1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng kiểm soát nguồn thu thuế GTGT từ các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội

69 454 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng kiểm soát nguồn thu thuế gtgt từ các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố hà nội
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản lý thuế
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 207 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng kiểm soát nguồn thu thuế GTGT từ các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 1

Chơng I Thực trạng kiểm soát nguồn thu thuế GTGT

từ các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hà Nội

1.1 Quá trình triển khai Luật Thuế GTGT với kiểm soát nguồn thu thuế GTGT từ các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội.

Việt Nam đang trong quá trình hội nhập với khu vực và quốc tế Để

có chính sách thuế phù hợp với thông lệ quốc tế và cơ chế thị trờng, ViệtNam đã tiến hành cải cách hệ thống và chính sách thuế Ngày 10/05/1997,Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 11 đã thông qua 2 Luật thuế mới: Luật ThuếGTGT và Luật Thuế TNDN và đợc áp dụng từ ngày 01/01/1999

Qua 2 năm thực hiện Luật thuế mới, Luật Thuế GTGT đã tỏ ra cóhiệu quả trong việc kích thích sản xuất kinh doanh, góp phần phát triển sảnxuất, giúp cho việc ổn định và tăng trởng nguồn thu vào NSNN Tuy nhiên,qua thực hiện, có nhiều điểm trong Luật Thuế còn bất cập, không phù hợpvới tình hình thực tế Đã có quá nhiều văn bản sửa đổi, bổ sung, điều này đãgây khó khăn cho các doanh nghiệp và cho các nhà quản lý Vì vậy, ngày29/12/2000, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 79/2000/NĐ-CP hớngdẫn chi tiết thực hiện Luật Thuế GTGT, thực hiện từ 1/1/2001 Nghị địnhnày ban hành thay thế các Nghị định hớng dẫn về thuế GTGT của Chínhphủ đã ban hành trớc đây Bộ Tài Chính đã ban hành Thông t số 122/2000/

TT - BTC ngày 29/12/2000 hớng dẫn thi hành Nghị định này Thông t nàythay thế các Thông t hớng dẫn về thuế GTGT của Bộ Tài chính đã ban hànhtrớc đây

Để thực hiện tốt luật thuế mới trên địa bàn Thành phố Hà Nội,UBND Thành phố Hà Nội đã thành lập Ban chỉ đạo thực hiện các Luật thuếmới bao gồm lãnh đạo các sở, ban, ngành chức năng nhằm tập trung chỉ đạo

tổ chức thực hiện từ ngày 1/1/1999 Công tác chuẩn bị đợc thực hiện tơng

đối tốt Cục thuế Hà Nội đã mở nhiều lớp tập huấn quy trình quản lý thuế,chế độ kế toán và việc sử dụng Hoá đơn theo Luật Thuế GTGT Đồng thời,các doanh nghiệp cũng đã mua Hoá đơn mới để chuẩn bị sử dụng vào ngày1/1/1999 Đến 31/12/1998 đã có 75% số doanh nghiệp mua Hoá đơnGTGT, số còn lại tiếp tục mua vào quý 1/1999

Trang 2

Bên cạnh việc mở các lớp tập huấn, Cục thuế Hà Nội đã phối hợp vớicác cơ quan thông tin đại chúng để tuyên truyền phổ biến các Luật thuếmới, đặc biệt là Luật Thuế GTGT và việc sử dụng Hoá đơn GTGT cho các

đối tợng nộp thuế Cục thuế Hà Nội cũng đã phối hợp với Đài phát thanh vàTruyền hình Hà Nội thực hiện chuyên mục thuế để tuyên truyền những nộidung cơ bản của Luật Thuế GTGT, giải đáp các khó khăn, vớng mắc trongviệc sử dụng Hoá đơn, chứng từ mới và kê khai thuế, nộp thuế

Nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của việc triển khai Luật ThuếGTGT và vai trò của mình, Cục thuế Hà Nội đã thực hiện kiện toàn bộ máy

tổ chức, xác định rõ các chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm của từng phòng,ban

Cơ cấu tổ chức bộ máy Cục thuế Hà Nội từ khi thực hiện Luật Thuế

GTGT nh sau:

Sơ đồ 1 : Cơ cấu tổ chức bộ máy Cục thuế Hà Nội sau khi triển

khai thực hiện Luật Thuế GTGT.

Phòng Nghiệp vụ Phòng ấn chỉ Phòng Tr ớc bạ Phòng Máy tính Phòng Tài vụ Phòng Hành chính

Phòng Thanh tra, Xử

lý tố tụng

Các phòngQuản lý thuquốc doanh

Phòng Tổ chức

Cán bộ

Cục tr ởng Cục Thuế

TP Hà Nội

Trang 3

- Các Phòng Quản lý thu: bao gồm các Phòng Quản lý thu các doanhnghiệp Quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, doanh nghiệpNgoài quốc doanh Các phòng này có nhiệm vụ :

+ Quản lý đối tợng nộp thuế: theo dõi tình hình biến động về đối tợngnộp thuế trên lĩnh vực, địa bàn quản lý nh: nắm số doanh nghiệp phát sinh,doanh nghiệp phá sản, giải thể, sáp, nhập, liên doanh, liên kết Phân tíchtình hình thu nộp, tham gia việc lập dự toán thu, khai thác nguồn thu tronglĩnh vực đợc giao quản lý, tham mu, đề xuất với lãnh đạo Cục các biện phápquản lý thuế

+ Hớng dẫn đối tợng nộp thuế các thủ tục kê khai đăng ký thuế, kêkhai thuế, lập hồ sơ miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế và quyết toán thuế giải đáp các thắc mắc của đối tợng nộp thuế liên quan đến việc tính thuế,thu nộp thuế, lập và tổ chức lu giữ hồ sơ các doanh nghiệp

+ Thực hiện việc kiểm tra các chỉ tiêu kê khai trên các tờ khai đăng

ký kinh doanh, kê khai nộp thuế, hồ sơ đề nghị miễn thuế, giảm thuế, hoànthuế và quyết toán thuế, liên hệ với đối tợng nộp thuế để chỉnh sửa việc kêkhai theo đúng quy định

+ Đề xuất và tham mu cho lãnh đạo Cục giải quyết các trờng hợpmiễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, lập các thủ tục xét miễn, giảm, hoàn thuếtheo quy định, kiểm tra hồ sơ quyết toán thuế, xác định số thuế quyết toántừng doanh nghiệp, cung cấp các thông tin trên cho bộ phận tính thuế

+ Thực hiện việc ấn định thuế cho các đối tợng nộp thuế không nộphoặc chậm nộp tờ khai thuế; xác định các đối tợng nộp thuế cần phát hànhlệnh thu hoặc phạt hành chính thuế

+ Theo dõi tình hình nộp thuế của các doanh nghiệp và đôn đốc, nhắcnhở các doanh nghiệp nộp đúng hạn

- Phòng Kế hoạch - Kế toán - Thống kê và Máy tính có nhiệm vụ:

Trang 4

+ Căn cứ số liệu tình hình phát triển kinh tế, xã hội tại địa phơng,phân tích số liệu thống kê thuế để lập dự toán thu hàng năm của đơn vị,phân bổ kế hoạch và theo dõi tiến độ thực hiện kế hoạch.

+ Thực hiện nhập tờ khai đăng ký thuế và quản lý hệ thống cấp mã số

đối tợng nộp thuế, in giấy chứng nhận đăng ký thuế

+ Xử lý tính thuế, tính nợ, tính phạt nộp chậm, nhận giấy nộp tiền từKho bạc, chấm nợ, nhận các kết quả xét miễn, giảm, hoàn thuế, quyết toánthuế và các kết quả thanh tra, kiểm tra từ các Phòng Quản lý thu và PhòngThanh tra - xử lý tố tụng để tính điều chỉnh số thuế phải nộp của từng đối t-ợng nộp thuế

+ Thực hiện công tác kế toán, thống kê thuế theo chế độ quy định,kiểm tra đối chiếu số thu với Kho bạc

- Phòng Thanh tra - Xử lý tố tụng:

+ Kiểm tra phát hiện các đối tợng có hoạt động sản xuất, kinh doanh,dịch vụ nhng không kê khai đăng ký nộp thuế để đa vào diện quản lý thuthuế

+ Lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra trình lãnh đạo Cục duyệt, tổ chứclực lợng kiểm tra và tiến hành kiểm tra các đối tợng cần kiểm tra về hoạt

động sản xuất kinh doanh, dịch vụ, kiểm tra sổ sách kế toán, Hoá đơnchứng từ mua bán hàng hoá, phát hiện kịp thời các hành vi khai man, trốnlậu thuế, đề xuất các hình thức xử lý theo pháp luật

+ Hỗ trợ các Phòng Quản lý thu để quản lý, đôn đốc thu nộp và thựchiện các biện pháp cỡng chế thu đối với những đối tợng cố tình vi phạmLuật thuế

+Kiểm tra việc chấp hành các quy định về quản lý thu và tính thuếcủa các bộ phận trong Cơ quan Thuế để kịp thời chấn chỉnh những sai sót

Để chuẩn bị cho việc thực hiện Luật Thuế GTGT, Tổng Cục Thuế đãban hành Quyết định số 1368/TCT-QĐ-TCCB ngày 16/12/1998 về Quy

Trang 5

trình quản lý thu thuế Các bộ phận trên sẽ phối hợp đồng bộ để kiểm soátthu thuế theo 5 Quy trình cụ thể là:

- Quy trình đăng ký thuế và cấp mã số thuế

- Quy trình xử lý tờ khai, chứng từ nộp thuế,

- Quy trình xử lý hoàn thuế,

- Quy trình xử lý miễn thuế, giảm thuế, tạm giảm thuế,

- Quy trình xử lý quyết toán thuế

Các quy trình trên có thể tóm tắt bằng sơ đồ 2:

Sơ đồ số 2 : Quy trình kiểm soát nguồn thu thuế.

(3)

(4) (3) (4) (5) (1)+(2) (2)

(5) (1)+(2)

(2) (3)

(4)

(4) (1)+(2)

(2)+(4)

(1) Đăng ký, cấp mã số thuế, doanh nghiệp nộp tờ khai

(2) Xử lý tờ khai, chứng từ nộp thuế, Thông báo thuế, miễn thuế, giảm thuế,tạm giảm thuế

- Phòng Kế hoạch- Kếtoán - Thống kê

- Phòng Máy tínhPhòng

Nghiệp vụ

Trang 6

(3) Doanh nghiệp nộp thuế

(4) Hoàn thuế

(5) Quyết toán thuế

Quy trình quản lý thu thuế này hoàn toàn trên cơ sở các doanh nghiệp

tự đăng ký, kê khai và nộp thuế vào Kho bạc

- Đăng ký và cấp mã số thuế : Doanh nghiệp nộp hồ sơ bao gồm

quyết định thành lập, đăng ký kinh doanh, trong đó kê khai rõ tên, địa chỉkinh doanh, lọai hình doanh nghiệp, các hoạt động kinh doanh, các mặthàng kinh doanh, tài khoản giao dịch ở ngân hàng cho Phòng Hành chính

Hồ sơ này sẽ đợc các Phòng Quản lý thu thuế kiểm tra, xác minh Sau khikiểm tra hồ sơ đăng ký mã số thuế, Phòng Quản lý thu sẽ chuyển hồ sơ cho

bộ phận Máy tính để cấp mã số thuế cho doanh nghiệp

- Kê khai thuế, nộp thuế : Hàng tháng, doanh nghiệp phải kê khai

doanh thu, thuế GTGT đầu ra, giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào, thuếGTGT đầu vào, tự tính thuế phải nộp, gửi tờ khai cho Cục Thuế qua PhòngHành chính Các Phòng Quản lý thu sẽ kiểm tra tờ khai và chuyển choPhòng Máy tính để hạch toán số thuế phải nộp của doanh nghiệp và raThông báo thuế gửi cho doanh nghiệp qua Phòng Hành chính Trong quátrình xử lý tờ khai, nếu có dấu hiệu nghi vấn, Phòng Quản lý thu sẽ phốihợp với Phòng Thanh tra - Xử lý tố tụng để xác minh chính xác số thuế phảinộp

Trên cơ sở Thông báo thuế, doanh nghiệp tự giác lập giấy nộp tiềnvào NSNN và chuyển tiền đến Kho bạc Nhà nớc để nộp thuế

- Miễn thuế, giảm thuế, tạm giảm thuế : Trên cơ sở các quy định của

Luật Thuế GTGT và các Luật có liên quan, doanh nghiệp có thể đợc miễnthuế, giảm thuế, tạm giảm thuế Trong trờng hợp đó, doanh nghiệp phải gửi

đầy đủ hồ sơ đến Cục Thuế để Cục Thuế xem xét, quyết định Đối với cácdoanh nghiệp đã gửi hồ sơ đề nghị miễn thuế, giảm thuế, tạm giảm thuế,Phòng Quản lý thu phối hợp với Phòng Thanh tra - Xử lý tố tụng để xácminh và trình Lãnh đạo Cục Thuế quyết định

Trang 7

- Hoàn thuế : Các doanh nghiệp sẽ đợc hoàn thuế nếu nh số thuế

GTGT đầu vào đợc khấu trừ lớn hơn số thuế GTGT đầu ra Nếu doanhnghiệp có những dấu hiệu vi phạm trong quá trình hoàn thuế, Phòng Quản

lý thu phải phối hợp với phòng Thanh tra - Xử lý tố tụng để xác minh lại.Trong trờng hợp doanh nghiệp đợc hoàn thuế, Phòng Quản lý thu thuế sẽphối hợp với Phòng Nghiệp vụ để trình Lãnh đạo Cục Thuế Quyết địnhhoàn thuế cho doanh nghiệp Quyết định hoàn thuế đợc gửi cho doanhnghiệp và Kho bạc để chuyển trả lại tiền thuế cho doanh nghiệp

- Quyết toán thuế: Hàng năm, căn cứ vào quyết toán thuế GTGT và

báo cáo tài chính của doanh nghiệp, Cục thuế Hà Nội tiến hành kiểm traviệc chấp hành luật thuế tại đơn vị Việc quyết toán thuế hàng năm chính làmột hoạt động kiểm soát của Nhà nớc thông qua cơ quan quản lí là CụcThuế nhằm kiểm soát chặt chẽ các nguồn thu cho NSNN, nhất là nguồn thu

từ thuế GTGT

1.2 Thực trạng công tác kiểm soát nguồn thu thuế GTGT từ các doanh nghiệp theo quy trình quản lý thuế.

1.2.1 - Tác động của Quy trình quản lý thuế đối với Kiểm soát

nguồn thu thuế GTGT.

Sau 2 năm triển khai thực hiện Luật Thuế GTGT, thực tế đã chứngminh Luật Thuế GTGT đã đi vào thực tiễn cuộc sống Công chúng và cácdoanh nghiệp đã tạo đợc thói quen tính toán hiệu quả kinh tế cũng nh sửdụng Hoá đơn, Chứng từ trên cơ sở của Thuế GTGT Đồng thời, thực tếcũng đã chứng minh: Thuế GTGT là loại thuế có tính khoa học, chuyênmôn hoá cao, có tác dụng kích thích mạnh mẽ sản xuất kinh doanh, đầu t vàtạo điều kiện thuận lợi đối với công tác quản lý Nhà nớc về kinh tế Có thểthấy tác dụng của Luật Thuế GTGT trên một số khía cạnh sau:

Thứ nhất, thuế GTGT tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá

phát sinh trong quá trình luân chyển từ sản xuất đến tiêu dùng nên đã loại

bỏ triệt để tính trùng lắp, thuế trùng lên thuế của Thuế Doanh thu tr ớc đây

Điều đó thể hiện tính khoa học của thuế GTGT và tạo điều kiện thuận lợi đểthuế GTGT đợc các doanh nghiệp chấp nhận, ủng hộ

Trang 8

Thứ hai, Luật Thuế GTGT tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất

nhập khẩu Đối với hoạt động nhập khẩu, thuế GTGT đánh vào hàng nhậpkhẩu (điều mà thuế doanh thu không thực hiện đợc) đã tạo ra ba khả năngquan trọng: (1) góp phần khuyến khích và bảo hộ hợp lý sản xuất nội địa(2)cho phép có thể giảm thuế nhập khẩu, thúc đẩy tiến trình Việt Nam hộinhập kinh tế với Thế giới mà trớc mắt là khối ASEAN (3) góp phần chuyểndịch cơ cấu thuế theo hớng nội địa hoá

Đối với hoạt động xuất khẩu, Luật Thuế GTGT đã khuyến khíchmạnh mẽ hàng xuất khẩu Với thuế suất 0% cho hàng hoá xuất khẩu, toàn

bộ thuế GTGT đầu vào đợc hoàn trả cho doanh nghịêp xuất khẩu Thực chất

đây là một biện pháp trợ giá cho các doanh nghiệp xuất khẩu nên đã giúpcác doanh nghiệp tập trung đợc nguồn hàng trong nớc để xuất khẩu và cólợi thế do giảm đợc giá vốn hàng xuất khẩu, nâng cao khả năng cạnh tranhtrên thị trờng Quốc tế Đó là một động lực mạnh mẽ đối với hoạt động xuấtkhẩu mà không một sắc thuế nào có thể tạo ra Vì thế năm 1999, năm đầutiên thực hiện Luật Thuế GTGT, khoảng 1.720 tỷ đồng thuế GTGT đã đợchoàn trả cho các đơn vị xuất khẩu, góp phần quan trọng thúc đẩy kim ngạchxuất khẩu tăng 23,8%, gấp gần 4 lần chỉ tiêu do Quốc hội đề ra

Thứ ba, Luật Thuế GTGT khuyến khích mạnh mẽ việc đầu t tài sản

cố định, đổi mới công nghệ nhằm nâng cao chất lợng sản phẩm, giảm giáthành sản xuất Theo Luật Thuế GTGT, thiết bị máy móc, phơng tiện vậntải chuyên dùng nằm trong dây chuyền công nghệ và vật t xây dựng thuộcloại trong nớc cha sản xuất đợc, cần nhập khẩu thì không thuộc diện chịuthuế GTGT Ngoài ra, toàn bộ thuế GTGT đầu vào của công trình xây dựng

đợc khấu trừ hoặc hoàn trả mà không cấu thành nguyên giá công trình,

đồng thời, kể từ ngày 1/9/1999, hoạt động xây dựng và lắp đặt đợc giảmthuế suất từ 10% xuống 5% Tất cả những điều đó đã tạo điều kiện giảm giáthành xây dựng, lắp đặt, từ đó làm giảm chi phí khấu hao tài sản cố địnhtrong giá thành sản phẩm

Thứ t, Luật Thuế GTGT tạo điều kiện thuận lợi cho việc phản ảnh

trung thực tình trạng sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, giải quyết mối

Trang 9

quan hệ giữa Nhà nớc và doanh nghiệp một cách khách quan, công bằng.Cơ chế vận hành của thuế GTGT là lấy thuế đầu ra trừ đi số thuế đầu vàotrong cùng kỳ Thuế đầu ra phản ánh doanh thu, thuế đầu vào phản ánh giátrị tài sản, vật t, dịch vụ mua trong kỳ Nếu doanh nghiệp không tạo đợcthêm GTGT trong quá trình sản xuất, kinh doanh thì không phải nộp thuế.

Điều này giúp cho các doanh nghiệp có điều kiện để phục hồi, phát triểnsản xuất

Thứ năm, Luật Thuế GTGT tạo điều kiện cho công tác quản lý Nhà nớc về kinh tế, thể hiện trên 2 mặt: Một là, Luật Thuế GTGT giúp tăng c-

ờng chế độ hạch toán kế toán tại các doanh nghiệp Việc tính thuế đợc thựchiện trên Hoá đơn bán hàng và mua hàng, vì thế các doanh nghiệp ngàycàng chú trọng hơn công tác kế toán nhằm hạch toán một cách chính xácgiá trị vật t, hàng hoá, dịch vụ đầu vào, tiết kiệm chi phí, tránh đợc nhữngchi phí khống, giúp sản xuất có hiệu quả hơn Đồng thời các doanh nghiệp

cũng thực hiện lu giữ, bảo quản tốt sổ sách, hoá đơn, chứng từ Hai là, Luật

Thuế GTGT tạo tiềm năng chống trốn thuế Với phơng pháp hành thu liênhoàn làm cho Luật thuế chặt chẽ và tạo cơ chế tự kiểm soát giữa những ngờinộp thuế, từ đó, để đợc khấu trừ thuế, những ngời mua hàng đều phải cần

đến Hoá đơn GTGT, buộc ngời bán phải xuất hoá đơn, loại bỏ hiện tợnggiấu doanh thu nh đã từng gặp đối với thuế doanh thu trớc đây Qua đó, bảo

đảm công bằng giữa các doanh nghiệp trong việc thực hiện nghĩa vụ đối vớiNSNN

Những tác động tích cực của Luật Thuế GTGT có thể phát huy đợc,một phần quan trọng phụ thuộc vào việc xây dựng đợc một Quy trình quản

lý thu thuế một cách khoa học Quá trình thực hiện Luật Thuế GTGT đãcho thấy Quy trình quản lý thu thuế mới đã cải cách công tác hành thu,nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu thuế, đóng góp không nhỏ vào côngcuộc cải cách thuế bớc 2, góp phần giúp cho Nhà nớc kiểm soát chặt chẽ đ-

ợc nguồn thu thuế GTGT

Về thủ tục hành chính thuế, có thể nói từ khi triển khai Luật ThuếGTGT và thực hiện Quy trình quản lý thu thuế mới, thủ tục hành chính thuế

Trang 10

đã đợc cải cách một bớc rất đáng kể Thông qua việc quy định các doanhnghiệp tự tính thuế, tự kê khai và nộp thuế đã khơi dậy đợc ý thức tráchnhiệm trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế Mặt khác, phát huy đợc chứcnăng, quyền hạn của Cơ quan Thuế trong việc hành thu theo chức năng Nhànớc quy định, từng bớc xoá bỏ chế độ chuyên quản thuế Ngoài ra, việc raThông báo thuế đã giúp cho các doanh nghiệp nâng cao ý thức trách nhiệmtrong việc nộp thuế đầy đủ và đúng kỳ hạn, giảm đợc tình trạng dây da, nợ

đọng thuế, từ đó giúp cho Cơ quan Thuế quản lý tốt nguồn thu phát sinh,kiểm soát chặt chẽ nguồn thu thuế GTGT

Đặc biệt, Cục thuế Hà Nội đã chú trọng tới kiểm tra, kiểm soát việc

đăng ký, cấp mã số thuế cho các doanh nghiệp, việc kê khai thuế, tăng cờngviệc xác minh, xử lý hoá đơn, xác định chính xác thuế suất các mặt hàng,xác định số thuế phải nộp của các doanh nghiệp Từ khi áp dụng Quy trìnhquản lý thu thuế mới, hầu hết các doanh nghiệp đã có ý thức tự giác chấphành Luật Thuế và việc nộp thuế đầy đủ, đúng kỳ hạn đã trở thành một mốiquan tâm thờng xuyên đối với các doanh nghiệp Tất cả những điều đó đã

đem lại kết quả đáng kể trong việc huy động nguồn thu vào NSNN Kết quả

cụ thể đợc thể hiện trên bảng 1

Trang 11

Bảng 1: Kết quả thu NSNN và thu thuế GTGT trên điạ bàn thành phố Hà Nội trong những năm qua:

Đơn vị : Tỷ đồng.

Thực hiện 1999

Thực hiện 2000

% so sánh thực hiện 2000

Dự toán năm 2000 của BTC

Dự toán năm

2000 của UBNDTP

Thực hiện 1999

7.533 1.192 290 127 789 405 457 227

132,91 % 95,37 % 132,18 % 124,12 % 105,23 % 121,53 % 80,56 % 73,66 %

132,91 % 95,37 % 125,77 % 122,59 % 105,23 % 121,53 % 80,56 % 73,66 %

120,64 % 74,24 % 100,04 % 102,43 % 116,94 % 126,08 % 98,62 % 93,17 %

Tổng cộng:

Trong đó: Thuế GTGT

7.671

2.295 1.9519.069 118,22 %97,86 % 125,69 %97,80 % 118,22 %85,01 %

Trên địa bàn Thành phố Hà Nội, những kết quả trên đã chứng minh

Quy trình quản lý thu thuế cơ bản là phù hợp với tình hình thực tế của địa

bàn và việc thực hiện tốt Quy trình quản lý thu thuế là một nhân tố quan

trọng để đạt kết quả đó

Tóm lại : Việc xác định thuế GTGT dựa trên cơ sở thuế đầu ra trừ thuế

đầu vào, đã tạo điều kiện cho việc kiểm tra chặt chẽ hoạt động kinh doanh

của các doanh nnghiệp, từ đó đã góp phần quan trọng trong kiểm soát

nguồn thu thuế GTGT Việc xây dựng một Quy trình nộp thuế một cách

khoa học hợp lý sẽ góp phần nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp trong

việc tự kiểm tra giám sát nghĩa vụ của mình đối với Nhà nớc cũng nh giúp

cho Cục Thuế là ngời thay mặt Nhà nớc thực hiện tốt nhiệm vụ của mình là

kiểm soát đợc các nguồn thu và ổn định nguồn thu cho NSNN

1.2.2 - Những mặt tồn tại của Luật Thuế GTGT và quy trình kiểm

soát nguồn thu Thuế GTGT.

Việc thực hiện Quy trình quản lý thu thuế mới đã có những tác động

tích cực không thể phủ nhận Tuy vậy, trong quá trình kiểm soát nguồn thu

Thuế GTGT không tránh khỏi những khó khăn, vớng mắc xuất phát từ các

quy định của Luật Thuế GTGT và bản thân Quy trình quản lý thu thuế

Trang 12

Những vớng mắc trong Luật Thuế GTGT có thể đợc khái quát trênmột số khía cạnh sau:

Thứ nhất là việc đánh thuế GTGT đối với hàng nhập khẩu

Theo Quy trình quản lý thu thuế, ngời nhập khẩu phải kê khai và nộpthuế GTGT ngay tại cửa khẩu Giá tính thuế thuế GTGT hàng nhập khẩubằng giá nhập khẩu (giá CIF) cộng thuế nhập khẩu Rõ ràng ở khâu nhậpkhẩu lại xuất hiện hiện tợng “thuế chồng lên thuế” Hơn nữa, giá nhập khẩu(giá CIF) cộng thuế nhập khẩu của hàng hoá nhập khẩu không phải là giátrị tăng thêm của hàng hoá Cơ chế này tạo ra hai tác động tiêu cực đối vớicơ sở sản xuất kinh doanh:

Một là, doanh nghiệp nhập khẩu phải chịu chi phí đầu vào cao hơn,

do đó dẫn tới tăng giá bán ra, điều này ảnh hởng tới ngời tiêu dùng Do vậytốc độ tiêu thụ hàng hoá của các doanh nghiệp này sẽ bị chậm, doanh thugiảm, ảnh hởng tới kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp nhập khẩu,nhất là những đơn vị nhập khẩu hàng tiêu dùng

Hai là, việc nộp thuế GTGT đồng thời với thuế nhập khẩu sẽ gây khó

khăn cho doanh nghiệp về vốn, doanh nghiệp phải ứng ngay vốn trong khinguyên vật liệu cha đợc đa vào quá trình sản xuất, vốn cha luân chuyển.Những tác động này cần phải đợc khắc phục để tạo điều kiện cho các doanhnghiệp sản xuất kinh doanh, có thể dới hình thức thuế khác với mục tiêubảo hộ sản xuất trong nớc

Thứ hai là đối với việc quy định sử dụng hai loại hoá đơn:

Trong quá trình thực hiện Luật Thuế GTGT, Bộ Chính trị đã có chỉ

đạo tại thông báo số 41/TB-TW ngày 12/02/1997 là ‘những ngời kinh doanh có nơi sản xuất, có cửa hàng, cửa hiệu cố định đều là đối tợng áp dụng thuế GTGT, không nên phân biệt hộ kinh doanh lớn, hộ kinh doanh nhỏ Những ngời kinh doanh không có nơi cố định thì áp dụng chế độ khoán ‘.

Căn cứ vào thực tiễn nớc ta, căn cứ vào sự chỉ đạo của Bộ Chính trị,Luật Thuế GTGT đã đa ra 2 phơng pháp tính thuế là: phơng pháp khấu trừthuế và phơng pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT Phơng pháp khấu trừ

Trang 13

thuế đợc áp dụng đối với các doanh nghiệp đợc thành lập, hoạt động theoLuật DNNN, Luật ĐTNN, Luật Công ty, Luật Hợp tác xã và những hộ kinhdoanh lớn chấp hành tốt chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ Phơng pháp tínhthuế trực tiếp trên GTGT áp dụng chủ yếu đối với những hộ kinh doanh cáthể cha thực hiện tốt chế độ hoá đơn chứng từ Để triển khai, ứng với 2 ph-

ơng pháp tính thuế có 2 loại hoá đơn tơng ứng là Hoá đơn GTGT (dùng cho

đối tợng nộp thuế theo phơng pháp khấu trừ) và Hoá đơn bán hàng (dùngcho đối tợng nộp thuế theo phơng pháp trực tiếp)

Thực chất của phơng pháp tính thuế GTGT trực tiếp là biện phápkhoán thuế giống nh thuế doanh thu trớc đây Hiện nay, chính sách thuế đãsửa đổi, cho phép cả Hoá đơn GTGT và Hoá đơn bán hàng đều đợc khấu trừthuế thì việc quy định sử dụng 2 loại hoá đơn cho 2 đối tợng kinh doanhkhác nhau nh hiện nay là không còn phù hợp

Thứ ba là về Thuế suất thuế GTGT.

Chuyển từ 11 mức thuế suất thuế doanh thu xuống còn 4 mức thuếsuất GTGT (0% - 5% - 10% - 20%) đợc xác định là giai đoạn đầu để dầntiến tới còn 1 mức thuế suất theo mục tiêu, yêu cầu đơn giản, bình đẳng,công bằng mà cải cách thuế bớc II đã đặt ra Nếu so với mức thuế doanh thutrớc kia thì với 4 mức thuế suất GTGT là bớc tiến lớn trong việc cải cáchchính sách thuế, thể hiện sự tiến bộ và đơn giản của Luật Thuế GTGT Tuynhiên thực tế đặt ra 2 vấn đề cần giải quyết:

Thuế suất đợc định ra trên cơ sở công dụng, mục đích sử dụng củahàng hoá, nhng tiêu chí để phân định mục đích sử dụng của hàng hoá, dịch

vụ là rất phức tạp, dẫn đến tình trạng cùng một mặt hàng nhng có thể ápdụng các mức thuế suất khác nhau, chênh lệch nhau Chẳng hạn, nhiều sảnphẩm không có tiêu thức để phân định là sản phẩm cơ khí tiêu dùng hay cơkhí là t liệu sản xuất, các loại hoá chất cơ bản và hoá chất thông thờng

- Việc quy định 4 mức thuế suất với sự chênh lệch tơng đối lớn giữacác mức thuế suất thuế GTGT và thuế doanh thu trớc đây, do vậy nhiềudoanh nghiệp trớc đây nộp thuế doanh thu thấp, nay nộp thuế GTGT vớimức thuế suất cao hơn, gặp nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh

Trang 14

Bên cạnh những vớng mắc của Luật Thuế, Quy trình quản lý thu thuế cũng còn một số hạn chế

Việc ra Thông báo thuế cũng có những bất cập Hầu hết các văn bảnpháp luật về thuế hiện hành đều quy định: các doanh nghiệp phải nộp theo

số thuế và thời hạn ghi trong thông báo của Cơ quan Thuế, mà không đa rayêu cầu các doanh nghiệp sau khi kê khai thuế phải chủ động, tự giác nộp

đầy đủ số thuế đã kê khai vào Kho bạc Nhà nớc theo thời hạn quy định củaLuật Thuế Từ đó tạo ra cho doanh nghiệp có t tởng trông chờ vào thôngbáo nộp thuế hoặc đổ lỗi chậm nộp do Cơ quan Thuế chậm gửi Thông báothuế Bên cạnh đó, thông báo nộp thuế của Cơ quan Thuế vẫn có những tồntại, chẳng hạn:

- Số thuế phải nộp trên Thông báo thuế không đồng nhất với số thuếphải nộp trên tờ khai thuế do việc tính toán lại số thuế phải nộp trên máy vitính của Cơ quan Thuế hoặc do việc nhập số liệu không kịp thời, không

đồng bộ các loại tờ khai thuế và giấy nộp tiền vào NSNN của doanh nghiệp

Từ đó dẫn đến tình trạng phản ứng của doanh nghiệp khi nhận đợc Thôngbáo thuế

- Thời điểm gửi Thông báo nộp thuế đến doanh nghịêp nhiều khi cònchậm so với thời hạn nộp thuế đợc quy định trong các Luật thuế, dẫn đếncác doanh nghiệp nộp chậm thuế, chậm chí còn có trờng hợp doanh nghiệp

đôn đốc Cơ quan Thuế gửi Thông báo để nộp thuế Từ đó đã làm giảm đitính tích cực, chủ động của doanh nghiệp trong việc nộp thuế

- Việc in ấn, chỉnh sửa số liệu nhiều lần dẫn đến việc ra Thông báonộp thuế lãng phí nhiều thời gian, công sức, chi phí và kém hiệu quả

Đánh giá một cách chung nhất, trên thực tế Quy trình quản lý thuthuế hiện nay vẫn cha xoá bỏ đợc triệt để chế độ chuyên quản thuế Mặc dùquy trình quản lý thuế mới quy định cá nhân Cán bộ thuế không đợc quan

hệ trực tiếp với Đối tợng nộp thuế, nhng các quy định khác (nh chế độ báocáo thông tin về doanh nghiệp ) buộc Cán bộ thuế phải trực tiếp tới doanhnghiệp để lấy thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh Do vậy, tạo ra sự

“cả nể” trong khi làm việc giữa Cán bộ thuế và Đối tợng nộp thuế, mặt

Trang 15

khác, ngành Thuế vẫn phải mất khá nhiều nhân lực vào công tác thu thuế

mà hiệu quả công tác lại không cao

Bên cạnh đó, do Quy trình quản lý thu thuế cha có những quy định rõràng về việc phối hợp giữa các Cơ quan Thuế ở các địa phơng khác nhaunên đối với trờng hợp doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn nhiều tỉnh phải

kê khai đăng ký và nộp thuế riêng biệt tại từng tỉnh, đã gặp nhiều khó khăntrong việc kê khai, nộp thuế, có doanh nghiệp còn lợi dụng điểm này đểtrốn thuế Cá biệt, vì bệnh thành tích, các Cơ quan Thuế ở các địa phơngcòn cạnh tranh nhau để thu thuế các đối tợng này Đây là những vớng mắctrong việc thực hiện Quy trình quản lý thu thuế cần phải đợc khắc phụcngay nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát nguồn thu, nhất là nguồn thu từthuế GTGT

1.3 Công tác tổ chức Bộ máy quản lý Thuế đối với kiểm soát nguồn thu thuế GTGT từ các doanh nghiệp.

Theo cơ cấu tổ chức của Cục thuế Hà Nội, các Phòng Quản lý thu quốcdoanh sẽ trực tiếp kiểm soát đối với các DNNN, các Công ty cổ phần và cácdoanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài Các Phòng Quản lý thu ngoài quốcdoanh quản lý các doanh nghiệp t nhân và Công ty TNHH Tất cả các cán

bộ quản lý ở các Phòng Quản lý thu quốc doanh đều có trình độ từ Đại họctrở lên, vì vậy việc kiểm soát các nguồn thu, đặc biệt là nguồn thu từ thuếGTGT đợc thực hiện tơng đối tốt Việc kiểm tra, phát hiện những sai sóttrong quá trình kê khai thuế, kiểm tra quyết toán thuế hàng năm đã làmtăng nguồn thu cho NSNN

Tuy nhiên, việc kiểm soát nguồn thu Thuế GTGT từ các Doanh nghiệpNgoài quốc doanh cha đợc chặt chẽ Bên cạnh việc ban hành QĐ1368, BộTài Chính đã ban hành Thông t 110/1998-TT-BTC ngày 3/8/1998 sửa đổi về

bộ máy Cục Thuế nhằm tổ chức quản lý tập trung các doanh nghiệp, tổchức nộp thuế GTGT theo phơng pháp khấu trừ tại Cục Thuế Thực hiệnnghiêm túc quy định này, các Doanh nghiệp Ngoài quốc doanh trớc đây docác Chi cục thuế quản lý đã chuyển về Cục Thuế quản lý trực tiếp Tuy vậy,trong quá trình triển khai thực hiện các Luật thuế mới, đặc biệt từ khi Luật

Trang 16

doanh nghiệp đợc thực hiện thì số doanh nghiệp tăng lên rất nhanh Do đó,

số lợng các đối tợng nộp thuế do Cục thuế Hà Nội quản lý quá lớn, với 80cán bộ ở 2 Phòng Quản lý thuế các Doanh nghiệp Ngoài quốc doanh (trên5.870 doanh nghiệp) Cán bộ thuế chỉ đủ thời gian để xét duyệt các tờ khaithuế và làm các thủ tục hành chính, không còn thời gian để thực hiện cáckhâu khác của Quy trình quản lý thu thuế Và đó cũng là nguyên nhân dẫn

đến tình trạng là mặc dù sản lợng hàng năm của các Doanh nghiệp Ngoàiquốc doanh tăng lên, mức đóng góp vào GDP của toàn Thành phố tăng lênnhng do bị buông lỏng quản lý, kiểm soát thu thuế GTGT khu vực ngoàiquốc doanh trên địa bàn Hà Nội cha thực hiện tốt, từ đó dẫn đến kết quảthu thuế GTGT của các Doanh nghiệp Ngoài quốc doanh còn thấp, cha đạtchỉ tiêu so với kế hoạch đã đề ra

1.4 Công tác kiểm tra việc chấp hành luật thuế của các doanh nghiệp thông qua quyết toán thuế.

Để làm tốt công tác kiểm tra, kiểm soát nguồn thu thuế GTGT từ cácdoanh nghiệp, ngoài việc kiểm tra tại chỗ trên cơ sở các tờ khai hàng tháng,hàng năm, Cục thuế Hà Nội còn tổ chức kiểm tra quyết toán thuế tại cácdoanh nghiệp Kiểm tra quyết toán thuế thực chất là kiểm tra thực trạnghoạt động tài chính của các doanh nghiệp Việc kiểm tra quyết toán thuếgiúp cho các doanh nghiệp xác định chính xác số thuế phải nộp cũng nhgiúp cho Nhà nớc kiểm soát chặt chẽ đợc nguồn thu thuế của mình

Việc thực hiện kiểm tra quyết toán thuế đợc tiến hành trên những nộidung sau:

Thứ nhất là kiểm tra tính trung thực của các nội dung trên tờ khai

thuế : doanh thu bán hàng, số thuế GTGT đầu ra, giá trị vật t, hàng hoá muavào, các chi phí phục vụ cho quá trình sản xuất, thuế GTGT đầu vào đợckhấu trừ Việc kiểm soát doanh thu và chi phí của các doanh nghiệp đợcthực hiện trên cơ sở hoá đơn, chứng từ Hoá đơn, chứng từ mua, bán hànghoá, dịch vụ là chứng từ gốc để hạch toán tại doanh nghiệp Hoá đơn cũng

là căn cứ để xác định doanh thu, chi phí, từ đó xác định chính xác số thuếGTGT đầu ra , số thuế đầu vào đợc khấu trừ và số thuế GTGT phải nộphoặc đợc hoàn Việc kiểm soát chặt chẽ hoá đơn, chứng từ còn là cơ sở để

Trang 17

xác định chính xác kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp Trên thực tế,nhiều doanh nghiệp đã kê khai không đúng thuế GTGT đầu vào cũng nhthuế đầu ra do hiểu không đúng chế độ hoặc cố tình giấu doanh thu Do đóviệc kiểm tra sẽ chỉ ra tính hiện thực của các thông tin mà doanh nghiệp kêkhai để từ đó xác định chính xác số thuế phải nộp.

Thứ hai là kiểm tra tính hợp pháp của các biểu mẫu, của trình tự lập

và luân chuyển chứng từ Việc kiểm tra này sẽ phát hiện những sai phạmtrong quá trình hạch toán doanh thu, chi phí vào các khoản mục khác (nhhàng tồn kho, các khoản phải thu ) để trốn thuế của doanh nghiệp

Thứ ba là kiểm tra tính hợp lý của các đối tợng kế toán và nội dung

của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh Nhiều doanh nghiệp có quá trình muabán hàng hoá dịch vụ rất phức tạp, qua nhiều công đoạn Nh trong xây dựngcơ bản, hiện tợng phổ biến là nhợng thầu, bán thầu Việc kiểm tra đúngtính chất nghiệp vụ phát sinh để áp đúng thuế suất sẽ giúp Cơ quan Thuếkiểm soát chặt chẽ hơn việc tính thuế GTGT của doanh nghiệp

Thứ t là kiểm tra tính pháp lý trong việc thực hiện chế độ tài chính

của doanh nghiệp Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp hạch toán vào chi phícả những TSCĐ, do đó làm tăng chi phí, giảm thuế TNDN phải nộp Dovậy, kiểm tra việc thực hiện chế độ tài chính sẽ giúp Cơ quan Thuế xác địnhchính xác giá trị doanh thu, chi phí cũng nh thu nhập chịu thuế theo chế độtài chính của Nhà nớc

Kiểm tra quyết toán thuế hàng năm, ngoài việc kiểm tra chấp hànhluật thuế, kiểm soát nguồn thu cho NSNN còn chính là thực hiện kiểm trathực trạng tài chính của các doanh nghiệp Qua kiểm tra, Cục thuế Hà Nội

đã phát hiện ra nhiều sai phạm, nhầm lẫn trong quá trình lập báo cáo củadoanh nghiệp, khai thác tăng thu cho NSNN

Sau đây là bảng số liệu cho thấy Kết quả khai thác tăng thu nguồnthu thuế GTGT ở một số doanh nghiệp sau kiểm tra quyết toán thuế

Bảng 2: Kết quả khai thác tăng thu Thuế GTGT qua kiểm tra quyết toán thuế

Trang 18

Đơn vị : Triệu đồng

TT Tên đơn vị

Kết quả năm 1999 Kết quả năm 2000Số

báocáo

Sốkiểmtra

Chênhlệch

Sốbáocáo

Sốkiểmtra

Chênhlệch

v-Từ khi thực hiện Luật Thuế GTGT, hoá đơn đã và đang trở thành vấn

đề nổi cộm, thu hút sự quan tâm nhất của các doanh nghiệp và các nhà quản

lý Nhìn chung, đại bộ phận các doanh nghiệp đã có nhiều chuyển biếntrong việc chấp hành chế độ quản lý, sử dụng hoá đơn, chứng từ Tuy nhiên,

đã có không ít doanh nghiệp sử dụng hoá đơn, chứng từ để trốn lậu thuế,gây thất thoát cho nguồn thu NSNN Các hình thức vi phạm phổ biến là:

- Trong thực tế, hiện nay việc sử dụng tiền mặt để mua hàng hoá còn

là tình trạng phổ biến Ngời bán sẵn sàng thông đồng với ngời mua bằngcách ghi liên 2 cao hơn liên 1 để trốn thuế cho ngời bán hàng và tham ô chongời mua hàng Từ đó dẫn tới việc khai khống thuế GTGT đầu vào, làmgiảm thuế GTGT phải nộp, gây thất thu cho NSNN

- Mua hoá đơn giả (không do Bộ Tài chính in và phát hành) để kêkhai tăng số thuế đầu vào để đợc khấu trừ

- Bán hàng xuất hoá đơn nhng không kê khai nộp thuế (phổ biến ởcác Doanh nghiệp Ngoài quốc doanh)

Trang 19

- Không viết hoá đơn khi bán hàng: hình thức này phổ biến xảy ra ởcác đơn vị bán lẻ và ở nớc ta, do thói quen ngời tiêu dùng rất ít khi đòi hỏingời bán hàng phải xuất Hoá đơn bán hàng Thói quen này đã vô tình tạo

điều kiện cho các doanh nghiệp trốn thuế Hiện nay vẫn cha có quy định xử

lý nghiêm minh đối với việc bán hàng nhng không viết hoá đơn của cácdoanh nghiệp Đây là một trong những khó khăn, vớng mắc rất lớn đối vớiviệc kiểm soát chặt chẽ thuế GTGT đầu ra

- Một số doanh nghiệp báo mất hoá đơn nhng thực chất là bán và hoá

đơn vẫn đợc lu hành Nhiều doanh nghiệp lại mua lại các hoá đơn báo mấtnày và sử dụng làm hoá đơn đầu vào để đợc khấu trừ

Nh vậy, có thể thấy rằng trong điều kiện bộ máy thanh tra thuế, Cán

bộ thuế còn mỏng, trang bị cho ngành Thuế nh máy tính, nối mạng cònthiếu, sự phối kết hợp giữa ngành Thuế và các cơ quan chức năng cha chặtchẽ, các quy định xử phạt cha nghiêm thì vẫn còn rất nhiều sơ hở trongquản lý hoá đơn để các doanh nghiệp lợi dụng trốn thuế và rút tiền của Nhànớc

Trong lĩnh vực Xây dựng cơ bản cũng xuất hiện những vớng mắcnhất định Theo quy định, các doanh nghiệp xây lắp đều thực hiện viết hoá

đơn và kê khai doanh thu trên cơ sở biên bản nghiệm thu, bàn giao khối ợng xây dựng cơ bản hoàn thành giữa bên A( Chủ đầu t) và bên B (Bênnhận thầu), và lúc này, bên B phải nộp thuế theo giá trị doanh thu trên,

l-đồng thời bên A lại đợc hoàn thuế theo đúng số thuế viết trên hoá đơn Tuyvậy, sau đó, khi cơ quan cấp vốn (Kho bạc - đối với vốn NSNN) , hoặc cơquan có thẩm quyền (đối với các loại vốn khác) thẩm định lại quyết toáncông trình, thì giá trị thanh toán là gía trị đợc duyệt sau khi thẩm định, th-ờng là thấp hơn giá trị trên biên bản nghiệm thu, bàn giao trớc đó Vậy,thực chất doanh thu chịu thuế là giá trị khối lợng sau khi đã đợc thẩm địnhchứ không phải giá trị đã viết trên hoá đơn, điều này vô tình đã làm thấtthoát tiền thuế của Nhà nớc do số thuế đầu vào đợc khấu trừ của bên A lớnhơn số thuế đầu ra phải nộp của bên B Đây là một trong những vớng mắc

Trang 20

cần đợc tháo gỡ kịp thời để xác định doanh thu trong lĩnh vực xây dựng cơbản một cách chính xác, tránh gây thất thu cho NSNN theo kiểu nêu ở trên

1.5 Đánh giá công tác thanh tra thuế GTGT.

Hiện nay, Quy trình quản lý thu thuế GTGT thực chất là quy trình tựtính, tự kê khai và nộp thuế vào Kho bạc Quy trình này đòi hỏi tính tự giáccao của các doanh nghịêp trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế theo Luật

định, đồng thời phát huy chức năng, quyền hạn của Cơ quan Thuế trongviệc hành thu, áp dụng biện pháp xử phạt nghiêm minh đối với các trờnghợp khai man trốn lậu thuế Vì vậy, vai trò của công tác thanh tra thuế trởnên rất quan trọng Nếu buông lỏng thanh tra, kiểm tra thuế sẽ có thể dẫn

đến thất thu thuế, không ngăn chặn đợc các hành vi trốn lậu thuế Khi ápdụng Quy trình quản lý thu thuế với việc tự tính, tự kê khai và tự nộp thuế,ngành Thuế càng phải tăng cờng công tác thanh tra, kiểm tra

Nhận thức đợc tầm quan trọng của công tác thanh tra, kiểm tra, Cụcthuế Hà Nội đã triển khai việc thanh tra, kiểm tra thờng xuyên, kiểm traquyết toán thuế và kiểm tra sau hoàn thuế Đối với công tác thanh tra thờngxuyên, trong năm 2000 Cục thuế Hà Nội đã Thanh tra 62 doanh nghịêpquốc doanh, 197 Doanh nghiệp Ngoài quốc doanh, xác định số thuế phảinộp vào NSNN là 38,7 tỷ đồng, trong đó truy thu và phạt hành chính 27 tỷ

đồng Trong việc kiểm tra quyết toán thuế, Cục thuế Hà Nội đã kiểm tra

542 DNNN và 1.898 Doanh nghiệp Ngoài quốc doanh, sau kiểm tra quyếttoán thuế khai thác tăng thu 174 tỷ đồng Riêng đối với kiểm tra sau hoànthuế, Cục thuế Hà Nội đã kiểm tra đợc 24 doanh nghiệp đợc hoàn thuế, saukiểm tra phát hiện số thuế phải truy hoàn là 20 tỷ đồng Qua kiểm tra pháthiện có 10 doanh nghiệp vi phạm chế độ hoàn thuế, đã xử lý phạt 99 triệu

đồng

Mặc dù vậy, những kết quả trên cha phản ánh đúng thực trạng củaviệc vi phạm pháp luật thuế mà công tác thanh tra phải kiểm soát đợc Thựchiện cải cách hành chính thuế, dần dần xoá bỏ chế độ chuyên quản nhngcác Phòng Quản lý thu thuế vẫn coi công tác thanh tra, kiểm tra là củaPhòng Thanh tra Sự phối hợp giữa Phòng Thanh tra- Xử lý tố tụng với các

Trang 21

Phòng Quản lý thu thuế cha mạnh mẽ và thờng xuyên Cục thuế Hà Nội vẫncha xây dựng đợc kế hoạch kiểm tra, thanh tra một cách cụ thể cho từngphòng Do vậy, trong năm 2000, kiểm tra quyết toán thuế, kiểm tra hoànthuế, kiểm tra sử dụng hoá đơn cha đợc thực hiện tốt, nhất là kiểm tra sauhoàn thuế là công việc rất mới và phức tạp, có thể có nhiều doanh nghiệplợi dụng hoàn thuế để chiếm đoạt tiền của Nhà nớc.

Mặt khác, vì bỏ chế độ chuyên quản nên việc nắm bắt thông tin vềtình hình sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của các doanh nghiệpnhiều khi không đợc kịp thời, chính xác, ảnh hởng đến việc đánh giá, phântích về thuế đối với các doanh nghiệp, các khu vực kinh tế, đặc biệt là các

đơn vị hạch toán toàn ngành, các Tổng công ty 90,91

Về phơng pháp kiểm soát thuế GTGT, hiện nay các Cán bộ thuế vẫn

sử dụng các phơng pháp kiểm soát trên chứng từ là chủ yếu Việc kiểm travẫn dựa trên tờ khai thuế GTGT do các doanh nghiệp tự kê khai là chínhtrên cơ sở đối chiếu trực tiếp với hoá đơn, chứng từ Trên thực tế, để trốnthuế, doanh nghiệp hoàn toàn có thể hoàn chỉnh bộ chứng từ gốc gồm hoá

đơn, chứng từ và sổ cái, sổ phụ, nhật ký chứng từ với việc kê khai thuếGTGT Do vậy, phơng pháp đối chiếu trực tiếp không phát huy hiệu quả khidoanh nghiệp không kê khai doanh thu mua, bán hàng hoá Để thực hiệntriệt để chống thất thu thuế GTGT, ngành Thuế cần phải đối chiếu hoá đơnmua, bán hàng hoá của các doanh nghiệp có liên quan với sự trợ giúp củamáy tính

Về các dấu hiệu nghi ngờ vi phạm trên tờ khai thuế GTGT, hiện naytheo Quy trình quản lý thu thuế thực hiện theo nguyên tắc: doanh thu thángnày tăng, giảm quá mức so với tháng trớc; thuế phát sinh tháng này tăng,giảm quá mức so với tháng trớc; thuế đợc khấu trừ quá lớn so với thuế đầura Trong tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có nhiều diễnbiến phức tạp do thị trờng, do sự thay đổi của cơ chế chính sách nh hiệnnay thì những dấu hiệu vi phạm trên là quá cứng nhắc để Cơ quan Thuếthực hiện kiểm tra, thanh tra đối với doanh nghiệp

Trang 22

Việc xử lý vi phạm pháp luật về thuế hiện nay cũng còn rất nhiều

điều cần bàn Trớc hết là do các quy định xử phạt hành chính, kinh tế vàhình sự đối với các đối tợng nộp thuế cha có tính răn đe mạnh Và dờng nhcác quy định về thuế chỉ chú trọng tới việc tháo gỡ khó khăn vớng mắc chocác doanh nghiệp, các ngành, các lĩnh vực mà cha quan tâm tới việc chấphành Luật thuế Chẳng hạn, hiện nay quy định doanh nghiệp bị phạt nộpchậm 0,1% một ngày trên số tiền thuế chậm nộp theo Thông báo thuế nhnghầu nh tất cả các quy định về thuế đều cho phép doanh nghiệp đợc điềuchỉnh, bổ sung doanh thu, thuế phải nộp kê khai sót vào lần kê khai sauhoặc vào kỳ quyết toán thuế Điều này đã tạo sơ hở để các doanh nghiệp lợidụng kê khai thiếu thuế mà không sợ bị xử lý hành vi trốn, lậu thuế

Bên cạnh đó, việc thực hiện xử phạt của Cơ quan Thuế trên nhữngquy định xử lý hiện hành vẫn cha thực sự nghiêm minh Trong khi nạn sửdụng hoá đơn giả, mua bán hoá đơn đang trở thành quốc nạn của ngành Tàichính thì trên địa bàn Hà Nội, Cục thuế Hà Nội cha có biện pháp để xử lýnhững vi phạm về sử dụng hoá đơn chứng từ, bán hàng không xuất hoá đơn,ghi giá trong hoá đơn thấp hơn giá bán thực tế Việc xử lý các vi phạmkhác về thuế nh tính sai thuế suất, lập bảng kê khống, lợi dụng hoàn thuế đểrút tiền Nhà nớc chỉ đợc xử lý ở mức xử phạt hành chính, theo kiểu "gọi làcó" Do vậy, những hành vi vi phạm Luật thuế xảy ra khá phổ biến, làmgiảm ý thức tự giác nộp thuế của các đối tợng nộp thuế Tất cả các hiện t-ợng trên đã và đang làm giảm tính hiệu lực của Luật thuế, cũng nh cha pháthuy đợc quyền lực của Cơ quan Thuế với t cách là một cơ quan công quyền

để hoàn thành tốt nhiệm vụ đợc giao

1.6 Về công tác kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp.

Theo định nghĩa tại phần 1.3.3 thì nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ làphải đáp ứng đợc yêu cầu của các nhà quản lí, đó là: Tài sản của doanhnghiệp có đợc bảo vệ tốt không, các quy tắc, quy phạm của Công ty có đợctuân thủ không, sổ sách tài chính có đợc ghi chép đầy đủ không Điều quan

Trang 23

trọng nữa là phát hiện gian lận và giữ gìn mọi thứ nguyên vẹn Trên phạm

vi rộng hơn nữa, kiểm toán nội bộ cũng đợc coi là sự mở rộng liên quanchặt chẽ tới công việc của Kiểm toán viên bên ngoài, do đó nếu làm tốtcông tác kiểm toán bội bộ sẽ giúp cho nhà quản lí doanh nghiệp, cũng nhcác cơ quan quản lí nắm vững đợc hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp ở mọi khâu, do đó nó cũng giúp cho kiểm soát nguồn thuthuế GTGT ngày càng chặt chẽ Kiểm toán viên bên ngoài quan tâm đến sự

đúng đắn của báo cáo tài chính, còn Kiểm toán viên nội bộ quan tâm hàng

đầu vào hiệu quả chung của các nghiệp vụ và khả năng có lãi của công ty.Việc kiểm tra của Cơ quan Thuế đối với hoạt động tài chính của doanhnghiệp cũng giống nh là việc kiểm tra của Kiểm toán viên bên ngoài Dovậy việc kết hợp giữa Kiểm toán nội bộ và Cơ quan Thuế nhằm đảm bảo nộidung kiểm toán đợc đầy đủ, giảm thiểu công việc bị trùng lặp, giúp cho việckiểm soát chặt chẽ nguồn thu ngay tại doanh nghiệp Đồng thời, tăng cờngtính tự giác của doanh nghiệp đối với việc chấp hành các chủ trơng, chínhsách của Nhà nớc trong đó có việc chấp hành các Luật thuế Vì vậy, hệthống kiểm soát nội bộ có vai trò vô cùng quan trọng trong kiểm soát nguồnthu NSNN, đặc biệt là nguồn thu thuế GTGT

Về nguyên tắc, Bộ phận Kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp là bộphận có thể trợ giúp hiệu quả nhất cho công tác kiểm soát nguồn thu thuếGTGT Bởi vì thuế GTGT bao trùm lên tất cả các giao dịch kinh tế về mua,bán hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp, và do vậy khối lợng công việckiểm soát sẽ là vô cùng lớn Vì vậy báo cáo kế toán sau khi đã đợc sự kiểmsoát của Kiểm toán nội bộ sẽ giúp Cơ quan Thuế nắm chính xác đợc nguồnthu thuế phát sinh tại doanh nghiệp, nhất là nguồn thu từ thuế GTGT Hơnnữa, Bộ phận Kiểm toán nội bộ nếu đợc thực hiện tốt còn mang ý nghĩa tíchcực với doanh nghiệp là kịp thời có những kiến nghị về chính sách thuế,giúp cho Nhà nớc nắm đợc những thông tin về tác động của thuế đối vớihoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, do đó có những điềuchỉnh kịp thời

Trang 24

Trên thực tế, khi thực hiện thanh tra, kiểm tra thuế tại các doanhnghiệp, các Cán bộ thuế vẫn làm việc trực tiếp với Kế toán trởng doanhnghiệp Theo pháp lệnh Kế toán - Thống kê, Kế toán trởng có hai chứcnăng: chức năng tổ chức hạch toán kế toán các thông tin kế toán của doanhnghiệp và chức năng kiểm tra kiểm soát của cấp trên đặt tại doanh nghiệp.Hai chức năng đối lập có tính chất chế ớc lẫn nhau cùng đợc đặt vào mộtcon ngời (Kế toán trởng) đã tạo ra một môi trờng thuận lợi cho việc thaotúng thông tin, phản ánh sai lệch kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp Và mặc dù Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định832/TC/QĐ/CĐKT ngày 28/10/1997 về việc ban hành Quy chế kiểm toánnội bộ để thực hiện việc kiểm tra, xác nhận và đánh giá một cách độc lập,khách quan các thông tin trong nội bộ doanh nghiệp, nhng trên thực tế, rất

ít doanh nghiệp tổ chức một cách nghiêm chỉnh Bộ phận Kiểm toán nội bộtheo đúng yêu cầu đặt ra

Trớc hết phải kể đến là sự nhận thức không đầy đủ của Giám đốc, Kếtoán trởng cũng nh các tổ chức Đảng, Công đoàn về vai trò của kiểm toánnội bộ, thậm chí thái độ và cung cách quản lý của Giám đốc hoặc Hội đồngquản trị có chi phối rất lớn đến việc định hình Bộ phận Kiểm toán nội bộtrong doanh nghiệp Bộ máy kiểm toán nội bộ thành lập ra ở đơn vị chỉmang tính hình thức Nhiều ngời làm nhiệm vụ kiểm soát có trình độchuyên môn thấp, thậm chí có một số ngời đợc giao nhiệm vụ dựa trên mộtcơ sở duy nhất là đạo đức Trong tình hình quốc nạn tham nhũng đang giatăng hiện nay, cá biệt có một số doanh nghiệp sử dụng Kiểm toán nội bộlàm công cụ nhằm “làm sạch” chứng từ để đối phó với Cơ quan Thuế

Tiếp theo, đó là sự quản lý và hớng dẫn chuyên môn nghiệp vụ củacác cơ quan chức năng của Nhà nớc Hiện nay Bộ Tài chính mới ban hànhQuyết định số 832/TC-QĐ/CĐKT ban hành Quy chế kiểm toán nội bộ tạicác doanh nghiệp Tuy nhiên có ý kiến cho rằng đây mới chỉ là giải phápmang tính tình thế trớc thực trạng và nhu cầu kiểm soát nội bộ của các

Trang 25

doanh nghiệp, các Tổ chức kinh tế Nhà nớc Và vì Bộ Tài chính vừa là cơquan quản lý, giám sát các hoạt động tài chính của doanh nghiệp nên việc

Bộ Tài chính ban hành và quản lý các chuẩn mực kiểm toán nội bộ là viphạm nguyên tắc cơ bản nhất của kiểm toán là tính độc lập Vì những ýkiến trên, và vì sự đòi hỏi của công tác quản lý Nhà nớc, hy vọng rằng trongthời gian tới các Luật Kế toán, Luật Kiểm toán ra đời sẽ đặt nền móng mộtcách vững chắc cho công tác kiểm toán nội bộ tại các doanh nghiệp đợctriển khai thực hiện

Những vấn đề trên hiện đã và đang ảnh hởng rất lớn tới những chuẩnmực chuyên môn của kiểm toán nội bộ, đó là tính độc lập, phạm vi côngviệc cũng nh khả năng chuyên môn, từ đó làm sai lệch các thông tin màchính ra phản ánh đúng thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp và ảnh hởng đáng kể theo chiều hớng tiêu cực đến kiểm soátthu thuế GTGT

1.7 Các nhân tố ảnh hởng đến kiểm soát nguồn thu thuế GTGT từ các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội.

1.7.1 - Tác động của việc ban hành các văn bản pháp quy.

Để đa Thuế GTGT trở thành một công cụ có tính khoa học, chuyênmôn hoá của quản lý Nhà nớc, Quốc hội nớc ta đã thông qua Luật ThuếGTGT Luật Thuế GTGT từ khi mới đợc thực hiện đã thể hiện rõ tính u việt

so với Luật Thuế doanh thu trớc đây, tạo điều kiện thuận lợi để Thuế GTGT

đi vào cuộc sống Đây là thành công cơ bản của Luật Thuế GTGT Mặc dùvậy, trong quá trình thực hiện có nhiều vớng mắc từ phía các doanh nghiệp,

do vậy UBTVQH, Chính phủ và Bộ Tài chính đã phải ban hành nhiều vănbản dới Luật để chỉnh sửa, bổ sung Việc chỉnh sửa, bổ sung này ít nhiều đãlàm xói mòn tính trung lập của Thuế GTGT và làm cho kiểm soát nguồnthu thuế GTGT gặp nhiều trở ngại

Trở ngại lớn nhất phải nói đến ở đây là việc ban hành quá nhiều vănbản pháp quy Tính đến nay, UBTVQH đã thông qua 2 Nghị quyết, Chínhphủ đã ban hành 3 Nghị định, Bộ Tài chính ban hành 27 Thông t khác nhau

Trang 26

hớng dẫn trong 2 năm triển khai thực hiện Luật Thuế GTGT Việc ban hànhchỉnh sửa, bổ sung quá nhiều nội dung thực hiện Luật Thuế GTGT có thểtháo gỡ cho một bộ phận doanh nghiệp này nhng lại gây khó khăn cho cácdoanh nghiệp khác Làm cho các doanh nghiệp khác không nắm bắt kịpthời để thực hiện tốt Bên cạnh đó, các nội dung đợc chỉnh sửa, thay đổi lạitập trung chủ yếu vào các vấn đề là thuế suất và diện đợc hởng thuế suất u

đãi Do vậy, ít nhiều việc ban hành các văn bản pháp quy đã làm mất tínhtrung lập, mất tính công bằng của Luật thuế đối với các thành phần kinh tếkhác nhau, các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau

Đối với kiểm soát nguồn thu thuế GTGT, việc quy định quá nhiềumức thuế suất, nhiều tỉ lệ khấu trừ khác nhau đã làm cho việc thực hiện trởnên khó khăn hơn Cán bộ thuế phải đối chiếu trên nhiều loại hàng hoákhác nhau để xác định đúng mức thuế suất, đúng tỉ lệ khấu trừ Bên cạnh

đó, hàng hoá với công dụng khác nhau khiến Cán bộ thuế lúng túng khi tínhthuế

Trên khía cạnh pháp luật, một trở ngại nữa là cho đến nay, Cơ quanThuế vẫn cha đợc giao quyền điều tra, khởi tố các đối tợng nộp thuế viphạm nghiêm trọng Luật thuế Điều này làm giảm quyền lực của Cơ quanThuế trong việc thực thi Pháp luật thuế, làm giảm hiệu quả của kiểm soátnguồn thu thuế GTGT Mặt khác, cũng làm cho ngời dân và giới doanhnghiệp có cảm giác bị áp đặt khi chịu sự kiểm soát của Cơ quan Thuế

Ngoài ra, nh đã trình bày ở những phần trớc, ở tất cả các khâu củaQuy trình quản lý thu thuế, từ xác định đối tợng chịu thuế, thuế suất để tínhthuế đến khấu trừ thuế, hoàn thuế và cuối cùng là thanh tra, kiểm tra thuế,các quy định của Nhà nớc vừa thiếu lại vừa thừa, làm cho kiểm soát thuthuế GTGT gặp nhiều trở ngại Tất cả những điều đó đã làm giảm hiệu quảcủa kiểm soát nguồn thu thuế GTGT và việc thực hiện động viên nguồn thuthuế GTGT vào NSNN không đạt đợc mục tiêu ban đầu đã đề ra là độngviên 19-20% GDP vào NSNN

Trang 27

1.7.2 - Tác động của ý thức xã hội đối với kiểm soát nguồn thu

là ngời chịu thuế GTGT thì các mục tiêu đặt ra để quản lý thu thuế GTGT

sẽ không thể thực hiện đợc

Đối với giới doanh nghiệp thì một trong những yêu cầu khi thực hiệnLuật Thuế GTGT là phải thực hiện tốt Pháp lệnh Kế toán - Thống kê Sổsách kế toán, hoá đơn chứng từ phải đợc ghi chép, lu giữ đầy đủ, hạch toánchính xác Tuy vậy, trên thực tế các doanh nghiệp cha thực sự quan tâm mộtcách đầy đủ vấn đề này Một số doanh nghiệp do không cạnh tranh đợc với

t thơng (trong ngành Thơng mại) đã mua hàng ngoài thị trờng, mua của

ng-ời buôn chuyến, mua của ngng-ời sản xuất nhỏ không có hoá đơn chứng từnghiêm chỉnh, việc hạch toán chỉ là hình thức, các số liệu doanh thu, chi phínhiều khi chỉ là những chứng từ viết tay, điều đó sẽ dẫn tới tình trạng phản

ánh chi phí không trung thực, ảnh hởng đến số thuế phải nộp của doanh

Trang 28

nghiệp Vấn đề này hiện nay vẫn đang là một trở ngại trong việc kiểm tra,thanh tra thuế tại các doanh nghiệp.

Xét về gốc rễ của vấn đề, trong quản lý Nhà nớc dờng nh trốn thuế vàtránh thuế là những vấn nạn, là căn bệnh kinh niên của nền kinh tế Cácdoanh nghiệp luôn tìm những kẽ hở của Luật thể để lách Luật, tránh thuế.Trong quá trình thực hiện Luật Thuế GTGT có sự sửa đổi thuế suất một sốngành nghề Chẳng hạn nh ngành Xây dựng cơ bản, trớc tháng 9/1999 thìphải chịu thuế suất 10% nhng sau thời điểm đó thuế suất chỉ có 5% Một sốdoanh nghiệp lợi dụng điểm này, thoả thuận với bên chủ đầu t để kéo dàithời gian quyết toán công trình nhằm giảm thuế đầu ra, từ đó giảm thuếGTGT phải nộp Trong quá trình thực hiện Luật Thuế GTGT, nhiều thủ

đoạn tránh thuế ngày càng tinh vi cùng xuất hiện với sự triển khai Luật thuếcủa ngành Thuế Để ngăn chặn các hiện tợng trốn thuế, tránh thuế thì chỉ cómột hệ thống Luật thuế đầy đủ, chặt chẽ cùng với bộ máy thực thi đủ quyềnlực, với đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn giỏi mới có thể thực hiện đ-ợc

Tóm lại, trong 2 năm thực hiện Luật Thuế GTGT, kiểm soát nguồn

thu thuế GTGT từ các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội đã đợc thực hiện

t-ơng đối tốt và thu đợc kết quả cao, trong đó thành công nhất là đã đa LuậtThuế GTGT đợc triển khai vào đời sống kinh tế - xã hội của Thủ đô Việcthực hiện Luật Thuế GTGT đã góp phần khuyến khích sản xuất, kinh doanh

và đầu t của các doanh nghiệp, đặc biệt là thúc đẩy kinh ngạch xuất khẩutăng trởng lớn, các doanh nghiệp đã có thói quen tính toán hiệu quả kinh tế

và thực hiện chế độ kế toán nghiêm túc theo Luật Thuế GTGT

Bên cạnh đó, kiểm soát thu thuế GTGT thông qua Quy trình quản lýthu thuế mới cũng đã đợc cải cách đáng kể, nâng cao trách nhiệm củadoanh nghiệp trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cũng nh trách nhiệmcủa Cơ quan Thuế

Trang 29

Tuy vậy, kiểm soát nguồn thu thuế GTGT từ các doanh nghiệp trên

địa bàn Hà Nội vẫn cha đợc thực hiện tốt, cha bao quát hết các hoạt độngkinh tế của các doanh nghiệp nhất là các Doanh nghiệp Ngoài quốc doanh.Trong các khâu của Quy trình quản lý thu thuế: kê khai thuế, khấu trừ thuế,quyết toán thuế còn nhiều vớng mắc, từ đối tợng chịu thuế, đối tợng nộpthuế cho đến thuế suất, do đó gây trở ngại cho kiểm soát thuế Mặt khác,các quy định xử phạt các hiện tợng trốn thuế, tránh thuế, sử dụng hoá đơnchứng từ bất hợp pháp hiện nay vẫn cha tạo điều kiện cho kiểm soát nguồnthu thuế GTGT Ngoài ra, công tác kiểm toán nội bộ trong các doanhnghiệp hiện nay còn rất yếu, cha trở thành công cụ hiệu quả trợ giúp chocông tác quản lý thu thuế của Nhà nớc Tất cả những vấn đề trên cần phải đ-

ợc nghiên cứu, hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả của kiểm soát nguồn thuthuế GTGT từ các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội

Trang 30

có nhiệm vụ tuân thủ các mục tiêu của quản lý Nhà nớc cũng nh định hớngphát triển, nuôi dỡng các nguồn thu, vì vậy trớc hết, theo tác giả, việc kiểmsoát nguồn thu thuế GTGT phải xuất phát từ những định hớng, những quan

điểm cơ bản về quản lý thu thuế GTGT đối với các doanh nghiệp trong thờigian tới

Trong giai đoạn 2001 -2010, kinh tế trở thành lĩnh vực trung tâm, chiphối mọi hoạt động trong xã hội Xu hớng hình thành nền kinh tế tri thứcngày càng bộc lộ rõ nét, làm thay đổi cơ bản về phơng thức làm việc vàquản lý truyền thống Hội nhập quốc tế sẽ diễn ra mạnh mẽ cả về bề rộng

và chiều sâu, cuộc cạnh tranh trên thị trờng nội địa sẽ trở nên gay gắt, nhất

là sau năm 2006 khi phải tuân thủ các cam kết quốc tế Chính sách tài chính

- tiền tệ trở thành công cụ chủ chốt điều tiết vĩ mô nền kinh tế, một phần dobản chất kinh tế của các công cụ của chính sách tài chính - tiền tệ nh thuế,chi tiêu NSNN, lãi suất, tỉ giá Trong nền kinh tế thị trờng, một phần do xuhớng thay đổi chức năng và nhiệm vụ quản lý kinh tế của Nhà nớc từ sửdụng những công cụ trực tiếp sang gián tiếp, từ can thiệp sâu và rộng sangnới lỏng sự can thiệp Trong bối cảnh đó, thuế trở thành công cụ quan trọngtrong quản lý Nhà nớc, khối lợng đối tợng quản lý thuế tăng, phơng thức

Trang 31

quản lý thuế cũng thay đổi cho phù hợp với sự tiến bộ của khoa học - côngnghệ, nhất là công nghệ thông tin.

Quan điểm cơ bản của chiến lợc cải cách thuế giai đoạn 2001 - 2010

là tiếp tục hoàn thiện các mục tiêu của cải cách thuế bớc II Việc động viênqua thuế và phí vào NSNN phải vừa giải quyết hài hoà về lợi ích kinh tếgiữa Nhà nớc và Xã hội, vừa bảo đảm nguồn thu tài chính để Nhà nớc thựchiện chức năng điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế, thực hiện các chính sách xãhội, bảo vệ an ninh, quốc phòng

Với quan điểm cơ bản đó, mục tiêu yêu cầu của cải cách thuế tronggiai đoạn 2001 - 2010 là:

Thứ nhất - Thuế bảo đảm nguồn thu vững chắc cho NSNN để đáp ứng

đầy đủ nhu cầu chi thờng xuyên và phần cơ bản của chi đầu t thuộc NSNN.Thuế và Phí là nguồn thu chủ yếu của NSNN, mức huy động chiếm từ 20%

đến 21% GDP

Thứ hai - Thuế góp phần điều chỉnh các cơ cấu kinh tế theo hớng

khuyến khích xuất khẩu, phát triển kinh tế nông nghiệp, kinh tế trang trại

để tăng khối lợng sản phẩm nông nghiệp, khuyến khích hoạt động chế biếnnông sản để sử dụng nguồn nguyên liệu trong nớc phục vụ cho mục tiêu

đẩy mạnh sản xuất hàng xuất khẩu, khuyến khích đầu t vào các ngành cólợi thế, giải quyết nhiều lao động, các vùng trọng điểm phục vụ sự nghiệpcông nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc

Thứ ba - Chính sách thuế bảo đảm bình đẳng, công bằng giữa các

thành phần kinh tế, bảo đảm tính rõ ràng, ổn định

Thứ t - Chính sách thuế bảo đảm phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo

điều kiện thuận lợi thực hiện hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới

Thứ năm - Cải cách thuế phải nâng cao năng lực Bộ máy quản lý

Thuế và hoàn thiện thủ tục hành chính thuế cho phù hợp với các yêu cầu

Trang 32

của xã hội nhằm tăng cờng sự tuân thủ nghĩa vụ thuế của các đối tợng nộpthuế.

Quá trình thực hiện các mục tiêu này sẽ làm cơ cấu thuế nớc ta thay

đổi theo chiều hớng:

- Thuế nhập khẩu giảm dần tỉ trọng trong tổng nguồn thu NSNN vàkhông còn là nguồn thu lớn nhất trong NSNN

- Thuế GTGT và Thuế TNDN trở thành 2 loại thuế đóng góp nhiềunhất trong NSNN, chiếm khoảng 50% tổng thu từ thuế

- Thuế thu nhập cá nhân giữ một vị trí ngày càng quan trọng, gópphần nhiều hơn vào quá trình điều hoà thu nhập xã hội

- Tỷ trọng các sắc thuế khác biến động không đáng kể trong tổngnguồn thu NSNN

Theo tiến trình Việt Nam gia nhập các tổ chức kinh tế quốc tế, đếnnăm 2006 Việt Nam đã cơ bản hoàn thành việc thực hiện cắt giảm thuếquan (CEPT) để gia nhập đầy đủ về Thơng mại với các nớc ASEAN Khi đóthuế suất thuế nhập khẩu các mặt hàng chủ yếu chỉ còn tối đa là 5%; ViệtNam tiếp tục mở rộng và tham gia hội nhập với khu vực và trên thế giới.Trong giai đoạn này, các ngành dịch vụ sẽ phát triển, đầu t nớc ngoài tăng,

đặc biệt là các ngành sản xuất, chế biến, chế tạo Tổng sản phẩm nông,lâm, ng nghiệp chiếm 20% -25% trên tổng GDP, lao động trong ngành nàychỉ chiếm 55-60% tổng lao động toàn xã hội Vì vậy, mục tiêu cụ thể củachính sách thuế GTGT trong giai đoạn này là:

* Về mặt tài chính Ngân sách.

Thu về thuế GTGT là nguồn thu quan trọng của NSNN Do đó thuếGTGT phải hình thành một nguồn thu tập trung, ổn định, đem lại số thuquan trọng cho NSNN Số thuế GTGT thu đợc ngày càng tăng qua các nămcả về tỉ trọng trong tổng số thuế gián thu nói riêng và thu NSNN nói chung

Trang 33

để bảo đảm phù hợp với tình hình cắt giảm thuế nhập khẩu trong quá trìnhtham gia hội nhập.

* Về mặt kinh tế.

Chính sách thuế GTGT phải bảo đảm mức động viên hợp lý đối vớihoạt động sản xuất kinh doanh, có tác dụng khuyến khích, thúc đẩy sảnxuất phát triển, thu hút vốn đầu t nớc ngoài

Chính sách thuế phải tăng cờng chế độ hạch toán kinh tế tại cácdoanh nghiệp, buộc tất cả các cơ sở kinh doanh phải tuân thủ đúng tiêuchuẩn định mức, triệt để thực hành tiết kiệm, nhằm giảm tối đa giá thànhcủa hàng hoá tiêu thụ Bên cạnh đó, chính sách thuế cũng hỗ trợ thiết thựchoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ mới vào kinh doanh,khuyến khích sáng kiến cải tiến kỹ thuật, từng bớc nâng dần chất lợng củahàng hoá sản xuất trong nớc

Thuế GTGT phải phục vụ có hiệu quả chủ trơng giải phóng mọi nănglực sản xuất, bảo đảm sự cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tếtrên cơ sở bình đẳng về động viên đóng góp thuế, thúc đẩy việc tổ chức vàsắp xếp lại sản xuất, chuyển mạnh các doanh nghiệp sang hạch toán kinhdoanh, cổ phần hoá các doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả kinh tế

Việc áp dụng thuế GTGT phải gắn với cải cách hệ thống thuế hiệnhành ở nớc ta, tạo thành một cơ cấu thuế hợp lý có tính tơng đồng với hệthống thuế tiên tiến của thế giới tạo tiền đề thực hiện điều chỉnh thu NSNNbằng hệ thống thuế hữu hiệu phù hợp với cơ chế thị trờng, thúc đẩy sản xuấtkinh doanh phát triển

Trang 34

thành phần kinh tế trong xã hội vào đờng lối, chính sách của Đảng và Nhànớc Việt Nam.

* Về mặt nghiệp vụ.

Thuế GTGT phải đợc sửa đổi để tiến tới đơn giản, dễ hiểu, dễ làm, dễkiểm tra, các văn bản phải bảo đảm tính nghiêm minh, tính khách quan,tính chặt chẽ, không chồng chéo, không gây khó khăn cho các doanhnghiệp trong quá trình thực hiện Chính sách thuế phải bảo đảm việc quản

lý thu thuế chặt chẽ, chống trốn lậu thuế, nâng cao hiệu quả công tác quản

lý thu thuế của ngành Thuế với doanh nghiệp và các đối tợng nộp thuế

2.2 Những giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát nguồn thu thuế GTGT từ các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội

2.2.1 - Xác định mô hình quản lý thu thuế trong giai đoạn tới.

Thực chất của kiểm soát thu thuế nói chung, thu thuế GTGT nóiriêng là giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa các cơ quan quản lý Nhà nớctrong lĩnh vực thuế (chủ yếu là ngành Thuế) với các đối tợng nộp thuế - cácdoanh nghiệp nhằm đặt các mục tiêu của quản lý thu thuế Do vậy, giảipháp trớc tiên cần phải nhằm giải quyết tận gốc mối quan hệ giữa Cơ quanThuế với các doanh nghiệp Hay nói một cách khác, phải xác định đợc môhình quản lý thu thuế trong giai đoạn tới

Qua 2 năm thực hiện Luật Thuế GTGT, mô hình quản lý thu thuếtheo phơng thức doanh nghiệp tự tính thuế, tự kê khai thuế và nộp tiền thuếvào Kho bạc Nhà nớc về cơ bản đã thể hiện đợc đặc tính u việt của nó Theomô hình này, doanh nghiệp đã tự ý thức đợc nghĩa vụ của mình với Nhà n-

ớc, đã nâng cao đợc sự tự giác, tự nguyện Mô hình này còn thể hiện đợctính pháp lý của việc nộp thuế, theo đó doanh nghiệp không kê khai và nộpthuế cũng đồng nghĩa với việc vi phạm Pháp luật của Nhà nớc Chính vìvậy, trong giai đoạn tới, theo tác giả vẫn thực hiện theo mô hình doanhnghiệp tự tính, tự kê khai và nộp thuế vào Kho bạc Nhà nớc Tuy vậy,chúng ta cần hoàn thiện mô hình này để kiểm soát nguồn thu thuế GTGTthực sự đạt đợc hiệu quả cao Mục tiêu của nghiệp vụ quản lý thuế trong

Ngày đăng: 09/04/2013, 17:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo cáo tình hình thực hiện chính sách động viên nguồn thu những năm vừa qua và những nội dung cơ bản về cải cách hệ thống thuế, chính sách thuế giai đoạn 2, Bộ Tài chính tháng 01/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình thực hiện chính sách động viên nguồn thu những năm vừa qua và những nội dung cơ bản về cải cách hệ thống thuế, chính sách thuế giai đoạn 2
3. Báo cáo tổng kết một năm triển khai thực hiện các luật thuế mới, Trình Quốc hội khoá X-kỳ họp thứ 7, tháng 5/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết một năm triển khai thực hiện các luật thuế mới
4. Báo cáo v/v thực hiện VAT thí điểm và kiến nghị bổ sung, Tổng Cục Thuế, tháng 11/1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo v/v thực hiện VAT thí điểm và kiến nghị bổ sung
5. Biên bản kiểm tra quyết toán thuế của một số đơn vị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên bản kiểm tra quyết toán thuế
6. Bài giảng Kiểm toán tài chính GS - TS Nguyễn Quang Quynh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm toán tài chính
7. Lý thuyết kiểm toán Trờng đại học Kinh quốc dân GS - TS Nguyễn Quang Quynh8. Luật doanh nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết kiểm toán
Tác giả: GS - TS Nguyễn Quang Quynh
Nhà XB: Trường đại học Kinh quốc dân
9. Luật Thuế GTGT và Luật thuế TNDN, Quốc hội khoá IX kì họp thứ 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Thuế GTGT và Luật thuế TNDN
11. Bộ Tài chính-Tổng Cục Thuế, Hệ thống hoá các văn bản pháp luật về thuế giá trị gia tăng đã đợc sửa đổi, bổ sung, Nhà xuất bản Tài chính tháng 1-2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống hoá các văn bản pháp luật về thuế giá trị gia tăng đã đợc sửa đổi, bổ sung
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính tháng 1-2001
12. Victor Z.Brink and Herbert Witt, Kiểm toán nội bộ hiện đại-đánh giá các hoạt động và hệ thống kiểm soát, Nhà xuất bản Tài chính 2000 13. Tạp chí Kế toán các số năm 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm toán nội bộ hiện đại-đánh giá các hoạt động và hệ thống kiểm soát
Tác giả: Victor Z.Brink, Herbert Witt
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 2000
16. Tạp chí Tài chính các số năm 1999, 2000, 2001 17. Tạp chí Thuế nhà nớc các số 1999, 2000, 2001 18. Bản tin Thuế nhà nớc - Các số năm 1998, 1999 19. Thuế Hà Nội các số 1999, 2001, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Tài chính" các số năm 1999, 2000, 2001 17. "Tạp chí Thuế nhà nớc" các số 1999, 2000, 2001 18. "Bản tin Thuế nhà nớc" - Các số năm 1998, 199919. "Thuế Hà Nội
2. Báo cáo tổng kết công tác quản lý thu thuế Doanh nghiệp Ngoài quốc doanh các năm 1998,1999 Khác
10. Qui trình quản lý thu thuế các doanh nghiệp ban hành kèm theo quyết định số 1368TCT/QĐ/TCCB ngày 09/12/1998 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1 :   Cơ cấu tổ chức bộ máy Cục thuế Hà Nội sau khi triển  khai thực hiện Luật Thuế GTGT. - Thực trạng kiểm soát nguồn thu thuế GTGT từ các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội
Sơ đồ 1 Cơ cấu tổ chức bộ máy Cục thuế Hà Nội sau khi triển khai thực hiện Luật Thuế GTGT (Trang 2)
Sơ đồ số 2 :  Quy trình kiểm soát nguồn thu thuế. - Thực trạng kiểm soát nguồn thu thuế GTGT từ các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội
Sơ đồ s ố 2 : Quy trình kiểm soát nguồn thu thuế (Trang 5)
Bảng 1:  Kết quả thu NSNN và thu thuế GTGT trên điạ bàn  thành phố Hà Nội trong những năm qua: - Thực trạng kiểm soát nguồn thu thuế GTGT từ các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội
Bảng 1 Kết quả thu NSNN và thu thuế GTGT trên điạ bàn thành phố Hà Nội trong những năm qua: (Trang 11)
Bảng 2: Kết quả khai thác tăng thu Thuế GTGT qua kiểm tra quyết  toán thuế - Thực trạng kiểm soát nguồn thu thuế GTGT từ các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội
Bảng 2 Kết quả khai thác tăng thu Thuế GTGT qua kiểm tra quyết toán thuế (Trang 18)
Sơ đồ 3 :  Cơ cấu bộ máy Cục Thuế theo chức năng công  việc - Thực trạng kiểm soát nguồn thu thuế GTGT từ các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội
Sơ đồ 3 Cơ cấu bộ máy Cục Thuế theo chức năng công việc (Trang 39)
Sơ đồ 4: Quy trình thanh tra thuế - Thực trạng kiểm soát nguồn thu thuế GTGT từ các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội
Sơ đồ 4 Quy trình thanh tra thuế (Trang 43)
Sơ đồ 5 :  Quy trình khiếu nại về thuế - Thực trạng kiểm soát nguồn thu thuế GTGT từ các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội
Sơ đồ 5 Quy trình khiếu nại về thuế (Trang 49)
Sơ đồ 6 :  Quy trình xử khiếu nại về Thuế  theo kinh nghiệm của Nhật bản - Thực trạng kiểm soát nguồn thu thuế GTGT từ các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội
Sơ đồ 6 Quy trình xử khiếu nại về Thuế theo kinh nghiệm của Nhật bản (Trang 51)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w