Định hướng phát triển kinh tế của nước ta đến năm 2020 là tiếp tục đổi mới toàn diện, thực hiện quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hoá đất nước
Trang 1DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
NHCTVN: Ngân hàng Công thương Việt Nam
NHTM: Ngân hàng thương mại
NHNN: Ngân hàng Nhà nước
DADT: Dự án đầu tư
PASXKD: Phương án sản xuất kinh doanh
Trang 2Mục lục
Trang
CHƯƠNG I: CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN
TRONG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 8
1.1 Khái niệm chung về dự án 8
1.1.1 Khái niệm 8
1.1.2 Phân loại dự án 9
1.1.3 Đặc trưng của dự án 10
1.2 Thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 11
1.2.1 Sự cần thiết thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 11
1.2.2 Nội dung thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 14
1.3 Chất lượng thẩm định tài chính dự án trong cho vay của ngân hàng thương mại 27
1.3.1 Khái niệm 27
1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng thẩm định tài chính dự án 28
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định tài chính dự án.31 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TRONG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG BA ĐÌNH ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH XÂY DỰNG 34
2.1 Giới thiệu khái quát về ngân hàng Công thương Ba Đình 34
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của chi nhánh 34
2.1.2 Cơ cấu tổ chức 35
2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của chi nhánh 37
Trang 32.2 Đặc điểm dự án của các doanh nghiệp ngành xây dựng tại ngân hàng công thương Ba Đình 42
2.2.1 Đặc điểm dự án xây dựng cơ sở hạ tầng 422.2.2 Đặc điểm dự án của các doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng tại
ngân hàng công thương Ba Đình 43
2.3 Thực trạng chất lượng thẩm định tài chính dự án trong cho vay của ngân hàng Công thương Ba đình đối các doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng 44
2.3.1 Quy trình thẩm định dự án 442.3.2 Nội dung tái thẩm định tài chính dự án tại ngân hàng Công thương
Ba Đình 47
2.5 Đánh giá chất lượng thẩm định tài chính dự án trong cho vay tại chi nhánh ngân hàng Công thương Ba Đình đối với các doanh nghiệp ngành xây dựng 54
2.4.1 Kết quả đạt được (2003 – 2005) 542.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 57
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TRONG CHO VAY ĐỐI VỚI CÁC DOANH
NGHIỆP NGÀNH XÂY DỰNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG
CÔNG THƯƠNG BA ĐÌNH 70 3.1 Định hướng trong hoạt động cho vay của chi nhánh ngân hàng Công thương Ba Đình đối với các doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng 70
3.1.1 Định hướng hoạt động cho vay của chi nhánh ngân hàng Công thương Ba Đình 703.1.2 Định hướng trong hoạt động cho vay của chi nhánh ngân hàng Công thương Ba Đình đối với các doanh nghiệp ngành xây dựng 71
Trang 43.2 Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án trong cho vay đối với các doanh nghiệp ngành xây dựng tại chi nhánh
ngân hàng Công thương Ba Đình 71
3.2.1 Nâng cao nhận thức về vai trò của chất lượng thẩm định tài chính dự án trong cho vay 72
3.2.2 Hoàn thiện công tác tổ chức thẩm định tài chính dự án 72
3.2.3 Hoàn thiện phương pháp và nội dung thẩm định tài chính dự án 73
3.2.4 Nâng cao chất lượng thu thập và xử lý thông tin phục vụ cho công tác thẩm định 77
3.2.5 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thẩm định dự án 77
3.2.6 Tăng cường trang thiết bị và công nghệ phục vụ thẩm định dự án 78
3.3 Kiến nghị 79
3.3.1 Kiến nghị đối với chính phủ 79
3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 80
3.3.3 Kiến nghị với Ngân hàng Công thương Việt Nam 81
3.3.4 Kiến nghị đối với Bộ xây dựng 83
3.3.5 Kiến nghị với chủ dự án đầu tư 84
KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Định hướng phát triển kinh tế của nước ta đến năm 2020 là tiếp tục đổimới toàn diện, thực hiện quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hoá đất nước,tiến tới đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại Định hướng này
đã và đang được thực hiện thông qua các hoạt động đầu tư mạnh mẽ trongthời gian qua Nhu cầu vốn đầu tư ngày càng gia tăng đã và đang đặt ra chocác Ngân hàng thương mại nhiều cơ hội và thách thức trong hoạt động chovay
Một hệ thống giao thông thuận tiện, các trung tâm thương mại sầm uất,
… là kết quả và cũng là đòi hỏi tất yếu cho quá trình công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nước Hay nói cách khác quá trình này chỉ có thể thực hiện dựatrên sự phát triển đồng bộ của cơ sở hạ tầng Chính vì vậy, ngành xây dựngluôn đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của đất nước, đặcbiệt trong điều kiện nền kinh tế nước ta đang phát triển như hiện nay Với tốc
độ phát triển của ngành xây dựng, số lượng các dự án xây dựng và dự án củacác doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng tăng nhanh trong thời gian gần đây làmối quan tâm của các Ngân hàng thương mại nói chung và của chi nhánhngân hàng Công thương Ba Đình nói riêng
Tuy nhiên, cho vay theo dự án một mặt đem lại nguồn thu nhập lớn chongân hàng nhưng đồng thời cũng là hoạt động chứa đựng rất nhiều rủi ro chongân hàng Chính vì lẽ đó, ngân hàng cần thẩm định dự án trước khi cho vay Hiện nay chất lượng thẩm định tài chính dự án ở các Ngân hàng thươngmại còn chưa cao, nhiều dự án không phát huy được hiệu quả khi vào hoạtđộng, ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế của đất nước
Với những lý do trên, đề tài: “Nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án trong cho vay tại chi nhánh ngân hàng Công thương Ba Đình đối với các doanh nghiệp ngành xây dựng” được em lựa chọn để viết luận
văn tốt nghiệp
Trang 6Kết cấu của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Chất lượng thẩm định tài chính dự án trong cho vay của
Ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng chất lượng thẩm định tài chính dự án trong cho
vay tại chi nhánh ngân hàng Công thương Ba Đình đối vớicác doanh nghiệp ngành xây dựng
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án
trong cho vay các dự án tại chi nhánh ngân hang Côngthương Ba Đình đối với các doanh nghiệp ngành xây dựng
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn PGS.TS.Vũ Duy Hào vàtoàn thể các cô chú, anh chị cán bộ Phòng Khách hàng số 1 – chi nhánh ngânhàng Công thương Ba Đình, đã tận tình giúp đỡ để em hoàn thành bài viếtnày
Trang 7CHƯƠNG I: CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ
ÁN TRONG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Khái niệm chung về dự án
1.1.1 Khái niệm
Có thể nói đứng trên các quan điểm khác nhau các khái niệm về dự áncũng khác nhau Song một cách tổng quát nhất, dự án được hiểu là tập hợpcác đối tượng được hình thành và hoạt động theo một kế hoạch cụ thể để đạtđược một lợi ích nhất định trong khoảng thời gian xác định
Xét về hình thức: dự án là một bộ hồ sơ tài liệu được trình bày một cáchchi tiết và có hệ thống, cho biết mục tiêu các nguồn lực của đầu tư, thời hạncủa đầu tư cũng như các hoạt động của dự án đầu tư Đây cũng chính là cơ sởchính để các nhà đầu tư thuyết phục ngân hàng ủng hộ về tài chính
Xét về nội dung: dự án là tập hợp các hoạt động liên quan với nhau được
kế hoạch hoá nhằm đạt được các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả
cụ thể trong một thời gian xác định thông qua việc sử dụng nguồn lực xácđịnh
Xét trên góc độ quản lý: dự án được lập như một bản kế hoạch chi tiếtcủa một hoạt động đầu tư, là một công cụ đắc lực của nhà đầu tư cũng nhưcác tổ chức có liên quan bao gồm cả ngân hàng thương mại trong quá trìnhthực hiện quản lý, giám sát tất cả các hoạt động đầu tư
Xét trên góc độ kế hoạch hoá: là công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết củamột hoạt động đầu tư, làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ Dự án
là một hoạt động kinh tế riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hoá nềnkinh tế nói chung
Là một trung gian tài chính và là một đơn vị kinh doanh tiền tệ, ngânhàng luôn cố gắng đáp ứng một cách tốt nhất có thể nhu cầu của khách hàngthông qua các hoạt động nhận tiền gửi, cho vay, cung cấp các dịch vụ nhưthanh toán, tư vấn,…trong đó nhu cầu vay vốn của khách hàng được ngân
Trang 8hàng xem xét quan tâm nhiều mặt nhất vì tín dụng là hoạt động mang lạinhiều lợi ích nhất nhưng đồng thời cũng chứa nhiều rủi ro nhất, đặc biệt đốivới cho vay trung và dài hạn Theo quan điểm của ngân hàng DAĐT/PASXKD là một tập hợp những đề xuất về nhu cầu vốn, cách thức sử dụngvốn, kết quả tương ứng thu được trong một khoảng thời gian xác định đối vớihoạt động cụ thể để sản xuất kinh doanh dịch vụ, đầu tư phát triển hoặc phục
vụ đời sống, trong đó vốn của khách hàng có thời hạn sử dụng dưới 12 thánggọi là phương án sản xuất kinh doanh, trên 12 tháng gọi là DAĐT
Vì vậy khái niệm dự án trong thẩm định tài chính dự án mà luận vănnghiên cứu là một tập hợp những đề xuất về nhu cầu vốn, cách thức sử dụngvốn, kết quả tương ứng thu được với hoạt động cụ thể để sản xuất kinh doanhdịch vụ, đầu tư phát triển hoặc phục vụ đời sống, trong một khoảng thời gianxác định trên 12 tháng
- Dự án đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh: là các dự án có mục tiêutăng cường năng lực sản xuất của doanh nghiệp Các dự án này có quy mônhỏ hơn, thời gian ngắn hơn và mức độ rủi ro ít hơn Dự án đầu tư mở rộngsản xuất kinh doanh gồm 2 loại: dự án đầu tư theo chiều rộng và dự án đầu tưtheo chiều sâu
Dự án đầu tư theo chiều sâu là các dự án nhằm mua sắm, cải tiến thiết bị
Trang 9xưởng mới nhằm cugn cấp những sản phẩm có chất lượng tốt hơn, năng suấtlao động cao hơn.
Dự án đầu tư theo chiều rộng: là các dự án nhằm mua các máy móc thiết
bị đang sử dụng và sửa chữa, mở rộng các trang thiết bị hiện có để tăng thêmsản lượng
Theo lĩnh vực hoạt động trong sản xuất: dự án được chia thành 3 loạisau:
Dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh
Dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng: bao gồm cơ sở hạ tầng kỹ thuật và
cơ sở hạ tầng xã hội
Dự án đầu tư phát triển khoa học - kỹ thuật
Hoạt động đầu tư của các dự án này có mối quan hệ tương hỗ với nhau
Dự án đầu tư phát triển KH – KT và cơ sở hạ tầng nhằm tạo điều kiện cho đầu
tư phát triển sản xuất kinh doanh Ngược lại, thực hiện các dự án đầu tư pháttriển sản xuất kinh doanh sẽ tạo tiềm lực cho đầu tư phát triển KH – KT, cơ
sở hạ tầng và các hoạt động đầu tư
Bên cạnh cách phân loại trên, người ta còn phân loại dự án theo nhiềutiêu thức khác như theo thời gian, loại hình, cấp độ… Mặc dù có thể đượcphân thành các loại khác nhau theo các tiêu thức khác nhau nhưng dù cóthuộc vào bất kỳ loại nào thì các dự án cũng có chung các đặc điểm sau
án có nhu cầu vốn vượt quá khả năng đáp ứng của một ngân hàng đòi hỏinhiều ngân hàng cùng tài trợ
Trang 10- Thời gian vay vốn dài: các dự án thường có thời gian sử dụng vốn vaydài do các tài sản cố định được tạo bởi dự án phải đi vào hoạt động sau mộtthời gian mới đủ tạo ra nguồn thu mới bù đắp chi phí đầu tư Đặc trưng nàykhiến cho dự án chịu tác động của nhiều yếu tố có thể dẫn đến rủi ro Chính vìvậy ngân hàng phải tiến hành thẩm định dự án và lãi suất áp dụng trong chovay dự án thường cao hơn nhiều so với cho vay PASXKD.
- Dự án bị khống chế bởi thời gian và nguồn lực: dự án được thực hiệntrong một khoảng thời gian cụ thể và bị ràng buộc về vốn, vật tư, lao động;đặc biệt các dự án càng lớn thì mức độ ràng buộc về nguồn lực càng cao vàcàng phức tạp
-Dự án tồn tại trong một môi trường không chắc chắn: một dự án đầu tưthường được thực hiện trong một thời gian dài nên rất khó tránh khỏi sự thayđổi của các yếu tố không ổn định về mặt tự nhiên, xã hội, chính trị, kinh tế…hay nói cách khác dự án chứa đựng nhiều yếu tố bất định nên dự án có mức
độ rủi ro cao Đặc điểm này có ảnh hưởng rất lớn đến mức độ thành công của
dự án và là mối quan tâm đặc bịêt của các nhà quản lý dự án
- Dự án có mục đích cụ thể: khi tiến hành hoạt động đầu tư các chủ dự ánphải xác định được đầu tư vào đâu, đầu tư để làm gì… do đó các dự án đầu tưluôn luôn chứa đựng các mục tiêu cụ thể của chủ dự án Các mục tiêu này cóthể là mục tiêu trước mắt hoặc mục tiêu lâu dài tuỳ theo mục đích đầu tư củachủ dự án
1.2 Thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
1.2.1 Sự cần thiết thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
Cho vay là hoạt động kinh doanh đưa lại lợi nhuận chủ yếu cho ngânhàng nhưng đồng thời cũng là hoạt động chứa nhiều rủi ro nhất trong ngânhàng Là một trung gian tài chính, ngân hàng cho vay chủ yếu trên nguồn tiền
Trang 11huy động được vì vậy mục tiêu bảo toàn vốn và đảm bảo khả năng thanhkhoản luôn là mục tiêu hàng đầu của các ngân hàng.
Một hình thức cho vay phổ biến hiện nay ở các ngân hàng thương mại làcho vay theo dự án đầu tư bởi nhu cầu vốn của các dự án thường vượt quá khảnăng tự tài trợ của các chủ dự án Xuất phát từ đặc trưng của dự án là nhu cầuvay vốn lớn, thời gian vay vốn dài, và môi trường thực hiện dự án thườngxuyên thay đổi vì vậy cho vay theo dự án chứa đựng nguy cơ rủi ro cao Sựthất bại của một khoản cho vay đầu tư không chỉ đơn thuần làm giảm lợinhuận của khách hàng mà còn có thể làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toáncủa ngân hàng Hơn nữa, dự án do khách hàng tự xây dưng hoặc thuê tư vấn,
và vì dự án được đệ trình ra ngân hàng với mục đích nhận được sự tài trợ củangân hàng nên thông thường các dự án thường được xây dựng theo hướng cólợi cho khách hàng, do đó có thể ẩn chứa những rủi ro đối với ngân hàng Vớinhững lý do trên, để giảm thiểu rủi ro trong hoạt động cho vay theo dự án đòihỏi ngân hàng phải xem xét, kiểm tra lại dự án một cách độc lập, hay nói cáchkhác cần thẩm định dự án kỹ lưỡng nhằm thực hiện mục đích bảo toàn vốn.Thẩm định dự án là rà soát, kiểm tra lại một cách khoa học, khách quan
và toàn diện các nội dung cơ bản ảnh hưởng đến tính hiệu quả cũng như tínhkhả thi của dự án trước khi ra quyết định đầu tư Thẩm định dự án giúp ngânhàng lường trước các rủi ro có thể xảy ra ảnh hưởng tới quá trình triển khaithực hiện dự án như các yếu tố về công nghệ, sự biến động của thị trường đầuvào, sự thay đổi của công suất, số lượng sản phẩm, giá bán, chi phí sảnxuất….từ đó giúp ngân hàng đưa ra các giải pháp đối với chủ đầu tư, kiếnnghị với các cơ quan quản lý nhà nước để nâng cao tính khả thi trong việcthực hiện dự án và hạn chế, giảm thiểu rủi ro Nội dung thẩm định dự ánthường bao gồm: thẩm định kỹ thuật (gồm thẩm định sự cần thiết của dự án,quy mô của dự án, công nghệ và trang thiết bị, nguồn nguyên liệu và các yếu
tố đầu vào,…), thẩm định kinh tế của dự án và cuối cùng là thẩm định tài
Trang 12chính dự án Trong đó thẩm định dự án về phương diện tài chính là nội dungđược các ngân hàng quan tâm hơn cả.
Thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của ngân hàngthương mại thực chất là việc xác định tính chính xác của những chỉ tiêu màkhách hàng đề xuất để từ đó xem xét dự án sẽ tạo ra những lợi ích tài chính gìtrong tương lai
Thẩm định tài chính dự án là nội dung quan trọng nhất trong thẩm định
dự án, nó đòi hỏi sự tổng hợp của toàn bộ các biến số đã được lượng hoátrong các nội dung thẩm định trước, nhằm phân tích xây dựng những bảng dựbáo tài chính, những chỉ tiêu tài chính phù hợp… từ đó rút ra kết luận chínhxác về tính khả thi của dự án Vì vậy thẩm định tài chính dự án là thước đoquan trọng hàng đầu giúp ngân hàng đưa ra quyết định cuối cùng là chấp nhậntài trợ hay không
Thẩm định tài chính dự án còn giúp ngân hàng xác định hiệu quả vốnđầu tư, khả năng hoàn vốn của dự án, khả năng trả nợ của nhà đầu tư Qua đóngân hàng có thể trả lời những câu hỏi quan trọng như: chấp nhận cho vay dự
án nào, giá trị khoản vay, thời điểm cho vay, lãi suất cho vay là bao nhiêu, ápdụng hình thức thu nợ nào, sử dụng hình thức bảo đảm gì,…
Mặt khác quá trình thẩm định tài chính dự án còn giúp cho ngân hàngtích luỹ được những kinh nghiệm và rút ra những bài học quý báu để hoànthiện các nghiệp vụ cho vay, đầu tư cũng như nâng cao hiệu quả hoạt độngcủa ngân hàng
Như vậy thẩm định tài chính dự án là hoạt động hết sức cần thiết đối vớingân hàng thương mại Thực hiện tốt thẩm định tài chính dự án giúp ngânhàng đưa ra quyết định tài trợ đúng đắn, mang lại lợi nhuận cao và hạn chế rủi
ro Ngược lại, việc thực hiện thẩm định tài chính dự án không tốt có thể làmngân hàng mất vốn, thời gian thu hồi vốn kéo dài, mất cơ hội đầu tư vào các
dự án hiệu quả… làm ảnh hưởng đến kế hoạch nguồn vốn cũng như việc bảo
Trang 13thực hiện tốt thẩm định tài chính dự án là một yêu cầu quan trọng trong hoạtđộng tín dụng của ngân hàng Muốn làm được điều đó, trước hết ngân hàngcần phải nắm rõ các nội dung trong thẩm định tài chính dự án.
1.2.2 Nội dung thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại.
Thẩm định tài chính dự án bao gồm nhiều nội dung liên quan chặt chẽvới nhau Những nội dung chủ yếu được ngân hàng chú trọng khi thẩm địnhlà:
Thẩm định tổng vốn đầu tư, cơ cấu nguồn và tiến độ bỏ vốn
Thẩm định vốn đầu tư là rất quan trọng để tránh việc khi thực hiện vốnđầu tư tăng lên hoặc giảm đi quá lớn so với dự kiến ban đầu, dẫn đến việckhông cân đối được nguồn, ảnh hưởng đến hiệu quả và khả năng trả nợ của
dự án Xác định tổng vốn đầu tư sát thực tế sẽ là cơ sở để tính toán hiệu quảtài chính và dự kiến khả năng tài trợ của dự án Thẩm định tổng vốn đầu tư làviệc xem xét dự án đã được tính toán đầy đủ các khoản chi phí cần bỏ ra banđầu để thiết lập và đưa dự án vào hoạt động hay chưa
Tổng vốn đầu tư thường được chia làm hai loại: vốn đầu tư vào tài sản
cố định và vốn đầu tư vào tài sản lưu động ròng
- Vốn đầu tư vào tài sản cố định: bao gồm chi phí mua sắm, lắp đặt,chạy thử thiết bị và chi phí dự phòng hợp lý kèm theo
- Vốn đầu tư vào tài sản lưu động: với các dự án sản xuất kinh doanh,
để máy móc, dây chuyền sản xuất có thể đi vào hoạt động bình thường trongchu kỳ sản xuất đầu tiên thì cần phải có các tài sản lưu động ban đầu Chi phí
để tạo ra tài sản lưu động ban đầu này gọi là vốn lưu động, là một bộ phận củatổng vốn đầu tư khi dự toán
Thẩm định tổng vốn đầu tư của dự án cần được tiến hành trên cơ sở cácthông tin về thị trường, ngành và các dự án tương tự đã biết
Thẩm định nguồn tài trợ của dự án
Trang 14Một dự án có thể được tài trợ bằng nhiều nguồn khác nhau Ngân hàngcần thẩm định tính khả thi của từng nguồn vốn đó để làm căn cứ xác địnhmức cho vay của ngân hàng
- Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp: đây là nguồn từ khấu hao, lợi nhuận
để lại, quỹ thặng dư… mà khách hàng có thể dùng để tài trợ cho dự án Do đóngân hàng phải kiểm tra, đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp, từ đó xác định phần nguồn vốn chủ sở hữu có thể tham giatài trợ dự án của doanh nghiệp
- Nguồn vốn ngân sách cấp: một số dự án được nhà nước cấp vốn đểtriển khai và doanh nghiệp chỉ được dùng số vốn này để thực hiện dự án Khi
đó ngân hàng cần xem xét bảo đảm của cấp có thẩm quyền đối với nguồn vốnngân sách
- Nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng khác: ngân hàng cần kiểm tra
độ tin cậy về khả năng cho vay, số lượng, điều kiện và thời hạn cho vay củacác nguồn tài trợ dự án từ các tổ chức tín dụng khác dựa trên các cam kếtbăng văn bản của chủ thể cho vay Thông thường để tránh sự rườm rà trongthủ tục vay vốn, thủ tục đảm bảo, khách hàng chỉ muốn vay vốn một ngânhàng Tuy nhiên một số dự án có nhu cầu vay vốn lớn đòi hỏi sự đồng tài trợcủa nhiều ngân hàng
Bên cạnh việc thẩm định tính khả thi, ngân hàng còn xem xét thời điểm
mà doanh nghiệp nhận được khoản tài trợ đó, để có kế hoạch giải ngân vốnphù hợp với tiến trình của dự án Để hạn chế rủi ro của mình và nâng caotrách nhiệm của chủ dự án, ngân hàng thường yêu cầu tỷ lệ nhất định vốn tự
có của doanh nghiệp tham gia tài trợ cho dự án và thường chỉ giải ngân vốnvay một cách song song hoặc sau khi khách hàng sử dụng vốn tự có Theo
Trang 15quy định hiện hành mức vốn tự có tối thiểu của doanh nghiệp tham gia vào dự
án là 30%
Thẩm định nguồn tài trợ của dự án tránh cho ngân hàng rơi vào thế bịđộng khi cho vay khi các nguồn tài trợ khác không khả thi, giúp ngân hàngđưa ra mức tài trợ hợp lý cũng như kế hoạch đầu tư của mình đối với dự án,nhằm đảm bảo cho dự án không bị thiếu vốn và nguồn vốn của ngân hàngcũng được sử dụng một cách có hiệu quả hơn
Thẩm định doanh thu, chi phí và kết quả sản xuất kinh doanh của dự
án
Về bản chất, việc thẩm định doanh thu, chi phí và kết quả sản xuất kinhdoanh của dự án là một phần trong thẩm định dòng tiền của dự án nhưng cácngân hàng thường tách công việc này thành một bước riêng để tiện cho việcđánh giá và tính toán Và vì vậy bước này có trách nhiệm đảm bảo đầu vào đểviệc thẩm định dòng tiền được chính xác
Doanh thu của dự án bao gồm các khoản lợi ích thu được từ việc vậnhành tài sản cố định được đầu tư bởi dự án, gồm doanh thu từ sản phẩmchính, doanh thu từ sản phẩm phụ, doanh thu từ dịch vụ cung cấp cho bênngoài Khi thẩm định yếu tố này ngân hàng phải xem xét tính hợp lý của haiyếu tố giá cả và sản lượng sản phẩm
Chi phí của dự án gồm chi phí cố định và chi phí biến đổi
- Chi phí cố định gồm chi phí bảo dưỡng máy móc, thiết bị, khấu haomáy móc thiết bị, lãi vay…thường được tính theo phần trăm trên doanh thu
- Chi phí biến đổi gồm chi phí nguyên vật liệu, nhiên liệu, lương… đượctính toán dựa trên sản lượng sản xuất và định mức tiêu hao
Vì doanh thu và chi phí ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh, màdoanh thu lại phụ thuộc vào giá bán, trong khi giá bán phải dựa trên cơ sở chiphí thực tế và giá của các sản phẩm thay thế Như vậy một cách trực tiếp hoặcgián tiếp, chi phí đều ảnh hưởng đến doanh thu và kết quả sản xuất kinhdoanh Vì vậy ngân hàng cần thẩm định tính chính xác và hợp lý của các yếu
Trang 16tố chi phí như khách hàng đã đưa đủ chi phí vào giá thành chưa? Các mứctiêu hao nguyên vật liệu, nhiên liệu của dự án có hợp lý không (nên so sánhvới các dự án còn lại), tỷ lệ trích khấu hao vào giá thành hợp lý không?
Thẩm định dòng tiền của dự án
Dòng tiền của một dự án được hiểu là các khoản thu, chi được kỳ vọngxuất hiện tại các mốc thời gian khác nhau trong suốt chu kỳ của dự án Chênhlệch giữa các khoản thu chi này tạo ra dòng tiền ròng của dự án tại từng thờiđiểm
Thẩm định dòng tiền của dự án là việc ngân hàng xác định dòng tiền của
dự án được phát sinh tại các thời điểm khác nhau để làm cơ sở đánh giá khảnăng trả nợ của khách hàng, xây dựng kế hoạch trả nợ hợp lý và tính toán cácchỉ tiêu phản ánh hiệu quả tài chính của dự án
Khi thẩm định dòng tiền dự án cần chú ý ba yếu tố:
Một là, phải xem xét đến giá trị thời gian của tiền Vì tiền có giá trị thời
gian nên chúng ta không thể so sánh dòng tiền phát sinh ở các thời điểm khácnhau với nhau mà phải quy chúng về cùng một mốc thời gian để so sánh bằngcách sử dụng lãi suất chiết khấu
Hai là, cần phân biệt dòng tiền thực và dòng lợi nhuận kế toán Dòng lợi
nhuận kế toán được xác định dựa trên thu nhập và chi phí được chấp nhận,còn dòng tiền của dự án xác định trên cơ sở thu nhập và chi phí có thật bằngtiền Ví dụ như khấu hao là một khoản chi phí cố định của dự án Tuy nhiênđây không phải là một khoản chi phí thực bằng tiền nên không được tính vàodòng tiền chi ra của dự án Bởi vì khấu hao tác động gián tiếp đến lợi nhuận,
nó làm giảm thuế thu nhập nên phải được coi là khoản thu nhập của dự án
Ba là, cần nắm vững nguyên tắc xác định dòng tiền phù hợp Dòng tiền
dự án là dòng tiền phù hợp Một dòng tiền phù hợp là một sự thay đổi trongtổng dòng tiền trong tương lai của doanh nghiệp mà được coi là hệ quả trựctiếp của việc thực hiện dự án Dòng tiền phù hợp còn được gọi là dòng tiền
Trang 17không thực hiện và có thực hiện dự án Do đó các dòng tiền mà sự tồn tại của
nó không liên quan đến việc thực hiện hay không thực hiện dự án thì phải loại
ốc, doanh nghiệp đã phải từ bỏ một dòng tiền mà lẽ ra nó đã có thể có bằngviệc cho thuê khu đất đó Nhưng dòng tiền này không được đưa vào dự án vìchi phí cơ hội đã được tính đến trong lãi suất chiết khấu Tuy nhiên giá trị thịtrường của mảnh đất phải được đưa vào chi phí đầu tư vì mảnh đất cũng làmột tài sản có khả năng sinh lợi cho doanh nghiệp khi tham gia vào dự án
- Tác động phụ: Vì dòng tiền chênh lệch của một dự án bao gồm tất cảcác sự thay đổi luồng tiền của doanh nghiệp được gây ra bởi việc thực hiện dự
án Trong nhiều trường hợp việc chấp nhận thực hiện dự án mới có thể gây ratác động phụ kể cả tốt và xấu đối với luồng tiền của doanh nghiệp Tác độngnày cần được tính vào luồng tiền của dự án Ví dụ: công ty sơn Nipon thựchiện dự án sản xuất một loại sơn mới, dự kiến sau khi sản phẩm mới được bánthì doanh thu từ sơn Ankit bị giảm xuống Trong trường hợp này, luồng tiềncủa dự án mới cần tính đến sự sụt giảm của luồng tiền bán sản phẩm sơnAnkit
- Vốn lưu động ròng: là phần chênh lệch giữa tổng tài sản lưu động vàtổng nợ ngắn hạn hoặc là phần chênh lệch giữa vốn thường xuyên ổn định vớitài sản cố định Thông thường, một dự án yêu cầu phải đầu tư vào vốn lưu
Trang 18động ròng bên cạnh đầu tư vào tài sản cố định Để dự án đi vào hoạt độngthường cần một lượng vốn lưu động ban đầu như tiền để đáp ứng nhu cầu chitrả, hàng tồn kho ban đầu cần thiết để bắt đầu sản xuất…Tuy nhiên nhu cầunày được tài trợ bởi các khoản nợ ngắn hạn, do vậy doanh nghiệp chỉ cần đầu
tư vào phần vốn lưu động ròng Đặc tính của tài sản lưu động ròng là nókhông được khấu hao và được thu hồi khi dự án kết thúc Trong tính toán dự
án, đầu tư vào vốn lưu động ròng được coi là đầu tư ban đầu, và được thu hồikhi dự án kết thúc Vốn lưu động ròng được đưa vào dòng tiền của dự án
- Phân bổ chi phí quản trị chung: chi phí quản trị chung là những chi phíhoạt động không liên quan trực tiếp tới bất kỳ sản phẩm hay dịch vụ cụ thểnào như chi phí quản lý, chi phí hành chính, văn phòng,…Sự chênh lệch củanhững chi phí này trước và sau thời điểm có dự án mới nên được tính vàodòng tiền
Một cách tổng quát, dòng tiền của dự án được cấu thành bởi ba bộ phậnsau: dòng chi phí đầu tư, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, dòng tiền thu hồisau đầu tư
- Dòng chi phí đầu tư gồm: chi phí mua tài sản cố định; chi phí lắp đặt,vận chuyển, chạy thử; chi phí dự phòng và đầu tư vào vốn lưu động ròng (nếu
có) Dòng chi phí đầu tư được gọi là dòng tiền ra của dự án (COF).
- Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh:
= LNST +KH
= DT – CF - THUẾ
= ( DT – chi phí không kể khấu hao)*(1-T) + KH*T
- Dòng tiền thu hồi sau đầu tư: gồm thu hồi vốn lưu động ròng và thu hồi
từ thanh lý tài sản cố định, trong đó:
Thu hồi từ thanh lý TSCĐ = thu thanh lý – (thu thanh lý – GTCL)*T
Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh và dòng tiền thu hồi sau đầu tư tạo
thành dòng tiền vào của dự án (CIF).
Trang 19Chênh lệch giữa dòng ra và dòng vào của dự án tạo nên dòng tiền ròngcủa dự án, là cơ sở để tính hiệu quả kinh tế của dự án:
NCF = CIF - COFĐây là ba bộ phận cơ bản để xác định dòng tiền của dự án Tuy nhiênđứng trên các góc độ thẩm định khác nhau, dòng tiền của dự án có thể cónhững hiệu chỉnh nhất định như trừ đi dòng trả nợ gốc hàng năm (nếu ngườithẩm định là chủ đầu tư) hoặc cộng trở lại lãi vay (nếu người thẩm định làngân hàng)
Thẩm định lãi suất chiết khấu
Xuất phát của việc đưa lãi suất chiết khấu vào tính toán trong dự án đượcbắt nguồn từ nguyên lý giá trị thời gian của tiền Đồng tiền xuất hiện có giá trịcao hơn cũng đồng tiền đó vào một thời điểm trong tương lai
Để có thể đánh giá hiệu quả tài chính của dự án một cách chính xác trên
cơ sở có tính đến giá trị thời gian của tiền, ngân hàng cần chiết khấu dòng tiềncủa dự án trong tương lai về hiện tại theo một tỷ lệ hợp lý, tỷ lệ đó gọi là lãisuất chiết khấu Cơ sở tính lãi suất chiết khấu gắn liền với khả năng sinh lời
- Quan điểm của nhà tài trợ: lãi suất chiết khấu chính bằng lãi suất chovay
- Quan điểm của doanh nghiệp: lãi suất chiết khấu là chi phí bình quâncủa dự án
Việc xác định lãi suất chiết khấu hợp lý là rất quan trọng vì nó ảnhhưởng tới việc đánh giá các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án Các dự án
Trang 20khách hàng trình lên ngân hàng có lãi suất chiết khấu thường là lãi suất chovay trung dài hạn của ngân hàng hoặc lãi suất huy động trung dài hạn củangân hàng cộng với phần chênh lệch nhất định Dựa trên những đánh giá vềkhả năng sinh lời và mức rủi ro của dự án, ngân hàng tiến hành điều chỉnh lại
tỷ lệ này trên góc độ của ngân hàng
Thẩm định các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính dự án
Kết quả thẩm định tài chính dự án được thể hiện thông qua các chỉ tiêuđánh giá hiệu quả tài chính của dự án Trên phương diện nhà tài trợ, bên cạnhviệc xem xét tính chính xác hợp lý của các chỉ tiêu tài chính mà khách hàngđưa ra trong bản báo cáo khả thi trình lên ngân hàng, ngân hàng cần tính toánthêm một số chỉ tiêu khác mà khách hàng chưa xây dựng để phục vụ cho việc
ra quyết định tài trợ như thời gian hoàn vốn vay, cân đối khả năng trả nợ,…
Để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án ngân hàng thường sử dụngnhững chỉ tiêu sau:
- Giá trị hiện tại ròng (NPV)
- Tỷ suất hoàn vốn nội bộ
- Tỷ suất hoàn vốn nội bộ có điều chỉnh
- Thời gian hoàn vốn
- Chỉ số doanh lợi
- Chỉ tiêu cân đối Lợi ích – Chi phí
- Lợi nhuận kế toán bình quân
- Điểm hoà vốn
Giá trị hiện tại ròng( NPV)
NPV là chênh lệch giữa tổng giá trị hiện tại của các dòng tiền thu đượctrong từng năm thực hiện dự án với vốn đầu tư bỏ ra được hiện tại hoá ở mốc 0.NPV phản ánh giá trị tăng thêm của chủ đầu tư có tính đến giá trị thờigian của tiền NPV mang giá trị dương nghĩa là việc thực hiện dự án sẽ tạo ragiá trị tăng thêm cho chủ đầu tư; hay nói cách khác dự án không những bù
Trang 21nghĩa là dự án không đủ bù đắp vốn đầu tư, đem lại thua lỗ cho chủ đầu tư.NPV càng lớn chứng tỏ hiệu quả tài chính dự án càng cao, nguồn trả nợ chongân hàng càng dồi dào
NPV là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất trong thẩm định tài chính dự
án Tuy nhiên, điều ngân hàng quan tâm nhiều nhất là việc đảm bảo thu hồi
nợ vay chứ không phải quy mô giá trị tăng thêm từ dự án, vì vậy, chỉ tiêu nàychưa đủ để quyết định đối với việc tài trợ cho dự án Nhiều dự án tuy NPVkhông cao nhưng ngân hàng vẫn cho vay khi xét thấy dự án sẽ trả nợ đầy đủ
Tỷ suất hoàn vốn nội bộ
Tỷ suất hoàn vốn nội bộ là trường hợp đặc biệt của lãi suất chiết khấu
Tỷ suất hoàn vốn nội bộ có điều chỉnh (MIRR)
IRR phản ánh giá trị hoàn vốn của dự án, dựa trên giả định các dòng tiềnthu được trong các năm được tái đầu tư với lãi suất bằng lãi suất chiết khấu.Tuy nhiên, giả định này là không thuyết phục vì lãi suất chiết khấu sẽ thay đổitrong các năm thể hiện chi phí cơ hội của chủ đầu tư trong từng năm thay đổi
Để khắc phục nhược điểm này, ngân hàng sử dụng kết hợp với chỉ tiêu MIRR.MIRR là tỷ lệ chiết khấu mà tại đó giá trị hiện tại của chi phí dự ántương đương với giá trị hiện tại của giá trị cuối cùng của nó Giá trị cuối cùng
là tổng giá trị tương lai của những luồng tiền vào tại chi phí của vốn
Thời gian hoàn vốn đầu tư ( PP)
Trang 22Thời gian hoàn vốn đầu tư là độ dài thời gian để thu hồi đủ vốn đầu tưban đầu hay là độ dài thời gian cần thiết để các luồng tiền ròng của dự án bùđắp được chi phí của nó PP cho biết khả năng tạo thu nhập của dự án từ khithực hiện cho đến khi thu hồi đủ vốn đầu tư mà không quan tâm đến khả năngtạo ra thu nhập sau đó Tuy nhiên chỉ tiêu này giúp ngân hàng có một cái nhìntương đối chính xác về mức độ rủi ro của dự án Một dự án có thời gian hoànvốn càng dài thì rủi ro mà ngân hàng phải đương đầu khi chấp nhận tài trợcho dự án càng lớn Vì vậy, các dự án có các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tàichính khác thấp nhưng thời gian thu hồi vốn đầu tư ngắn được ngân hàng ưutiên hơn các dự án có thời gian thu hồi vốn đầu tư dài dù có các chỉ tiêu tàichính khác tốt hơn.
Thời gian hoàn vốn vay:
Là độ dài thời gian để thu hồi đủ vốn vay Tuy nhiên luồng tiền bù đắpvốn vay không phải là toàn bộ luồng tiền tạo ra từ dự án mà chỉ là phần dành
để trả nợ và các nguồn tiền khác không phát sinh từ dự án được khách hàng
sử dụng để bổ sung nguồn trả nợ cho ngân hàng Đối với ngân hàng chỉ tiêunày có ý nghĩa rất quan trọng vì đây là căn cứ để ngân hàng xác định thời hạncho vay phù hợp
Thông thường ngân hàng sẽ quyết định cho khách hàng vay đúng bằngthời gian hoàn vốn vay Nếu thời hạn cho vay ngắn hơn thời gian hoàn vốnvay của dự án thì gây khó khăn cho khách hàng khi trả nợ, làm giảm chấtlượng tín dụng của ngân hàng Nếu ngân hàng cho vay quá thời gian thu hồivốn, điều này sẽ khiến ngân hàng có thể gặp bất lợi khi thu hồi vốn vì kháchhàng có thể dùng phần thu nhập dư thừa của dự án tái đầu tư hay thực hiệnmột nghĩa vụ tài chính khác
Thời gian hoàn vốn đầu tư và thời gian hoàn vốn vay thường có quan hệ
tỷ lệ thuận với nhau Tuy nhiên, một số dự án có nguồn trả nợ ngoài dự án rấtdồi dào nên thời gian thu hồi vốn vay có thể ngắn hơn rất nhiều so với thời
Trang 23gian thu hồi vốn đầu tư Điều này có tác động thuận lợi đến quyết định chovay của ngân hàng đối với dự án.
Chỉ số doanh lợi (PI)
PI là chỉ số phản ánh khả năng sinh lợi của dự án, tính bằng tổng giá trịhiện tại của các dòng tiền trong tương lai chia cho vốn đầu tư bỏ ra ban đầu.Chỉ tiêu này thường được sử dụng như là chỉ tiêu xếp hạng dự án khi bị giớihạn về nguồn vốn
Đối với chủ đầu tư, chỉ tiêu này khá quan trọng vì nó cho biết khả năngsinh lời của mỗi đồng vốn đầu tư, so sánh các dự án có thời hạn khác nhau,vốn đầu tư khác nhau Tuy nhiên, các ngân hàng thường ít quan tâm đến chỉtiêu này vì với tư cách là nhà tài trợ, điều ngân hàng quan tâm nhất là khảnăng trả nợ của khách hàng Nhiều dự án có tổng vốn đẩu tư ban đầu lớn nên
dù thu nhập cao thì chỉ số PI vẫn thấp so với các dự án có thu nhập ít nhưngvốn đầu tư ban đầu nhỏ Khi đó, nếu mức độ rủi ro là như nhau, ngân hàng sẽlựa chọn và tài trợ dự án lớn hơn vì sẽ đưa lại thu nhập lớn hơn cho ngânhàng
Chỉ tiêu cân đối lợi ích – chi phí (B/C)
Chỉ tiêu này được xác định bằng tỷ số giữa lợi ích thu được và chi phí bỏ
ra tính về thời điểm hiện tại hoặc tương lai
Về bản chất chỉ tiêu này có ý nghĩa tương tự NPV khi đánh giá một dự
án vì NPV >0 thì B/C >1, NPV = 0 thì B/C = 1 và NPV < 0 thì B/C <1.Tuynhiên vì là số tương đối nên chỉ tiêu này tuy không phản ánh được quy mô giátrị tăng thêm của dự án nhưng lại có thể so sánh được các dự án có thời hạnkhác nhau hay vốn đầu tư khác nhau Vì B/C khắc phục được nhược điểm củaNPV nên nó thường được sử dụng bổ trợ cho chỉ tiêu NPV khi phải so sánhnhiều dự án có thời hạn và vốn đầu tư khác nhau B/C không ảnh hưởng nhiềuđến các quyết định tài trợ của ngân hàng
Chỉ tiêu lợi nhuận kế toán bình quân ( APP)
Là lợi nhuận kế toán thuần tuý bình quân trong các năm của dự án
Trang 24APP cho biết khả năng tạo ra lợi nhuận kế toán bình quân trong từngnăm thực hiện dự án Do vậy APP càng cao thì dự án càng mang lại nhiều thunhập cho chủ đầu tư Tuy nhiên APP không xem xét đến giá trị thời gian củatiền do vậy nó không phản ánh chính xác khả năng sinh lời của dự án Do đóAPP cũng thường được sử dụng kết hợp với NPV như một chỉ tiêu bổ trợ.
Điểm hoà vốn ( BP)
Điểm hoà vốn là mức sản lượng mà tại đó nhà đầu tư thu hồi đủ vốn đầutư
Nếu PP phản ánh thời gian thu hồi đủ vốn thì BP cho biết phải sản xuất
và tiêu thụ bao nhiêu đơn vị sản phẩm để thu hồi đủ vốn dựa trên chi phí biếnđổi, chi phí cố định và giá bán sản phẩm
BP giúp ngân hàng có cái nhìn trực quan hơn về khả năng hoàn vốn của
dự án BP không quan tâm đến khả năng tiêu thụ sản phẩm sau khi thu hồi đủvốn đầu tư, không tính đến giá trị thời gian của tiền nên không chính xác nhưcác chỉ tiêu tài chính khác, vì vậy chỉ được sử dụng như một chỉ tiêu bổ trợ
Thẩm định về rủi ro của dự án
Rủi ro của dự án được hiểu một cách chung nhất là khả năng mà một sựkiện không có lợi nào đó xuất hiện
Rủi ro xảy ra đối với một dự án có thể chia làm ba loaị:
- Rủi ro loại 1: Đây là rủi ro riêng của bản thân dự án, tức là rủi ro củamột tài sản khi nó là tài sản duy nhất của doanh nghiệp và được đo bằng sựbiến thiên lợi tức của dự án Đo lường rủi ro loại một là đo lường sự biếnđộng dòng tiền của dự án
- Rủi ro loại 2: Rủi ro này thể hiện sự ảnh hưởng của dự án đối với rủi rocủa doanh nghiệp, được đo bằng sự tác động của dự án đối với sự bíên thiênthu nhập của doanh nghiêp
- Rủi ro loại 3: Đây là rủi ro của dự án được đánh giá từ quan điểm củanhà đầu tư cổ phiếu Đó là phần rủi ro của dự án mà không thể bỏ qua được
Trang 25bằng việc đa dạng hoá đầu tư Rủi ro này đo lường thông qua hệ số của dựán.
Các loại rủi ro của dự án vừa có tính độc lập tương đối vừa có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau Đứng trên các giác độ khác nhau của người thẩm định,mỗi loại rủi ro có mức độ quan trọng khác nhau Đối với ngân hàng là ngườitài trợ cho dự án thì rủi ro loại một là đáng quan tâm nhất vì nó liên quan đếnkhả năng thu hồi nợ Sự biến động thu nhập của dự án thấp hơn mức dự kiếnảnh hưởng đến nguồn trả nợ của khách hàng, khiến cho ngân hàng gặp khókhăn trong việc thu hồi vốn vay Đo lường rủi ro loại 1 chính là đo lường sựbiến động dòng tiền của dự án
Phân tích rủi ro dự án giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro trong hoạt độngcho vay Tuy nhiên với mỗi loại rủi ro khác nhau có các phương pháp phântích phù hợp Với rủi ro loại 1, ngân hàng có thể áp dụng các phương phápsau:
* Phân tích độ nhạy:
Dòng tiền của dự án phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố Vì vậy khi một biếnquan trọng thay đổi sẽ làm dòng tiền thay đổi rất lớn, từ đó làm cho các chỉtiêu tài chính cũng thay đổi Phân tích độ nhạy là chỉ ra chính xác các chỉ tiêutài chính (thường là NPV hoặc IRR) khi các biến đầu vào thay đổi Phân tíchtình huống có thể thực hiện theo 2 cách sau:
+ Xem xét ảnh hưởng đơn lẻ của từng yếu tố: trong phân tích này người
ta chọn những biến có khả năng thay đổi và tác động lớn đến dòng tiền như
số lượng bán hàng, giá bán sản phẩm, chi phí biến đổi, chi phí cố định,…vàcho một biến thay đổi còn giữ nguyên các yếu tố khác để xem xét tác độngcủa nó tới NPV hoặc IRR
+ Xem xét ảnh hưởng đồng thời của nhiều yếu tố: Thực tế cho thấy córất nhiều yếu tố tác động đến dòng tiền của dự án và các biến này thường thayđổi đồng thời Do vậy cán bộ thẩm định cũng phải phân tích và xem xét sựthay đổi của nhiều yếu tố cùng tác động đến NPV hoặc IRR, trên cơ sở đó
Trang 26giúp cho việc đánh giá độ an toàn, phòng ngừa rủi ro và quản lý dự án đượctốt hơn.
* Phân tích tình huống:
Vì phân tích độ nhạy không được tính toán dựa trên sự phân bố xác suấtnên khó có thể lượng hóa được cơ bản các chỉ tiêu hiệu quả tài chính trongtrường xấu nhất và tốt nhất so với trường hợp cơ sở Phương pháp phân tíchtình huống cho phép ngân hàng khắc phục được điều đó
Với phương pháp này, người ta lập ra các tình huống xấu nhất và tốt nhấtcùng với xác suất xảy ra tương ứng Tốt nhất và xấu nhất ở đây chỉ có nghĩa
là ta ước tính một loại các khả năng, khả năng gần với tiềm năng cao nhất gọi
là tốt nhất, còn khả năng gần với giới hạn thấp nhất trong ước tính gọi là xấunhất Trên cơ sở các tình huống và xác suất xảy ra đó, người ta tính ra hệ sốbiến thiên IRR và NPV để đánh giá mức độ rủi ro
* Phân tích tình huống mô phỏng
Là phương pháp phân tích kết hợp cả hai phương pháp trên Nó đề cậpđến phạm vi các kết cục có khả năng xảy ra chứ không chỉ ra một vài kết cụcrời rạc Khi đó đường biểu diễn hàm mật độ xác suất là một đường liên tụcnên việc tính toán các hệ số đo lường rủi ro sẽ chính xác hơn Tuy nhiên khithay đổi tất cả các yếu tố cùng một lúc với xác suất xảy ra tương ứng, khốilượng tính toán sẽ rất lớn, do đó cần có sự hỗ trợ của các phương tiện kỹthuật Vì vậy, mặc dù có tính ưu việt hơn hẳn nhưng do tính phức tạp trong ápdụng của phương pháp này nên hầu như các ngân hàng chưa áp dụng phươngpháp này trong phân tích rủi ro dự án
1.3 Chất lượng thẩm định tài chính dự án trong cho vay của ngân hàng thương mại
1.3.1 Khái niệm
Thẩm định tài chính dự án được coi là có chất lượng tốt khi nó thoả mãnđược các yêu cầu mà ngân hàng và khách hàng đặt ra
Trang 27Yêu cầu của ngân hàng đối với việc thẩm định tài chính dự án là thờigian ngắn và chi phí thẩm định thấp, đánh giá được chính xác hiệu quả tàichính của dự án, làm căn cứ chính yếu nhất để ngân hàng đưa ra quyết địnhtài trợ đúng đắn: cho vay hay không, cho vay bao nhiêu, thời hạn vay baolâu, phương thức giải ngân, hình thức thu nợ thế nào cho phù hợp…nhằm hạnchế tối đa được rủi ro nhưng không bỏ lỡ cơ hội đầu tư với những dự án tốt.Yêu cầu của khách hàng là được tài trợ đủ nhu cầu vốn với thời hạn vàlãi suất phù hợp, thời gian thẩm định hợp lý không bị lỡ thời cơ kinh doanh,được ngân hàng cung cấp các tiện ích khác như tư vấn tài chính …
Vì dự án vừa là cơ hội đầu tư của khách hàng vừa là cơ hội đầu tư củangân hàng nên việc thẩm định tài chính dự án được đánh giá là có chất lượngtốt khi nó đáp ứng đồng thời yêu cầu của cả hai bên Do đó, nâng cao chấtlượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của ngân hàng chính
là nâng cao sự thoả mãn hai yêu cầu nói trên Các chỉ tiêu phản ánh chấtlượng thẩm định tài chính dự án là các chỉ tiêu thể hiện mức độ thoả mãn yêucầu đặt ra của ngân hàng và khách hàng
1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng thẩm định tài chính dự án
Chất lượng thẩm định tài chính dự án thường được đánh giá thông quacác chỉ tiêu sau:
- Thời gian thẩm định
- Chi phí thẩm định
- Chất lượng của báo cáo thẩm định
- Chất lượng các quyết định cho vay
- Việc cung cấp những tư vấn cho khách hàng
1.3.2.1 Thời gian thẩm định
Để thẩm định một dự án trước hết cần thu thập thông tin, phân tích,đánh giá và tổng hợp các thông tin đó nhằm đưa ra kết luận chính xác về tínhkhả thi của dự án Để thực hiện được những công việc trên đòi hỏi phải cómột khoảng thời gian nhất định Trong điều kịên cạnh tranh gay gắt như hiện
Trang 28nay, chi phí cơ hội của dự án là rất lớn, thời gian đối với chủ đầu tư là vàng làbạc, các khách hàng khi đến với ngân hàng luôn mong muốn được ngân hàngtrả lời sớm nhất dù cho vay hay không cho vay Vì vậy yêu cầu đặt ra cho cácngân hàng là cần phải tổ chức thẩm định và thiết lập hệ thống công nghệ hỗtrợ phù hợp sao cho thời gian thẩm định phải đủ để tổ chức khâu thẩm địnhđược kỹ càng nhưng không được quá dài sẽ làm mất cơ hội đầu tư của kháchhàng Có như vậy mới đảm bảo cơ hội đầu tư cho cả ngân hàng và kháchhàng.
1.3.2.2 Chi phí thẩm định
Chi phí thẩm định bao gồm tất cả các chi phí cần thiết mà ngân hàngphải chi trả cho việc tiến hành thẩm định dự án như chi phí mua thông tin,công tác phí của cán bộ đi thẩm định và các chi phí khác…Hơn nữa trongcùng một thời gian, ngân hàng phải trả lời cho vay hay không cho vay đối vớinhiều dự án khác nhau vì vậy chi phí thẩm định của ngân hàng còn bao gồm
cả chi phí cơ hội đối với việc xem xét cho vay dự án khác cùng thời điểm.Thu nhập của ngân hàng từ dự án là tiền lãi vay và các khoản phí dịch vụcung ứng
Là một doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, vì vậy khi tiếnhành thẩm định tài chính dự án ngân hàng cần phải so sánh thu nhập của ngânhàng từ dự án và chi phí thẩm định Nếu chi phí thẩm định mà quá lớn so vớithu nhập nhận được từ dự án thì ngân hàng vẫn có thể từ chối cho vay dù dự
án hiệu quá
1.3.2.3 Chất lượng báo cáo thẩm định
Báo cáo thẩm định là sự thể hiện kết quả cuối cùng của toàn bộ quá trìnhthẩm định dự án Báo cáo này có vai trò rất quan trọng vì nó là căn cứ hàngđầu để ngân hàng ra các quyết định cho vay, là cơ sở để tiến hành tái thẩmđịnh
Là sự tổng kết của toàn bộ quá trình thẩm định nên chất lượng của báo
Trang 29báo cáo thẩm định có chất lượng tốt phải được trình bày khoa học, đầy đủ,chính xác và khách quan, sát với thực tế khi dự án đi vào hoạt động Báo cáothẩm định tốt phải giúp người đọc nắm bắt được những thông tin cơ bản nhất
về hiệu quả tài chính của dự án, phải thể hiện được các quyết định và chứngminh được tính hợp lý của các quyết định tài trợ cho dự án
1.3.2.4 Chất lượng các quyết định cho vay
Vì mục tiêu cuối cùng của thẩm định tài chính dự án là để ngân hàng đưa
ra các quyết định cho vay một cách hợp lý nên chất lượng các quyết định chovay cũng phản ánh chất lượng thẩm định tài chính dự án
Chất lượng các quyết định cho vay thể hiện thông qua hiệu quả hoạtđộng của các dự án được ngân hàng tài trợ và kết quả hoạt động cho vay theo
dự án của ngân hàng
Khi bỏ vốn tài trợ cho một dự án, ngân hàng bao giờ cũng mong muốn
dự án hoạt động có hiệu quả để đảm bảo thu hồi được cả vốn và lãi Thẩmđịnh tài chính dự án là căn cứ quan trọng nhất để ngân hàng đưa ra quyết địnhcho vay hay không Điều đó có nghĩa là các dự án được ngân hàng tài trợ vốn
là các dự án được ngân hàng thẩm định là có hiệu quả Vì vậy các dự án đãđược xét duyệt cho vay mà hoạt động tốt theo đúng dự kiến chứng tỏ ngânhàng đã ra quyết định đúng đắn hay chất lượng thẩm định tài chính dự án tốt.Ngược lại, nếu dự án được ngân hàng cho vay hoạt động không hiệu quả -điều đó thể hiện sự yếu kém trong chất lượng thẩm định tài chính dự án củangân hàng
Hiệu quả hoạt động của các dự án tác động trực tiếp đến kết quả hoạtđộng cho vay theo dự án của ngân hàng, hay nói cách khác kết quả hoạt độngcho vay theo dự án phần nào cũng phản ánh chất lượng các quyết định chovay Nếu các quyết định cho vay đúng đắn, dự án hoạt động có hiệu quả sẽlàm tăng dư nợ, giảm tỷ lệ nợ quá hạn của hoạt động cho vay theo dự án Nếucác quýêt định cho vay không hợp lý, dự án hoạt động không có hiệu quả sẽlàm tăng tỷ lệ nợ quá hạn, có thể làm cho ngân hàng bị mất vốn,…
Trang 301.3.2.5 Việc cung cấp những tư vấn cho khách hàng
Thẩm định tài chính dự án có chất lượng tốt sẽ mang lại cho cán bộ ngânhàng cái nhìn sâu sắc về dự án, từ đó có thể tư vấn cho khách hàng nhiều vấn
đề hữu ích như: kế hoạch kinh doanh phù hợp, phương án về nguồn vốn saocho hiệu quả,…Những tư vấn này sẽ giúp doanh nghiệp triển khai dự ánđược tốt hơn, đồng thời ngân hàng cũng có lợi ích hơn khi cho vay các dự ánhiệu quả
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định tài chính dự án
Để có được kết quả tốt nhất về thẩm định tài chính dự án đòi hỏi cán bộthẩm định phải nắm vững các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định tàichính dự án Các nhân tố này được chia thành hai nhóm chính: nhóm nhân tố
về phía ngân hàng và nhóm nhân tố bên ngoài ngân hàng
1.3.3.1 Nhóm nhân tố về phía ngân hàng.
Tổ chức công tác thẩm định
Công tác thẩm định tài chính dự án bao gồm nhiều giai đoạn và đượcthực hiện bởi sự phối hợp của nhiều người nên tổ chức công tác thẩm định cóảnh hưởng không nhỏ tới thẩm định tài chính dự án Nếu công tác này được tổchức một cách khoa học, hợp lý trên cơ sở phân công trách nhiệm cụ thể chotừng cá nhân phù hợp với trình độ chuyên môn, có kiểm tra giám sát chặt chẽ,chất lượng thẩm định tài chính dự án sẽ tốt hơn
Chất lượng của đội ngũ cán bộ:
Đội ngũ cán bộ là nhân tố quyết định trực tiếp đến chất lượng thẩm địnhtài chính dự án Do tính chất phức tạp, hàm chứa nhiều vấn đề liên quan đếnnhiều lĩnh vực trong công tác thẩm định tài chính dự án, đòi hỏi cán bộ thẩmđịnh phải có trình độ chuyên môn vững vàng, sự hiểu biết toàn diện về nhữngvấn đề cần thẩm định như: hiểu biết về lĩnh vực doanh nghiệp đầu tư, hiểubiết về sự phát triển chung của nghành, của nền kinh tế,…cũng như phải nắmvững các quy định, quy chế liên quan đến hoạt động cho vay
Trang 31Bên cạnh yêu cầu có kiến thức chuyên sâu, hiểu biết rộng, các cán bộthẩm định cần phải có phẩm chất đạo dức tốt nhằm giúp cho ngân hàng tránhgặp phải rủi ro đạo đức.
Chất lượng đội ngũ cán bộ là hết sức quan trọng nhưng nếu số lượng cán
bộ thẩm định quá ít so với yêu cầu tất yếu xảy ra hiện tượng mỗi cán bộ phảithực hiện khối lượng công việc quá tải, từ đó dẫn đến việc thẩm định thiếu kỹcàng, kém hiệu quả Do đó số lượng cán bộ quá ít cũng sẽ ảnh hưởng đếnchất lượng thẩm định tài chính dự án
Thông tin
Thẩm định tài chính dự án được thực hiện trên cơ sở phân các thông tintrực tiếp và gián tiếp liên quan đến dự án Thông tin càng đầy đủ, chính xácbao nhiêu thì việc thẩm định càng thuận lợi và chất lượng bấy nhiêu Nếuthông tin sai lệch thì kết quả thẩm định tài chính sẽ bị hạn chế, có thể dẫn đếnnhững quyết định đầu tư sai lầm, gây tổn thất lớn và ảnh hưởng đến uy tín củangân hàng Chính vì vậy, yếu tố thông tin có một vai trò rất quan trọng đốivới chất lượng thẩm định tài chính dự án Và vị trí của yếu tố này đang ngàycàng được coi trọng trong thời đại thông tin hiện nay
Phương pháp thẩm định
Phương pháp thẩm định thể hiện thông qua hệ thống chỉ tiêu và cách ápdụng khi thẩm định tài chính dự án
Mỗi chỉ tiêu đều có những ưu nhược điểm nhất định khi thẩm định dự
án, do đó cán bộ thẩm định phải biết sử dụng kết hợp các chỉ tiêu để đưa racác kết quả toàn diện và chính xác Tùy theo đặc điểm tính chất của từng dự
án mà đặt chỉ tiêu nào là quan trọng đối với việc ra quyết định cho vay
Trang thiết bị, công nghệ của ngân hàng:
Đây là nhân tố ảnh hưởng tới thời gian và độ chính xác của kết quả thẩmđịnh tài chính dự án Với trang thiết bị hiện đại, việc thu thập và xử lí cácthông tin sẽ được tiến hành một cách nhanh chóng và chính xác, dự báo
Trang 32nhanh nhiều phương án, các cơ hội đầu tư sẽ được nắm bắt kịp thời Nhờ vậychất lượng công tác thẩm định tài chính dự án sẽ được nâng cao.
1.3.3.2 Nhóm nhân tố bên ngoài ngân hàng:
Đây là những nhân tố không thuộc tầm kiểm soát của Ngân hang Nhómnhân tố bên ngoài ngân hàng bao gồm các nhân tố từ môi trường pháp lí, môitrường kinh tế xã hội tác động tới quá trình thẩm định tài chính dự án
Về môi trường pháp lý: đó là các cơ chế chính sách của nhà nước Nếu
cơ chế này nhất quán đồng bộ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàngkhi thẩm định các yếu tố pháp lý của dự án
Về môi trường kinh tế xã hội: Nền kinh tế chưa phát triển, sự bất ổncủa các điều kiện kinh tế vĩ mô đã hạn chế việc cung cấp những thông tin xácthực phản ánh đúng mối quan hệ thị trường, những thông tin dự báo tình trạngnền kinh tế Vì vậy, sự ổn định và tăng trưởng của môi trường kinh tế xã hội
sẽ hạn chế bớt rủi ro cho dự án Nhờ đó Ngân hàng cũng lường trước các rủi
ro được tốt hơn trong điều kiện cho vay thời hạn dài
Trang 33CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TRONG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG BA ĐÌNH ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP
NGÀNH XÂY DỰNG
2.1 Giới thiệu khái quát về ngân hàng Công thương Ba Đình
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của chi nhánh
Chi nhánh Ngân hàng Công thương - tiền thân là chi điếm ngân hàngĐội Cấn được thành lập từ năm 1959, là một trong những ngân hàng đầu tiênđược thành lập trên địa bàn thủ đô Hà Nội, có trụ sở chính tại số 126, phốĐội Cấn quận Ba Đình, Hà NỘi
Ngày 01/07/1988, thực hiện Nghị định số 53 ngày 16 tháng 03 năm
1988 của Hội đồng Bộ trưởng, ngành ngân hàng chuyển sang hoạt động theo
mô hình 2 cấp, lấy lợi nhuận làm mục tiêu trong hoạt động kinh doanh, cácNgân hàng thương mại quốc doanh lần lượt ra đời, trong đó có Ngân hàngCông thương Việt Nam Trong bối cảnh đó ngân hàng Ba Đình cũng đượcchuyển đổi thành một chi nhánh ngân hàng thương mại quốc doanh với têngọi là chi nhánh ngân hàng Công thương quận Ba Đình trực thuộc ngân hàngCông thương thành phố Hà Nội, hoạt động kinh doanh với mục tiêu lợinhuận
Ngày 24/03/1993, Tổng giám đốc Ngân hàng Công Thương Việt Nam đã
ra quyết định số 93/NHCT-TCCB về việc giải thể Chi nhánh NHCT Thànhphố Hà Nội, đồng thời chuyển giao hoạt động của các Chi nhánh NHCT trênđịa bàn Thủ đô trực thuộc NHCT Việt Nam Từ đó, chi nhánh NHCT Thànhphố Hà Nội tách ra làm 6 chi nhánh trực thuộc NHCT Việt Nam trong đó cóngân hàng Ba Đình mang tên gọi mới là Chi nhánh NHCT khu vực Ba Đình.Với quyết định này, hệ thống NHCT Việt Nam đã chuyển đổi mô hình hoạtđộng từ hệ thống ngân hàng 3 cấp (Trung ương – Thành phố - Quận) thành hệthống 2 cấp (bỏ đi cấp trung gian là ngân hàng thành phố)
Trang 34Từ năm 1993 trở lại đây, chi nhánh NHCT Ba Đình đã không ngừng đổimới, sắp xếp lại bổ máy tổ chức, đề bạt, bổ nhiệm các cán bộ trẻ có năng lực,trình độ, đa dạng các sản phẩm, dịch vụ, thực hiện cơ chế điều hành mới…Trải qua một giai đoạn không ngừng phấn đấu phát triển, ngày nay chi nhánhNHCT Ba Đình đã trở thành một trong những chi nhánh dẫn đầu của hệ thốngNHCT Việt Nam, có nhiều đóng góp quan trọng cho hệ thống NHCT ViệtNam.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức
Chi nhánh NHCT Ba Đình hiện có trên 300 cán bộ công nhân viên chứclàm việc tại chi nhánh, phòng giao dịch và 11 quỹ tiết kiệm được đặt rải ráctrên khắp địa bàn quận Ngân hàng hoạt động dưới sự điều hành của ban lãnhđạo gồm một giám đốc và bốn phó giám đốc phụ trách các mảng công việckhác nhau
Căn cứ quyết định 151/QĐ-HĐBT-NHCT1 ngày 20/10/2003 của hộiđồng quản trị NHCT Việt Nam về việc phê duyệt mô hình tổ chức của chinhánh NHCT khu vực Ba Đình theo dự án hiện đại hoá ngân hàng được thểhiện qua sơ đồ sau đây:
Phòng khách hàng số 1: là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách
cá nhân
Phòng
kế toán giao dịch
Phòng
kế toán tài chính
Phòng thông tin điện toán
Phòng tài trợ thương mại
Phòng tổng hợp tiếp thị
Phòng kiểm tra nội bộ
Phòng
tổ chức hành chính
Phòng tiền tê kho quỹ
Trang 35lên) để khai thác vốn bằng VND và ngoại tệ; Xử lý các nghiệp vụ liên quanđến cho vay, quản lý các sản phẩm cho vay phù hợp với chế độ, thể lệ hiệnhành và hướng dẫn của ngân hàng Công thương.
Phòng khách hàng số 2: là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với kháchhàng các doanh nghiệp vừa và nhỏ (có vốn đăng ký kinh doanh dưới 10 tỷVNĐ)
Phòng khách hàng cá nhân: là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch vớikhách hàng là các cá nhân để huy động vốn xử lý các nghiệp vụ liên quan đếncho vay bằng VNĐ và ngoại tệ, quản lý các sản phẩm cho vay phù hợp vớichế độ thể lệ hiện hành của NHNN và NHCT; Quản lý hoạt động của các quỹtiết kiệm, Điểm giao dịch
Phòng kế toán giao dịch: là phòng nghiệp vụ thực hiện các giao dịch trựctiếp với khách hàng, tổ chức hạch toán kế toán theo quy định của Nhà nước
và của NHCT Việt Nam Cung cấp các dịch vụ ngân hàng theo quy định củaNHNN và NHCT Việt Nam Quản lý hệ thống giao dịch trên máy, quản lýquỹ tiền mặt trong ngày, thực hiện nhiệm vụ tư vấn cho khách hàng về sửdụng các sản phẩm của ngân hàng
Phòng tài trợ thương mại: là phòng nghiệp vụ tổ chức thực hiện các hoạtđộng về tài trợ thương mại tại chi nhánh theo đúng quy định của Nhà nước vàNHCT Việt Nam
Phòng kế toán tài chính: là phòng nghiệp vụ thực hiện công tác tài chính
kế toán của hoạt động ngân hàng và thực hiện nhiệm vụ chi tiêu nội bộ tại chinhánh
Phòng tổng hợp tiếp thị: là phòng vụ tham mưu cho Giám đốc chi nhánh
dự kiến kế hoach kinh doanh, tổng hợp, phân tích đánh giá tình hình hoạtđộng kinh doanh, thực hiện báo cáo hoạt động kinh doanh hàng năm của chinhánh
Trang 36Phòng tổ chức hành chính: là phòng chịu trách nhiệm chung về mọi hoạtđộng của ngân hàng từ bố trí nguồn nhân lực đến việc đảm bảo những điềukiện vật chất cần thiết cho các phòng để hoàn thành chức năng cho mình.Phòng thông tin điện toán: là phòng nghiệp vụ thực hiện quản lý và duytrì hệ thống thông tin tại chi nhánh, là đầu mối về các mặt công nghệ thông tingiữa chi nhánh với các ngân hàng bên ngoài.
Phòng Tiền tệ kho quỹ: là phòng nghiệp vụ đảm nhiệm chức năng quản
lý an toàn kho quỹ, quản lý quỹ tiền mặt theo quy định của NHNN và củaNHCT Việt Nam
Phòng Kiểm tra nội bộ: là phòng nghiệp vụ có chức năng giúp Giám đốcgiám sát, kiểm tra, kiểm toán các mặt kinh doanh của chi nhánh nhằm đảmbảo thực hiện theo đúng pháp luật của Nhà nước và cơ chế quản lý của ngành
2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của chi nhánh
Trong thời gian qua, mặc dù nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, bên cạnh
đó áp lực cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt nhưng chi nhánhvẫn hoàn thành nhiều chỉ tiêu kế hoạch, đảm bảo hoạt động hiệu quả và đã đạtđược những kết quả nhất định Sau đây là một số hoạt động chính của chinhánh trong những năm qua:
Trang 37Tốc độ tăng trưởng (%)
2.Theo đơn vị tiền tệ
(Nguồn: Phòng tổng hợp tiếp thị )
Trang 38- Hoạt động huy động vốn: mặc dù tình hình lãi suất có nhiều biến động
do sự cạnh tranh giữa các ngân hàng và nhiều nguyên nhân khác, nhưng vớimạng lưới giao dịch rộng (gồm 11 quỹ tiết kiệm nằm rải rác trên khắp địa bànquận) cùng với những biện pháp như đa dạng hóa các hình thức tiền gửi, thựchiện các chương trình khuyến mãi cho khách hàng, …chi nhánh đã huy độngđược nguồn vốn lớn, không những đủ đáp ứng nhu cầu tín dụng của chi nhánh
mà hàng năm đều vượt kế hoạch điều chuyển vốn về NHCT Việt Nam Nhìnchung, trong mấy năm gần đây, tăng trưởng huy động vốn của chi nhánh đềuđạt mức trên 14% Đến ngày 31/12/2004 tổng nguồn vốn huy động đạt 3639
tỷ đồng, tăng 14.01% so với cùng kỳ năm trước, đến 31/12/2005 tổng nguồnvốn huy động đạt 4164 tỷ đồng, tăng 14.43% so với năm 2004 Hoạt độnghuy động vốn tốt đã tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng mở rộng hoạt độngtài trợ cho các dự án trung và dài hạn trong thời gian qua
Trang 39BẢNG 2.2: DOANH SỐ CHO VAY, DƯ NỢ ĐỐI VỚI NÊN KINH TẾ
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu
31/12/2003 31/12/2004 31/12/2005 2004 so với 2003 2005 so với 2004
Doanh số (tỷ)
Tỷ trọng(%
)
Doanh số (tỷ)
Tỷ trọng(%
)
Doanh số (tỷ)
Tỷ trọng(%
)
Số tiền (tỷ)
Tốc độ tăng trưởng(%
)
Số tiền (tỷ)
Tốc độ tăng trưởng(% )
(Nguồn: Phòng tổng hợp và tiếp thị)
Trang 40- Hoạt động tín dụng: Qua bảng 2.1 ta thấy: tính đến cuối năm 2004
dư nợ cho vay của chi nhánh đối với nền kinh tế là 1894 tỷ đồng, tăng 191
tỷ ( + 11.2% ) so với cùng kỳ 2003, tính đến cuối 2005 con số này lên tới
2816, tăng 922 tỷ (+48.7% ) Mức dư nợ tăng cao trong năm 2005 có đượcchủ yếu là do chi nhánh đã chủ động tìm kiếm, khai thác, lựa chọn kháchhàng có tình hình tài chính lành mạnh về vay vốn tại chi nhánh như công
ty VILEXIM vay 25 tỷ, VINAFOOD 665 tỷ…, đồng thời thường xuyênnắm bắt tình hình tài chính của các doanh nghiệp vay vốn
Tuy nhiên tỷ lệ nợ quá hạn trong năm 2005 lên tới 0.7%, trong khinăm 2004 chỉ có 0.31% Điều này là do một số mặt hàng phân bón sắt thép
có thời điểm tiêu thụ chậm, nợ đọng vốn trong đầu tư XDCB kéo dài nênlàm tăng nợ gia hạn và nợ quá hạn cuối tháng 9/2005 lên tới 178 tỷ Trướctình hình đó, chi nhánh đã tiến hành phân tích nợ xấu, đưa ra các biện phápkhắc phục cụ thể, phân công trách nhiệm thu nợ cho từng cán bộ,…nên đến31/12/2005 nợ gia hạn và nợ quá hạn chỉ còn 65 tỷ đồng, trong đó nợ quáhạn 19.6 tỷ đồng
- Các hoạt động khác nhìn chung có tốc độ tăng trưởng cao trong mấynăm qua: thanh toán quốc tế có tốc độ tăng trưởng trên 20%, kinh doanhngoại tệ trên 30% (đặc biệt trong 2005 tổng doanh số mua bán ngoại tệ tăng80.55% so với năm 2004),…
Trong những năm qua, lợi nhuận của chi nhánh luôn đạt vượt mức kếhoạch được giao, thu nhập của người lao động được tăng lên rõ rệt Trongnăm 2005, lợi nhuận hạch toán đạt trên 90.681 triệu đồng, vượt 5.681 triệu
so với kế hoạch, tăng hơn so với năm trước 12.524 triệu đồng, tương đươngvới 16,02% Đạt được những kết quả này là nhờ sự nỗ lực phấn đấu khôngngừng của tập thể cán bộ công nhân viên toàn chi nhánh cũng như nhờ có
sự chỉ đạo sát sao của ban lãnh đạo NHCT Việt Nam Những kết quả này
đã và đang tạo đà phấn khởi cho toàn bộ chi nhánh tiếp tục thực hiện tốt