luận văn về nghiên cứu phục hồi chức năng sinh hoạt hàng ngày cho bệnh nhân liệt nửa người do tai biến mạch máu não
Trang 1Bớc đầu nghiên cứu phục hồi chức năng sinh hoạt hàng ngày
cho bệnh nhân liệt nửa ngời
do tai biến mạch máu não
hà nội- 2003
bộ giáo dục và đào tạo bộ y tế
trờng đại học y hà nội
Vũ mạnh hùng
luận văn tốt nghiệp bác sĩ y khoa
khoá 1997- 2003
bộ giáo dục và đào tạo bộ y tế
trờng đại học y hà nội
Vũ mạnh hùng
Trang 2Bớc đầu nghiên cứu phục hồi chức năng sinh hoạt hàng ngày
cho bệnh nhân liệt nửa ngời
do tai biến mạch máu não
luận văn tốt nghiệp bác sĩ y khoa
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan: Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kếtquả thu đợc là hoàn toàn sự thật, và cha đợc công bố trong bất kì công trìnhnghiên cứu nào khác
Hà Nội, ngày 20 tháng 06 năm 2003 Sinh viên
Vũ Mạnh Hùng
Trang 3lời cảm ơn
Nhân dịp luận văn đợc hoàn thành, cho phép tôi đợc bày tỏ lòng biết ơn sâusắc và lời cảm ơn chân thành nhất đến:
Tiến sĩ: cao minh châu
Phó trởng bộ môn Phục Hồi Chức Năng trờng Đại Học Y Hà Nội Ngời thầykính mến đã hết lòng dạy dỗ, tận tình hớng dẫn, truyền thụ những kiến thức vàkinh nghiệm quý báu, dìu dắt tôi trên con đờng nghiên cứu khoa học và trực tiếpgiúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Xin đặc biệt chân thành cảm ơn quý thầy cô đã dạy dỗ, giúp đỡ tôi trong quátrình học tập, nghiên cứu khoa học và góp nhiều ý kiến quý giá cho tôi trong quátrình thực hiện luận văn:
Phó giáo s - Tiến sĩ: nguyễn xuân nghiên
Trởng bộ môn Phục Hồi Chức Năng trờng Đại Học Y Hà Nội Trởng khoaPhục Hồi Chức Năng Bệnh viện Bạch Mai Hà Nội
Tiến sĩ: Lê văn thính
Trởng khoa Thần Kinh bệnh viện Bạch Mai Hà Nội
Tôi xin chân thành cảm ơn:
Ban giám hiệu và Phòng đào tạo đại học trờng Đại Học Y Hà Nội
Bộ môn Phục Hồi Chức Năng trờng Đại Học Y Hà Nội
Khoa Phục Hồi Chức Năng Bệnh viện Bạch Mai Hà Nội
Ban giám đốc bệnh viện Bạch Mai Hà Nội
Trang 4Đã tạo điều kiện thuận lợi và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập,thực hiện luận văn tốt nghiệp.
Tất cả các bệnh nhân đã đồng ý cho tôi thu thập kết quả nghiên cứu và cáctác giả có công trình nghiên cứu xin đợc tham khảo trong luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cha mẹ, gia đình tôi và bạn bè thânthiết đã động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi và hết lòng cổ vũ tôi trong quátrình học tập và nghiên cứu khoa học
các từ viết tắt
1 - Phục Hồi Chức Năng ( PHCN )
2- Tai biến mạch máu não ( TBMMN )
3- Tổ chức Y tế thế giới ( WHO )
Trang 5Đặt vấn đề
Tai biến mạch máu não là một vấn đề lớn của Y học các nớc trong nhiều thập
kỷ qua Bệnh do nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể gây tử vong nhanh chónghoặc để lại nhiều di chứng nặng nề, đặc biệt là các di chứng về vận động Đó làgánh nặng không chỉ đối với ngời bệnh, gia đình mà còn ảnh hởng đến cả cộng
đồng và quốc gia của họ
Theo công bố của tổ chức Y tế thế giới (WHO) tai biến mạch máu não lànguyên nhân gây tử vong hàng thứ ba sau ung th và tim mạch
Tai biến mạch máu não có nhiều triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng Trong
đó liệt nửa ngời là triệu chứng hay gặp và cũng là nguyên nhân chủ yếu gây racác biến chứng thứ phát nguy hiểm khác
Trong điều trị TBMMN, vấn đề đặt ra, không phải chỉ thêm năm tháng chocuộc sống (tức kéo dài tuổi thọ), mà phải thêm sức sống cho năm tháng (tức chấtlợng cuộc sống) Muốn vậy, ngoài việc luyện tập thể chất, tinh thần, ngời bệnhcòn phải lo bảo vệ sức khoẻ chống bệnh tật
Ngày nay với sự tiến bộ không ngừng của y học, nhiều phơng tiện chẩn đoán
và phơng pháp điều trị hiện đại đã giúp cho việc dự phòng, điều trị và PHCN cóhiệu quả cao hơn, cải thiện đáng kể tiên lợng của ngời bệnh
Khả năng phục hồi của ngời bệnh TBMMN phụ thuộc rất nhiều vào việc chẩn
đoán, điều trị, PHCN và dự phòng kịp thời
Hiện nay ở Việt Nam, vấn đề phục hồi sau TBMMN ngày càng đợc quan tâmhơn Những ngời bị liệt nửa ngời do TBMMN cũng đợc phục hồi vận động tốthơn, giúp họ đợc tái hội nhập với xã hội
Để đánh giá sự phục hồi đó, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu:
" Bớc đầu nghiên cứu phục hồi chức năng sinh hoạt hàng ngày cho bệnh nhân liệt nửa ngời do tai biến mạch máu n o"ão"
với mục đích: Tìm hiểu kết quả PHCN sinh hoạt hàng ngày của ngời bệnh liệtnửa ngời do TBMMN tại các thời điểm đánh giá khác nhau
phần 1: Tổng quan tài liệu
1.1- Đinh nghĩa TBMMN:
Trang 6Theo WHO: "Tai biến mạch máu não là sự xảy ra đột ngột các thiếu sót chứcnăng thần kinh trung ơng, thờng là khu trú hơn là lan toả, tồn tại quá 24 giờ hoặcgây tử vong trong vòng 24 giờ, các khám nghiệm loại trừ nguyên nhân chấn th-
ba sau bệnh tim mạch và ung th [18]
Tại Hoa Kỳ, hàng năm có khoảng 500.000 ngời bị tai biến mạch máu não,trong số đó thì 1/3 bị tử vong và giảm khả năng, tỉ lệ tử vong trong 1 tháng đầuchiếm 30 - 40% và 2/3 số bệng nhân sống sót trở thành tàn tật, 50% bệnh nhânsống sót 7 năm sau tai biến mạch máu não và 35% sau 10 năm [41]
Theo số liệu thống kê của WHO năm 1990 ớc tính có 2,1 triệu ngời bị tử vongvì tai biến mạch máu não tại châu á bao gồm 1,3 triệu ngời ở Trung Quốc,448.000 ngời ở ấn Độ và 390.000 ngời ở các nơi khác trừ Nhật Bản.[18]
Bệnh nhân vào điều trị tai biến mạch máu não ở Trung Quốc là 40%, ấn Độ là11%, Philipin là 10%, Hàn Quốc là 16%, Indonesia là 8%, Việt Nam là 7%, TháiLan là 6%, Malaysia là 2%[18]
Lê Văn Thành khi nghiên cứu 1036 bệnh nhân tai biến mạch máu não trong
10 năm (1981 - 1990) đã thấy tỉ lệ nhồi máu não là 76%[27]
Kể từ tháng 9 năm 1997 đến tháng 6 năm 2000 tai khoa thần kinh bệnh việnBạch Mai đã tiếp nhận khoảng 1.220 bệnh nhân tai biến mạch máu não tuổi từ 11
- 89.[17]
Tỉ lệ di chứng nhẹ và vừa của tai biến mạch máu não là 68,42%, tỉ lệ di chứngnặng là 27,69%, trong đó di chứng về vận động chiếm 92,96% tổng số bệnh nhân
Trang 7liệt nửa ngời Tỉ lệ tai biến mạch máu não đang sống tại cộng đồng có nhu cầuphục hồi chức năng là 94%.[18]
1.3- Tình hình di chứng và tàn tật do tai biến mạch máu não trên thế giới và Việt Nam:
1.3.1- Trên thế giới:
Theo WHO có từ 1/3 đến 2/3 ngời bệnh sống sót sau tai biến mạch máu nãotrở thành tàn tật vĩnh viễn Còn Hakett cho biết 61% ngời bệnh sống sót sau taibiến mạch máu não để lại di chứng, 50% phải phụ thuộc ngời khác trong sinhhoạt hàng ngày [21]
Tại Pháp, có 50% tàn phế do tai biến mạch máu não.[21]
Theo David [15] các di chứng thờng gặp trong bộ máy vận động bao gồm: + Đau khớp vai bên liệt do không cử động đợc hết tầm chiếm 45% bệnh nhânliệt nửa ngời
+ Gập khớp khuỷu do cơ gập khuỷu ngắn lại chiếm 73%
+ Gập khớp cổ tay ở phía lòng bàn tay do mất chức năng gập phía lng bàn tay
và duỗi các ngón tay chiếm 92%
+ Quay sấp cổ tay bên liệt chiếm 75%
+ Khớp gối bên liệt luôn duỗi gây khó khăn khi đi lại chiếm 88%
+ Gân Achille ngắn lại gây "bàn chân rủ" chiếm 94%
Theo Russell [15] 50% bệnh nhân sống sót sau tai biến mạch máu não bị tàntật
Qua thời kỳ điều trị tại bệnh viện, căn cứ vào cuộc điều tra ở Framingham:84% ngời bệnh sống sót sau tai biến mạch máu não trở thành ít nhiều tàn phế,phải sống ở nhà hoặc lệ thuộc vào ngời khác [15]
1.3.2- VIệt Nam:
Theo Nguyễn Văn Đăng, di chứng nhẹ và vừa chiếm tỉ lệ cao 68,42%, dichứng về vận động chiếm 92,62%.[14]
Theo Cao Minh Châu và cộng sự nghiên cứu thấy di chứng về vận động chiếm
tỉ lệ cao gồm: Đau khớp vai chiếm 69,88%, Quay sấp cẳng tay chiếm 73,49%,còn gập phía lòng khớp cổ tay chiếm 87,95% và gập phía lòng khớp cổ chânchiếm 96,39% [2]
Theo Trần Văn Chơng và cộng sự di chứng về vận động do tai biến mạch máunão chiếm tỉ lệ cao, co rút gập mặt lòng cổ tay chiếm 87,90%, co rút gân gót bên
Trang 8liệt chiếm 93,60%, quay sấp cẳng tay bên liệt chiếm 73,40% và khớp háng bênliệt không gấp khi đi bình thờng chiếm 90,30%.[4]
1.4- Các nghiên cứu về TBMMN trên thế giới và Việt Nam:
1.4.1- Các nghiên cứu trên thế giới:
Theo Sveen U và cộng sự, mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày cao haythấp phụ thuộc không nhỏ vào tình trạng chức năng vận động nhiều hay ít.[53] Yamashita K và cộng sự khi nghiên cứu các yếu tố ảnh hởng đến mức độ độclập trong sinh hoạt hàng ngày ở những bệnh nhân TBMMN thấy hai yếu tố chính
ảnh hởng đến mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày là chỉ số mức độ độc lậptrong sinh hoạt hàng ngày ngay trớc khi tiến hành PHCN và khoảng thời gian kể
từ khi bệnh khởi phát đến khi bắt đầu tiến hành PHCN.[55]
Ishikawa R và cộng sự cho rằng phục hồi mức độ độc lập trong sinh hoạt hàngngày liên quan mật thiết với nhóm tuổi, thời gian nằm viện, thị lực và khả năng
định hớng của bệnh nhân.[42]
Pederson P.M và cộng sự cho rằng các bệnh nhân TBMMN có khiếm khuyết
về định hớng sẽ ảnh hởng tới mức độ độc lập trong các sinh hoạt hàng ngày.[49] Theo Jorgensen H.S và cộng sự tỉ lệ độc lập trong các sinh hoạt hàng ngày caohay thấp phụ thuộc vào mức độ TBMMN nặng hay nhẹ.[43] Mức độ TBMMNcàng nặng thì sự phục hồi về chức năng trong sinh hoạt hàng ngày càng khókhăn.[44]
Okamusa T và cộng sự khi nghiên cứu sự tham gia của các kỹ thuật viên vật lýtrị liệu trong chơng trình PHCN dựa vào cộng đồng, thấy rằng việc tiến hành th-ờng xuyên các chơng trình PHCN và sự tham gia của các kỹ thuật viên vật lý trịliệu có tác dụng tốt cải thiện mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của bệnhnhân.[48]
Nakayama H và cộng sự khi nghiên cứu ảnh hởng của tuổi tới kết quả hồiphục của TBMMN thấy rằng mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của ngờitrẻ tuổi phục hồi tốt hơn ngời cao tuổi.[47]
Tiến hành theo dõi 50 ngời dới 18 tuổi, Hurvitz E.A và cộng sự thấy tuổi trẻ làyếu tố thuận lợi cho sự phục hồi về mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày.[39]
Nghiên cứu khác nhau trong hồi phục về chức năng theo giới của 165 ngờibệnh sau 1 năm bị TBMMN Wyller T.B và cộng sự cho biết mức độ độc lập trongsinh hoạt hàng ngày của nam giới cao hơn so với nữ giới.[54]
Trang 9Chae.J và cộng sự, nghiên cứu trên hai nhóm bệnh nhân chảy máu não và nhồimáu não, sau PHCN thấy rằng mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày giữa hainhóm không có sự khác nhau.[28]
Một công trình nghiên cứu trong bệnh viện ở Anh, tổng kết dựa vào hỏi ngờibênh sống sót sau TBMMN 3 tháng cho biết: Nếu ngời bệnh ngay từ đầu không
tự đi lại, mặc quần áo, ăn uống, ra khỏi giờng để tự ngồi vào ghế bánh thì số ngờimay mắn tự làm đợc việc đó tơng ứng là 65%, 68%, 54% và 68%: còn nếu ngờibệnh có liệt tay sau 2 tuần không cử động đợc thì số ngời may mắn dùng lại đợccánh tay đó là 14%.[28]
Indredavik B và cộng sự nghiên cứu cho biết những ngời bị TBMMN đựơc ápdụng điều trị và chăm sóc toàn diện khoảng 18,6 ngày nằm viện có: 56% là độclập hoàn toàn trong các sinh hoạt hàng ngày sau 6 tuần và tỉ lệ này là 60% sau 26tuần bị bệnh, còn đối với những ngời không đợc điều trị và chăm sóc toàn diệnchỉ có 48% độc lập hoàn toàn trong các sinh hoạt hàng ngày sau 6 tuần và tỉ lệnày là 49,4% sau 28 tuần bị bệnh.[41]
Nghiên cứu và theo dõi 76 bệnh nhân TBMMN với thời gian PHCN từ 20 đến
171 ngày, Grimby G và cộng sự nhận thấy vào thời điểm kết thúc chơng trình có20% số ngời sau TBMMN độc lập hoàn toàn trong sinh hoạt hàng ngày vàkhoảng 50% cần trợ giúp.[38]
Schutte T và cộng sự tiến hành chơng trình PHCN cho 72 ngời sau TBMMNvới thời gian trung bình là 72,3 ngày thấy rằng 2 năm sau TBMMN có 76,6%tiến bộ về chức năng vận động và 61,1% độc lập hoàn toàn trong sinh hoạt hàngngày.[51]
Tiến hành chơng trình PHCN cho 277 bệnh nhân TBMMN với thời gian nằmviện của nam giới là 57 32 ngày: của nữ giới là 68 40 ngày, Maehlum.S vàcộng sự cho biết có 88% các trờng hợp độc lập hoàn toàn trong sinh hoạt hàngngày khi ra viện.[45]
Samuelsson M và các cộng sự nghiên cứu 81 bệnh nhân nhồi máu não lần đầucho biết: với thời gian dới 3 năm sau TBMMN mức độ độc lập trong sinh hoạthàng ngày chiếm từ 58% đến 64%; còn phụ thuộc hoàn toàn chiếm từ 12% đến24%.[50]
Khi nghiên cứu, theo dõi những ngời sống sót sau TBMMN lần đầu tiên, đểtìm ra những vấn đề trong chơng trình PHCN dựa vào cộng đồng, Motegi A vàcộng sự cho biết 2 năm sau TBMMN có 62% độc lập hoàn toàn trong các sinhhoạt hàng ngày.[46]
Trang 10Bằng phơng pháp phỏng vấn qua điện thoại để nghiên cứu ảnh hởng củaTBMMN đối với chất lợng cuộc sống của 199 bệnh nhân TBMMN lần thứ nhấtvới độ tuổi từ 17 - 49 tại cộng đồng, Alfassa S và cộng sự cho thấy có 86% các tr-ờng hợp độc lập hoàn toàn trong các sinh hoạt hàng ngày sau 1 năm bị bệnh,không có sự thay đổi có ý nghĩa về mức độ độc lập trong các sinh hoạt hàng ngày
ở những năm tiếp theo và họ cho rằng cần phải phát triển mạnh mẽ chơng trìnhPHCN dựa vào cộng đồng.[31]
Tiến hành theo dõi 129 ngời sau TBMMN đã nằm viện điều trị trung bình45,6 ngày và 1/3 các đối tợng này đã đợc điều trị PHCN với thời gian trung bình
là 72,3 ngày, Belanger L và cộng sự cho biết, 6 tháng sau TBMMN có 43% độclập hoàn toàn và 47,5% cần có sự trợ giúp trong sinh hoạt hàng ngày.[34]
Indredavik B và cộng sự nghiên cứu 220 bệnh nhân TBMMN đợc chia thành 2nhóm, mỗi nhóm 110 bệnh nhân, trong đó 1 nhóm đợc can thiệp PHCN, còn 1nhóm không có can thiệp PHCN, kết quả 10 năm sau TBMMN cho thấy: trong sốnhững ngời còn sống ở nhóm có can thiệp PHCN có 51,85% độc lập hoàn toàntrong sinh hoạt hàng ngày, tỉ lệ cần sự trợ giúp và phụ thuộc hoàn toàn trong sinhhoạt hàng ngày chiếm 48,15%; còn ở nhóm không can thiệp điều trị PHCN chỉ
có 42,86% độc lập hoàn toàn; 57,14% cần sự trợ giúp và phụ thuộc hoàn toàntrong sinh hoạt hàng ngày.[40]
Jorgensen và cộng sự khi tiến hành chơng trình PHCN cho bệnh nhânTBMMN với thời gian trung bình là 37 ngày sau khi kết thúc chơng trình, thấy tỉ
lệ các đối tợng có chỉ số Barthel dới 70 điểm chiếm từ 25% - 50%[43] và với thờigian 6 tháng sau TBMMN chỉ có 4% độc lập hoàn toàn đối với TBMMN rấtnặng, 13% độc lập hoàn toàn đối với TBMMN nặng và 37% đối với TBMMNtrung bình, còn đối với TBMMN nhẹ có 68%độc lập hoàn toàn trong sinh hoạthàng ngày.[44]
Tiến hành chơng trình vật lý trị liệu 3 tháng cho 28 ngời có thời gian từ 6 - 12tháng sau TBMMN, Sonde L và cộng sự thấy rằng sau 3 năm chỉ số Barthel củacác trờng hợp này là 78,1 16,6.[52]
Năm 1990, Loewen S.C và Anderson B.A tiến hành nghiên cứu tại trung tâmvật lý và thần kinh học Canada những bệnh nhân sau đột quỵ đợc sử dụng thang
điểm Barthel để đánh giá sự thay đổi của quá trình PHCN ở tay và chân Kết quả
là không có sự thay đổi rõ rệt sau 3 ngày và 1 tuần mà sau 1 tháng mới có sự thay
đổi rõ rệt thể hiện ở mẫu vận động khi đi lại.[28]
Trang 111.4.2- Các nghiên cứu tại Việt Nam:
Nguyễn Thuỳ Hơng cho biết, di chứng của TBMMN thờng là liệt nửa ngời, do
đó ảnh hởng lớn đến sinh hoạt hàng ngày.[19]
Theo Nguyễn Xuân Nghiên và cộng sự với chơng trình PHCN dựa vào cộng
đồng có 43,5% ngời tàn tật hội nhập xã hội [25] còn khi tìm hiểu nhận thức nhucầu và nguyện vọng của ngời tàn tật qua chơng trình PHCN dựa vào cộng đồngtại 3 tỉnh: Thái Bình, Nam Hà, Hoà Bình thấy rằng sự tiến bộ về mặt tinh thần, xãhội và thể chất là đáng ghi nhận tỉ lệ sức khoẻ của ngời tàn tật đợc cải thiện là75,5%, ngời tàn tật có thể chăm sóc bản thân nhiều hơn là 54,4% từ khi tham giavào chơng trình PHCN dựa vào cộng đồng.[24]
Cao Minh Châu và cộng sự qua nghiên cứu tổng kết 83 trờng hợp liệt nửa ngờitại các huyện triển khai chơng trình PHCN dựa vào cộng đồng có sử dụng dụng
cụ PHCN thấy rằng chức năng của ngời tàn tật đợc cải thiện, để phòng đợc các dichứng nặng nề , các biến dạng ở cổ tay, cổ chân so với nơi không có chơng trìnhPHCN dựa vào cộng đồng[1] và 81,4% bệnh nhân liệt nửa ngời có sử dụng dụng
cụ PHCN thì tình trạng tàn tật đợc cải thiện rõ rệt[2]
Theo Dơng Xuân Đạm PHCN vận động cho ngời sau TBMMN là một quátrình lâu dài, chủ yếu là tại cộng đồng, thời gian khoảng từ 12 - 18 tháng.[11] Ngô Đăng Thục khi nghiên cứu 43 bệnh nhân tắc mạch máu não hệ độngmạch cảnh trong thấy rằng: 90,7% các trờng hợp đều tiến triển tốt, đều tự đi lại
đợc, tùy mức độ có thể tự phục vụ trong sinh hoạt cá nhân cho đến mức độ tiếptục làm việc và công tác nh trớc [28] và khi tiến hành theo dõi và điều trị cho 30bệnh nhân nhồi máu não bằng các thuốc Cavinton, thấy rằng 8 tuần sauTBMMN: 67% các đối tợng có chỉ số Barthel từ 70 - 89 điểm và không có trờnghợp nào đạt đợc 90 - 100 điểm.[29]
Nguyễn Văn Đăng cho biết, sau TBMMN thì 15,7% còn cố gắng tự phục vụ
đợc, 33,08% cần sự giúp đỡ 1 phần và 51,15% phụ thuộc hoàn toàn trong sinhhoạt hàng ngày.[15]
Phạm Văn Phú đánh giá tình hình PHCN trong sinh hoạt hàng ngày tại tỉnhThái Bình thấy rằng: Mức độ độc lập hoàn toàn trong sinh hoạt hàng ngày chiếm46,84%, mức độ cần trợ giúp là 47,21%, mức độ phụ thuộc hoàn toàn chiếm tỉ lệthấp 5,95% Mức độ phụ thuộc hoàn toàn của nữ giới cao hơn nam giới.[26]
Trang 122: đối tợng và phơng pháp nghiên cứu
1.Đối t ợng nghiên cứu:
1.1.Nhóm I: Nhóm can thiệp PHCN:
1.1.1.Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân:
Bệnh nhân đợc chẩn đoán TBMMN có triệu chứng liệt nửa ngời dựa vào lâmsàng và cận lâm sàng
Bệnh nhân bị TBMMN lần đầu tiên
Khi vào viện bệnh nhân tỉnh hoàn toàn: Glasgow 15 điểm
Bệnh nhân đợc can thiệp trực tiếp PHCN vận động tại bệnh viện ít nhất 15 ngày
và có sự hớng dẫn tập luyện khi về nhà
1.1.2.Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân:
Bệnh nhân liệt nửa ngời nhng không do TBMMN
Bệnh nhân bị TBMMN không có liệt nửa ngời
Bệnh nhân bị TBMMN lần thứ hai trở đi
Bệnh nhân vào viện trong tình trạng rối loạn ý thức: Glasgow < 15 điểm
1.2 Nhóm II: Nhóm chứng:
1.2.1.Tiêu chuẩn lựa chọn nhóm chứng:
Bệnh nhân đợc chẩn đoán TBMMN có triệu chứng liệt nửa ngời dựa vào lâmsàng và cận lâm sàng
Bệnh nhân bị TBMMN lần đầu tiên
Khi vào viện bệnh nhân tỉnh hoàn toàn: Glasgow 15 điểm
Bệnh nhân không đợc can thiệp trực tiếp PHCN vận động hay hớng dẫn của bác
sĩ chuyên khoa PHCN nhng vẫn đợc điều trị nội khoa thần kinh
1.2.2.Tiêu chuẩn loại trừ:
Bệnh nhân liệt nửa ngời không do TBMMN
Bệnh nhân bị TBMMN không có liệt nửa ngời
Bệnh nhân bị TBMMN lần thứ hai trở đi
Bệnh nhân vào viện trong tình trạng rối loạn ý thức: Glasgow < 15 điểm
2 Ph ơng pháp nghiên cứu:
Phơng pháp đánh giá lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng
Chúng tôi có thể tóm tắt quá trình nghiên cứu nh sau:
Nhóm nghiên cứu Nhóm chứng
Xác định mẫu bệnh ánNghiên cứu giống nhau
Chẩn đoán xác định liệt nửa
sỹ chuyên khoa
Sử dụng chỉ số Barthel để đánh giá
kết quả sau: 30; 60; 90 ngày
So sánh kết quả thu đ ợc giữa 2 nhóm
Trang 133.Cì mÉu:
Chän ngÉu nhiªn mçi nhãm víi N 30 bÖnh nh©n
Trong nghiªn cøu nµy chóng t«i chän: Nhãm can thiÖp PHCN víi n = 30 bÖnhnh©n <nhãm I> vµ nhãm chøng víi n = 32 bÖnh nh©n <nhãm II>
4.Ph¬ng ph¸p xö lý sè liÖu:
Sö dông thuËt to¸n thèng kª y häc khi b×nh ph¬ng (2) vµ xö lý kÕt qu¶ thu
®-îc b»ng ch¬ng tr×nh Epi-info 6.0
Trang 14phÇn 3: kÕt qu¶ nghiªn cøu
B¶ng 3.1 Ph©n bè bÖnh nh©n theo tuæi vµ giíi
NhËn xÐt: Trong sè 30 bÖnh nh©n: bÖnh nh©n tuæi thÊp nhÊt lµ 40; cao nhÊt lµ 80
sè bÖnh nh©n trong nhãm tuæi 60 -> 75 chiÕm tØ lÖ cao nhÊt (46,7%)
Trang 1523.3
10
2026.7
3.36.7
Trang 16Biểu đồ 3.2 Phân bố bệnh nhân theo tuổi và giới ở nhóm II
Bảng 3.3 Phân bố bệnh nhân theo định khu tổn thơng bên liệt ở
nhóm I
Liệt bên phải 10 33,3 6 20,0 16 53,3Liệt bên trái 6 20,0 8 26,7 14 46,7Tổng số 16 53,3 14 46,7 30 100Nhận xét:
Số bệnh nhân liệt bên phải và liệt bên trái chiếm tỉ lệ tơng đơng nhau trong nhóm
nghiên cứu, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
(p > 0,05)
Trang 1753.3 46.7
Bên phải Bên trái
Biểu đồ 3.3 Phân bố bệnh nhân theo định khu tổn thơng bên liệt ở
Số bệnh nhân liệt bên phải và liệt bên trái chiếm tỉ lệ tơng đơng nhau trong nhómchứng, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)
Trang 1846.9 53.1
Bên phải Bên trái
Biểu đồ 3.4 Phân bố bệnh nhân theo định khu tổn thơng bên liệt ở
Trang 19Xuất huyết não 5 15,6 4 12,5 9 28,1
Nhồi máu não 14 43,8 9 28,1 23 71,9
Tổng số 19 59,4 13 40,6 32 100
Nhận xét: Trong số 32 bệnh nhân có: 9 bệnh nhân xuất huyết não chiếm tỷ lệ28,1% Số bệnh nhân nhồi máu não là 23 chiếm tỷ lệ 71,9% Số bệnh nhân nhồimáu não nói chung cũng nh nói riêng cho từng giới đều cao hơn số bệnh nhânxuất huyết não
Trang 213.3 3.4
40
20 13.3
Biểu đồ 3.7 Phân bố bệnh nhân theo thời gian từ khi đột quỵ đến khi bắt
là 20 bệnh nhân (chiếm 66,7%), dới 4 tuần là 10 bệnh nhân (chiếm 33,3%) Sốbệnh nhân đợc tập luyện PHCN trên 4 tuần chiếm tỉ lệ cao hơn ở cả nhóm bệnhnhân xuất huyết não cũng nh nhồi máu não
Trang 22Biểu đồ 3.8 Phân bố bệnh nhân theo thời gian tập luyện PHCN.
Bảng 3.9 Mức độ thiếu sót thần kinh theo nhóm tuổi khi mới vào viện ở
nhóm I.
Tuổi
Chỉ số Barthel Tổng sốTốt Khá Không kết quả
Trang 23103060
14.328.6
Nhận xét: Kết quả PHCN về mức độ thiếu sót thần kinh tốt nhất ở nhóm tuổi 45
-> 59 (tỷ lệ tốt, khá chiếm 80%) Trong khi đó, tỷ lệ không kết quả ở nhóm tuổitrên 75 vẫn cao (66,7%)