chúng ta không thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro rakhỏi môi trường xã hội nói chung và môi trường kinh doanh nói riêng, mà chỉ cóthể nghiên cứu, nhận biết, đo lường và hạn chế nó tới mức thấp nhất
Ngân hàng thương mại là loại hình doanh nghiệp kinh doanh hàng hoáđặc biệt, đó là tiền tệ Do vậy, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng với bảnchất của nó luôn chịu tác động của nhiều loại rủi ro đi cùng với các lĩnh vực
hoạt động của Ngân hàng Rủi ro trong kinh doanh của Ngân hàng thương mại là khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến của Ngân hàng Thông thường,
một Ngân hàng hiện đại thường phải đối mặt với các loại rủi ro sau:
- Rủi ro lãi suất
- Rủi ro tín dụng
Trang 14- Rủi ro ngoại hối
- Rủi ro thanh khoản
- Các loại rủi ro khác
Thanh toán quốc tế là nghiệp vụ ngoại bảng quan trọng nhất của các Ngânhàng thương mại Rủi ro trong thanh toán quốc tế là những rủi ro phát sinh trongquá trình thực hiện TTQT liên quan đến các giao dịch quốc tế, nguyên nhân phátsinh từ quan hệ giữa các bên tham gia thanh toán như: nhà xuất khẩu, nhà nhậpkhẩu, các Ngân hàng, các tác nhân trung gian… hoặc do các nhân tố khách quankhác gây nên như thiên tai, chiến tranh, chính trị… Vì phạm vi hoạt động lớn, cónhiều bên tham gia nên rủi ro trong hoạt động TTQT xuất hiện tại nhiều thờiđiểm, gây thiệt hại cho các bên nói chung và cho hoạt động kinh doanh của Ngânhàng nói riêng
1.2.2 Rủi ro trong hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ và nguyên nhân của rủi ro
Có thể nói rằng, tín dụng chứng từ là phương thức được sử dụng rộngrãi nhất hiện nay trong Thanh toán quốc tế với những ưu thế của nó so với cácphương thức khác Để điều chỉnh phương thức này, Phòng thương mại quốc
tế (ICC) đã ban hành văn bản "Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụngchứng từ" nhưng việc vận hành phương thức L/C vẵn ẩn chứa nhiều nguy cơrủi ro cho các bên tham gia
Rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ xảy ra khi quyền lợi củamột hay một số bên bị vi phạm Rủi ro không chỉ là việc chứng từ không đượcthanh toán mà còn là bất kỳ một khúc mắc, chậm trễ nào trong các khâu củaquá trình thanh toán
Các loại rủi ro thường gặp khi áp dụng phương thức thanh toán tín dụngchứng từ:
1.2.2.1 Rủi ro tín dụng
Trang 15Đây là rủi ro mất khả năng thanh toán của một trong các bên tham giavào phương thức thanh toán L/C.
a) Rủi ro tín dụng từ phía nhà nhập khẩu
Thực chất của L/C chính là việc Ngân hàng dùng uy tín của mình để thaymặt nhà nhập khẩu cam kết trả tiền cho nhà xuất khẩu nếu họ thực hiện đầy đủcác nghĩa vụ trong L/C Do vậy, nếu L/C được ký quỹ 100% thì rủi ro tín dụng
sẽ không xảy ra Nhưng trên thực tế, phần lớn các nhà nhập khẩu đều đề nghịNgân hàng tài trợ cho mình dưới hai hình thức: cho mượn uy tín (ký quỹ
<100%, khi đến hạn thanh toán mới nộp đủ) và cho vay để nhập khẩu Chính vìthế, khi nhà nhập khẩu trong hoạt động kinh doanh của mình bị vỡ nợ, phá sản,mất khả năng thanh toán sẽ gây ra rủi ro cho Ngân hàng phát hành L/C, làmNgân hàng gặp không ít khó khăn, tổn thất Để giảm thiểu rủi ro loại này, cácNgân hàng mở L/C thường yêu cầu vận đơn phải được ký phát cho Ngân hàng
và thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp về ký quỹ, thế chấp tài sản… Tuy nhiên,việc giải toả và thu hồi vốn cũng không phải là việc đơn giản cho các Ngânhàng
b) Rủi ro tín dụng từ phía nhà xuất khẩu
Rủi ro này thường xảy ra trong trường hợp Ngân hàng thực hiện chiết khấuchứng từ đối với hàng xuất khẩu, sự thiếu sót trong khâu kiểm tra chứng từ, gâytình trạng sai sót trong hồ sơ thanh toán nên bị từ chối thanh toán Có hai loại chiếtkhấu chứng từ hàng hoá xuất khẩu là chiết khấu miễn truy đòi và chiết khấu bảo lưuquyền truy đòi Để giảm thiểu rủi ro, hiện nay các Ngân hàng chiết khấu thường ápdụng biện pháp thứ hai Tuy nhiên, nếu nhà xuất khẩu không còn khả năng thanhtoán thì sẽ gây rủi ro tín dụng cho Ngân hàng chiết khấu
c) Rủi ro tín dụng từ phía Ngân hàng phát hành
Loại rủi ro do phía Ngân hàng mang lại tuy rất hiếm khi gặp phải nhưngkhông phải là chưa từng xảy ra Nếu Ngân hàng phát hành mất khả năng thanh
Trang 16toán vì một lý do nào đó, hoặc bị đóng cửa, hoặc bị vỡ nợ phá sản… sẽ dẫn đếnrủi ro cho Ngân hàng chiết khấu và người xuất khẩu, điều này phụ thuộc vàomức độ tín nhiệm của Ngân hàng phát hành Do đó, để tránh loại rủi ro này, cácnhà xuất khẩu nên đề nghị các nhà nhập khẩu chọn những Ngân hàng thươngmại lớn, có uy tín để phát hành L/C.
* Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng
- Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp cũng như các Ngân hàngthương mại phải hoạt động trong môi trường cạnh tranh gay gắt, chịu sự chi phốilớn của các quan hệ cung - cầu, quy luật cạnh tranh, giá cả thị trường… nênthường xuyên phải đối mặt với rủi ro từ mọi phía Có khi do giá cả thay đổi,công nghệ lạc hậu, khả năng quản lý và điều hành yếu kém, khủng hoảng tàichính… đã gây phản ứng dây chuyền khiến các doanh nghiệp gặp khó khăn,thua lỗ trong kinh doanh, thậm chí phá sản, vỡ nợ…
- Do thông tin tín dụng không đầy đủ, nếu một bên không nắm vững tìnhhình tài chính, uy tín và khả năng thanh toán của đối tác, cũng như không amhiểu, không kiểm tra được các thông số kỹ thuật và hiệu quả dự án mà mình tàitrợ, thì rủi ro tín dụng là điều khó tránh khỏi Đây chính là thông tin không cânxứng, thể hiện ở khả năng áp dụng quy chế và năng lực của cán bộ trong quátrình thẩm định món vay xuất - nhập khẩu trước khi thực hiện nghiệp vụ L/C
Vì vậy, việc lựa chọn khách hàng và Ngân hàng nước ngoài có quan hệ tín dụngtốt là điều vô cùng quan trọng trong thanh toán quốc tế, và các cán bộ nhân viênNgân hàng cần nâng cao năng lực thẩm định cũng như phân tích khả năng tàichính , khả năng hoàn trả, hiệu quả sử dụng vốn của khách hàng…
1.2.2.2 Rủi ro đạo đức
Là những rủi ro xảy ra khi một bên tham gia cố tình không thực hiện đúngnghĩa vụ của mình, gây thiệt hại tới quyền lợi của người khác Đạo đức hay cònđuợc hiểu là tín nhiệm, uy tín trong kinh doanh Đây là vấn đề quan trọng trong
Trang 17thương mại và thanh toán quốc tế, vì các bên đối tác tham gia thương vụ thường ởrất cách xa nhau, thậm chí không hề gặp mặt nhau trong quá trình thực hiệnthương vụ.
a) Rủi ro đạo đức từ phía nhà nhập khẩu
Nếu khách hàng nhập khẩu không phải là bạn hàng lâu năm, có tín nhiệm thìrất dễ có những hành vi lừa người bán xếp hàng lên tầu, rồi trì hoãn, từ chối thanhtoán bằng những thủ đoạn nghiệp vụ bắt lỗi sai sót chứng từ, ép giá người bán đểthu lợi cho mình Trong nhiều trường hợp, nhà xuất khẩu đành chịu bán lỗ còn hơnthuê tàu chở hàng về Cũng có khi do giá cả hàng hoá nhập khẩu giảm, người mua
sợ thua lỗ trong kinh doanh nên cố tình không nhận bộ chứng từ để lấy hàng, hoặctrì hoãn không thanh toán nên đẩy Ngân hàng vào tình thế khó khăn trong việc xử
lý vốn, đặc biệt trong nghiệp vụ trả chậm
Người bán hàng giao hàng cho người chuyên chở, nhưng bị họ lừa đảo,nhận hàng lấy tiền rồi biến mất, hoặc bán mất hàng Trong khi đó, Ngân hàngvẫn phải thực hiện thanh toán cho người bán hàng theo hồ sơ chứng từ, cònviệc kiện hãng chuyên chở, hoặc chờ bảo hiểm hoàn toàn tách rời nhau Việcchờ đợi, kiện tụng rất mất thời gian và tốn kém, gây thiệt hại cho cả ngườimua và người bán
c) Rủi ro đạo đức từ phía Ngân hàng
Trong nhiều trường hợp, Ngân hàng phát hành cũng vi phạm cam kết củamình, như trì hoãn, chây ỳ, hoặc từ chối thanh toán bộ chứng từ cho nhà xuấtkhẩu Hoặc ngược lại, đối với sự thiếu trung thực của Ngân hàng chiết khấu khi
bộ hồ sơ không hoàn hảo vẫn gửi điện cam kết hồ sơ chuẩn để đòi tiền Ngân hàngphát hành, Ngân hàng phát hành tin tưởng thanh toán sẽ gặp rủi ro, việc đòi lạiđược tiền rất khó khăn
b) Rủi ro đạo đức từ phía nhà xuất khẩu
Trang 18Khi nhà xuất khẩu cố ý giao hàng hoá không phù hợp với hợp đồng,nhưng lại xuất trình bộ chứng từ hoàn hảo, phù hợp với các điều khoản ký kếtcủa hợp đồng thương mại, hoặc nhà xuất khẩu lập bộ chứng từ khống giả mạo(không giao hàng), Ngân hàng theo bộ hồ sơ hoàn hảo vẫn buộc phải thanhtoán cho người hưởng lợi, khi đó nhà nhập khẩu phải gánh chịu mọi rủi ro.Nếu Ngân hàng tài trợ cho người nhập khẩu thì rủi ro này Ngân hàng cũngphải chịu đựng Bởi vậy, người mua phải có những biện pháp kiểm tra thôngtin qua các hãng vận tải xem hàng hoá có thực sự được giao lên phương tiệnvận tải hay không, nếu phát hiện có dấu hiệu lừa đảo thì cần kết hợp với Ngânhàng đưa ra những biện pháp ngăn chặn kịp thời.
Trường hợp giá cả hàng hoá quốc tế tăng, người bán hàng sợ thiệtkhông muốn giao hàng cho người mua hàng nữa, điều này gây thiệt hại chongười mua, vì kế hoạch sản xuất kinh doanh bị phá vỡ Tất cả những vi phạmtrên của nhà xuất khẩu đều được coi là rủi ro đạo đức
* Nguyên nhân gây ra rủi ro đạo đức
Nguyên nhân sâu xa của rủi ro đạo đức là vấn đề thông tin không đầy
đủ, không cân xứng Vì thiếu những thông tin chính xác về khả năng tài chínhcủa đối tác, tình hình hoạt động kinh doanh, cũng như uy tín, tính trung thựccủa đối tác nên đã đưa ra những quyết định sai lầm, gây nên những rủi rotrong thanh toán Đặc biệt, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ theoquy định của UCP 500 thì việc thanh toán chỉ hoàn toàn dựa vào chứng từ hồ
sơ thanh toán mà không căn cứ vào thực trạng hàng hoá Chính sự tách biệt
đó đã tạo ra khe hở cho một số tổ chức, cá nhân tiến hành lừa đảo, vì thế rủi
ro đạo đức vẫn còn cơ sở tồn tại
1.2.2.3 Rủi ro quốc gia
Rủi ro quốc gia là những rủi ro liên quan đến sự thay đổi về chính trị,kinh tế, vì chính sách quản lý ngoại hối - ngoại thương của một quốc gia
Trang 19khiến cho nhà xuất khẩu không nhận được tiền hàng, nhà nhập khẩu khôngnhận được hàng hoá.
a) Rủi ro quốc gia từ phía nước nhập khẩu
Rủi ro này thường xảy ra khi người mua hoàn toàn có khả năng và sẵnsàng thanh toán cho người bán, song do những sự biến động, hoặc những biến cốbất thường trong quốc gia nhập khẩu ảnh hưởng đến chính trị, kinh tế… khiếncho Chính phủ nước đó cấm các công ty của nước mình thanh toán ngoại tệ ranước ngoài, hoặc hàng hoá nhập về thuộc diện cấm không được làm thủ tụcthông quan nên không thể thanh toán
b) Rủi ro quốc gia từ phía nước xuất khẩu
Là những rủi ro xảy ra khi có sự thay đổi về chính sách ngoại thương, thuếquan của quốc gia đó Nhà xuất khẩu đã chuẩn bị giao hàng, song do biểu thuếxuất khẩu tăng, hoặc hàng hoá đó bị cấm xuất khẩu nên gặp rủi ro không thểchuyển hàng đi Đôi khi do quan hệ thanh toán giữa hai quốc gia có biến cố khôngbình thường, nên khó khăn trong việc nhận tiền hàng của nhà xuất khẩu
* Nguyên nhân gây ra rủi ro quốc gia:
Đó chính là những nguyên nhân gây ra biến cố chính trị, xã hội, kinh tế… tại mộtnước
- Chính sách quản lý ngoại hối của nước nhập khẩu đột ngột thay đổi,thực hiện chính sách ngoại hối thắt chặt hay cấm vận trong thanh toán gây rarủi ro cho nhà nhập khẩu và Ngân hàng của họ
- Mâu thuẫn về sắc tộc, đảng phái, tôn giáo đe doạ sự ổn định nội bộ của mộtnước
- Vấn đề nợ nước ngoài chồng chất khiến cho Chính phủ nước nhập khẩubuộc phải đưa ra biện pháp cấm thanh toán hoặc chuyển ngoại tệ, ngoại hối ranước ngoài
.- Xung đột xã hội thông qua các cuộc biểu tình, đình công, bạo động, chiến
Trang 20- Dự trữ ngoại hối ở mức thấp và cán cân thanh toán quốc tế của quốcgia bị thâm hụt nặng nề, khiến cho Chính phủ nước nhập khẩu buộc phải đưa
ra biện pháp cấp bách dừng thanh toán với nước ngoài
- Sự cấm vận về kinh tế của quốc tế đối với nước nhập khẩu khiến chomọi hoạt động thương mại quốc tế và các tài khoản NOSTRO của nước đó ởnước ngoài bị kiểm soát gắt gao, thậm chí bị phong toả nên Ngân hàng khôngthể thanh toán tiền hàng ra nước ngoài
* Nguyên nhân của rủi ro pháp lý
Nguyên nhân này là do môi trường pháp lý và luật pháp của các bên là khácnhau, dù cho thanh toán quốc tế lựa chọn phương thức tín dụng chứng từ theo UCP
500 nhưng ở nhiều nước khác nhau, giao dịch này cũng bị điều chỉnh, chi phối bởi
hệ thống pháp luật quốc gia UCP và luật pháp quốc gia tạo thành hành lang pháp lýcho giao dịch L/C của các Ngân hàng thương mại khi tham gia thanh toán quốc tế.Tuy nhiên, mức độ vận dụng UCP vào thực tiễn của các nước khác nhau tuỳ thuộcvào pháp luật nước đó Nếu có sự khác biệt giữa luật quốc gia với UCP thì luậtquốc gia sẽ vượt lên trên tất cả và phải được tuân thủ Quan điểm của ICC (Phòngthương mại quốc tế) là UCP không thể làm thay đổi luật pháp quốc gia, nhữngtranh chấp nếu có tốt nhất là để cho tòa án xem xét và phán quyết,vì vậy, rủi ropháp lý là không tránh khỏi
Trang 211.2.2.5 Rủi ro ngoại hối
Là rủi ro xảy ra khi việc thanh toán được xác định bằng ngoại tệ nào đó,cóthể là đồng tiền của các bên đối tác cũng có thể là đồng tiền của một nước thứ 3.Khi tỷ giá biến động sẽ gây tổn thất cho một trong hai phía đối tác tham giathanh toán Nếu ngoại tệ được lựa chọn trong thanh toán lên giá sẽ gây tổn thấtcho người nhập khẩu, ngược lại ngoại tệ đó mất giá lại gây thiệt hại cho bên xuấtkhẩu Trong giao dịch thanh toán L/C, các Ngân hàng cũng gặp phải rủi ro vềngoại hối, những rủi ro này xuất hiện khi ngoại tệ này lên giá, và ngược lại, ởtrạng thái "trường" khi ngoại tệ này mất giá Khi đó, Ngân hàng sẽ phải gánhchịu tổn thất
* Những nhân tố gây ảnh hưởng đến sự biến động tỷ giá, tác động đến rủi ro hối đoái
Tỷ giá biến động chịu tác động trên hai phương diện
- thứ nhất là ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài: đó là thị trường tàichính quốc tế ,tình hình kinh tế và chính sách can thiệp của các nước, cácchính sách này không nằm trong tầm khống chế, can thiệp của một quốc gia
thứ hai là sự tương tác nhiều chiều của chính sách kinh tế tài chính tiền tệ ở mỗi nước Hình thức biểu hiện tổng hợp về sự tương tác từ haiphương diện trên chính là quan hệ cung - cầu ngoại hối trên thị trường Nóichung có rất nhiều yếu tố tác động lên tỷ giá, một số yếu tố cơ bản đó là:
-+Một số các nhân tố khác như các cú sốc về chính trị, xã hội hay cácảnh hưởng về thiên tai, chiến tranh, sự nhạy cảm về tâm lý
+Trạng thái của Cán cân thanh toán quốc tế ảnh hưởng trực tiếp đếncung - cầu ngoại tệ, thông qua đó tác động trực tiếp lên tỷ giá
+Mức chênh lệch lãi suất giữa các nước, giữa thị trường tiền tệ nội địa
và thị trường tiền tệ quốc tế
+Sức mua của các đơn vị tiền tệ và tốc độ lạm phát ở các nước hữu quan
Trang 221.2.2.6 Rủi ro về tác nghiệp
Đó là những rủi ro sai sót kỹ thuật do chính các bên tham gia gây nên,rủi ro này được thể hiện trong việc lập các hồ sơ chứng từ không hoàn hảo,không đáp ứng đầy đủ các điều khoản và điều kiện của L/C hoặc hành độngkhông đúng theo UCP 500 và các thông lệ, tập quán quốc tế khác
Do đặc thù của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là các Ngân hàngchỉ làm việc trên bề mặ t các chứng từ, vì vậy, phương thức này đòi hỏi một cáchkhắt khe về sự phù hợp tuyệt đối giữa bộ chứng từ thanh toán và L/C Một sự khaithác nhỏ cũng có thể bị người mua và Ngân hàng phát hành L/C bắt lỗi và từ chốithanh toán Đây là trở ngại lớn đối với nhà xuất khẩu , họ gặp phải khó khăn trongviệc đáp ứng đầy đủ các yêu cầu khắt khe đó Nếu như các sai sót liên quan đếnchứng từ hồ sơ do nhà xuất khẩu lập (các sai sót trong hoá đơn thương mại, bảng kêchi tiết hàng hoá,, phiếu đóng gói…) thì họ có thể chủ động sửa chữa sai sót nhưng
có những chứng từ không phải do người bán lập mà có những sai sót như sai sóttrong vận đơn, xuất xứ hàng hoá, phiếu kiểm định hàng hoá… hoặc các chứng từ
do bên thứ ba lập thì người bán không thể khắc phục được
Trường hợp nếu các Ngân hàng tham gia thanh toán, chiết khấu bộ chứng từkhông phát hiện ra sai sót, hoặc bỏ qua các lỗi cho là nhỏ, sau khi thực hiện thanhtoán, hoặc chiết khấu cho nhà xuất khẩu, Ngân hàng đó sẽ chịu mọi rủi ro nếu Ngânhàng phát hành L/C từ chối thanh toán Đặc biệt trong trường hợp Ngân hàng chiếtkhấu L/C đồng thời là Ngân hàng xác nhận L/C thì nó sẽ không có quyền truy đòilại người xuất khẩu số tiền đã chiết khấu
Đối với Ngân hàng thông báo L/C, cần thiết phải xác định tình trạng mã khoácủa Ngân hàng phát hành L/C, nếu không xác định được điều này phải nêu rõ trong L/
C thông báo cho nhà xuất khẩu và nói rõ không chịu trách nhiệm về tính xác thực củaL/C này, nếu trong việc này không cẩn trọng sẽ dẫn đến rủi ro cho Ngân hàng thôngbáo và cho nhà xuất khẩu
Rủi ro có thể xảy ra đối với ngay cả Ngân hàng phát hành L/C, khi trong
Trang 23việc kiểm tra chứng từ mở L/C, đối với loại L/C không thể huỷ ngang khi đã pháthành thì Ngân hàng không thể tự ý huỷ bỏ hoặc sửa đổi, chỉ được phép thông báosai sót trong vòng 07 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ chứng từ, nếu quáthời gian đã quy định đó, Ngân hàng mất quyền từ chối và chịu mọi rủi ro.
* Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tác nghiệp
Rủi ro tác nghiệp xảy ra chủ yếu do trình độ thanh toán quốc tế,ngoạithương của các bên tham gia còn yếu, chưa nắm bắt được yêu cầu rất khắt khecủa L/C, của "Quy tắc thực hành thống nhất tín dụng chứng từ" (UCP500), dẫnđến sai sót trong quá trình giao dịch từ lúc soạn thảo và ký kết hợp đồng ngoạithương cho đến khi lập chứng từ và thanh toán Ngoài ra cũng phải kể dến trình độnghiệp vụ, ý thức thực hiện nghiệp vụ của các thành viên tham gia thiết lập hồ sơthanh toán và các văn bản có liên quan
1.3 Chỉ tiêu phản ánh rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ
Trong phương thức thanh toán TDCT, mối quan hệ của Ngân hàng với nhàxuất khẩu và nhà nhập khẩu phát sinh khi bắt đầu mở L/C Từ đó cũng phát sinhnhững rủi ro mà Ngân hàng có thể gặp phải Để đánh giá được mức độ của nhữngrủi ro đó, người ta thường căn cứ vào các chỉ tiêu về Định mức ký quỹ, Nợ quáhạn và Cho vay bắt buộc:
1.3.1 Chỉ tiêu về định mức ký quỹ
Ký quỹ là quy định của Ngân hàng đối với khách hàng khi họ xin đượcbảo lãnh phát hành L/C Khách hàng sẽ phải nộp một khoản tiền nhất địnhvào tài khoản của họ tại Ngân hàng mà họ xin được bảo lãnh và khoản tiền đó
sẽ được phong toả cho đến khi nghĩa vụ bảo lãnh của Ngân hàng chấm dứt
Mức ký quỹ có thể là 100% hoặc dưới 100% tuỳ đối tượng khách hàng
cụ thể, và cao hay thấp phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Đối tượng khách hàng: uy tín của khách hàng với Ngân hàng càng lớnthì mức ký quỹ càng thấp và ngược lại
- Loại hàng hóa nhập, khả năng tiêu thụ hàng và tình hình biến động
Trang 24giá cả hàng hoá trên thị trường: những mặt hàng dễ tiêu thụ, thị trường ổnđịnh, giá cả ít biến động thì mức ký quỹ có thể thấp và ngược lại
- Khả năng thanh toán của khách hàng: khả năng thanh toán càng caothì mức ký quỹ càng thấp và ngược lại
Trên cơ sở kết hợp các yếu tố trên, Ngân hàng sẽ quyết định mức kýquỹ cụ thể Tỷ lệ ký quỹ càng thấp thì nguy cơ đối mặt với rủi ro của Ngânhàng càng cao
1.3.2 Chỉ tiêu về cho vay bắt buộc
Tỷ lệ cho vay bắt buộc = Giá trị cho vay bắt buộc/ Tổng giá trị thanh toán
Khi nhà nhập khẩu không có khả năng thanh toán tiền hàng cho Ngân hàngthì Ngân hàng buộc phải ghi nợ tài khoản của khách hàng tại Ngân hàng Nhưngnếu tài khoản này không đủ số dư để thanh toán, Ngân hàng sẽ buộc phải chodoanh nghiệp vay với lãi suất quá hạn Số tiền cho vay đó là cho vay bắt buộc,Ngân hàng không muốn cho vay nhưng chỉ có cách đó mới có thể đòi tiền doanhnghiệp trong thời gian tới
Chỉ tiêu này phản ánh trong tổng giá trị L/C thanh toán thì số cho vaybắt buộc, nghĩa là giá trị thư tín dụng không được doanh nghiệp thanh toán
mà Ngân hàng không thể thu hồi được ngay, chiếm tỷ lệ là bao nhiêu
1.3.3 Chỉ tiêu về nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn = Giá trị nợ quá hạn/ Tổng giá trị thanh toán
Khi Ngân hàng đã cho vay bắt buộc, nếu sau một thời gian, doanhnghiệp có khả năng thanh toán cả gốc và lãi thì coi như Ngân hàng đã đòiđược số tiền trước đây Còn nếu doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, phá sản, không
có khả năng thanh toán thì số cho vay đó sẽ được kết chuyển nợ quá hạn
Chỉ tiêu này phản ánh giá trị Ngân hàng không thể thu hồi so với tổnggiá trị cho vay hay tổng giá trị thanh toán chiếm tỷ lệ bao nhiêu
Từ những chỉ tiêu cơ bản trên, ta có thể thấy khái quát về tình hình rủi
ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại một Ngân hàng, từ đó
Trang 25có biện pháp để quản lý rủi ro trong Ngân hàng một cách hiệu quả.
Trang 26CHƯƠNG II THỰC TRẠNG KINH DOANH TÍN DỤNG CHỨNG TỪ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI CHI
NHÁNH NHNo & PTNT NAM HÀ NỘI
2.1.Vài nét về hoạt động của hệ thống NHNo&PTNT
2.1.1.Giới thiệu về hệ thống NHNo&PTNT
Được thành lập ngày 26/3/1988, hoạt động theo Luật các Tổ chức Tíndụng Việt Nam, đến nay Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thônViệt Nam(NHNo) là Ngân hàng Thương mại Quốc doanh không chỉ giữ vaitrò chủ đạo và chủ lực trong đầu tư vốn phát triển kinh tế nông nghiệp, nôngthôn mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy mọi lĩnh vực kháccủa nền kinh tế Việt Nam
NHNo là ngân hàng lớn nhất Việt nam cả về tổng vốn, tài sản,bao gồmđội ngũ CBNV, mạng lưới hoạt động rông khắp và số lượng khách hàng lớn.Đến cuối 2001, NHNo có 2.275 tỷ VNĐ vốn tự có (theo quyết định của Thủtướng Chính phủ, đến 7/02 vốn tự có là 3.775 tỷ VNĐ và đến tháng 1/2004 là5.865 tỷ VNĐ); trên 70 ngàn tỷ VNĐ tổng tài sản có; 1568 chi nhánh toànquốc; 24.000 CBNV và có quan hệ với trên 7.500 doanh nghiệp, 8 triệu hộsản xuất kinh doanh và trên năm mươi triệu khách hàng giao dịch các loại
Là ngân hàng đầu tư tích cực vào đổi mới và ứng dụng công nghệ khoahọc ngân hàng phục vụ đắc lực cho công tác quản trị kinh doanh và phát triểnmạng lưới dịch vụ ngân hàng tiên tiến Hiện NHNo đã kết nối trên diện rộngmạng máy tính từ trụ sở chính đến hơn 1.500 chi nhánh; và một hệ thống cácdịch vụ ngân hàng gồm dịch vụ thanh toán quốc tế qua mạng SWIFT Đếnnay, NHNo hoàn toàn có đủ năng lực cung ứng các sản phẩm, dịch vụ ngân
Trang 27hàng hiện đại, tiên tiến, tiện ích cho mọi đối tượng khách hàng trong và ngoàinước.
Là ngân hàng có mạng lưới ngân hàng đại lý lớn với trên 700 ngânhàng và tổ chức tài chính quốc tế ở gần 90 quốc gia khắp các châu lục Làthành viên Hiệp hội Tín dụng Nông Nghiệp Nông thôn Châu Á Thái BìnhDương (APRACA) và Hiệp hội Tín dụng Nông nghiệp Quốc tế(CICA); đãđăng cai tổ chức nhiều hội nghị quốc tế lớn như Hội nghị FAO năm 1991,Hội nghị APRACA năm 1996 và năm 1998, được đăng cai tổ chức Hội nghịtín dụng nông nghiệp quốc tế CICA lần thứ 31, tháng 11 năm 2001 tại HàNội Tiếp nhận và triển khai có hiệu quả các dự án của các tổ chức tài chínhtín dụng ngân hàng quốc tế đặc biệt là các dự án của WB,ADB,AFD với 53
dự án, tổng số vốn 1.645 triệu USD
Với vị thế là ngân hàng thương mại hàng đầu Việt nam, NHNo đã nỗlực hết mình, đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ qua đó đóng góp to lớnvào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế của đấtnước
2.1.2.Hoạt động kinh doanh của hệ thống NHNo&PTNT
Năm 2006 là năm đầu thực hiện kế hoạch 5 năm 2006-2010, là năm cần cónhiều nỗ lực hơn nữa trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Ngay từ đầunăm, được sự chỉ đạo của Chính phủ, NHNN Việt Nam, các Bộ, ngành có liênquan, với định hướng đúng đắn của HĐQT và năng động trong điều hành củaBan Tổng giám đốc, Giám đốc các chi nhánh, Công ty trực thuộc, sự phấnđấu của toàn hệ thống và sự ủng hộ của khách hàng với phương châm
“AGRIBANK mang sự phồn thịnh đến với khách hàng”
Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2006 của AGRIBANK đã tăng trưởngtốt và phát triển ổn định Tổng nguồn vốn tăng 22,7% so đầu năm, vượt 3,7%
so mục tiêu Hội đồng quản trị đề ra năm 2006 Cơ cấu nguồn vốn ngày càng
Trang 28phù hợp tạo sự ổn định trong kinh doanh Trong đó, tiền gửi của khách hàngtăng 24,3% so với đầu năm và chiếm tỷ trọng 96,4% tổng nguồn vốn Nguồnvốn huy động từ dân cư chiếm tỷ trọng 46,2% tổng nguồn vốn (tăng 5,2% sonăm trước) và chiếm 47,9% nguồn tiền gửi khách hàng; Nguồn vốn vayNHNN giảm 53% so đầu năm, chiếm tỷ trọng 0,5% tổng nguồn vốn; Nguồnvốn UTĐT chiếm tỷ trọng 3,1% tổng nguồn vốn Với số vốn huy động đượcNHNo&PTNTVN đã đáp ứng cơ bản vốn cho vay nông nghiệp, nông thôn vàluôn đảm bảo khả năng chi trả đối với khách hàng.
Tổng dư nợ cho vay và đầu tư vốn tăng 17,6% so với đầu năm Trong đó
Dư nợ cho vay nền kinh tế tăng 15,7% so đầu năm, vượt 0,7% so mục tiêucủa HĐQT đề ra năm 2006 Các khoản đầu tư tăng 58,2% Dư nợ cho vayngắn hạn tăng 17,0%, chiếm tỷ trọng 57,0% dư nợ cho vay Dư nợ cho vaytrung, dài hạn tăng 13,9%, chiếm tỷ trọng 43,0% dư nợ cho vay Phân theothành phần kinh tế: Dư nợ DNNN chiếm tỷ trọng 11,1% dư nợ cho vay; Dư
nợ Doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng 31,7% dư nợ cho vay.Trong đó 13,5% là doanh nghiệp nông thôn, chiếm trên 40% Dư nợ DNNQD,
dư nợ hộ sản xuất chiếm tỷ trọng 56,9% và dư nợ hợp tác xã:chiếm tỷ trọng0,3%/dư nợ cho vay Như vậy khu vực nông nghiệp nông thôn vẫn chiếm hơn70% tổng dư nợ của AGRIBANK Tuy hoạt động tín dụng có tăng trưởng cao
và liên tục nhưng nợ xấu theo chuẩn mực mới phù hợp với thông lệ quốc tếchỉ chiếm tỷ lệ 1,9%/tổng dư nợ thấp hơn dự kiến 5%
Về kết quả tài chính, năm 2006 đã hoàn thành vượt mức kế hoạch tàichính, đảm bảo trích đủ nguồn dự phòng rủi ro, đồng thời lợi nhuận vẫn tănghơn 50% và tiền lương người lao động tăng hơn 25,3%, hệ số an toàn vốn đạt7,6% gần tới mức quy định 8%
Là một trong những ngân hàng kinh doanh đa năng, ngoài lĩnh vực tíndụng truyền thống NHNo&PTNTVN còn mở rộng nhiều sản phẩm dịch vụ
Trang 29mới của một ngân hàng hiện đại, từng bước mở rộng kinh doanh đối ngoạinhư: Nhận làm uỷ thác đầu tư 98 dự án với tổng số vốn gần 3,6 tỷ USD, sốvốn qua AGRIBANK là 2,7 tỷ USD, đã giải ngân được 1,1 tỷ USD Có quan
hệ đại lý với 950 ngân hàng tại 113 quốc gia và vùng lãnh thổ, không ngừngđầu tư tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật đáp ứng yêu cầu kinh doanh, coitrọng việc đào tạo cán bộ và đầu tư vốn để hiện đại hoá công nghệ tin học…Như vậy, trải qua gần 20 năm xây dựng và trưởng thành, dù phải trải quarất nhiều khó khăn, thách thức nhưng với các nỗ lực đầy sáng tạo của nhiềuthế hệ, đến nay AGRIBANK đã vươn lên đứng vững, không những ngày càngphát triển mà còn trở thành một trong những NHTM Nhà nước hàng đầu ởViệt nam: Quy mô hoạt động lớn nhất với hơn 2000 chi nhánh, phòng giaodịch, ngoài ra còn có 9 công ty kinh doanh độc lập, biên chế trên 30 ngàn cán
bộ nhân viên, vốn tự có hơn 12.000 tỷ Phục vụ trên 10 triệu hộ sản xuất, tưnhân cá thể và hàng vạn doanh nghiệp trên khắp mọi miền đất nước thực hiệnchức năng của một ngân hàng thương mại quốc doanh là kinh doanh có lợinhuận và phục vụ có hiệu quả nền kinh tế đất nước
Với những đóng góp tích cực, hiệu quả đó, trong năm 2006 AGRIBANK
đã nhận thêm được nhiều giải thưởng như: Chứng nhận của Wachovia, N.Y
về xử lý xuất sắc các điện thanh toán; Giải thưởng Sao vàng đất Việt, giảithưởng vàng “3 chữ A”…Những giải thưởng này đã khẳng định sự đánh giácao của các ngân hàng nước ngoài và các tổ chức trong nước đối vớiAGRIBANK trong tiến trình đổi mới hoạt động và phát triển theo hướng hộinhập quốc tế Với kết quả trên khẳng định AGRIBANK vẫn giữ vững danhhiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới mà Đảng và nhà nước đã phong tặng
Trang 302.2.Thực trạng tín dụng chứng từ tại NHNo&PTNT Chi nhánh Nam Hà Nội
2.2.1.Tình hình hoạt động tín dụng chứng từ
Trong các phương thức TTQT được sử dụng tại Việt Nam hiện nay thìphương thức được áp dụng phổ biến nhất tại các NHTM nói chung và tại Chinhánh NHNo & PTNT Nam Hà Nội nói riêng là phương thức tín dụng chứng
từ Phương thức TDCT là phương thức bảo đảm được quyền lợi một cáchtương đối cho cả nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu Đặc biệt trong điều kiệnViệt Nam là một nước đang phát triển, chính sách mở cửa mới được thực hiệnnên tình trạng thiếu thông tin đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu đangtừng bước thâm nhập vào thị trường quốc tế là không tránh khỏi Đối với cácnhà xuất khẩu, họ chưa có điều kiện để tìm hiểu kỹ về đối tác, do vậy lựachọn phương thức TDCT là có thể an tâm rằng sẽ thu được tiền nếu xuất trìnhđược bộ chứng từ đúng như quy định Còn đối với các nhà nhập khẩu, việc ápdụng phương thức L/C sẽ đảm bảo quyền lợi cho các doanh nghiệp nhập khẩucũng như tạo uy tín với đối tác nước ngoài trong quan hệ mua bán lâu dài
Thông qua bảng số liệu dưới đây chúng ta có thể thấy được kết quả TTQTbằng phương thức TDCT :
Trang 31Bảng 1: Doanh số TTQT theo phương thức TDCT tại NHNo & PTNT Nam Hà Nội (2003 - 2005)
218 12,735,254
416 28,789,743
405 27,034,552
72.6 61.1
85.8 112.3
569 47,748,444
567 46,484,406
36.8 65.9
40.0 71.9
2 L/C xuất
- Số món
- Doanh số
8 152,349
6 1,325,996
-25.0 770.4
7 858,907
16.7 -35.2
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh đối ngoại 2003 - 2005)
Sau cuộc khủng hoảng tài chính trong khu vực, cùng với nỗ lực củaChính phủ trong việc đề ra và thi hành các chủ trương, chính sách để hội nhậpnền kinh tế, hoạt động xuất nhập khẩu cũng sôi động hơn rất nhiều Doanh sốL/C qua các năm có sự tăng trưởng ổn định, đặc biệt trong L/C nhập khẩu:năm 2004 tăng 112.3% so với năm 2003, từ 12,735,254 USD lên 27,034,552USD, đạt 146% so với kế hoạch; năm 2005, doanh số L/C nhập khẩu tiếp tụctăng 71.9% so với năm 2004, từ 27,034,552 USD lên 46,484,406 USD, đạt123% so với kế hoạch Điều này đã phản ánh sự hoạt động hiệu quả trongTTQT của Chi nhánh, uy tín của Ngân hàng tăng nhanh và ngày càng thu hútđược nhiều khách hàng: từ 41 khách hàng trong năm 2003 đã tăng lên 60trong năm 2004, và đến năm 2005, tăng lên con số 72 Tính riêng trong năm
2005, những khách hàng chủ yếu của Chi nhánh thực hiện mở L/C phải kểđến: Công ty CP XNK & HTĐT Vilexim (VILEXIM): 284 món; Công ty TM
Trang 32& XNK Tổng hợp HN (GENEXIM): 36 món; Công ty XNK & ĐT Hà Nội(UNIMEX): 18 món… hay Tổng công ty Công nghiệp Ô tô (VINAMOTOR)với doanh số nhập khẩu lên đến 2,860,720 USD trong năm 2005 Các mặthàng nhập khẩu chủ yếu là thiết bị máy móc, sắt thép, linh kiện điện tử haycác loại hoá chất…
Doanh số thanh toán L/C xuất mới dừng lại ở con số khiêm tốn và tăngtrưởng không ổn định: năm 2003: 152,349 USD; năm 2004: 1,325,996 USD,năm 2005: 858,907 USD, chỉ chiếm khoảng dưới 1% tổng doanh số TTQT(trừ năm 2004 lên được 2%) Nguyên nhân là do cuộc khủng hoảng tài chínhtiền tệ (1997) trong khu vực kéo dài ảnh hưởng khiến sức mua của các thịtrường trong khu vực giảm đáng kể Mặt khác, do kinh nghiệm hoạt độngthương mại quốc tế của nước ta còn ít nên thị trường XK còn hạn chế, chủyếu là các nước trong khu vực như Đài Loan, Hồng Kông, Singapore Tuynhiên khách hàng của Chi nhánh phần lớn là các Công ty TNHH, chưa cókinh nghiệm và thế mạnh trong xuất khẩu, tính cạnh tranh chưa cao nên chưathu hút được nhiều hợp đồng trong xuất khẩu Vì vậy, nếu so sánh tỷ trọngdoanh số mà L/C xuất đóng góp vào tổng doanh số thanh toán L/C thì tỷtrọng thanh toán xuất khẩu vẫn còn quá khiêm tốn:
Bảng 2: Tỷ trọng thanh toán các loại L/C trong TTQT (2003 - 2005)
Danh mục
Doanh số (USD)
Tỷ trọng (%)
Doanh số (USD)
Tỷ trọng (%)
Doanh số (USD)
Tỷ trọng (%) L/C nhập 12,735,254 98.8 27,034,552 95.5 46,484,406 98.2
Tổng 12,887,603 100.0 28,360,548 100.0 47,343,313 100.0
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh đối ngoại 2003 - 2005)
Bảng trên cho ta thấy tỷ trọng giữa doanh số L/C nhập và doanh số L/Cxuất chênh lệch nhau khá lớn: năm 2003, doanh số L/C nhập lên tới gần 13
Trang 33triệu USD, gấp tới hơn 83 lần doanh số L/C xuất (chỉ có hơn 150 nghìn USD),đến năm 2004, tỷ trọng L/C xuất có tăng lên một chút (chênh lệch hơn 20 lần)thì đến năm 2005 thì sự chênh lệch này lại tăng lên 54 lần (L/C nhập:46,484,406 USD, trong khi L/C xuất: 858,907 USD chiếm 1,84%):
uy tín., các doanh nghiệp xuất khẩu cũng chỉ mới phát triển trong những năm gầnđây, còn ít kinh nghiệm trong hoạt động ngoại thương Thêm vào đó tính cạnhtranh chưa cao nên tỏ ra yếu thế với các bạn hàng nước ngoài, chưa ký đượcnhiều hợp đồng xuất khẩu Chính điều này đã gây nên sự mất cân đối trong thuchi ngoại tệ của Chi nhánh, nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu thấp hơn rất nhiều sovới nguồn phải thanh toán nhập khẩu
Loại L/C được sử dụng phổ biến nhất hiện nay tại NHNo & PTNTNam Hà Nội là L/C không huỷ ngang Ngoài ra còn có một số loại L/C khácnhư L/C không huỷ ngang có xác nhận, L/C chuyển nhượng… nhưng khôngđáng kể Thị trường thanh toán lớn nhất của Chi nhánh chủ yếu tập trung ở
0 10000 20000 30000 40000 50000
2003 2004 2005
L/C XK L/C NK
Trang 34khu vực Châu á như Trung Quốc, Hồng Kông, Singapore…
Từ những kết quả trong thanh toán L/C tại Chi nhánh trong những nămqua, chúng ta có thể thấy rằng L/C là phương thức được sử dụng nhiều nhất
và đống vai trò quan trong trong hoạt động TTQT tại Ngân hàng Do đó, hấuhết những rủi ro phát sinh và tranh chấp đều rơi vào phương thức này
2.2.2.Thực trạng rủi ro tín dụng chứng từ tại NHNo&PTNT Chi nhánh Nam
Hà Nội
Chúng ta cần hiểu rủi ro cho ngân hàng, đó không chỉ đơn thuần là sựmất vốn mà còn có thể là: đọng vốn trong thanh toán, kéo dài thời hạn thanhtoán, thanh toán trả chậm, nợ quá hạn, uy tín bị suy giảm Trong TTQT, mặc
dù được đánh giá là phương thức tối ưu nhất nhưng phương thức TDCT vẫnluôn tiềm ẳn những rủi ro Các rủi ro này có thể phát sinh trong bất cứ giaiđoạn nào trong quy trình thanh toán kể từ khi phát hành L/C, thông báo L/C,xác nhận cho đến giai đoạn thanh toán Không chỉ gây thiệt hại về mặt kinh
tế, những rủi ro này còn làm tổn hại đến uy tín của Ngân hàng, từ đó gây ảnhhưởng đến hoạt động kinh doanh chung Trong những năm qua, mặc dù đã ápdụng những phương pháp tối ưu nhằm hạn chế và phòng ngừa rủi ro nhưnghoạt động thanh toán TDCT của NHNo & PTNT Nam Hà Nội vẫn còn gặpphải những rủi ro sau:
a Rủi ro tác nghiệp
Đây là loại rủi ro do những sai sót mang tính kỹ thuật trong quy trìnhthanh toán L/C, như sự khác nhau giữa bộ chứng từ thanh toán với nội dung quyđịnh trong L/C hay việc các bên tham gia thực hiện sai một khâu trong quy trìnhnghiệp vụ thanh toán… Đặc thù của phương thức TDCT là các Ngân hàng chỉlàm việc trên bề mặt chứng từ nên nó có sự đòi hỏi rất khắt khe về sự phù hợptuyệt đối giữa bộ chứng từ thanh toán và L/C Vì vậy, những tranh chấp, kiệntụng xảy ra do sai sót trong quá trình lập chứng từ hay quy trình nghiệp vụ… của
Trang 35các bên có liên quan là không thể tránh khỏi Theo số liệu thống kê, hiện nay tỷ
lệ sai sót trong các bộ chứng từ được xuất trình tại Chi nhánh là rất lớn, khoảng30% Những rủi ro loại này không những ảnh hưởng lớn tới uy tín mà đôi khicòn mang lại cả những tổn thất về vật chất cho Ngân hàng
* Rủi ro trong thanh toán L/C nhập khẩu
Ngân hàng tham gia nghiệp vụ này với tư cách là Ngân hàng phát hành
Vì L/C nhập khẩu chiếm tỷ trọng lớn trong thanh toán TDCT nên những rủi
ro tác nghiệp cũng xảy ra ở nghiệp vụ này là chủ yếu
Rủi ro từ phía khách hàng thường là những sai sót trong bộ chứng từ trìnhNgân hàng Đó có thể là những sai sót nhỏ như sai tên, địa chỉ của các bên cóliên quan, mô tả hàng hoá…như trường hợp của Công ty CP xe buýt ThăngLong đề nghị Ngân hàng mở L/C trị giá 108,174.00 USD để nhập khẩu thiết bịmạng từ Công ty TORY LTD nhưng trong bộ chứng từ do bạn hàng nước ngoàilập khi gửi về đã ghi sai tên Ngân hàng phát hành Hoặc cũng có thể là sai sótlớn như thiếu loại chứng từ, nội dung chứng từ khác biệt so với L/C… Đó làtrường hợp Công ty TNHH Hoá chất và Vật tư kỹ thuật Sông Lam mở L/C đểnhập Axit stearic từ Singapore, trị giá L/C là 8,662.50 USD, trong L/C có quy
định về quy cách hàng hoá là: Nồng độ: 33%, nhưng trong bộ chứng từ do bên bán xuất trình tại Ngân hàng lại ghi là: Nồng độ: 38%, NHNo & PTNT Nam Hà
Nội đã từ chối chấp nhận chứng từ do có điểm không ăn khớp Sau đó, Ngânhàng nước ngoài đã phải gửi bộ chứng từ có sự chứng nhận lần thứ hai của Công
ty giám sát về quy cách hàng hoá đúng như yêu cầu nhưng đã làm chậm trễ quátrình thanh toán, gây thiệt hại cho cả bên mua và bên bán Bên cạnh đó những saisót của bộ chứng từ có thể được người bán chủ động sửa chữa như sai sót tronghoá đơn thương mại, bảng kê chi tiết hàng hoá… nhưng cũng có những sai sóttrong chứng từ do bên thứ ba lập mà người bán không thể khắc phục được nhưsai sót trong vận đơn, xuất xứ hàng hoá, phiếu kiểm định hàng hoá… Nói chung,
Trang 36đối với những sai sót loại này, Ngân hàng thường từ chối thanh toán để bảo vệcho quyền lợi của khách hàng nhập khẩu trong nước nhưng nhiều khi khôngđước nhà xuất khẩu chấp nhận dẫn đến tranh chấp gây ra nhiều thiệt hại choNgân hàng cả về tài chính lẫn uy tín đối với khách hàng.
Ngoài những sai sót do nguyên nhân từ phía khách hàng, rủi ro trongthanh toán L/C nhập khẩu còn bắt nguồn từ bản thân Ngân hàng Trong nghiệp
vụ này, Ngân hàng có nhiệm vụ mở L/C, tu chỉnh L/C, kiểm tra chứng từ vàthanh toán Do vậy ở bất kỳ khâu nào, sai sót cũng có thể xảy ra nhưng thườnggặp nhất là trong nghiệp vụ kiểm tra chứng từ Quá trình xem xét và kiểm trachứng từ, nếu phát hiện có sai sót thì Ngân hàng phải thông báo ngay cho bênmua, nếu họ vẫn chấp nhận thanh toán thì Ngân hàng sẽ tiến hành thanh toán vàthu phí bất hợp lệ của bộ chứng từ Trong trường hợp ngược lại, Ngân hàng phảigửi điện thông báo sai sót cho Ngân hàng nước ngoài trong vòng 7 ngày Tại Chinhánh đã xảy rủi ro trong thanh toán bộ chứng từ do bên xuất khẩu là Công tyHEESUNG CABLE LTD của Hàn Quốc lập khi xuất khẩu dây cáp điện choCông ty TNHH sản xuất và thương mại Đại Liên Khi phát hiện ra có sự sai sóttrong chứng từ, Ngân hàng không gửi điện từ chối thanh toán ngay cho Ngânhàng nước ngoài là KOREA EXCHANGE BANK mà lại thông báo cho Công tyĐại Liên trước làm cho điện từ chối đến chậm, quá thời hạn 7 ngày nên Ngânhàng nước ngoài đã bác bỏ lời từ chối, gây thiệt hại lớn cho Ngân hàng Cũng cótrường hợp Công ty CP xây lắp Công nghiệp yêu cầu Chi nhánh mở L/C để nhậpkhẩu thiết bị máy móc từ Công ty CPC CORP Khi nhận được bộ chứng từ từphía nhà xuất khẩu, Ngân hàng đã không phát hiện ra sai sót nhỏ trong mô tảhàng hoá rất phức tạp mà vẫn tiến hành thanh toán Nhưng doanh nghiệp nhậpkhẩu đã căn cứ vào sai sót đó để trì hoãn việc thanh toán, gây thiệt hại lớn choNgân hàng
* Rủi ro trong thanh toán L/C xuất khẩu
Mặc dù chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong thanh toán TDCT nhưng
Trang 37những rủi ro phát sinh trong nghiệp vụ này cũng không phải hiếm Nguyênnhân của rủi ro cũng có nguồn gốc từ phía khách hàng và từ chính Ngân hàng,ngoài ra còn có những nguyên nhân khách quan khác.
Bộ chứng từ do khách hàng của Ngân hàng, nhà nhập khẩu lập cũng gặpnhiều sai sót Đó cũng có thể là những sai sót đơn giản, hoặc những sai sót khánghiêm trọng, ảnh hưởng tới qua trình thanh toán Ví dụ như trường hợp Công
ty HATRAPACO xuất khẩu tủ gỗ sang Công ty HOME DECOR của Italia vớigiá trị L/C là 25,145.00 USD, trong L/C quy định chuyển tải qua Hồng Kông,nhưng vì không thuê được tàu nên Công ty đã giao hàng chuyển tải quaSingapore, do đó bị nhà nhập khẩu từ chối thanh toán Hay trong bộ chứng từcủa Công ty AZIZ MOHAMMED TRADING lập để thanh toán L/C choUNIMEX khi công ty này nhập khẩu gạo khi gửi sang NHNo & PTNT Nam
Hà Nội chỉ có hai bản vận đơn gốc (trong UCP 500 quy định chứng từ phải có
đủ 3 bản vận đơn gốc) Nói chung, số chứng từ có sai sót chiếm một tỷ lệ lớn,
mà chứng từ không phù hợp với L/C thì việc thanh toán không thể thực hiệnđược, làm cho thời gian thanh toán luôn bị kéo dài do phải sửa chữa nhiều lần.Phần lớn những sai sót này được Ngân hàng phát hiện, thông báo cho nhà xuấtkhẩu để kịp thời sửa chữa, xử lý Nhưng cũng có những lỗi không thể sửa chữađược mà phải chờ sự đồng ý của bên mua, làm kéo dài thời gian thanh toán,khiến cho nhà xuất khẩu không thể đáp ứng yêu cầu vòng quay của vốn Hơnnữa, bên bán còn phải chịu phạt sai sót chứng từ theo quy định của L/C Vànhững sai sót dù nhỏ trong chứng từ cũng có thể là lý do để người mua giảmgiá hoặc từ chối thanh toán Trong trường hợp này thì người bán phải chịu rủi
ro lớn nhất, song với tư cách là người cố vấn và bảo vệ quyền lợi cho kháchhàng, uy tín của Ngân hàng cũng bị ảnh hưởng khi quá trình thanh toán khôngsuôn sẻ, quyền lợi của khách hàng không được bảo vệ
Trong nghiệp vụ thanh toán L/C xuất khẩu, với tư cách là Ngân hàng củanhà xuất khẩu, NHNo & PTNT Nam Hà Nội có nhiệm vụ kiểm tra L/C, thôngbáo L/C, kiểm tra bộ chứng từ hàng xuất và giải quyết bộ chứng từ sau khi đã
Trang 38kiểm tra Cũng giống như đối với thanh toán L/C nhập khẩu, những rủi ro tácnghiệp rủi ro mà Ngân hàng thường gặp do nguyên nhân từ chính bản thân Ngânhàng hay phát sinh trong khâu kiểm tra chứng từ Chỉ một sự thiếu cẩn trọngkhông phát hiện ra sai sót dù nhỏ trong bộ chứng từ cũng có thể khiến cho nhàxuất khẩu không được thanh toán, khiến cho uy tín của Ngân hàng bị giảm sút.
Ngoài hai nguyên nhân chủ yếu trên, Ngân hàng còn gặp phải rủi ro tácnghiệp do một số nguyên nhân khách quan khác Ví dụ như trường hợp Công tyXNK Điện Biên sau khi xuất hàng là gỗ giáng hương cho bên đối tác (TICHING
CO LTD đã xuất trình bộ chứng từ tại Chi nhánh NHNo & PTNT Nam Hà Nội.Sau khi kiểm tra chứng từ thấy phù hợp, Ngân hàng gửi bộ chứng từ cho LANDBANK OF TAIWAN để yêu cầu thanh toán Nhưng sau một thời gian hợp lý màvẫn không nhận được tiền thanh toán từ phía Ngân hàng phát hành, Chi nhánh
đã điện giục thanh toán và nhận được điện trả lời rằng họ đã nhận bảo lãnh vàsẵn sàng thanh toán khi nhận được chứng từ Sau khi kiểm tra với cơ quanchuyển phát nhanh, Ngân hàng mới biết rằng bộ chứng từ đã bị thất lạc trênđường đi Hoặc có trường hợp do đường truyền kém làm cho L/C nhận đượckhông rõ ràng, thậm chí không đọc được và nhận sai số điện; hay khi thông báoL/C, cũng do đường truyền kém làm bức điện không rõ ràng, khiến Ngân hàngphát hành phải yêu cầu lập lại bức điện
Có thể nói rằng, kiểm tra chứng từ là một khâu hết sức quan trọng trongthanh toán, cả L/C nhập khẩu và L/C xuất khẩu, hầu hết những rủi ro tác nghiệpđều phát sinh trong khâu này Chính vì vậy, cán bộ Ngân hàng cần phải luônluôn thận trọng để không bỏ qua sai sót của người lập chứng từ, nhằm bảo vệquyền lợi cho khách hàng và cũng chính là bảo vệ cho uy tín của Ngân hàng
b Rủi ro tín dụng
Đây là loại rủi ro chủ yếu và dễ xảy ra nhất, đồng thời cũng để lại hậu quảnặng nề nhất cho các Ngân hàng Lý do chủ yếu là các doanh nghiệp xuất nhậpkhẩu Việt Nam còn yếu về thực lực tài chính cũng như thiếu về kinh nghiệm kinhdoanh, hoạt động của họ chủ yếu dựa vào Ngân hàng nên kết quả kinh doanh của
Trang 39họ ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín cũng như chất lượng tín dụng của Ngân hàng,khiến cho Ngân hàng luôn phải đối mặt với nguy cơ rủi ro tiềm ẩn.
* Rủi ro tín dụng trong thanh toán hàng nhập khẩu
Đối với NHNo & PTNT Nam Hà Nội nói riêng và với các NHTM ViệtNam nói chung thì hiện nay, doanh số thanh toán L/C cho hàng nhập khẩu luônchiếm tỷ trọng chủ yếu so với tổng doanh số thanh toán L/C của Chi nhánh Chính
vì thế, những rủi ro tín dụng rất dễ xảy ra với nghiệp vụ thanh toán này Người tathường sử dụng một số chỉ tiêu cơ bản để đánh giá mức độ rủi ro này
Chỉ tiêu đầu tiên để xác định nguy cơ rủi ro của Ngân hàng là doanh
số L/C chưa thanh toán, nó phản ánh số L/C mà Ngân hàng đứng ra bảolãnh nhưng chưa tất toán được, thường là L/C trả chậm Trong những nămvừa qua, doanh số thanh toán L/C nhập tại NHNo & PTNT Nam Hà Nộiliên tục tăng nhưng doanh số chưa thanh toán lại giảm đáng kể khiến cho
tỷ trọng doanh số chưa thanh toán có xu hướng giảm rõ rệt:
Bảng 3: Doanh số L/C chưa thanh toán (2003 - 2005)
tại NHNo & PTNT Nam Hà Nội
Đơn vị: USD Năm Doanh số thanh
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh đối ngoại 2002 - 2004)
Năm 2003, nguy cơ rủi ro đối với Chi nhánh là rất cao khi doanh sốchưa thanh toán lên tới 5,132,412 USD, chiếm 28.7% tổng doanh số thanhtoán L/C nhập Nguyên nhân chính của tình trạng này là trong năm đó cónhiều khách hàng mở L/C trả chậm, sau khi đã nhận hàng lại kinh doanh thua
lỗ nên đến hạn không thể thanh toán cho Ngân hàng Rút kinh nghiệm, sangnăm 2004, Chi nhánh đã quy định những điều kiện chặt chẽ đối với các doanhnghiệp để hạn chế mở L/C trả chậm, đó là:
Trang 40- Doanh nghiệp phải có khả năng tài chính đảm bảo thanh toán L/Ctrong thời hạn cam kết đã quy định trong L/C.
- Trường hợp ký quỹ dưới 100% giá trị L/C thì phải có cam kết bằng vănbảo đảm bảo số dư tài khoản của doanh nghiệp mở tại Chi nhánh vào thời điểmthanh toán đủ để Ngân hàng thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho nước ngoài
- Tại thời điểm xin mở L/C, doanh nghiệp không vi phạm cam kết dẫnđến chậm trễ trong thanh toán hoặc buộc Ngân hàng phải ứng trước tiền đểthanh toán cho các L/C trả chậm trước đó
- Có bảo đảm hợp pháp bằng một hoặc nhiều hình thức (ký quỹ, cầm cố,thế chấp tài sản…) cho việc mở L/C trả chậm theo yêu cầu của Ngân hàng
Nhờ đó mà doanh số chưa thanh toán của năm 2004 chỉ còn 1,755,191USD, chiếm tỷ trọng 6.1% Và sang năm 2005, chỉ tiêu này tiếp tục giảm xuốngcòn 1,264,038 USD, chiếm 2.6% so với tổng doanh số thanh toán L/C nhập
Do hoạt động TTQT còn khá mới mẻ và chưa có nhiều kinh nghiệm,NHNo & PTNT Nam Hà Nội rất thận trọng trong việc thẩm định khách hàng.Trong thủ tục mở L/C, khách hàng bao giờ cũng phải ký quỹ, nhưng thôngthường họ chỉ ký quỹ một phần, phần còn lại là Ngân hàng cho vay Tỷ lệmiễn ký quỹ càng cao thì nguy cơ rủi ro của Ngân hàng càng lớn Chính vìvậy, khi nhận kí quỹ, Ngân hàng phải kiểm tra tính xác thực của tài khoản kíquỹ để tránh giả mạo Đồng thời, khách hàng phải cam kết sẽ nộp phần cònlại bằng nguồn vốn nào Nếu bằng nguồn vốn tự có thì phải nộp lúc nhậnchứng từ Nếu bằng nguồn vốn vay ngoại tệ của ngân hàng thì phải làm thủtục vay ngắn hạn Căn cứ vào việc thẩm định, phân loại khách hàng và hạnmức mở L/C, Giám đốc Chi nhánh giao cho phòng TTQT hoặc phòng Tíndụng thẩm định hồ sơ, đề xuất mức ký quỹ dựa trên cơ sở bảo đảm an toànthanh toán và thu hút khách hàng trên địa bàn, cụ thể là:
- Chi nhánh không miễn ký quỹ 100% cho bất kỳ khách hàng nào