1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý môi trường trong hoạt động du lịch văn hóa ở viên chăn, lào

129 395 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 3,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các vấn đề môi trường nảy sinh từ hoạt động du lịch văn hóa như: rác thải, vệ sinh môi trường, tiếng ồn, các dịch vụ phi văn hóa, văn hóa đồi trụy, xâm hại di tích, trật tự trị an,… Tron

Trang 1

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BVMT DU LỊCH 2

VĂN HÓA THỦ ĐÔ VIÊNG CHĂN 2

1.1 Tổng quan cơ sở lý luận về môi trường du lịch và vấn đề BVMT DL 2

1.1.1 Một số khái niệm 2

1.1.2 Các tác động của hoạt động du lịch đến tài nguyên và môi trường 10

1.1.3 Nhận định chung về phát triển du lịch bền vững từ góc độ môi trường 14

1.1.4 Tác động giữa hoạt động du lịch với môi trường tự nhiên 18

1.1.5 Các nguồn tác động từ hoạt động du lịch đến môi trường tự nhiên 19

1.1.6 Một số bài học kinh nghiệm về bảo vệ môi trường tự nhiên 19

1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 21

1.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 22

1.3.1 Điều kiện tự nhiên 22

1.3.2 Tình hình kinh tế - xã hội và văn hóa ở Viên Chăn 23

1.3.3 Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tại Viên Chăn 25

1.4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề BVMT DLVH ở Viên Chăn 30

1.5 Cơ sở pháp lý hiện nay về bảo vệ môi trường du lịch văn hóa ở Viên Chăn 33

1.5.1 Về du lịch 33

1.5.2 Về môi trường 36

1.6 Định hướng phát triển du lịch văn hóa ở Viên Chăn đến năm 2020 42

Trang 2

1.6.1 Quan điểm và tầm nhìn phát triển du lịch văn hóa ở Viên Chăn 42

1.6.2 Mục tiêu cơ bản trong phát triển du lịch văn hóa ở Viên Chăn đến năm 2020 43

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 45

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 45

2.2 Phương pháp nghiên cứu 45

2.2.1 Phương pháp tổng hợp tài liệu 45

2.2.2 Phương pháp đánh giá nhanh 46

2.2.3 Phương pháp khảo sát thực địa 46

2.2.4 Phương pháp tham vấn ý kiến chuyên gia 47

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 48

3.1 Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở Viên Chăn 48

3.1.1 Các hình thức du lịch văn hóa ở Viên Chăn 48

3.1.2 Du lịch tâm linh 50

3.1.3 Du lịch lễ hội 59

3.1.4 Hiện trạng phát triển du lịch văn hóa ở Viên Chăn 67

3.2 Các vấn đề môi trường nảy sinh từ hoạt động du lịch văn hóa ở Viên Chăn 71

3.2.1 Đánh giá mức độ tuân thủ các quy định, chính sách quản lý môi trường 71

3.2.2 Rác thải 75

3.2.3 Nước thải 78

3.2.4 Xâm hại các di tích, các hành vi tổn hại đến tâm linh 79

3.2.5 Ảnh hưởng tiêu cực đến bản sắc văn hóa dân tộc Lào 82

3.3 Các vấn đề môi trường từ bên ngoài tác động đến du lịch văn hóa 84

3.3.1 Các dịch vụ phi văn hóa đi kèm 84

Trang 3

3.3.2 Phát triển ngành kinh tế gây tác động ảnh hưởng đến môi trường chùa chiền 85

3.4 Các nguyên nhân chủ yếu gây ra các vấn đề môi trường 86

3.4.1 Về nhận thức còn yếu 86

3.4.2 Thiếu quy hoạch chuyên cho du lịch văn hóa, cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển du lịch văn hóa 88

3.4.3 Năng lực và kỹ năng quản lý môi trường của cơ quan và cán bộ ngành du lịch đang còn hạn chế 89

3.4.4 Tổ chức lễ hội còn hình thức, chưa chú trọng bảo vệ môi trường 90

3.5 Các ưu tiên quản lý môi trường 91

3.5.1 Danh sách các vấn đề môi trường trong hoạt động du lịch văn hóa ở Viên Chăn 91 3.5.2 Các vấn đề ưu tiên về quản lý 93

3.6 Những định hướng bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch văn hóa ở Viên Chăn đến năm 2020 96

3.7 Đề xuất những giải pháp quản lý và bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch văn hóa ở Viên Chăn 98

3.7.1 Giải pháp chính sách 98

3.7.2 Giải pháp về quy hoạch 101

3.7.3 Tuyên truyền nâng cao nhận thức cho khách du lịch và cộng đồng địa phương 102

3.7.4 Phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho du lịch văn hóa 104

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 1

KẾT LUẬN 1

KHUYẾN NGHỊ 2

TÀI LIỆU THAM KHẢO 5

PHỤ LỤC 9

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BTNMT Bộ tài nguyên môi trường

CHDCND Cộng hòa dân chủ nhân dân

QP - AN Quốc phòng – Anh ninh

WTTC Hội đồng du lịch và lữ hành quốc tế

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Bảng số liệu thống kê khách du lịch đến Viên Chăn từ năm 1993 – 2012 26 Bảng 2: Thống kê các văn bản pháp luật của Lào và Viên Chăn về BVMT du lịch 41

Bảng 3 Doanh thu từ khách du lịch quốc tế năm 2012 Error! Bookmark not defined

Bảng 4 Thống kê số lượng cơ sở lưu trú cho khách du lịch Viên Chăn 2011-2012 69 Bảng 5: Thành phần điển hình của rác thải từ kinh doanh khách sạn và các dịch vụ ở các khu du lịch tại thành phố Viên Chăn 76

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 1: Bản đồ hành chính khu vực thủ đô Viên Chăn 4

Hình 2: Bản đồ thủ đô Viên Chăn 23

Hình 3: Chùa Hỏ Phạ Kẹo 51

Hình 4 : Thạt Đăm 52

Hình 5: Chùa Sỉ Sạ Kệt 54

Hình 6: Chùa Inpeng 55

Hình 7: Chùa Ông Tự 56

Hình 8: Chùa Thát Luổng 58

Hình 9: Tượng đài chiến thắng Pạ Tu Xay 59

Hình11: Người dân chơi hội năm mới 61

Hình 10: Người dân đi tắm Phật tại chùa 61

Hình 12: Hội đua thuyền 63

Hình 13: Hội Phật Vệt Xẳn Đon,người dân ngồi tụng kinh 65

Hình 14: Dâng cơm cho sư 66

Hình15: Hoạt động thả đồ trên sông 67

Trang 7

MỞ ĐẦU

Nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân (CHDCND) Lào có diện tích 236.800 km2

và có chiều dài khoảng 1.898 km, là một quốc gia duy nhất ở Đông Nam Á không giáp với biển Với địa hình là bình nguyên và cao nguyên, có nhiều núi non bao phủ bởi rừng xanh, có con Sông Mê Kông chảy dọc gần hết biên giới phía tây Lào là đất nước

có khoảng 6.514.432 triệu dân với tốc độ tăng dân số trung bình 2,4% năm và mật độ dân số trung bình cả nước 22 người/km2, thấp nhất châu Á, riêng ở thủ đô Viên Chăn mật độ dân số tập trung đến 152 người/km2 Bên cạnh lợi thế địa lý, tập trung dân cư, Viên Chăn cũng là nơi có các di tích văn hóa và lịch sử xưa và nay nổi tiếng, có các lễ hội riêng biệt hàng năm thu hút sự tham gia của nhiều người dân địa phương Nhờ những đổi thay tích cực của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế, du khách đến Lào nói chung và đến Viên Chăn nói riêng tăng hàng năm Quá trình phát triển du lịch văn hóa gắn với các lễ hội bước đầu đã thu được kết quả đáng ghi nhận, nhưng cũng phải đối mặt với các thách thức về môi trường Các vấn đề môi trường nảy sinh từ hoạt động du lịch văn hóa như: rác thải, vệ sinh môi trường, tiếng ồn, các dịch vụ phi văn hóa, văn hóa đồi trụy, xâm hại di tích, trật tự trị an,… Trong khi, chính du lịch văn hóa lại chịu các tác động xấu từ bên ngoài, đôi khi ảnh hưởng tới bản sắc văn hóa dân tộc, đến cơ sở hạ tầng du lịch văn hóa, đến không gian du lịch văn hóa, đến vệ sinh môi trường các địa điểm du lịch văn hóa Nguyên nhân có thể do thiếu quy hoạch không gian du lịch văn hóa, do lấn chiếm trái phép của các công trình dân sinh xung quanh các địa điểm du lịch văn hóa, du nhập các hình thức lễ hội phi truyền thống làm phức tạp bản sắc lễ hội của dân tộc Lào,… Tình hình trên đã đặt ra nhu cầu tăng cường quản

lý môi trường trong hoạt động du lịch văn hóa ở Viên Chăn, góp phần giảm thiểu các tác động môi trường tiêu cực, hướng tới du lịch văn hóa bền vững, góp phần tôn tạo và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Lào ở thủ đô Viên Chăn Chính vì thế, việc chọn đề tài

luận văn cao học“Quản lý môi trường trong hoạt động du lịch văn hóa ở Viên Chăn, Lào” hy vọng góp phần giải guyết các vấn đề nói trên

Trang 8

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BVMT DU LỊCH

VĂN HÓA THỦ ĐÔ VIÊN CHĂN 1.1 Tổng quan cơ sở lý luận về môi trường du lịch và vấn đề BVMT DL

1.1.1 Một số khái niệm

1.1.1.1 Khái niệm về môi trường

Theo định nghĩa của UNESCO (1981): Môi trường của con người bao gồm toàn

bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, trong đó con người sống bằng lao động của mình, khai thác tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người Như vậy, môi trường sống đối với con người không chỉ là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển cho một thực thể sinh vật là con người mà còn là

"khung cảnh của cuộc sống, của lao động và sự nghỉ ngơi của con người"

Luật Bảo vệ Môi trường Lào (2005) đã đưa ra khái niệm môi trường, theo đó:

“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người,

có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên” Theo khái niệm này, môi trường được hiểu là sự tổng hòa của các thành phần

tự nhiên Nói cách khác, môi trường được hiểu là môi trường tự nhiên

* Bảo vệ môi trường trong Luật Bảo vệ Môi trường của Lào (2005) được chỉ ra

là những hoạt động góp phần gìn giữ cho môi trường tự nhiên trong lành; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu tới môi trường; phục hồi môi trường bị ô nhiễm, suy thoái; cải thiện, nâng cao chất lượng môi trường

Như vậy, ta thấy rằng để phát triển du lịch thì điều kiện đầu tiên không thể thiếu

là tài nguyên thiên nhiên Trong đó thì môi trường tự nhiên như môi trường nước, không khí, đất đai, đồi núi là yếu tố chính nhằm đem đến sự thỏa mãn cho du khách du lịch Theo luật bảo vệ môi trường công bố ngày 10/01/1994: Môi trường bao gồm các

yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con

người và thiên nhiên Khi du lịch ngày càng phát triển thì đồng nghĩa với tác động không nhỏ đến môi trường, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất sự tồn tại, phát triển

Trang 9

của con người và tự nhiên như suy thoái đất đai, nguồn nước, cảnh quan tự nhiên sẽ bị phá vỡ, dần dần thì vẻ đẹp tự nhiên sẽ không còn nữa và thayvào đó là các hệ thống xử

lý rác thải mà thôi

1.1.1.2 Khái niệm về du lịch

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về du lịch Vào năm 1963, Hội nghị Liên Hợp Quốc tế về Du lịch ở Roma đã định nghĩa “Du lịch là tổng hòa các mối quan hệ, hiện tượng, các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước của họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ.”

Theo định nghĩa theo Hội nghị Quốc tế về thống kê du lịch ở Otawa, Cannada tháng 06/1991 “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở của mình), trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm”

Hoặc “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong khoảng thời gian nhất định” (theo Điều 10 Pháp lệnh Du lịch của Việt Nam)

Theo Bộ Văn hóa thông tin và du lịch, Tổng cục du lịch Lào: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”

Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du lịch

tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách

du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch Các địa điểm du lịch của Lào được chia làm 7 vùng chính: Viên Chăn, Xiengkhoang, Luang Prabang, Thakhek, Savanakhet, Huaphan và Champasak

Trang 10

Thủ Đô Viên Chăn: Tổng cộng trên lãnh thổ quốc gia Lào có 1.400 ngôi chùa mà Viên Chăn chiếm số lượng chùa nhiều nhất nên nó được mệnh danh là xứ chùa của quốc gia Lào Tại đây, có các ngôi chùa nổi tiếng như chùa That Luang, Chùa Phra Keo, Chùa Ông Tự, Chùa Sí Mương, Chùa Sisaket, Vườn Phật Suốn Xiêng Khuôn (tục gọi là Suốn Phụt tức Vườn Chư Phật), quần thể hàng trăm bức tượng đúc theo Phật thoại, trong vùng Thà-Đừa, cách Viên Chăn khoảng 25 km, gần cầu Hữu Nghị Lào-Thái

Hình 1: Bản đồ hành chính khu vực thủ đô Viên Chăn

Ở Viên Chăn có một ngôi chùa Việt tên Bàng Long, khá nguy nga Từ chợ sáng trên đại lộ Lan Xang, đã thấy sừng sững đài Anou Savary(đài chiến sĩ vô danh), sau

1975 được đổi tên thành Khải Hoàn Môn (Pa tu Xay), toạ lạc giữa bùng binh ranh giới phố Viêng Chăn và khu vực Thát Luang Đài Anou Savary được tạo dựng từ 1958, phần dưới và ngoài mô phỏng theo đài Arc de Triumphe tại Paris, phần trên và trong

Trang 11

gồm những nét kiến trúc, phù điêu đặc thù Lào Đứng trên tầng cao nhất của Anou Savary ta có thể thấy toàn diện cảnh quan Viên Chăn

Con đường huyết mạch ở Viên Chăn là đường Sí Mương-Samsenthay, sầm uất trù phú, dấu ấn kiến trúc còn lại của thực dân Pháp chạy xuyên suốt từ khu Thát Khao lên trung tâm Ô - Điên - SengLao, ra đến vùng Si Khay - Wattay, rồi bỗng dưng ngừng lại, nhường cho kiến trúc cổ truyền Lào: Nhà sàn

Viên Chăn nằm ven sông Mêkông đối diện tỉnh NongKhai (Thái Lan) Tại đây, năm 1994 chính phủ Úc đã tài trợ xây chiếc Cầu Hữu Nghị Lào-Thái(Lao-Thai Friendship Bridge) dài 1240m Chính nhờ chiếc cầu này mà đã ra mở ra hướng phát triển mới cho du lịch 2 nước, kết nối hành lang Đông – Tây và mở ra sự phát triển cho ngành du lịch của cả 3 nước Đông Dương

Bờ sông Viên Chăn chưa được khai thác đúng mức, chủ yếu mới ở mặt hàng ăn, quán cóc Quán cóc ven bờ sông Viên Chăn rất đa dạng về thực phẩm, với nhiều món

ăn ngon và lạ miệng [22]

1.1.1.3 Du lịch sinh thái

Ngày nay sự hiểu biết về du lịch sinh thái đã phần nào được cải thiện, thực sự đã

có một thời gian dài du lịch sinh thái là chủ đề nóng của các hội thảo về chiến lược và chính sách bảo tồn và phát triển các vùng sinh thái quan trọng của các quốc gia và thế giới Thực sự đã có nhiều nhà khoa học danh tiếng tiên phong nghiên cứu lĩnh vực này, điển hình như: Một nhà nghiên cứu tiên phong về du lịch sinh thái (DLST), định nghĩa DLST lần đầu tiên vào năm 1987 như sau: “Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên ít bị ô nhiễm hoặc ít bị xáo trộn với những mục tiêu đặc biệt: nghiên cứu, trân trọng và thưởng ngoạn phong cảnh và giới động - thực vật hoang dã, cũng như những biểu thị văn hoá (cả quá khứ và hiện tại) được khám phá trong những khu vực này” trích trong bài giảng Du lịch sinh thái của Nguyễn Thị Sơn

Trang 12

Năm 1994 nước Úc đã đưa ra khái niệm “DLST là Du lịch dựa vào thiên nhiên,

có liên quan đến sự giáo dục và diễn giải về môi trường thiên nhiên được quản lý bền vững về mặt sinh thái”

Theo Hiệp hội DLST Hoa Kỳ, năm 1998 “DLST là du lịch có mục đích với các khu tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa và lịch sử tự nhiên của môi trường, không làm biến đổi tình trạng của hệ sinh thái, đồng thời ta có cơ hội để phát triển kinh tế, bảo

vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi ích tài chính cho cộng đồng địa phương”

Một định nghĩa khác của Honey (1999) “DLST là du lịch hướng tới những khu vực nhạy cảm và nguyên sinh thường được bảo vệ với mục đích nhằm gây ra ít tác hại

và với quy mô nhỏ nhất Nó giúp giáo dục du khách, tạo quỹ để bảo vệ môi trường, nó trực tiếp đem lại nguồn lợi kinh tế và sự tự quản lý cho người dân địa phương và nó khuyên khích tôn trọng các giá trị về văn hóa và quyền con người”

Ở Việt Nam vào năm 1999 trong khuôn khổ hội thảo xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển du lịch sinh thái đã đưa ra định nghĩa như sau: “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch thiên nhiên có mức độ giáo dục cao về sinh thái và môi trường có tác động tích cực đến việc bảo vệ môi trường và văn hóa, đảm bảo mang lại các lợi ích về tài chính cho cộng đồng địa phương và có đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn”

Năm 2000, Lê Huy Bá cũng đưa ra khái niệm về du lịch sinh thái “DLST là một loại hình du lịch lấy các hệ sinh thái đặc thù, tự nhiên làm đối tượng để phục vụ cho những khách du lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn, thưởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu về các hệ sinh thái Đó cũng là hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch với giới thiệu về những cảnh đẹp của quốc gia cũng như giáo dục tuyên truyền và bảo

vệ, phát triền môi trường và tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững”

Trong luật du lịch năm 2005, có một định nghĩa khá ngắn gọn “Du lịch sinh thái

là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững” Theo quy chế quản lý các hoạt động du lịch sinh thái tại các VQG, khu bảo tồn thiên nhiên, do bộ Nông nghiệp và

Trang 13

PTNT ban hành năm 2007, thì Du lịch Sinh thái được hiểu là “Du lịch sinh thái: Là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng dân cư ở địa phương nhằm phát triển bền vững”

Theo Hiệp hội Du lịch Sinh Thái (The Internatonal Ecotourism society) thì

“DLST là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên là nơi bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương” [12]

1.1.1.4 Du lịch văn hóa

Hiện nay, du lịch bao gồm rất nhiều hình thức đa dạng và phong phú như du lịch sinh thái, du lịch bền vững, du lịch khám chữa bệnh, du lịch mạo hiểm, du lịch giáo dục, du lịch MICE (viết tắt của Meeting (hội họp), Incentive (khen thưởng), Convention (hội nghị, hội thảo) và Exhibition (triển lãm)… và du lịch văn hóa

Đối với các nước đang phát triển, thu hút nhiều khách du lịch quốc tế và trong nước, cần đẩy mạnh phát triển ngành nghề du lịch, du lịch văn hóa được coi là một trong những sản phẩm chủ đạo

Vậy, du lịch văn hóa là gì ? “Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống”

Những yếu tố thu hút khách du lịch đến với loại hình này chủ yếu là các bản sắc văn hóa, nét đặc trưng khác biệt của nền văn hóa đó ví dụ như những lễ hội truyền thống, những phong tục tín ngưỡng, tôn giáo, lối sống, lịch sử, nghệ thuật, kiến trúc… hình thành nên nền văn hóa của người dân nơi mà khách du lịch đến thăm quan Khách

du lịch tìm đến du lịch văn hóa để thu nhập thông tin mới, tìm hiểu và trải nghiệm những nền văn hóa khác nhau mọi nơi trên thế giới Do vậy, du lịch vănhóa không chỉ đơn thuần là du lịch mà còn gắn liền với các loại hình văn hóa củađịa phương nơi có hoạt động du lịch đang diễn ra

Loại hình này hiện nay đang rất phổ biến trên thế giới và theo báo cáo gần đây của OECD đã nhấn mạng tầm quan trọng của du lịch văn hóa trong khu vực phát triển

Trang 14

trên thế giới Hiện nay, ở nước ta văn hóa truyền thống nói chung và văn hóa dân tộc nói riêng ở các dân tộc thiểu số vùng cao đang bị phai mờ do sự du nhập của các loại hình văn hóa ở các nước đã phát triển và hiện đại hơn vào nước ta

Phần lớn các nơi thu hút khách du lịch văn hóa ở nước ta đều là những nơi còn khó khăn, đói kém Bởi thế, thu hút khách du lịch văn hóa đồng nghĩa với việc phát triển được kinh tế, giảm thiểu đói nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân

Đặc trưng cơ bản của du lịch văn hóa:

- Tính đa dạng: du lịch văn hóa với chất lượng cao được tạo nên bởi sự đa dạng trong đối tượng phục vụ, mục đích phục vụ hay điểm đến của du lịch văn hóa như các cảnh quan thiên nhiên, kỳ quan thế giới, các di tích lịch sử - văn hóa cho đến các lễ hội truyền thống, các phong tục tập quán lâu đời, các loại hình văn hóa nghệ thuật dân gian mang đậm đà bản sắc dân tộc Ngoài ra, cần kể đến các cơ sở vật chất và các dịch vụ kèm theo

- Tính đa thành phần: không hề có một giới hạn nào cho những đối tượng liên quan đến du lịch văn hóa Du khách tham gia vào du lịch văn hóa, các tổ chức Nhà nước và tư nhân, các doanh nhân trong và ngoài nuớc đầu tư, hoạt động trong lĩnh vực

du lịch, những nhân viên, hướng dẫn viên du lịch, cộng đồng địa phương đều rất đa dạng, gồm nhiều thành phần khác nhau trong xã hội, tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào các hoạt động du lịch văn hóa Vì vậy, tính đa thành phần còn bao hàm trong đó cả tính xã hội hóa cao

- Tính đa mục tiêu: du lịch văn hóa mang lại lợi ích nhiều mặt như bảo tồn các tài nguyên thiên nhiên, môi trường, di tích lịch sử – văn hóa, duy trì và phát triển văn hóa phi vật thể, nâng cao chất lượng phục vụ du khách, nâng cao chất lượng đời sống của người phục vụ du lịch, mở rộng học hỏi và giao lưu văn hóa, kinh tế, nâng cao ý thức trách nhiệm cho cộng đồng [4]

1.1.1.5 Khái niệm về du lịch bền vững

Trang 15

Du lịch bền vững là khái niệm mới xuất hiện trên cơ sở cải tiến, nâng cấp và hoàn thiện khái niệm du lịch của những năm 90 và thực sự được mọi người quan tâm

trong những năm gần đây Hội đồng du lịch và lữ hành quốc tế (WTTC) cho rằng: “Du

lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn đảm bảo những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch tương lai Khái niệm này chỉ ra rằng mội hoạt động du lịch ở hiện tại không được xâm phạm đến lợi ích của thế hệ tương lai và phải luôn tôn trọng đảm bảo duy trì hoạt động ấy một cách liên tục và lâu dài”

Theo định nghĩa mới của tổ chức Du lịch thế giới (WTO) đưa ra tại hội nghị về

môi trường và phát triển của Liên hợp quốc tại Rio de Janerio năm 1992: "Du lịch bền

vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thoả mãn các nhu cầu về kinh

tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hoá, đa dạng về sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống của con người" (Nguồn: Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 3/2001) Trong định

nghĩa mới này thì du lịch đã được hiểu một cách đầy đủ hơn nó được xem xét trên cả

ba lĩnh vực kinh tế- xã hội- môi trường

Và mới đây hội nghị Bộ trưởng du lịch các nước Đông Á - Thái Bình Dương tổ

chức tại Việt Nam đã đưa ra quan điểm về du lịch bền vững đó là: “Các hình thức du

lịch đáp ứng nhu cầu hiện tại của du khách, ngành du lịch và cộng đồng địa phương nhưng không ảnh hưởng tới khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ mai sau, du lịch khả thi về kinh tế nhưng không phá huỷ môi trường mà tương lai của du lịch phụ thuộc vào

đó, đặc biệt là môi trường tự nhiên và kết cấu xã hội của cộng đồng địa phương”

Trang 16

Phát triển du lịch bền vững là một vấn đề không thể thiếu được trong quá trình đi lên của đất nước nói chung và của ngành du lịch nói riêng Tuy nhiên, bảo vệ và cải thiện môi trường phải được coi là yếu tố không thể tách rời của quá trình phát triển du lịch [3]

1.1.2 Các tác động của hoạt động du lịch đến tài nguyên và môi trường

Tác động của hoạt động du lịch đến môi trường sẽ có thể dẫn đến những hậu quả làm thay đổi đặc điểm sử dụng tài nguyên, hay đặc tính của môi trường Đầu tiên

là tác động đến tài nguyên thiên nhiên, phát triển du lịch và các hoạt động có liên quan góp phần làm cho các tài nguyên thiên nhiên bị xuống cấp về mặt môi trường Đó là hậu quả của việc sử dụng đất đai, xây dựng các cơ sở dịch vụ du lịch và các hoạt động liên quan đến việc vận hành và bảo dưỡng các công trình du lịch cần thiết để duy trì các hoạt động giải trí cho du khách Tác động về môi trường, về hoạt động du lịch đối với tài nguyên thiên nhiên được thể hiện một cách rõ nét nhất là những bộ phần: tài nguyên nước, tài nguyên không khí, tài nguyên đất, tài nguyên sinh học

+ Tác động đến tài nguyên nước: việc phát triển cơ sở vật chất du lịch chủ yếu tập trung vào xây dựng các công trình dịch vụ phục vụ nhu cầu của du khách Có thể phân loại các tác động về môi trường của hoạt động này đối với tài nguyên nước: tác động trước mắt và tác động lâu dài thường là do việc vận hành và bảo dưỡng các công trình

du lịch Những tác động trước mắt bao gồm việc thải bừa bãi các vật liệu xây dựng, đất

đá và các vật liệu nạo vét, đặc biệt là những nơi chặt phá rừng ngập mặn, làm cho chất lượng nước giảm đi rất nhiều Việc giải phóng mặt bằng và san ủi đất để xây dựng các công trình và làm đường có thể sẽ gây ra xói mòn và sụt lở đất, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nước, các hoạt động trong quá trình xây dựng sẽ làm ô nhiễm nguồn nước,

do việc vứt rác và đổ rác bừa bãi vào các nguồn nước, cũng như thải một lượng xăng dầu nhất định trong quá trình vận hành các thiết bị xây dựng Một số tác động lâu dài bao gồm: đất bị sụt lở hoặc rác rưởi trôi dạt sẽ làm tăng thêm lượng bùn và các chất cặn,

vì thế mà chất lượng nguồn nước kém đi Một hậu quả đáng kể là xói mòn, nhiểm bẩn bởi nước thải, ô nhiễm nước mặt bởi rác rưởi và các thứ khác Nước thải chưa được xử

Trang 17

lý, hoặc thiết bị làm việc không đảm bảo chất lượng, do đó tác động lâu dài đến chất lượng nước ngầm cũng như nước mặt Hoạt động của du khách cũng là nguyên nhân gây nên ô nhiễm nguồn nước như vứt rác bừa bãi (khi qua phà) đổ các chất lỏng…

+ Tác động đến môi trường không khí: bụi và các chất ô nhiễm không khí xuất hiện chủ yếu là do hoạt động giao thông, do sản xuất và sử dụng năng lượng Tăng cường sử dụng giao thông cơ giới là nguyên nhân đáng kể gây nên bụi và ô nhiễm không khí Không khí ồn ào phát sinh do việc tăng cường sử dụng các phương tiện như thuyền, phà gắn máy, xe máy… Cũng như hoạt động của du khách tại các điểm dịch vụ

du lịch như ở các sàn nhảy… tạo nên hậu quả trước mắt và lâu dài

+ Tác động đến tài nguyên đất: khi một số khu vực tự nhiên có giá trị như bãi tắm, cách rừng xanh trong nhiều trường hợp bị ngăn lại không cho dân địa phương vào

vì chúng trở thành tài sản riêng của khách sạn hoặc tư nhân kinh doanh ngành du lịch Phát triển du lịch kéo theo việc xây dựng kết cấu hạ tầng khách sạn và các công trình dịch vụ du lịch Điều này tất yếu dẫn đến việc xâm lấn đến diện tích đất nước trước đây trồng trọt và chăn nuôi Đây là bước chuyển đổi dạng sử dụng đất với hiệu quả sử dụng cao hơn, nhưng lại làm giảm đi quỹ đất nông nghiệp

+ Tác động đến tài nguyên sinh vật như: ô nhiễm môi trường sống, cùng với việc mất đi cảnh quan tự nhiên, những khu đất trồng trọt và chăn nuôi là nguyên nhân làm cho một số loại thực vật và động vật dần dần bị mất nơi cư trú Một số hoạt động thái quá của du khách như chặt cây, bẻ cành, săn bắn chim thú tại những khu rừng tự nhiên cũng là nguyên nhân làm giảm sút cả số lượng và chất lượng sinh vật trong phạm vi khu du lịch Trong môi trường bảo tồn động vật hoang dã, việc vứt rác bừa bãi gây tác động trực tiếp đến cuộc sống trước mặt cũng như lâu dài của các loài động vật; nhiều khi còn ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân viên phục vụ cũng như du khách đến khu du lịch bởi các dịch bệnh phát sinh từ các chất thải không được xử lý Hoạt động của du khách có tác động lớn đến các hệ sinh thái Các khu rừng nguyên sinh đặc biệt dễ bị tổn thương khi có nhiều du khách Những hoạt động như sự đi lại của xe, giẫm đạp lên

Trang 18

cỏ, hái hoa quả bừa bãi,…làm mất nhiều loại động thực vật Ở các khu bảo tồn động vật hoang dã, hoạt động du lịch ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của động vật: thay đổi tập tính, trở nên sợ sệt…

+ Tác động đến cộng đồng dân cư sở tại Bởi vì du lịch là tổng thể của những hiện tượng và những mối quan hệ phát sinh do sự tác động qua lại giữa khách du lịch, người kinh doanh du lịch, chính quyền sở tại và cộng đồng dân cư địa phương và thu hút khách du lịch Các chủ thể này tác động qua lại lẫn nhau trong mối quan hệ với các hoạt động du lịch mà du khách là trung tâm Đối với cộng đồng dân cư địa phương, du lịch là một cơ hội để tìm việc làm, tạo thu nhập đồng thời họ cũng là những nhân tố hấp dẫn khách du lịch bởi lòng hiếu khách và phong tục tập quán,bản sắc văn hóa Mặt khác cộng đồng dân cư nơi khác đến du lịch cũng chịu tác động nhiều chiều của hoạt động du lịch Cộng đồng được hiểu là một nhóm dân cư cùng sinh sống trên một lãnh thổ qua nhiều thế hệ và có những đặc điểm chung về sinh hoạt và văn hóa truyền thống,

sử dụng tác nguồn tài nguyên, môi trường Cộng đồng là nền tảng của phát triển xã hội, cuộc sống của cộng đồng dựa trên việc khai thác tài nguyên nơi mình sinh sống cùng với việc phát triển các phong tục, tập quán riêng mang dậm bản sắc của mỗi cộng đồng Việc khai thác càng tăng trong sự phát triển chung, vì vậy tác động và ảnh hưởng của nó ở các mức độ khác nhau đến cuộc sống cộng đồng dân cư cũng ngày một gia tăng

Tác động của du lịch lên cộng đồng có cả mặt tích cực và tiêu cực Trong luận văn này nhấn mạnh đến tác động tiêu cực Trong một số các dự án phát triển du lịch, người dân địa phương bị buộc phải rời khỏi nơi cư trú và rời bỏ các nghành nghề truyền thống gắn bó với họ qua nhiều thế hệ Cộng đồng dân cư địa phương sẽ không được chia sẻ hoặc chia sẻ không thỏa đáng lợi nhuận từ việc phát triển du lịch

Nếu như các nhà kinh doanh không tuân thủ theo nguyên tắc phát triển du lịch bền vững Những mâu thuẫn xã hội sẽ được nảy sinh giữa các thành viên của cộng đồng do có sự tranh chấp các lợi thế để có được nguồn thu tốt hơn từ du lịch Điều này

sẽ ảnh hưởng đến mối quan hệ gắn bó đặc trưng cho cuộc sống truyền thống của cộng

Trang 19

đồng Bên cạnh đó, các lối sống mới được khách du nhập sẽ có tác động nhiều mặt đến cộng đồng nhất là giới trẻ Các xung đột mới có thể nảy sinh và gây ra chia rẽ cộng đồng Truyền thống văn hóa của địa phương có thể sẽ bị thương mại hóa để đáp ứng nhu cầu của du khách Đã có người cảnh báo những hiệu ứng như vậy và gọi là sự xâm lăng văn hóa, thông qua hoạt động du khách không được quản lý tốt Ngoài ra, chất lượng cuộc sống cộng đồng cũng có thể bị ảnh hưởng do giá cả sinh hoạt tăng vì cầu tăng vượt khả năng cung

Những tác động không thuận lợi nói trên sẽ là những nguyên nhân gây ra xung đột du lịch và kết quả là quá trình phát triển du lịch không bền vững và sẽ không đem lại hiệu quả kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường như mong muốn Ngay cả khi không xảy ra xung đột giữa cộng đồng và phát triển du lịch nhưng nếu thiếu kiểm soát và không có sự tham gia tích cực của cộng đồng thì sự suy thoái môi trường tự nhiên và các thay đổi giá trị văn hóa sẽ làm mất dần tính hấp dẫn của các sản phẩm du lịch Để loại trừ được những tác động ngược chiều của sự phát triển du lịch đối với cộng đồng dân cư

và ngược lại, rất cần phát triển du lịch bền vững Mục tiêu của phát triển du lịch bền vững và đem lại lợi ích cho cộng đồng và phát triển du lịch bền vững chỉ có thể thực hiện được khi được sự tham gia của cộng đồng Để phát triển du lịch bền vững cần có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên để thỏa mãn các nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ của con người trong khi vẫn duy trì được sự phát triển lâu dài cho thế hệ mai sau

Nhưng chung quy thì khi nói đến con người và tổng thể mối quan hệ giữa nó và con người thì chúng ta phải quan tâm đến cả hai khía cạnh, tích cực và tiêu cực mà các yếu tố đem lại Sự sống của con người chỉ có thể duy trì sống trong môi trường không khí trong lành, có cây xanh và tính cộng sinh giữa các loại mà thôi Cũng như du lịch

và các yếu tố liên quan đến nó như khách du lịch, cộng đồng dân cư, nhà cung cấp, chính quyền nhân dân sở tại Tất cả đều nhằm mục đích phát triển ngành du lịch, ngành được mệnh danh là ngành công nghiệp không khói

Trang 20

1.1.3 Nhận định chung về phát triển du lịch bền vững từ góc độ môi trường

Theo tổ chức du lịch thế giới (WTO) thì: phát triển du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu về hiện tại của du khách và người dân bản địa, trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên

cho phát triển du lịch trong tương lai “Phát triển du lịch bền vững là đáp ứng đầy đủ

nhất, tiện nghi nhất các nhu cầu của khách du lịch, tạo sức hút du khách đến các vùng,

điểm du lịch ngày nay đồng thời bảo vệ và nâng cao chất lượng cho tương lai”

Sự phát triển với quy mô lớn và tốc độ nhanh, mạnh của ngành du lịch Lào trong những năm gần đây (đặc biệt là cuối những năm của thế kỷ 20) đã và đang gây ra những bất cập, những hạn chế về môi trường Theo quan điểm chung, môi trường du lịch được hiểu là các điều kiện, các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội và nhân văn của từng vùng lãnh thổ cụ thể, mà trong đó các hoạt động du lịch tồn tại và phát triển Rõ ràng sự phát triển ngành du lịch luôn có mối quan hệ mật thiết, chặt chẽ với sự phát triển kinh tế, xã hội chung của từng vùng và của cả nước, liên quan đến các công việc

cụ thể, các quá trình khai thác tài nguyên môi trường Trên thực tế ở nước ta, tại rất nhiều vùng, điểm du lịch truyền thống, nổi tiếng và có nhiều tiềm năng đã và đang phải chịu những áp lực khá lớn từ phía các khía cạnh môi trường Đặc biệt là những khu vực

đó xuất hiện ngày càng mạnh các hiện tượng, các quá trình ô nhiễm, sự xuống cấp nhanh chóng của điều kiện môi trường kinh tế, xã hội và nhân văn, sự suy giảm tới mức báo động của nhiều dạng tài nguyên, các yếu tố môi trường tự nhiên, sinh thái,… Đứng trước một thực tế như vậy, để có thể phát triển ngành kinh tế này thì những vấn

đề về môi trường cũng cần phải được đạt ra và giải quyết một cách nghiêm túc, đầy đủ sao cho vừa phát triển, vừa khai thác vừa hiểu quả cao nhất về du lịch nhưng lại phải đảm bảo sự phát triển lâu dài

Trên cơ sở phương pháp tiếp cận nghiên cứu tổng hợp, áp dụng các tiêu chí, các nguyên tắc và những giải pháp phát triển bền vững kinh tế, xã hội chung, môi trường

du lịch nói riêng Môi trường du lịch có hấp dẫn khách du lịch hay không trước tiên

Trang 21

phải kể đến các yếu tố tài nguyên du lịch Khách du lịch đến mục đích của họ là tham quan, để thỏa mãn “con mắt” của họ Khi mà đời sống của con người ngày càng tăng thì nhu cầu đi du lịch của người ta càng cao Quanh năm suốt tháng phải tiếp xúc với bụi bẩn, ồn ào của chốn đô thị, những ngày nghỉ con người ta muốn thoát khỏi cuộc sống bình thường đó, và họ đi du lịch Chỉ đến những nơi có thiên nhiên đẹp, trong lành, và yên tĩnh sẽ thỏa mãn được nhu cầu của họ Chính vì điều đó, môi trường rất quan trọng trong kinh doanh du lịch Sự suy giảm về trữ lượng và chất lượng của các tài nguyên thiên nhiên có ý nghĩa cơ bản đối với cuộc sống của con người như: đất đai, nước, rừng, thủy sản, khoáng sản và các dạng tài nguyên năng lượng Sự suy thoái này trong thập kỷ 21 có khả năng dẫn tới tình trạng thiếu thốn nghiêm trọng về lương thực, hay về các nhu cầu cần thiết của con người nói chung Ô nhiễm môi trường sống của con người với tốc độ nhanh và phạm vi lớn hơn trước Không khí, nước, đất đai, các đô thị, khu công nghiệp, ngày càng bị ô nhiễm, ảnh hưởng xấu đến không chỉ ngành du lịch, mà còn nguy hại hơn đó là sức khỏe, đời sống của con người cũng như sự suy tồn

và phát triển của các sinh vật khác trên trái đất Để phần nào khắc phục được những bất cập trên thì cần đảm bảo sự cân đối hài hòa giữa phát triển du lịch với các kế hoạch, các phương án quy hoạch phát triển các ngành kinh tế khác theo một nội dung thống nhất trong phát triển kinh tế, xã hội, của từng vùng, nghiên cứu và cho toàn lãnh thổ của đất nước Trong nguyên tắc này cần chú ý tới việc xem xét tỷ trọng của ngành du lịch, đánh giá thực trạng cũng như dự kiến khả năng phát triển trên quan điểm kiểm soát, khống chế chung, xuất phát từ khía cạnh quản lý khai thác hợp lý nguồn tài nguyên và môi trường du lịch

Du lịch và môi trường có mối quan hệ rất gắn bó với nhau, cũng như mối quan

hệ giữa con người và môi trường Môi trường cung cấp nơi cư trú và các điều kiện cho cuộc sống con người và muôn loài sinh vật; môi trường cũng là nơi tiếp nhận lưu trữ và

xử lý những gì mà con người và các sinh vật khác thải ra Chừng nào còn giữ được sự cân bằng giữa các quá trình đó thì sự sống trong thiên niên và cuộc sống của con người

Trang 22

vẫn có thể tiếp tục duy trì bình thường Nhưng nếu sự cân bằng đó bị phá vỡ mà chủ yếu do con người gây ra, thì việc duy trì sự sống và cuộc sống bị đe dọa Hoạt động du lịch có tác động đến môi trường về nhiều mặt Do nhu cầu phát triển du lịch nhiều diện tích đất đai bị khai phá để xây dựng cơ sở hạ tầng, như làm đường giao thông, khách sản, các công trình thể thao, các khu vui chơi giả trí…Điều đó gây phá hoại hoặc làm tổn hại tới cảnh quan thiên nhiên, các hệ sinh thái Các sân có thể gây nên tình trạng suy thái đất, ô nhiễm,nguồn nước, thậm chí gây nên sự cạnh tranh trong việc sử dụng nước cho sinh hoạt và sản xuất, nhất là ở những nơi hiếm nước Hoạt động du lịch luôn ngắn liền với việc khai thác các tiềm năng tài nguyên môi trường tự nhiên như cảnh đẹp hùng vĩ của núi rừng,…và các giá trị văn hóa nhân văn Trong nhiều trường hợp, hoạt động du lịch văn hóa trên cơ sở của một hoặc tập hợp các đặc tính của môi trường

tự nhiên như một hang động, một quả đồi, một khúc sông, một khu rừng…hay một đền thờ, một quần thể di tích Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp mà sự tồn tại của nó gắn liền với môi trường, nên môi trương du lịch có tác động qua lại với tất cả các yếu tố của môi trường chung Sự suy giảm của môi trường nói chung ở một khu vực đồng nghĩa với sự đi xuống của hoạt động du lịch cũng như chất lượng của môi trường du lịch ở khu vực đó

Hoạt động du lịch có thể gây tác động khác tới tài nguyên nước đặc biệt là các chất thải, các chất cây ô nhiễm do các khách sạn nhà hàng, các hoạt động vận tải thủy

và khách du lịch tạo nên Hiên nay ở nước ta, tình trạng rác thải bừa bãi tại các địa điểm du lịch, vui chơi giả trí còn phổ biến, điều đó không những ảnh hưởng tới vệ sinh công cộng và môi trường, mà còn gây cảm giác khó chịu cho du khách Khi hoạt động

du lịch nhộn nhịp lên, thì khi đó cũng là điều đe dọa tới chất lượng không khí Trước hết là ô nhiễm không khí do giao thông vận tại tổ chức du lịch thế giới đã thống kê có khoảng 37% - 45% du khách tới bằng đường bộ và khoảng 40% - 45 % du khách tới bằng máy bay Không giống như đối với ô tô, ô nhiễm từ máy bay (trừ tiếng ồn) ít khi được nhận thấy trực tiếp Thế nhưng riêng trong năm 1990 ngành hàng không đã tiêu

Trang 23

thụ hết khoảng 176 triệu tấn xăng, từ đó thải ra 550 triệu tấn khí nhà kính CO2 và 3,5 triệu tấn NOx, gây mưa axít và ô nhiễm quang hóa

Không chỉ không khí mà còn nhiều vấn đề khác như: ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm nguồn nước Ngoài ra sự phát triển du lịch còn tạo ra mối đe dọa tới các hệ sinh thái, như phá những khu vực rừng để xây dựng cơ sở hạ tầng, làm mất hoặc chia cắt nơi cư trú các nơi sinh vật, khai thác bừa bãi các tài nguyên rừng để sản xuất các sản phẩm phục vụ cho khách du lịch như tiêu bản các thú rừng, hoa lan rừng, tắc kè, đồi mồi,

…tại nhiều điểm du lịch của nước Lào Hàng năm trên thế giới có khoảng 200.000 ha rừng bị cháy, trên 500 loài thực vật Địa trung hải, cùng một số động vật đang bị đe dọa tuyệt chủng Hiện có rất nhiều chương trình, dự án của các nước và tổ chức quốc tế đang được tiến hành để cứu sự đa dạng sinh học tại nơi đây Tuy du lịch mang lại lợi ích kinh tế, xã hội to lớn những các tác động tiêu cực của du lịch đối với môi trường càng ngày càng trở nên rõ rẹt hơn Các quốc gia đều nhận thấy mối nguy hại này đã ban hành nhiều văn bản phát luật để ngăn ngừa và hạn chế tác động tiêu cực của du lịch đối với môi trường,cả môi trường tự nhiên, nhân tạo và các đối tượng ý ngĩa về lịch sử, văn hóa khảo cổ học Nhà nước cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan đến bảo vệ môi trường, bản sắc văn hóa và thần phong mĩ tục trong hoạt động du lịch Ngoài Luật du lịch bảo vệ và phát triển rừng, luật tài nguyên nước có các quy định chung, về bảo tồn, khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên du lịch để phát triển du lịch bền vững,có quy định nghiêm cấm mọi hoạt động du lịch làm ảnh hưởng xấu tới môi trường Ngoài ra, còn có một số nghị định và chỉ thị của chính phủ về việc bảo đảm trật tự trị an, vệ sinh môi trường,an toàn thực phẩm tại các cở lưu trú,các địa điểm du lịch, mà còn nhằm bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch Vấn đề cấp bách hiện nay là phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật, vì thực tế đây là một trong các nhau yếu nhất, đặc biệt thể hiện rõ tại các cơ sở và địa điểm du lịch [20]

Trang 24

1.1.4 Tác động giữa hoạt động du lịch với môi trường tự nhiên

1.1.4.1 Tác động tích cực

- Bảo tồn thiên nhiên

- Giảm sức ép do khai thác tài nguyên quá mức từ các hoạt động dân sinh, kinh

tế tại các khu vực nhạy cảm (vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên…)

- Góp phần đảm bảo chất lượng nước trong và ngoài khu vực phát triển du lịch nếu như các giải pháp kỹ thuật trong cấp thoát nước được áp dụng

- Góp phần cải thiện các điều kiện vi khí hậu nhờ các dự án thường có yêu cầu tạo thêm các vườn cây, công viên cảnh quan, hồ nước, thác nước nhân tạo…

- Góp phần làm tăng thêm mức độ đa dạng sinh học tại những điểm du lịch nhờ những dự án có các công viên cảnh quan, khu nuôi chim thú…hoặc bảo tồn đa dạng sinh học thông qua nuôi trồng nhân tạo phục vụ du lịch

- Tăng cường hiểu biết về môi trường của cộng đồng địa phương thông qua việc trao đổi và học tập với du khách nước ngoài

1.1.4.2 Tác động tiêu cực

- Hoạt động du lịch làm tăng áp lực chất thải sinh hoạt, đặc biệt ở các trung tâm

du lịch, góp phần làm tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường đất, nước

- Ảnh hưởng tới nhu cầu và chất lượng nước Tăng mức độ suy thoái và ô nhiễm các nguồn nước ngầm do nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt của du khách, đặc biệt ở các vùng ven biển do khả năng xâm nhập mặn cao khi áp lực các bể chứa giảm mạnh vì khai thác quá mức cho phép

- Tăng sức ép lên quỹ đất tại các vùng ven sông vốn đã rất hạn chế tại vùng ven sông, miền núi trung du…

- Các hệ sinh thái và môi trường đảo rất nhạy cảm và dễ bị tổn thương do sức ép của phát triển du lịch Tài nguyên thiên nhiên biến đổi theo chiều hướng xấu đi do phát triển du lịch không hợp lý Nhiều cảnh quan đặc sắc bị thay đổi hay suy giảm cùng với việc phát triển các khu du lịch mới

Trang 25

- Khu vực có tính đa dạng cao: khu rừng nhiệt đới, hang động, cảnh quan…cũng

dễ bị tổn thương do phát triển du lịch quá tải

- Ô nhiễm tiếng ồn: tiếng ồn từ các phương tiện giao thông và du khách gây phiền

hà cho người dân địa phương và du khách khác

1.1.5 Các nguồn tác động từ hoạt động du lịch đến môi trường tự nhiên

- Các nguồn tác động của dự kiến bố trí các công trình xây dựng trong dự án phát triển du lịch

- Các nguồn tác động đầu vào của dự án phát triển du lịch

- Nguồn tác động trong các giai đoạn phát triển

- Các tác động đầu ra

1.1.6 Một số bài học kinh nghiệm về bảo vệ môi trường tự nhiên

1.1.6.1 Liên quan đến quản lý nhà nước

Tại Nepal, dự án bảo tồn khu vực Annapuna (ACAP) là một ví dụ điển hình về việc xây dựng Quỹ bảo tồn từ các hoạt động du lịch, dự án được sử dụng tiền từ nguồn thu vé vào cổng khu bảo tồn Annapuna (15 USD/khách nước ngoài và 1,5 USD/khách

từ các nước trong khu vực Nam Á) cho các chương trình bảo vệ tài nguyên, môi trường trong khu vực Trong dự án Upper Mustang (phần mở rộng của các chương trình ACAP), Chính phủ Vương quốc Nepal đã quyết định trích trả loại 60% lợi nhuận du lịch vào các hoạt động bảo vệ tài nguyên, môi trường trong khu vực

1.1.6.2 Liên quan đến việc quản lý khu, điểm du lịch

Một trong những kinh nghiệm được phổ biến cho lĩnh vực này là dự án Du lịch sinh thái bản địa ở Ryo Blanco tại Ecuador Dự án này đã có biện pháp xây dựng các điểm đón khách cách trung tâm cộng đồng khoảng 1km, để giảm bớt mật độ xây dựng các cơ sở lưu trú tại các khu trung tâm nhằm hạn chế tác động tiêu cực xảy ra giữa khách du lịch và người dân địa phương Tại Senegan, dự án Du lịch Nông thôn tổng hợp ở Casamance lại chú ý đến vấn đề hạn chế công suất phục vụ của các nhà trọ,

“khống chế công suất được đón tối đa 20-40 khách/lần và chỉ được xây dựng ở các

Trang 26

làng có số dân bằng hoặc lớn hơn 1000 người” chứ không cho phép tăng công suất các

1.1.6.3 Liên quan đến cộng đồng địa phương

Trường Eco-Escuela de Espanol dạy tiếng Tây Ban Nha, được thành lập năm

1996 là một phần trong dự án bảo tồn quốc tế ở khu làng San Andes (Guatemala) là một ví dụ Trường nằm trong khu bảo tồn sinh quyển May, hàng năm đón 1.800 du khách, chủ yếu từ Mỹ và Châu Âu, tạo việc làm cho 100 cư dân, mà 60% trong số đó là những người trước đây làm nghề khai thác gỗ trái phép, săn bắn, đốt nương, làm rẫy Báo cáo giám sát năm 2000 cho thấy trong số các gia đình được hưởng lợi từ hoạt động kinh doanh này phần lớn đã giảm hoạt động săn bắn và đốt nương rẫy Thêm nữa các

hộ gia đình trong làng phần lớn được hưởng lợi trực tiếp hoặc gián tiếp từ ngôi trường khiến cho áp lực của cộng đồng với việc săn bắt động thực vật ở đây giảm hẳn

1.1.6.4 Liên quan đến đơn vị và cá nhân kinh doanh du lịch

Tại Brazil, nơi có các hoạt động du lịch dựa vào thiên nhiên phát triển mạnh, công ty Aretic Edge Tour, chuyên tổ chức các tour du lịch mạo hiểm và du lịch sinh thái đã áp dụng một số biện pháp để tổ chức khai thác du lịch dựa vào thiên nhiên nhưng tích cực bảo vệ môi trường thiên nhiên như đặt ra các nguyên tắc tổ chức gồm: giới hạn lượng khách cho mỗi nhóm tham quan dưới 10 người; không sử dụng động thực vật tại điểm du lịch làm thức ăn; thực phẩm đem theo được chuẩn bị sẵn và đóng gói; nước bẩn đổ xả nguồn nước sạch; rác đốt tại chỗ hoặc đem đi; đi hàng một trên

Trang 27

đường mòn; không cắm trại tại những nơi tập trung những đàn thú hoang; dọn sạch nơi cắm trại trước khi rời đi

1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Qua công tác tìm hiểu tài liệu liên quan tới công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch văn hóa ở Viên Chăn trong phát triển kinh tế nói chung và trong hoạt động du lịch văn hóa ở Thủ đô Viên Chăn nói riêng Tôi nhận thấy đã có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tới vấn đề này:

- Năm 2002, báo cáo của Viện QHPT Nông thôn “Quy hoạch tổng thể bảo tồn

phát huy giá trị trong Thủ đô Viên Chăn đến năm 2020” Năm 2002, NXB Văn hóa dân

tộc đã cho ra Bộ tài liệu: “Giáo dục bảo tồn Di sản thiên nhiên thế giới Viên Chăn” ở

cả 3 cấp học: Tiểu học (5 cuốn), Trung học Cơ sở (1 cuốn), Trung học Phổ thông (1 cuốn) dành cho giáo viên Sở Giáo dục - Đào tạo , Ban quản lý Thủ đô Viên Chăn và

Tổ chức Bảo tồn động thực vật quốc tế

- Năm 2003, Ban quản lý Thủ đô viên chăn đã có các “Văn bản pháp quy về quản

lý, bảo vệ và khai thác Thủ đô Viên Chăn”

- Bên cạnh đó còn có rất nhiều bài viết trong tạp chí DL Lào về môi trường Thủ

đô Viên Chăn trong phát triển du lịch như: Tạp chí DL số 01/2006 “Tích cực đầu tư mở

thêm các tuyến điểm du lịch mới”; Tạp chí số 03/2007 “Bảo vệ môi trường cảnh quan

tại các khu, tuyến, điểm du lịch”; Tạp chí 10/2010 “Khai trương dự án bảo vệ môi trường Thủ đô Viên Chăn”; Tờ gấp Bảo vệ môi trường Viêng chăn của Ban Quản lý của

Thủ đô viêng chăn, năm 2010 Ngoài ra còn có các thông tư của Bộ Khoa học, Công

nghệ và Môi trường về công tác bảo vệ môi trường Viên Chăn như: “Thông tư hướng

dẫn bảo vệ môi trường Thủ đô Viêng Chăn”, 12/1999; Viện nghiên cứu phát triển du

lịch (2008), “Báo cáo tổng hợp nhiệm vụ môi trường 2009”; Tổng cục Du lịch Thông

tư số 10/2006/TT- BTNMT (2006), “Hướng dẫn xây dựng cơ chế phát triển sạch trong

khuôn khổ Nghị định thư Kyoto” Bộ tài nguyên và môi trường

Trang 28

- Năm 2008, Nghị báo cáo cấp bộ “ Nghiên cứu sự tích tụ chất thải ô nhiễm hữu cơ

dạng vết (PAHs, PCBs) trong môi trường nước, trầm tích, sinh vật vùng sông, đề xuất giải pháp quản lý và ngăn ngừa nguy cơ tích tụ trong môi trường năm 2008 [28]

1.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

1.3.1 Điều kiện tự nhiên

Viên Chăn là thủ đô của đất nước Lào, nằm ở miền trung Lào Phía Bắc thủ đô giáp tỉnh Viên Chăn, Phía Nam giáp tỉnh BoliKhamXay, phía đông giáp tỉnh XaySomBun, phía tây giáp tỉnh NoongKhai (Thái Lan)

Địa hình thủ đô Viên Chăn là thuộc đồng bằng lớn nhất trong bốn đồng bằng của Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, sông Mê- Kông là biên giới tự nhiên giữa thủ đô Viên Chăn và Thái Lan

Thủ đô Viên Chăn có 9 huyện (Mường), với dân số khoảng hơn 598.000 người, với bình quân là 149 người/km2, cư dân nơi đây chủ yếu là Lào Lùm, ngoài ra còn một số người ngoại kiều như người Việt và một số ít người Hoa sinh sống Mảnh đất này luôn giữ vai trò quan trọng trên các lĩnh vực như: chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước

Viên Chăn trở thành thủ đô sau khi vua Xay Sêt Tha Thị Lạt dời đô từ Luông Pha Bang về Viên Chăn từ thế kỷ XVI ( năm 1560) Lý do để nhà vua dời đô từ Luông Pha Bang về Viên Chăn là do thời kỳ đó Luông Pha Bang do có vị trí gần vị trí gần với Myanmar và hai nước luôn có chiến tranh với nhau, Myanmar luôn đe dọa tấn công Luông Phạ Bang Còn Viên Chăn là vùng đồng bằng phì nhiều màu mỡ, kinh tế rất phát triển phù hợp với sự phát triển của đất nước thời kỳ đó [30]

Đất đai Viên Chăn rất rộng lớn, hợp với công trình xây dựng thủ đô của đất nước trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội,

Viên Chăn là một thủ đô có mối quan hệ giao lưu kinh tế - văn hóa với các nước trong khu vực Đông Nám Á và trên thế giới, qua các thời kỳ khác nhau đặc biệt là khi Viên Chăn trở thành thủ đô Lào vào năm 1916

Trang 29

Với những lợi thế của vùng đất này đã khiến cho Viên Chăn đang hội nhập với trào lưu phát triển mọi mặt trong khu vực và thế giới

Hình 2: Bản đồ thủ đô Viên Chăn

1.3.2 Tình hình kinh tế - xã hội và văn hóa ở Viên Chăn

* Tình hình kinh tế

Do sự phong phú về địa hình cộng với điều kiện khác biệt về tự nhiên và vị trí địa

lý khiến cho cơ cấu kinh tế nơi đây phong phú đa dạng, trong đó nghề buôn bán là chủ yếu, bởi khu vực này là một luồng tăng trưởng kinh tế Viên Chăn - Sa Văn Na Khệt - Pak Sê và một tam giác quốc tế Lào - Thái Lan - Việt Nam Viên Chăn có một vị trí thuận lợi về giao thông đường bộ và đường thuỷ, là điều kiện tốt để phát triển buôn bán trên sông nước, trao đổi hàng hoá với nhiều trung tâm thương mại và các hệ thống chợ

Trang 30

thành phố, huyện, làng được hình thành khá nhiều và trong đó có chợ tương đối lớn như: Chợ Sáng, Chợ Chiều, Khua Đin, Thạt Luổng, Thông Khăn Khăm và Si Khay Với các mặt hàng chủ yếu là thổ cẩm, rượu chè, bánh kẹo, cá tôm và các mặt hàng thủ công nghiệp phục vụ dân trong nước và ngoài nước

*Tình hình văn hóa - xã hội

Viên Chăn là thủ đô của đất nước Lào Đây là vùng đất ngàn năm văn hiến, có lịch sử phát triển lâu đời ở khu vực Đông Nam Á Nền văn hóa văn minh từ lâu đời được xác định trong các thời kỳ trước đây với những di chỉ còn sót lại được tìm thấy ở nhiều điểm khảo cổ học trên đất nước Lào Những hiện vật tìm thấy ở các điểm khảo

cổ học tự nó đã nói lên một phần nào đó về một quá trình lịch sử từ xa xưa của dân tộc Lào, quá trình lao động cần cù sáng tạo, kiên cường đấu tranh với thiên nhiên để không ngừng phát triển, tạo nên một nền văn hóa bản sắc Những giá trị văn hóa đó là những công trình xây dựng lâu đài cung điện, chùa tháp ở khắp nơi trên thủ đô Viên Chăn qua các thời kỳ khác nhau, nhất là thời kỳ thành lập và trở thành thủ đô của nước Lào, từ năm 1560, sau khi dời đô từ cố đô Luổng Phạ Bang về Viên Chăn, do vua Chậu Xay Nha Sệt Tha Thi Lạt Vì đây là thời gian hòa bình được lập lại và là thời kỳ phát triển hưng thịnh của vương quốc Lào Lạn Xạng [31]

Viên Chăn là một mảnh đất có truyền thống hiếu học đã có từ lâu đời của các triều đại phong kiến đã để lại cho ta những thành tựu to lớn trong nhiều lĩnh vực khác nhau về văn hóa, chính trị, quân sự,… còn lưu lại cho đến ngày hôm nay

Viên Chăn, hiện nay có 118 trường phổ thông cơ sở 487 trường phổ thông trung học (Theo thống kê của sở Giáo dục và Đào tạo thủ đô năm 2006) Về chất lượng dạy

và học của giáo viên, học sinh không ngừng được nâng cao đối với truyền thống hiếu học của cha ông để lại đã được các thế hệ con cháu của thủ đô ngày càng phát triển và đạt được nhiều thành tích to lớn đối với con cháu Lào thời hiện nay

Viên Chăn còn là một vùng đất giàu truyền thống đấu tranh cách mạng với những di tích lịch sử đã ghi đậm quá trình dựng nước và giữ nước của các cha ông

Trang 31

trong các thời kỳ qua, nhất là thế kỷ XIX, vì họ đã tham gia vào các cuộc khởi nghĩa lớn của dân tộc trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm như Xiêm và trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Nên vùng đất này xứng đáng là một vùng địa linh nhân kiệt với nhiều sự kiện lịch sử cho thấy rằng mảnh đất này có bề dày văn hóa, với 5 di tích được xếp hạng cấp quốc gia Đặc biệt người dân nơi đây đã sáng tạo nên một nền văn hóa dân gian phong phú đa dạng với một kho tàng các lần điệu khắp, lăm, dân ca, ca hát được thể hiện rõ nét trong các sinh hoạt lễ hội truyền thống trên địa bàn thủ đô Viên Chăn rất độc đáo

1.3.3 Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tại Viên Chăn

Ngày nay tại các nước trên thế giới, đời sống vật chất văn hóa tinh thần của người dân đã đạt tới mức cao thì nhu cầu du lịch là không thể thiếu Chế độ làm việc 5

- 6 ngày một tuần ở một số nước đang tạo điều kiện cho người dân có nhiều thời gian rảnh rỗi để đi du lịch Nhu cầu khách du lịch ngày cang tăng đòi hỏi các cơ sở kinh doanh du lịch phải tiếp cận thị trường kịp thời để thỏa mản mọi nhu cầu của du khách Theo xu hướng phát triển của du lịch đại chúng trong gần đây đã chỉ ra những hướng chủ yếu và tính phức tạp của ngành công nghiệp du lịch Nhờ có vị trí địa lý đặc biệt và

có nhiều di tích, di sản văn hóa lịch sử mà thủ đô Viên Chăn đang có những bước phát triển mạnh mẽ về du lịch văn hóa Theo dự đoán đến năm 2020, Viên Chăn sẽ vẫn có lượng khách du lịch đông đảo và tăng mạnh theo thời gian

Ở các vùng khác nhau trên CHDCND Lào có sự khác biệt lớn do du lịch mang lại Tại Viên Chăn Chính phủ và Lãnh đạo thành phố đã có chính sách rất phù hợp với thời đại hiện nay, có xu hướng thúc đẩy phát triển ngành du lịch văn hóa Vì du lịch của Viên Chăn củng là một ngành thúc đẩy cho nền kinh tế phát triển, đồng thời giải quyết công ăn việc làm cho người dân và làm giàu cho người dân tại các khu du lịch;

đó cũng là một yếu tố rất quan trọng làm cho người dân các nước trên thế giới ở các tầng lớp khác nhau hiểu biết thêm về phong tục tập quán, hình thức sản xuất, hiểu biết

Trang 32

được đời sống của nhân dân Lào góp phần xây dựng nền hòa bình, thắt chặt tình đoàn kết, hữu nghị.[20]

Bỡi lẽ, Viên Chăn là một kinh đô đã có mặt trên thế giới từ lâu đời, giàu về nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và nguồn tài nguyên lịch sử văn hóa Hiện nay, luồng khách du lịch trên thế giới đang dần dần tới tham quan thủ đô đất nước triệu voi ngày càng đông Khi có khách bước chân tới tham quan Viên Chăn, tất nhiên kèm theo

đó sẽ có nguồn kinh phí để trao đổi và sử dụng cho việc đầu tư phát triển thành phố Vì vậy, du lịch là nguồn thu nhập ngoại tệ khá cao Theo thống kê của cơ quan du lịch thành phố Viên Chăn Từ 249.255 người trong năm 1995 tăng lên 486,613 người trong năm 2000 đã làm cho nguồn thu nhập ngoại tệ của thành phố tăng trên 30 triệu đô la Năm 2006, số lượng khách du lịch là 729.272 người tăng hơn 26 triệu đô la Đến năm

2012, số lượng khách du lịch là 1.290.031 người tăng hơn 56.190 triệu đô la

Bảng 1: Bảng số liệu thống kê khách du lịch đến Viên Chăn từ năm 1993 - 2012

Năm Số lượng khách Tỉ lệ thay đổi(%) Thu nhập từ du

Trang 33

Năm Số lượng khách Tỉ lệ thay đổi(%) Thu nhập từ du

Nguồn: “Bộ thông tin-văn hóa và du lịch quốc gia Lào”

Đó là nguồn thu nhập từ khách du lịch quốc tế, ngoài ra còn có sự chi tiêu của khách trong nước đến tham quan để tạo điều kiện giúp các ngành kinh tế của Thủ đô Viên Chăn có môi trường tự nhiên dễ tạo ấn tượng cho khách du lịch và có nhiều kiến trúc xây dựng là di sản có thể thấy qua nghệ thuật, các làng nghề truyền thống , ẩm thực, ngôn ngữ, lễ hội các nghi lễ tôn giáo có từ lâu đời Thủ đô Viên Chăn nằm ở khu vực chiến lược, là trung tâm tập trung dân số, văn hóa - xã hội có thế mạnh và đặc điểm là đặc trưng trong việc phát triển và khuyến khích du lịch, không chỉ là du lịch sinh thái, lịch sử và văn hóa gắn liền với việc phát triển của xã hội thủ đô Đặc biệt hiện nay Thủ đô Viên Chăn đã trở thành trái tim của toàn dân Lào, đồng thời cũng là trung tâm hành chính, QP - AN, là trung tâm văn hóa - xã hội và khoa học, giáo dục

Trang 34

Phía ngoại ở Viên Chăn có các khu du lịch lớn như rừng bảo tồn quốc gia Phu Khẩu Khoai, điểm du lịch Đen Xa Vẳn có ý nghĩa là khu vực giải trí như thần thánh, cán bộ

và nhân viên phục vụ được huấn luyện từ nước ngoài về Tại đây gồm có Casino nhiều thác nước tự nhiên ở trên quả đồi, bành trướng lên đến thủy điện Nặm Ngừm, có rất nhiều trò chơi khác nhau: chèo thuyền, đánh cá, đi ca nô ngắm phong cảnh thiên nhiên

và làng xóm của người dân Ngoài ra Viên Chăn còn có các nguồn tài nguyên là tiềm năng để phát triển ngành du lịch văn hóa.[29]

Nguồn tài nguyên nước: tại Viên Chăn có sông Mê - Kông là trục giao thông, là

nguồn cung cấp thực phẩm to lớn về thủy hải sản, sông có sức tải phù sa lớn và cung cấp lượng nước tưới tiêu cho thành phố Nước củng là một nguồn tài nguyên phong phú cho ngành công nghiệp du lịch Nước khoáng là loại tài nguyên tổng hợp mà giá trị kinh tế và chữa bệnh thể hiện rất rõ Trên thế giới, nhu cầu du lịch kết hợp với an dưỡng, chữa bệnh dùng nước khoáng giải khát tăng lên đáng kể Việc đi du lịch chữa bệnh, an dưỡng ở các nguồn nước khoáng ngày càng thu hút khách du lịch quốc tế.Nguồn nước khoáng ở Viên Chăn có ở nhiều nơi nhưng chưa được khai thác một cách có hiệu quả, còn mang tính tự phát Hiện nay ở thủ đô Viên Chăn có nhiều công

ty nước khoáng đã và đang đầu tư đóng chai nước có chất lượng cao, phù hợp với người tiêu dùng, nhất là người nước ngoài (ví dụ công ty nước đóng chai nước khoáng Bản Phôn Xạ Vang và công ty nước khoáng ở cây số 18 tại Viên Chăn) Đối với nhiều nơi khác Chính phủ và thành phố đang tiếp tục khai phá, khảo sát và khai thác theo điều kiện cụ thể

Nguồn tài nguyên sinh vật: giới động thực vật rất có ý nghĩa đối với du lịch,

trước hết đó là nguồn thức ăn phong phú, dồi dào cho người dân địa phương là đối tượng tham quan giải trí hấp dẫn khách phương xa, là nguyên liệu của ngành thủ công truyền thống của thành phố mà sản phẩm là những vật lưu niệm đáng quý Giới sinh vật còn có vai trò to lớn trong việc giữ gìn môi trường nói chung, đặc biệt càng quan trọng ở các trung tâm du lịch nơi tập trung đông khách.Thiên nhiên nhiệt đới gió mùa

Trang 35

đã ưu đãi cho Viên Chăn nhiều loại tài nguyên không những phong phú về số lượng mà

cả về chất lượng.Đất đai màu mỡ, đồng cỏ bao la, rừng có nhiều gỗ quý.Trên quy mô lớn, một trong những đặc trưng của thành phố là cây cối vào thời kỳ này hay thời kỳ khác của mùa khô tiếp đến mùa nẩy lộc ra hoa Ở mổi mùa cây cới đều mang vẻ đẹp riêng của những bức tranh phong cảnh Động vật ở Viêng Chăn cũng rất phong phú gồm các động vật phổ biến ở Đông Nam Á như trâu rừng, bò tót, tê giác, lợn rừng, nai,

hổ, báo, chồn, vượn khỉ Đặc biệt là voi đặc trưng của đất nước Lào Các loài chim, động vật dưới nước củng rất đa dạng, đặc biệt ở sông Mê - kông có loại cá nước ngọt (Pakha) thân giống thân con người, có vú ở ngực như con người nhưng đang có nguy cơ tuyệt chủng.Chính phủ Lào đang kêu gọi bảo vệ và giữ gìn, không cho đánh bắt loại cá này

Tài nguyên về dân cư và lịch sử văn hóa: quốc gia Lào chỉ mới thống nhất đất

nước cách đây 38 năm nhưng là nơi đã có con người sống từ hàng vạn năm về trước Dân cư ở Viên Chăn hiện nay có thành phần dân tộc đa dạng, trong đó đa số là người Lào Lum là nhóm người đóng vai trò chủ thể và trung tâm, thuộc nhóm ngữ hệ Lào - Thái Người Lào có tiếng nói và chữ viết riêng, tuy vậy tiếng Pháp tiếng Anh cũng rất phổ biến, được sử dụng trong các khách sạn lớn, nhà hàng, những nơi chủ yếu của khách du lịch đến thăm và thường xuyên tiếp xúc với người nước ngoài Viên Chăn là một trong những thành phố có lịch sử lâu đời do vậy tại đây tập trung rất nhiều di tích lịch sử, văn hóa mang giá trị như: Vatxixa khệt, chùa Xỉ Mương, Cổng tượng đài chiến thắng Đây là những nơi tham quan nổi tiếng và củng là nơi để các nhà khoa học đên nghiên cứu thu hút khách du lịch trong và ngoài nước Ngoài ra còn có các khu di tích lịch sử từ thời kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Các di tích lịch sử văn hóa (chùa chiền) đã được các nhà chuyên gia đánh giá rất cao.Ở Viên Chăn các lễ hội, tôn giáo nghệ thuật gắn liền với nhau rất chặt chẽ, thường thì các lễ hội được tổ chức ở chùa Trong một bản (làng - xóm) có thể có một hoặc hai ngôi chùa.Từ thời xa xưa cho đến nay, chùa là nơi tập trung của dân làng, vừa là trường học dạy đạo Chính phong

Trang 36

tục tập quán, lễ nghi đấy là thay cho pháp luật, đó là lời khuyên bảo cho nhân dân biết

rõ được cái thiện cái ác Chùa còn là nơi tập trung đoàn kết bàn bạc đấu tranh với kẻ thù hoặc là bàn việc cải tạo thiên nhiên đồng thời là nơi sinh hoạt văn hóa nghệ thuật

Vì vậy mối quan hệ giữa lễ hội, tôn giáo nghệ thuật ở Viên Chăn ít khi tách khỏi nhau tạo nên một nét đẹp về văn hóa là tiềm năng để phát triển du lịch văn hóa

Bên cạnh phong tục tập quán, di tích lịch sử ở Viên Chăn có một số tài nguyên nhân văn khác Hàng thủ công mỹ nghệ rất phong phú đa dạng của các địa phương tập trung về đây, có rất nhiều mặt hàng nổi tiếng về vẻ đẹp và giá trị đến từ nhiều vùng nghề Trong những chuyến du lịch tới Viên Chăn, việc mua hàng thủ công mỹ nghệ, hàng nghệ thuật và thăm quan các cơ sở sản xuất là một điều thú vị hấp dẫn Một số hàng thủ công mỹ nghệ ở Viên Chăn rất được ưa chuộng như tơ lụa và hàng may mặc, chủ yếu là váy, bộ váy áo của phụ nữ là mặt hàng đan dệt chất bông (Cotton) và váy tơ lụa (Skirt Lào) Ở Viên Chăn có nhiều môn thể thao khác nhau, có những môn thể thao quốc tế và môn thể thao truyền thống Các môn thể thao này thường chơi vui trong những ngày nghỉ việc, ngày rằm và những ngày lễ hội khác ở bất cứ không gian thời gian nào khi có điều kiện Ngoài ra nếu nói đến Viên Chăn là nói đến điệu múa lăm vông và các loại hình văn nghệ dân gian truyền thống, đến các món ăn dân tộc đặc sắc

có sức thu hút khách du lịch

1.4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề BVMT DLVH ở Viên Chăn

Các công trình nghiên cứu liên quan tới Du lịch và bảo vệ môi trường của Thủ

đô Viên Chăn:

 Luận án tiến sĩ của tác giả Khăm Ma Ni Suridet, năm 2009: “Nghiên cứu sự thay đổi dân số và phân bố dân cư nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào” Tác giả tiến hành nghiên cứu khái quát chung dân số, sự phân bố dân cư, thành phần các dân tộc của Lào Trong đó tập trung vào nghiên cứu cuộc sống của đồng bào các dân tộc Từ đó, phần tích các nét văn hóa đặc trưng của các dân tộc và chỉ ra sự khác nhau giữa các vùng du lịch trong cả nước, đồng thời đề

Trang 37

xuất các giải pháp qui hoạch du lịch theo sự phân bố của dân cư

 Luận án tiến sĩ của tác giả Keng LorBliaYao, năm 2007: “Quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn Lào từ năm 1975 đến năm 2000”

Luận án nghiên cứu sự phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa tại các vùng nông thôn của Lào từ năm 1975 – 2000 Và đề xuất việc quản lý và giữ gìn các loại hình văn hóa đặc trưng cho các vùng miền trong cả nước

 Luận văn thạc sĩ của tác giả Somphong Vongxay, ngày 15 tháng 3 năm 2010:

“Phân tích xúc tiến du lịch thiên nhiên và vă hóa của nước CHDHND Lào” Tác giả nghiên cứu chung về hiện trạng du lịch chung của đất nước Lào từ năm

2004 - 2007 Đồng thời phân tích sự phát triển của loại hình du lịch thiên nhiên

và du lịch văn hóa như thế nào Từ đó đề xuất các giải pháp quản lý môi trường trong các khu du lịch, chỉ rõ những biện pháp cụ thể áp dụng cho từng loại hình

du lịch khác nhau

 Luận văn thạc sĩ của tác giả Bounsavanh PHENGNUNTHI, tháng 8 năm 2010:

“Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của khách du lịch quốc tế đến du lịch tại thủ đô Viêng Chăn”

Trong đó, tác giả tập chung đi sâu nghiên cứu tập về khách du lịch quốc tế đến Thủ đô Viêng Chăn Làm rõ những vấn đề như: khách du lịch thăm những gì, ở đâu, hình thức tổ chức như thế nào, cách thức thu hút khách quốc tế của Thủ đô

ra sao Đồng thời tác giả cũng chỉ ra những vấn đề môi trường nảy sinh từ các hoạt động du lịch đến các địa điểm du lịch

 Tác giả Sisamone Sauphanit, tháng 8 năm 2010: “Tìm hiểu những yếu tố thu hút khách Du lịch đến du lịch tại Cố đô Luangprabang”

Nói về hoạt động du lịch ở tỉnh Luangprabg của Lào, chỉ ra các loại hình du lịch đang được khai thác tại đó: du lịch thiên nhiên, du lịch sinh thái, du lịch lễ chùa Đây là nơi có nhiều chùa đẹp nhất trong cả nước Từ đó, nêu lên những định hướng phát triển du lịch tại những dịa danh nổi tiếng như: chùa

Trang 38

Xingthong, chùa Phuxi, nhà thờ Vua…và khu du lịch sinh thái: vườn thác Sẻ, vườn thác Quangxi…

 Tác giả Amphone Vibunsak, tháng 7 năm 2009: “Quản lý Du lịch về mục đích bảo tồn của Huyện Phathoumphone của tỉnh Champasack”

Nghiên cứu về hiện trạng du lịch tại huyện Phathoumphone nhằm mục đích bảo tồn các giá trị du lịch văn hóa đặc trưng của huyện như: du lịch văn hóa nhà sàn, dân tộc Klieng (cổ dài); vườn sinh thái Champi bên bờ suối Champi

Hoạt động du lịch ngày càng diễn ra mạnh mẽ và nhanh chóng, thu hút nhiều tổ chức, cá nhân tham gia vào lĩnh vực này Trong khi đó công tác quản lý và bảo vệ môi trường trong các hoạt động du lịch chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn làm cho môi trường tại những địa điểm diễn ra các hoạt động du lịch đang dần bị hủy hoạt nghiêm trọng Các công trình nghiên cứu trước đây về du lịch cũng có đề cập đến vấn đề môi trường nảy sinh từ các hoạt động du lịch, nhưng nhìn chung các nghiên cứu mới chỉ ra một vấn đề cụ thể về môi trường tại một vùng cụ thể mà chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào nghiên cứu tổng quát các vấn đề môi trường nảy sinh trong các hoạt động du lịch Thủ đô Viên Chăn không chỉ là vùng du lịch có tiềm năng thu hút khách du lịch với những công trình kiến trúc đặc sắc, mang đậm bản sắc văn hóa đặc trưng và vô cùng phong phú của Lào, với các phong tục, tập quán, các lễ hội và thói quen sinh hoạt rất đa dạng Đây chính là một lợi thế tạo nên tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tại khu vực này Tuy nhiên, qua nghiên cứu, tôi nhận thấy hoạt động du lịch văn hóa tại thu đô Viêng Chăn vẫn còn gặp nhiều khó khăn để phát triển Hoạt động du lịch hiện nay chưa được thực hiện một cách đồng bộ mà chủ yếu là mang tính tự phát từ các hộ dân cư, các người dân hoặc do các công ty du lịch tổ chức mà chưa có sự quản lý thống nhất, đồng bộ từ các ban ngành lãnh đạo của tỉnh Cũng chưa có một công trình nghiên cứu nào thực hiện một cách tổng thể về ngành du lịch, cũng như những vấn đề môi trường nảy sinh trong tất cả các hoạt động du lịch trên cả nước nói chung và tại Thủ đô Viên Chăn nói riêng Vì vậy tác giả đã kế thừa những kết quả nghiên cứu của những

Trang 39

công trình khác để nhằm làm rõ hơn mục đích nghiên cứu của đề tài Với mục tiều đẩy mạnh được các loại hình du lịch văn hóa được phát triển rộng khắp trên toàn bộ thủ đô Viên Chăn, bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống đặc trưng của đất nước Lào, đồng thời góp phần hạn chế những tiêu cực có thể xảy ra từ những hoạt động du lịch đó tới môi trường Từ đó đưa ra những đề xuất góp phần xây dựng ngành du lịch ở Thủ đô Viên Chăn theo hướng bền vững [24]

1.5 Cơ sở pháp lý hiện nay về bảo vệ môi trường du lịch văn hóa ở Viên Chăn 1.5.1 Về du lịch

- Triển khai qui hoạch du lịch thành phố Viên Chăn theo qui định hiện hành; tổ chức công bố quy hoạch sau khu được phê duyệt;

- Tổ chức thực hiện điều tra, đánh giá, phân loại, xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên du lịch của thành phố theo Quy chế của Sở văn hóa thông tin và Du lịch;

- Thực hiện các biện pháp để bảo vệ, tôn tạo, khai thác, sử dụng hợp lý và phát triển tài nguyên du lịch, môi trường du lịch, khu du lịch, điểm du lịch của Thành phố;

- Tổ chức lập hồ sơ đề nghị công nhận khu du lịch địa phương, điềm du lịch địa phương; tuyến du lịch địa phương; công bố sau khi có quyết định công nhận;

- Cấp, sửa đổi bổ sung, cấp lại, gia hạn, thu hồi giấy phép thành lập văn phòng đại diện của doanh nghiệp du lịch nước ngoài đặt trên địa bàn thành phố theo quy định của pháp luật và theo phân cấp, ủy quyền của UBND thành phố;

- Thẩm định hồ sơ đề nghị cấp có thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố theo quy định của pháp luật;

- Thẩm định, quyết định và tái thẩm định việc xếp cho khách sạn, làng du lịch; hạng đạt tiêu chuẩn kinh doanh biệt thự, căn hộ du lịch; hạng đạt tiêu chuẩn kinh doanh lưu trú du lịch cho bãi cắm trại, nhà nghỉ du lịch nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê, cơ sở lưu trữ du lịch khác;

- Thẩm định và cấp biển hiệu đạt liêu chuẩn phục vụ khách du lịch cho cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch trong khu du lịch, điểm du lịch, đô thị du lịch;

Trang 40

- Tổ chức cấp, cấp lại, đổi, thu lại thẻ hướng dẫn viên du lịch; cấp, thu hồi giấy chứng nhận thuyết minh viên theo quy định của Sở Văn hóa thông tin và Du lịch;

- Xây dựng kế hoạch, chương trình xúc tiến du lịch và tổ chức thực hiện chương trình xúc tiến du lịch, sự kiện, hội chợ, hội thảo, triển lãm du lịch của thành phố sau khi được phê duyệt;

- Chủ trì hoặc phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống, ngăn chặn các hoạt động vi phạm pháp luật về văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch;

- Thẩm định, tham gia thẩm định các dự án đầu tư, phát triển liên quan đến văn hóa thông tin và du lịch trên địa bàn thành phố;

- Tham mưu giúp UBND thành phố quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp,

tổ chức kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân; hướng dẫn và kiểm tra hoạt động đối với các hội và tổ chức phi chính phủ về lĩnh vực văn hóa thông tin và du lịch theo quy định của pháp luật;

- Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp công lập về văn hóa, thể thao và du lịch theo quy định của pháp luật;

- Tham mưu với UBND thành phố về việc tổ chức các lễ hội văn hóa, thể thao

du lịch trên địa bàn thành phố;

Ngày đăng: 06/06/2015, 10:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Mai Văn Bảo (1999), “Phật giáo và tín ngƣỡng ở Lào”,Tạp chí Nghiên cứu Phật học,NXB Viên Chăn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật giáo và tín ngƣỡng ở Lào”,"Tạp chí Nghiên cứu Phật học
Tác giả: Mai Văn Bảo
Nhà XB: NXB Viên Chăn
Năm: 1999
2. Phạm Đức Dương (1994),“Lễ hội truyền thống và văn nghệ dân gian ở Lào”, Tìm hiểu lịch sử - văn hóa Lào, Tập III, Nxb Khoa học xã hội,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội truyền thống và văn nghệ dân gian ở Lào”, "Tìm hiểu lịch sử - văn hóa Lào
Tác giả: Phạm Đức Dương
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1994
3. Trần Thị Minh Hòa, Trần Thúy Anh (2011), “Khai thác di sản văn hóa phục vụ phát triển du lịch”, Tạp chí Du Lịch Việt Nam, số 12, tr 28-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai thác di sản văn hóa phục vụ phát triển du lịch”, "Tạp chí Du Lịch Việt Nam
Tác giả: Trần Thị Minh Hòa, Trần Thúy Anh
Năm: 2011
4. Lương Ninh (1996), Đất nước Lào lịch sử và văn hóa, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nước Lào lịch sử và văn hóa
Tác giả: Lương Ninh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1996
5. Nguyễn Lệ Thi (1989), Bun Pi May hốt nặm tết Lào cổ truyền, Văn hóa dân gian,Nxb Khoa học xã hội, Viên Chăn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian
Tác giả: Nguyễn Lệ Thi
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1989
6. Nguyễn Lệ Thi (1993), “Hỏ Phạ Kẹo một công trình kiến trúc có giá trị của nhân dân Lào”, Nghiên cứu Phật học,Nxb,Khoa học văn hóa,Viêng Chăn Lào Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Lệ Thi (1993), “Hỏ Phạ Kẹo một công trình kiến trúc có giá trị của nhân dân Lào”, "Nghiên cứu Phật học
Tác giả: Nguyễn Lệ Thi
Năm: 1993
7. Nguyễn Duy Thiệu (1996), Cấu trúc tộc người ở Lào, Nxb Khoa học - xã hội. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc tộc người ở Lào
Tác giả: Nguyễn Duy Thiệu
Nhà XB: Nxb Khoa học - xã hội. Hà Nội
Năm: 1996
8. Bùi Thanh Thủy (2009), “Nội hàm văn hóa du lịch”, Tạp chí du lịch Việt Nam, số.15,tr 26-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nội hàm văn hóa du lịch”," Tạp chí du lịch Việt Nam
Tác giả: Bùi Thanh Thủy
Năm: 2009
9. Tổng cục du lịch Việt Nam (2006), Bảo vệ môi trường du lịch, Tài liệu tham khảo về nội dung lồng ghép trong chương trình đào tạo du lịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ môi trường du lịch
Tác giả: Tổng cục du lịch Việt Nam
Năm: 2006
10. Thoong My Duan Sak Da (2003), Chùa Sỉ Sạ Kệt ( Viên Chăn - CHDCND Lào) nghệ thuật và kiến trúc điêu khắc, Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chùa Sỉ Sạ Kệt ( Viên Chăn - CHDCND Lào) nghệ thuật và kiến trúc điêu khắc
Tác giả: Thoong My Duan Sak Da
Năm: 2003
11. Khăm Lien Lào Phắc Đi (1997), Ảnh hưởng của đạo Phật đối với người Lào, Nghiên cứu Phật học.Nxb ,khoa học văn hóa Viên Chăn Lào Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khăm Lien Lào Phắc Đi (1997), "Ảnh hưởng của đạo Phật đối với người Lào, Nghiên cứu Phật học
Tác giả: Khăm Lien Lào Phắc Đi
Nhà XB: Nxb
Năm: 1997
12. Nguyễn Quang Vinh (2007), Quy trình xây dựng sản phẩm văn hóa thành sản phẩm du lịch, hội thảo khoa học “ Nghiên cứu và đào tạo du lịch ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế”, Tr 86-91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và đào tạo du lịch ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế
Tác giả: Nguyễn Quang Vinh
Năm: 2007
13. Viện nghiên cứu Đông Nam Á. (1997) Lịch sử Lào, Nxb Khoa học - xã hội, Hà Nội 14. Viện nghiên cứu Đông Nam Á (1985), Tìm hiểu văn hóa Lào, Nxb Văn hóa HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: (1997) Lịch sử Lào", Nxb Khoa học - xã hội, Hà Nội 14. Viện nghiên cứu Đông Nam Á (1985), "Tìm hiểu văn hóa Lào
Tác giả: Viện nghiên cứu Đông Nam Á. (1997) Lịch sử Lào, Nxb Khoa học - xã hội, Hà Nội 14. Viện nghiên cứu Đông Nam Á
Nhà XB: Nxb Khoa học - xã hội
Năm: 1985
15. Xi Lửa Bun Khăm (2004), Xây dựng và phát triển nền văn hóa thẩm mỹ ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (sách tham khảo), Nxb Chính trị Quốc gia. Hà Nội Tài Liệu tiếng Lào Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và phát triển nền văn hóa thẩm mỹ ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
Tác giả: Xi Lửa Bun Khăm
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia. Hà Nội Tài Liệu tiếng Lào
Năm: 2004
16. ໄກສຬຌພ຺ມວ ິ ຫາຌ . ຎະເ຋ຈລາວກ າລັຄກຽາວຂ ື ຽ ຌເສັຽຌ຋າຄມ ີ ກຽຈສະຫຄຼາຄາມ 1975 ພ ີ ມ຋ ີຼ ໂອຄພ ີ ມແຌວລາວສຽາຄຆາຈ . Cay Sỏn Phôm Vi Hản (1975) Nước Lào đang tiến bước trên con đường vẻ vang của thời đại. Nxb Neo Lào Hắc Xạt Khác
19. ສຸເຌຈໂພ຋ ິ ສາຌ . ຎະຫວັຈສາຈລາວສ າຌັກພ ີ ມແຫຼຄຆາ ) 2000 ( Su Nệt Phô Thị Sản (2000) Lịch sử Lào. Nxb Quốc gia, Viêng Chăn Khác
20. ສັຄລວມແຏຌງຸຈ຋ະສາຈກາຌ຋ຼຬຄ຋ຼຽວວຽຄ຅ັຌພະແຌກຊະແຫ ົ ຄຂຼາວວັຈ຋ະຌະ຋ າ ແລະ຋ຼຬຄ຋ຼຽວຌະ຃ຬຌຫ ົ ວຄວຽຄ຅ັຌ ຎ ີ 2001- 2010- 2012 – 2020.Tổng hợp chiến lƣợc phát triển du lịch thủ đô Viên Chăn 2001 - 2010 và 2012 - 2020. Sở thông tin, văn hóa và du lịch thủ đô Viên Chăn Khác
21. ຍູຌເອັຄຍ຺ວສ ີ ແສຄຎະເສ ີ ຈ ຎະຫວັຈສາຈສ ີ ລະຎະແລະຎັຈຉະກ າລາວ ) 1991 ( ເຫ ົັຽ ມ 1 ພ ີ ມ຋ ີຼ ວຽຄ຅ັຌ. (Bun Hênh Bua Si Sẻng Pa Sơt (1991) Lịch sử nghệ thuật và kiến trúc Lào, Tập 1, Nxb Viên Chăn) Khác
22. ຍ຺ຈແຌະຌ າວຼາຈຽວງກາຌຎະເມ ີ ຌຏ຺ຌແຉຼກາຌ຋ຼຬຄ຋ຼຽວວັຈ຋ະຌະ຋ າຉ ຼ ສ ິຼ ຄແວຈລຽຬ ມຢ ູຼ ໃຌຌະ຃ຬຌຫ ົ ວຄວຽຄ຅ັຌ . Tác giảBáo cáo đánh giá về tác động về môi trường từ hoạt động du lịch văn hóa tại thủ đo Viên Chăn Khác
23. ພະມະຫາຍຸຌ຋ະວ ິ ວ ິ ໄລ຅ັກ . ພ ີ ມ຋ ີຼ ວຽຄ຅ັຌ . ຎະເພຌ ີ ລາວ ) 2000 ( Pha Ma Hả Bun Tha Vi Vi Lay Chắc (2000) Tập quán Lào, Nxb Viên Chăn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Bản đồ hành chính khu vực thủ đô Viên Chăn - Quản lý môi trường trong hoạt động du lịch văn hóa ở viên chăn, lào
Hình 1 Bản đồ hành chính khu vực thủ đô Viên Chăn (Trang 10)
Hình 2:  Bản đồ thủ đô Viên Chăn - Quản lý môi trường trong hoạt động du lịch văn hóa ở viên chăn, lào
Hình 2 Bản đồ thủ đô Viên Chăn (Trang 29)
Hình 3: Chùa Hỏ Phạ Kẹo - Quản lý môi trường trong hoạt động du lịch văn hóa ở viên chăn, lào
Hình 3 Chùa Hỏ Phạ Kẹo (Trang 57)
Hình 4 : Thạt Đăm - Quản lý môi trường trong hoạt động du lịch văn hóa ở viên chăn, lào
Hình 4 Thạt Đăm (Trang 58)
Hình 5: Chùa Sỉ Sạ Kệt - Quản lý môi trường trong hoạt động du lịch văn hóa ở viên chăn, lào
Hình 5 Chùa Sỉ Sạ Kệt (Trang 60)
Hình 6: Chùa Inpeng - Quản lý môi trường trong hoạt động du lịch văn hóa ở viên chăn, lào
Hình 6 Chùa Inpeng (Trang 61)
Hình 7: Chùa Ông Tự - Quản lý môi trường trong hoạt động du lịch văn hóa ở viên chăn, lào
Hình 7 Chùa Ông Tự (Trang 62)
Hình 8: Chùa Thát Luổng - Quản lý môi trường trong hoạt động du lịch văn hóa ở viên chăn, lào
Hình 8 Chùa Thát Luổng (Trang 64)
Hình 9: Tƣợng đài chiến thắng Pạ Tu Xay  3.1.3 Du lịch lễ hội - Quản lý môi trường trong hoạt động du lịch văn hóa ở viên chăn, lào
Hình 9 Tƣợng đài chiến thắng Pạ Tu Xay 3.1.3 Du lịch lễ hội (Trang 65)
Hình 9: Hội năm mới - Quản lý môi trường trong hoạt động du lịch văn hóa ở viên chăn, lào
Hình 9 Hội năm mới (Trang 67)
Hình 12: Hội đua thuyền - Quản lý môi trường trong hoạt động du lịch văn hóa ở viên chăn, lào
Hình 12 Hội đua thuyền (Trang 69)
Hình 13: Hội Phật Vệt Xẳn Đon,người dân ngồi tụng kinh - Quản lý môi trường trong hoạt động du lịch văn hóa ở viên chăn, lào
Hình 13 Hội Phật Vệt Xẳn Đon,người dân ngồi tụng kinh (Trang 71)
Hình 14: Dâng cơm cho sƣ - Quản lý môi trường trong hoạt động du lịch văn hóa ở viên chăn, lào
Hình 14 Dâng cơm cho sƣ (Trang 72)
Bảng 4 Thống kê số lượng cơ sở lưu trú cho khách du lịch Viên Chăn 2011-2012 - Quản lý môi trường trong hoạt động du lịch văn hóa ở viên chăn, lào
Bảng 4 Thống kê số lượng cơ sở lưu trú cho khách du lịch Viên Chăn 2011-2012 (Trang 76)
Bảng 5: Thành phần điển hình của rác thải từ kinh doanh khách sạn và các dịch vụ - Quản lý môi trường trong hoạt động du lịch văn hóa ở viên chăn, lào
Bảng 5 Thành phần điển hình của rác thải từ kinh doanh khách sạn và các dịch vụ (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w