DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BĐKH Biến đổi khí hậu BVMT Bảo vệ môi trường CTR Chất thải rắn CTRSH Chất thải rắn sinh hoạt ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long GDP Tổng sản phẩm quốc nội IPCC Ủy ba
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC HÌNH v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Tổng quan về đồng bằng sông Cửu Long 3
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 3
1.1.2 Hiện trạng kinh tế - xã hội 7
1.1.3 Tổng quan tác động của biến đổi khí hậu 10
1.1.3.1 Tác động tới môi trường tự nhiên 10
1.1.3.2 Tác động tới kinh tế - xã hội 14
1.2 Tổng quan về một số làng sinh thái trên thế giới và Việt Nam 19
1.2.1 Khái niệm làng sinh thái 19
1.2.2 Tổng quan một số làng sinh thái trên thế giới và Việt Nam 19
1.2.2.1 Trên thế giới 19
1.2.2.2 Việt Nam 22
1.2.2.3 So sánh mô hình LST của Thế Giới và Việt Nam 24
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.2 Phương pháp tiếp cận 25
2.3 Phương pháp nghiên cứu 25
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
3.1 Đánh giá đặc điểm dân cư nông thôn khu vực nghiên cứu 29
3.1.1 Đánh giá tổng quan quá trình hình thành và phát triển dân cư nông thôn29 3.1.2 Đánh giá tập quán cư trú trước đây và hiện nay của cư dân ĐBSCL 30
3.1.3 Đặc điểm điều kiện sống khu vực khảo sát 32
3.2 Cơ sở để xây dựng các tiêu chí cho làng sinh thái 35
3.2.1 Cơ sở xác định tiêu chí 35
Trang 23.2.2 Nguyên tắc cơ bản xây dựng tiêu chí 36
3.3 Xây dựng tiêu chí cho LST thích ứng với BĐKH 36
3.3.1 Đề xuất một số tiêu chí LST thích ứng với BĐKH vùng ĐBSCL 36
3.3.2 Xây dựng tiêu chí, chỉ tiêu đề xuất 43
3.3.2.1 Tiêu chí nguồn cấp nước 44
3.3.2.2 Tiêu chí xử lý chất thải 46
3.3.2.3 Tiêu chí về giao thông 49
3.3.2.4 Tiêu chí về năng lượng 51
3.3.2.5 Tiêu chí về nhà cộng đồng tránh, trú bão 53
3.3.2.6 Tiêu chí về cây xanh 54
3.3.3 Tổng điểm đánh giá cho các tiêu chí LST thích ứng với biến đổi khí hậu55 3.4 Áp dụng các tiêu chí đánh giá cho khu vực ấp Hiệp Dư và đề xuất một số giải pháp 56
3.5 Đề xuất một số biện pháp cho việc áp dụng hiệu quả tiêu chí 63
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
PHỤ LỤC 70
Trang 3DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Diện tích và dân số các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long 7
Bảng 2 Dự báo diện tích đầm tôm do tác động của việc độ mặn tăng theo kịch bản nước biển dâng 0,5m 15
Bảng 3 Tác động của BĐKH và NBD đối với sức khỏe và mạng lưới y tế 17
Bảng 4 Danh mục các tiêu chí đề xuất 37
Bảng 5 Các chỉ tiêu về cấp nước cho sinh hoạt 38
Bảng 6 Các chỉ tiêu về xử lý chất thải 39
Bảng 7 Các chỉ tiêu về giao thông 40
Bảng 8 Các chỉ tiêu về năng lượng 41
Bảng 9 Các chỉ tiêu về nhà sinh hoạt cộng đồng tránh, trú bão 42
Bảng 10 Các chỉ tiêu về cây xanh 43
Bảng 11 Điểm số chỉ tiêu đảm bảo có đủ nước cấp cho sinh hoạt 44
Bảng 12 Điểm số chỉ tiêu đa dạng hóa nguồn cấp nước cho sinh hoạt 45
Bảng 13 Điểm số chỉ tiêu có biện pháp sử dụng tiết kiệm nước 45
Bảng 14 Điểm số chỉ tiêu có công trình xử lý nước thải 46
Bảng 15 Điểm số chỉ tiêu tái sử dụng nguồn nước sau xử lý 47
Bảng 16 Điểm số chỉ tiêu phân loại rác tại nguồn 48
Bảng 17 Điểm số chỉ tiêu xử lý CTR đúng kỹ thuật, an toàn và hợp vệ sinh 49
Bảng 18 Điểm số chỉ tiêu đảm bảo giao thông thuận lợi 49
Bảng 19 Điểm số chỉ tiêu đường giao thông có tính đến kịch bản BĐKH và nước biển dâng 50
Bảng 20 Điểm số chỉ tiêu chất lượng đường đảm bảo bền vững, an toàn 51
Bảng 21 Điểm số chỉ tiêu sử dụng nguồn năng lượng tái tạo 52
Bảng 22 Điểm số chỉ tiêu thông gió và chiếu sáng tự nhiên 53
Bảng 23 Điểm số chỉ tiêu không gian sinh hoạt 53
Bảng 24 Điểm số chỉ tiêu bảo đảm phòng chống lụt bão và nước biển dâng 54
Bảng 25 Điểm số chỉ tiêu trồng cây xanh khu vực công cộng 55
Bảng 26 Điểm số chỉ tiêu trồng cây xanh trong các hộ gia đình 55
Bảng 27 Lượng hóa đánh giá LST theo từng chỉ tiêu 56
Bảng 28 Lượng hóa đánh giá LST áp dụng tại khu vực ấp Hiệp Dư 63
Trang 4DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Vị trí địa lý khu vực đồng bằng sông Cửu Long 3
Hình 2: Nguy cơ ngập ĐBSCL ứng với mực nước biển dâng 1m [Bộ TN&MT] 11
Hình 3: Tác động của biến đổi khí hậu đối với nông nghiệp 14
Hình 4: Xu hướng suy giảm nguồn lợi thủy sản do biến đổi khí hậu [FAO] 16
Hình 5: Sơ đồ cơ cấu tổ chức điểm dân cư nông thôn hiện nay 29
Hình 6: Vị trí ấp Hiệp Dư, xã Nguyễn Huân, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau 32
Hình 7: Chum đựng nước mưa và nước đóng chai khu vực nghiên cứu 33
Hình 8: Vườn, ao của người dân khu vực xã Nguyễn Huân 33
Hình 9: Rác thải sinh hoạt vứt bên sông và cạnh nhà 34
Hình 10: Công trình vệ sinh của người dân 34
Hình 11: Một số hình ảnh về nhà ở tại xã Nguyễn Huân 35
Hình 12: Các giải pháp tích nước ngọt của người dân ĐBSCL 57
Hình 13: Mô phỏng xử lý nước thải tái sử dụng tại nguồn 59
Hình 14: Đường, cầu liên thôn tại xã Nguyễn Huân 61
Hình 15: Đường thôn ấp Hiệp Dư, xã Nguyễn Huân 61
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BĐKH Biến đổi khí hậu BVMT Bảo vệ môi trường CTR Chất thải rắn CTRSH Chất thải rắn sinh hoạt ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long GDP Tổng sản phẩm quốc nội IPCC Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu LST Làng sinh thái
NBD Nước biển dâng PTBV Phát triển bền vững PTNT Phát triển nông thôn TN&MT Tài nguyên và Môi trường XLNT Xử lý nước thải
Trang 6MỞ ĐẦU
Biến đổi khí hậu (BĐKH) mà trước hết là sự nóng lên toàn cầu và nước biển dâng hiện nay, là thách thức nghiêm trọng nhất đối với nhân loại trong thế kỷ XXI BĐKH tác động trực tiếp tới các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ và được coi là thách thức lớn cho phát triển bền vững (PTBV) [IPCC, 2007] Nó đã và đang tác động trực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội và môi trường toàn cầu; trong những năm qua nhiều nơi trên thế giới đã phải chịu nhiều thiên tai nguy hiểm như bão lớn,
lũ lụt, nước biển dâng và khí hậu khắc nghiệt
Việt Nam là một trong những quốc gia bị tổn thương nặng nề nhất do biến đổi khí hậu; đặc biệt đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong ba đồng bằng trên thế giới dễ bị tổn thương nhất bởi nước biển dâng [WB, 2007; Bộ TN&MT, 2008, 2009, 2011] ĐBSCL là vùng hạ lưu cuối cùng của lưu vực sông Mekong trước khi chảy ra biển; đây là vùng đất thấp, được xem là vùng đất ngập nước lớn nhất của Việt Nam Hàng năm, từ tháng 8 đến tháng 10, vùng ĐBSCL bị ngập lũ từ sông Mekong đặc biệt là các vùng Đồng Tháp Mười, vùng Tứ giác Long Xuyên và vùng giữa sông Tiền và sông Hậu Đồng bằng sông Cửu Long là khu vực
bị tác động nặng nề nhất do BĐKH
Những năm gần đây, khí hậu vùng ĐBSCL đang có nhiều biến đổi theo chiều hướng xấu lượng mưa không đều, thủy triều dâng cao làm cho nước mặn xâm nhập vào nước ngầm và đất liền ngày càng nhiều, đất đai bị xói mòn, mặn hóa, Các cộng đồng dễ bị tổn thương bao gồm: nông dân, ngư dân (nhất là ở những khu vực
dễ bị tổn thương) là những đối tượng ít có cơ hội lựa chọn Có thể thấy rằng những tác động do biến đổi khí hậu và kịch bản biến đổi khí hậu thể hiện ở vùng ĐBSCL
là rõ ràng và chúng ta cần phải có những biện pháp ứng phó phù hợp cho khu vực đồng bằng sông Cửu Long nói chung và khu vực dân cư nông thôn nói riêng; đặc biệt là dân cư nông thôn khu vực ven biển
Làng sinh thái là mô hình sống bền vững, hình thành bởi cộng đồng dân cư sống ở các vùng ngoại ô, nông thôn, qua đó giảm các tác động tiêu cực đến vấn đề
Trang 7môi trường; để đạt được điều này, một số nước trên thế giới đã xây dựng mô hình làng sinh thái lồng ghép các kiểu hệ sinh thái, văn hóa, nhà sinh thái, sản phẩm xanh, năng lượng thay thế, các thói quen xây dựng cộng đồng, v.v Trong những năm qua mô hình làng sinh thái ở Việt Nam đã được phát triển với các tiêu chí khác nhau như bảo tồn nguồn gen, phát triển du lịch, phủ xanh đồi trọc ở khu vực trung
du miền núi phía bắc và phát triển kinh tế đồi rừng, và mô hình làng sinh thái lâm nghiệp với tiêu chí bảo vệ vùng đệm cho khu bảo tồn thiên nhiên
Hiện tại, mô hình sống khu vực dân cư nông thôn ĐBSCL chịu tác động của biến đổi khí hậu như nước biển dâng, lũ lụt, xâm nhập mặn…; đặc biệt là các vùng dân cư ven biển Vì vậy, đòi hỏi ĐBSCL cần có mô hình sống bền vững dựa trên các tiêu chí nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu, không phá vỡ cân bằng sinh thái, điều hòa các mối quan hệ giữa tự nhiên và con người nhằm sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên sẵn có, hướng tới một sự cân bằng ổn định, bền vững cả về khía
cạnh tự nhiên lẫn xã hội Trên cơ sở đó, việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu xây dựng tiêu chí làng sinh thái thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng dân cư nông thôn đồng bằng sông Cửu Long” là hết sức cần thiết Kết quả xây
dựng làng sinh thái, sẽ làm căn cứ để các nhà quản lý và các cấp chính quyền đánh giá tiêu chí xây dựng làng sinh thái thích ứng với BĐKH ở địa phương mình, đồng thời có thể xây dựng mô hình LST theo các tiêu chí mẫu đề ra nhằm hướng tới một
mô hình sống bền vững có tính thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng
Mục tiêu: xây dựng tiêu chí làng sinh thái thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng dân cư nông thôn đồng bằng sông Cửu Long
Để đạt được mục tiêu đề tài thực hiện các nội dung sau:
- Tổng hợp các nghiên cứu liên quan đến đề tài, đặc biệt là các tài liệu về mô hình làng sinh thái trên thế giới và Việt Nam
- Tìm hiểu đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của khu vực nghiên cứu
- Đề xuất tiêu chí làng sinh thái dựa vào cộng đồng dân cư nông thôn khu vực đồng bằng sông Cửu Long; nghiên cứu áp dụng tại ấp Hiệp Dư, xã Nguyễn Huân, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau
Trang 8CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan về đồng bằng sông Cửu Long
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
a) Vị trí địa lý
Đồng bằng sông Cửu Long, còn được gọi là miền Tây Nam Bộ, nằm ở hạ lưu châu thổ sông Mê Kông có diện tích 3,96 triệu ha [16] Giới hạn địa lý của vùng này được xác định từ vĩ độ 8o30’N - 10º40’N và kinh độ 104º26’E - 106o40’E; phía Đông Bắc giáp vùng Đông Nam Bộ, phía Bắc giáp Campuchia, phía Tây Nam là vịnh Thái Lan, phía Đông Nam là biển Đông Địa giới hành chính của vùng được xác định bởi 12 tỉnh và 1 thành phố, bao gồm các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, An Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang và Thành phố Cần Thơ
Hình 1: Vị trí địa lý khu vực đồng bằng sông Cửu Long [5]
Trang 9b) Đặc điểm địa hình
Phần lớn có cao độ trung bình từ 0,7-1,2 m so với mực nước biển Dọc theo biên giới Campuchia có địa hình cao hơn, cao trình từ 2,0-4,0 m, sau đó thấp dần vào đến trung tâm đồng bằng ở cao trình 1,0-1,5 m, và chỉ còn 0,3-0,7 m ở khu vực giáp triều, ven biển
Ven bờ biển thường do hoạt động của hải lưu, gió và phù sa sông, tạo thành các giồng cát cao ven biển có hình cung lồi ra phía biển, nằm xen kẽ các vùng trũng thấp ngập triều Vùng Bắc Đông là vùng rất khó khăn về tiêu thoát của vùng Đồng Tháp Mười, hạ lưu vực sông Cái Lớn-Cái Bé và U Minh Thượng, U Minh Hạ là những vùng đất thấp hơn cả, với cao độ từ 0,3-0,7 m, luôn ngập do triều cao, nước mưa nội đồng và nước lũ thượng nguồn [16]
c) Đặc điểm khí hậu
Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa nên nền khí hậu ở ĐBSCL quanh năm nắng ấm và sự phân mùa khô ẩm rất sâu sắc tuỳ theo hoạt động của hoàn lưu gió mùa Mùa khô thường trùng với mùa ít mưa, đây cũng là thời kỳ khống chế của gió mùa Đông-Bắc kéo dài khoảng từ tháng XI đến tháng IV năm sau, khí hậu đặc trưng là khô, nóng và rất ít mưa Mùa ẩm trùng với mùa mưa, là thời kỳ khống chế của gió mùa Tây-Nam kéo dài từ tháng V đến tháng X, có khí hậu đặc trưng là nóng, ẩm và mưa nhiều Khí hậu ở đồng bằng sông Cửu Long có sắc thái riêng, đó
là khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa cận xích đạo, nắng nhiều, nhiệt độ cao quanh năm, mùa mưa về cơ bản là mùa hè, mùa khô xuất hiện vào các tháng giữa và cuối mùa đông, đầu mùa hè
Bức xạ tổng cộng trung bình năm khoảng (150-160) kcal/cm2, số giờ nắng trung bình năm khoảng (2.200-2.800) giờ [14]
Khu vực có nền bức xạ khá cao, địa hình khá bằng phẳng nên nhiệt độ phân
bố tương đối đều trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, theo Đài khí tượng thủy văn khu vực Nam Bộ (năm 2013) nhiệt độ không khí trung bình năm biến đổi trong phạm vi (26-29)o C
Độ ẩm tương đối trung bình năm khoảng (70-80)% [14]
Trang 10Lượng mưa năm trung bình nhiều năm biến đổi trong phạm vi từ dưới 1.400
mm ở khu vực giữa sông Tiền - sông Hậu ở các tỉnh Đồng Tháp, An Giang, Vĩnh Long tăng lên trên 2.400 mm ở bán đảo Cà Mau Mùa mưa xuất hiện các tháng V-
XI, trong đó 3 tháng có lượng mưa trung bình tháng lớn nhất xuất hiện vào các tháng VII-IX; lượng mưa mùa mưa chiếm khoảng (88-95)% lượng mưa năm.[14]
d) Đặc điểm thủy văn
Hệ thống sông ngòi, kênh rạch [5]
Chế độ thủy văn của ĐBSCL chịu sự chi phối hoàn toàn của sông Mê Kông; phần lưu vực sông Mê Kông chảy ngang qua Việt Nam được gọi là sông Lớn, sông Cái, hay sông Cửu Long Hệ thống sông Cửu Long gồm nhiều con sông lớn nhỏ, bao gồm:
Sông Hậu: chảy qua tỉnh An Giang (Châu Đốc, Long Xuyên), làm ranh giới
tự nhiên giữa các tỉnh Đồng Tháp và Cần Thơ, Vĩnh Long và Cần Thơ, Hậu Giang
và Vĩnh Long, Trà Vinh và Sóc Trăng và đổ ra biển trước kia bằng 03 cửa, bao gồm cửa Định An, cửa Ba Thắc, cửa Tranh Đề Cửa Ba Thắc khoảng thập niên 1970 đã
bị bồi lấp nên sông Hậu chỉ còn hai cửa biển ngày nay Đoạn rộng nhất của con sông này là giữa huyện Cầu Kè (Trà Vinh) và huyện Long Phú (Sóc Trăng) khoảng gần 4 km
Sông Tiền: có lòng sông rộng với nhiều cù lao ở giữa dòng, chảy qua Tân Châu
(An Giang), Hồng Ngự và Cao Lãnh (Đồng Tháp), Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre đến Cai Lậy (Tiền Giang) thì chia làm bốn sông đổ ra biển bằng 06 cửa là sông Mỹ Tho (45km), sông Hàm Luông (70km), sông Cổ Chiên (82km), sông Ba Lai (55km)
Ngoài hệ thống sông Cửu Long, ĐBSCL còn có một số hệ thống sông, kênh
lớn khác như sông Vàm Cỏ: có khoảng 10 chi lưu trong đó hai chi lưu trực tiếp tạo nên dòng sông là sông Vàm Cỏ Đông và sông Vàm Cỏ Tây Sông Sở Thượng và Sở Hạ: nằm dọc biên giới Việt Nam - Campuchia (thuộc Đồng Tháp Mười) Cả 2 con sông này đều chảy ra rạch Hồng Ngự (Đồng Tháp) rồi đổ ra sông Tiền Sông Giang Thành: là con sông nhỏ, xuất phát vùng núi phía Tây-Nam Campuchia, sau đó chảy
dọc theo biên giới Việt Nam - Campuchia và đổ ra biển tại thị xã Hà Tiên (Kiên
Trang 11Giang) Sông Châu Đốc: bắt nguồn từ Campuchia, chảy song song và hợp lại với
sông Hậu tại Châu Đốc
Sông Cái Lớn và Cái Bé: xuất phát từ cửa Ông Trang thuộc vịnh Thái Lan,
chảy ra cửa Bồ Đề thuộc biển Đông
Hệ thống kênh đào: ở vùng ĐBSCL rất dày đặc, mục đích phục vụ sản
xuất nông nghiệp và giao thông thủy Hiện nay, hệ thống này đã bao gồm kênh trục, kênh cấp I, kênh cấp II, và kênh nội đồng Hệ thống kênh đào nối sông Vàm
Cỏ với sông Tiền; nối sông Tiền với sông Hậu; nối sông Hậu với vịnh Thái Lan, với sông Cái Lớn và một số sông khác; nối thông các vùng nằm sâu trong nội địa
ra sông chính
Dòng chảy
Chế độ dòng chảy: Mùa lũ hàng năm thường xuất hiện vào các tháng VII-XI
Lượng dòng chảy mùa lũ chiếm khoảng (70-85)% lượng dòng chảy năm Lũ thường
gây ngập lụt ở đồng bằng sông Cửu Long Mùa cạn từ tháng XII đến tháng VI năm
sau, lượng dòng chảy mùa cạn chiếm khoảng (15-30)% dòng chảy năm, 3 tháng liên tục có dòng chảy nhỏ nhất xuất hiện vào các tháng II-IV [14]
Chế độ nước sông ở vùng đồng bằng ven biển còn chịu chi phối bởi thuỷ triều Biển Đông và vịnh Thái Lan với chế độ triều tương ứng là bán nhật triều không đều và nhật triều không đều Hai loại triều với chế độ khác nhau này xâm nhập vào trong sông ngòi kênh rạch, tạo nên bức tranh thuỷ triều rất phức tạp Tuy nhiên, thủy triều Biển Đông chiếm ưu thế so với thủy triều từ vịnh Thái Lan xâm nhập vào
Thủy triều: Thủy triều có ảnh hưởng sâu sắc đến dòng chảy vùng ven biển
ĐBSCL Vùng ven biển phía Đông từ Cần Giờ đến mũi Cà Mau chịu ảnh hưởng của thuỷ triều biển Đông; vùng ven biển phía Tây từ mũi Cà Mau đến Hà Tiên chịu ảnh hưởng của thủy triều biển Tây
Thủy triều vùng ven biển Đông có chế độ bán nhật triều không đều, mỗi ngày nước lên xuống 2 lần, có 2 đỉnh và 2 chân Hai đỉnh triều chênh lệch nhau ít nhưng 2 chân chênh lệch nhau nhiều Với dạng triều này sẽ có tác dụng đưa nước vào nội đồng nhiều hơn Xu thế thuỷ triều ven biển Đông là từ Vũng Tàu đến Gành Hào biên độ triều tăng lên nhưng thời gian xuất hiện đỉnh triều chậm dần
Trang 12Thủy triều ven biển Tây thuộc loại hỗn hợp thiên về nhật triều Trong ngày
có 2 đỉnh, 2 chân nhưng những dao động lớn hoàn toàn chiếm ưu thế và thiên về nhật triều Có nghĩa là 2 đỉnh chênh lệch nhau đáng kể nhưng 2 chân xấp xỉ nhau Dạng triều này có thời gian duy trì mức nước thấp dài nên tạo ra việc tiêu tháo nước thuận lợi.[14]
1.1.2 Hiện trạng kinh tế - xã hội
a) Dân số
Dân số 13 tỉnh/ thành phố thuộc khu vực ĐBSCL là 17.390,5 nghìn người Tỉnh có dân số đông nhất hiện nay trên toàn khu vực là An Giang với 2.153,7 nghìn người, tỉnh có số dân ít nhất là Hậu Giang, chỉ có 769,7 nghìn người Diện tích và dân số các tỉnh được cụ thể như dưới đây:
Bảng 1 Diện tích và dân số các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long
Tên tỉnh Diện tích
(km²)
Dân số (Nghìn người)
Tốc độ tăng dân số (%)
Thành thị (%)
Nông thôn (%)
Mật độ (Người/ km²)
Long An 4.491,9 1.469,9 8,3 17,95 82,05 327 Tiền Giang 2.508,6 1.703,4 6,7 14,74 85,26 679 Bến Tre 2.359,5 1.262,0 5,9 10,04 89,96 535 Trà Vinh 2.341,2 1.027,5 6,6 16,23 83,77 439 Vĩnh Long 1.520,2 1.040,5 7,6 15,57 84,43 684 Đồng Tháp 3.378,8 1.680,3 8,5 17,76 82,24 497
An Giang 3.536,7 2.155,3 8,5 29,99 70,01 609 Kiên Giang 6.348,5 1.738,8 10,4 27,30 72,70 274 Cần Thơ 1.409,0 1.222,4 9,1 66,32 33,68 868 Hậu Giang 1.602,4 773,8 7,5 26,35 73,65 483 Sóc Trăng 3.311,6 1.308,3 9,7 33,99 66,01 395 Bạc Liêu 2.468,7 876,8 9,9 27,26 72,74 355
Cà Mau 5.294,9 1.219,9 8,7 21,56 78,44 230
Nguồn: [19]
Trang 13Dân số ở các tỉnh trên toàn khu vực chủ yếu tập trung ở các vùng nông thôn, chỉ có Cần Thơ là thành phố có 66,32% dân số tập trung ở thành thị Bến Tre là tỉnh
có tỷ lệ dân cư tập trung ở nông thôn cao nhất khu vực với gần 90% Mật độ dân số trung bình ở các tỉnh ĐBSCL là 490 người/km²; cao gấp 1,6 lần mật độ dân số trung bình toàn quốc Tỉnh/thành phố có mật độ dân số cao nhất ở khu vực là Cần Thơ, với 868 người/km², trong khi đó ở Cà Mau mật độ dân số chỉ có 230 người/km²
b) Tóm lược hiện trạng phát triển kinh tế các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long
Tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn vùng giai đoạn 2000-2011 đạt khoảng 11,5%/năm, năm 2012 đạt mức tăng khoảng 10% cao hơn nhiều so với mức tăng của cả nước Bên cạnh đó cơ cấu giữa các khu vực kinh tế đã có bước chuyển dịch tích cực, giá trị dịch vụ đã được tăng lên đáng kể trong giai đoạn 2000 đến 2012
Giá trị xuất nhập khẩu toàn vùng năm 2012 đạt 14,27 tỷ đô la, chiếm 9% tổng giá trị xuất nhập khẩu của cả nước Xuất khẩu đạt 10,07 tỷ đô la, nhập khẩu đạt 4,2 tỷ đô la Năm 2012, thu nhập bình quân đầu người đạt 32,33 triệu đồng/người.năm (tương đương 1.525 đô la)
- Nông, lâm, ngư nghiệp:
Giá trị sản xuất toàn ngành nông nghiệp tăng từ 56.292 tỷ đồng năm 2000 lên 101.000 tỷ đồng năm 2010 và năm 2012 đạt 122.506 tỷ đồng Tăng trưởng bình quân giai đoạn 2000-2010 đạt 6,9%/năm Hiệu quả thu nhập trên mỗi ha đất nông nghiệp tăng nhanh từ 20,2 triệu đồng/ha.năm vào năm 2000 lên gần 38 triệu đồng/ha.năm vào năm 2010 và 41 triệu đồng/ha.năm vào năm 2012.[19]
ĐBSCL đã hình thành các mô hình tập trung chuyên canh cây lúa, cây ăn trái
và thủy sản, áp dụng công nghệ cao, tạo ra khối lượng hàng hóa lớn Các Viện, Trường, Trung tâm nghiên cứu tại vùng ĐBSCL đã tích cực lai tạo, cung ứng cây, con giống, vật nuôi và sản xuất các chế phẩm sinh học, ứng dụng khoa học kỹ thuật phục vụ nông nghiệp
- Công nghiệp:
Giá trị sản lượng công nghiệp vùng ĐBSCL tăng bình quân trong giai đoạn
2001 - 2010 là 18,8%, năm 2012 giá trị sản xuất công nghiệp (giá cố định 1995) đạt
Trang 14157.665 tỷ đồng, tăng 15,13% so với năm 2011 [19] Các mặt hàng có sản lượng tăng khá và đóng góp chính là cho mức tăng trưởng chung của ngành là chế biển thủy sản đông lạnh, công nghiệp giày, phân bón, xi măng Sản phẩm chế biến thủy sản phát triển mạnh với hơn 60 chủng loại mặt hàng cung cấp khoảng 60% sản lượng và giá trị kim ngạch xuất khẩu góp phần giải quyết công ăn việc làm cho khoảng 6 triệu lao động
Đã hình thành các khu công nghiệp tập trung cấp vùng và cấp quốc gia; toàn vùng hiện nay có 78.931 cơ sở kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực công thương Đến nay đã hình thành 51 khu công nghiệp và chế xuất, thu hút 366 doanh nghiệp, tỷ
lệ lấp đấy cao và tạo việc làm cho khoảng 61.000 lao động [19]
- Dịch vụ:
Là một khu vực kinh tế phát triển ngành, đóng góp ngày càng lớn trong tỷ trọng nền kinh tế Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng từ 43,5 nghìn tỷ đồng năm 2001 lên 279 nghìn tỷ đồng năm 2010, đạt 428,877 nghìn tỷ đồng năm 2012, mức tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2001-2010 đạt 20,8% Toàn vùng có 1.857 chợ, trong đó có 1.797 chợ hạng 3, 51 siêu thị, 09 trung tâm thương mại.[19]
ĐBSCL là nơi hội tụ, giao thoa các dòng văn hóa của dân tộc Kinh, Khơme, Chăm, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch sinh thái và du lịch văn hóa mang nét đặc trưng riêng của vùng; đóng vai trò quan trọng đối với môi trường sinh thái của cả khu vực Nam Bộ và hạ lưu sông Mê Kông Du lịch phát triển đa dạng và phong phú về loại hình du lịch sinh thái, sông nước miệt vườn
Các điểm du lịch tại đất mũi Cà Mau, du lịch biển Kiên Giang, Trà Vinh, Bạc Liêu, Tiền Giang, Bến Tre, du lịch sinh thái ở Đồng Tháp, Cần Thơ, Hậu Giang, du lịch di tích văn hóa ở An Giang và du lịch biển đảo ở Phú Quốc là những thế mạnh của vùng Cơ sở vật chất của ngành được đầu tư phát triển đặc biệt tại Vùng Kinh tế trọng điểm ĐBSCL Năm 2012 toàn vùng thu hút 21,8 triệu lượt khách du lịch, trong đó có 2 triệu lượt khách quốc tế, doanh thu đạt 4.456 tỷ đồng [19]
Trang 151.1.3 Tổng quan tác động của biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu sẽ tác động trực tiếp đến tài nguyên nước, năng lượng, sức khỏe con người, nông nghiệp, an ninh lương thực, đa dạng sinh học, cơ sở hạ tầng, cộng đồng dân cư và các lĩnh vực khác
1.1.3.1 Tác động tới môi trường tự nhiên
a) Môi trường đất
- Diện tích đất có nguy cơ bị ngập: Kết quả xác định vùng có nguy cơ bị ngập theo mực nước biển dâng cho thấy nếu nước biển dâng 1m có khoảng 39% diện tích đồng bằng sông Cửu Long có nguy cơ bị ngập; dâng 0,5m có khoảng 5,4% đồng bằng sông Cửu Long có nguy cơ bị ngập [3]
- Đất bị xâm nhập mặn: Do độ cao trung bình của vùng thấp, hệ thống sông ngòi chằng chịt với nhiều cửa sông thông ra biển kết hợp với chế độ thủy triều phức tạp; mức độ xâm nhập mặn vào nội địa cao nhất vào các tháng mùa khô từ tháng 5 –
11 có nắng gay gắt kéo dài, lượng nước mưa và lưu lượng nước trên sông xuống thấp Những vùng duyên hải chưa có hệ thống thủy lợi hoàn thiện như tỉnh Cà Mau, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng đang xảy ra xâm mặn nghiêm trọng Tại Bến Tre, dọc theo các tuyến sông Hàm Luông, sông Tiền, xâm mặn đã tiến sâu vào đất liền từ 40
- 50km Theo Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam, toàn bộ vùng Nam Măng Thít (Vĩnh Long) có trên 8.000 ha đất canh tác bị xâm mặn nặng Ở vùng phía Nam tỉnh Vĩnh Long, các tuyến sông, kênh rạch ven biển như sông Tân Dinh, Rạch Chiếc - Bào Môn, Rạch Mương Điều, Bang Chang, Rạch Tra chưa được xây cống ngăn mặn, vì vậy mặn sẽ tiếp tục lên cao hơn về phía thượng lưu sông Tiền, sông Hậu Phạm vi ảnh hưởng xâm nhập mặn ở ĐBSCL hiện nay đã chiếm khoảng 50% diện tích toàn vùng (khoảng trên 2 triệu hecta) Xâm nhập mặn đe dọa các vùng chuyên canh cây ăn trái đặc sản, ảnh hưởng cấp nước tưới và nước cho sinh hoạt vào những ngày độ mặn lên cao
- Đất bị khô hạn và hoang mạc hóa: Sự phối hợp không hài hòa giữa chế độ nhiệt và chế độ mưa tạo nên sự khắc nghiệt có khả năng thúc đẩy các quá trình hạn hán, hoang mạc hóa của đất Diện tích đất bị sa mạc hóa tại vùng ĐBSCL là
Trang 1643.000ha [Bộ NN&PTNT] Nguy cơ nắng nóng và đất đai bị khô cằn nhiều hơn làm giảm năng suất trồng trọt
- Đất bị ngập úng: Những năm gần đây thiên tai, lũ lụt, hiện tượng triều cường xảy ra liên tiếp đã làm cho vấn đề ngập úng đất ở khu vực ĐBSCL ngày càng trở nên nghiêm trọng Từ năm 2004-2007, đỉnh triều cường trên sông Hậu tại thành phố Cần Thơ mỗi năm tăng thêm 4 cm, gây nên tình trạng ngập lụt thường xuyên ở một số tuyến đường phố trung tâm Thành phố Cần Thơ Giả thuyết mực nước biển dâng 1m thì vùng toàn vùng ĐBSCL có bản đồ ngập như dưới đây
Hình 2: Nguy cơ ngập ĐBSCL ứng với mực nước biển dâng 1m [Bộ TN&MT]
- Sạt lở đất: Tình trạng sạt lở bờ biển, bờ sông trong nhiều năm qua đã gây thiệt hại không nhỏ tại Đồng bằng sông Cửu Long Đoạn đê biển đi qua huyện U Minh, Trần Văn Thời, Phú Tân của Cà Mau và huyện Hòn Đất của Kiên Giang, thuộc tuyến biển Tây, dài khoảng 260km kéo dài từ Cà Mau đến Kiên Giang hiện bị xói lở nghiêm trọng Đoạn đê ở rạch Tiểu Dừa thuộc huyện U Minh, Cà Mau, bị sạt
lở gần 200m Hiện có gần 150 đoạn bờ sông thuộc 10 tỉnh ven sông Tiền, sông Hậu với diện tích hàng trăm ngàn mét vuông có thể bị sạt lở bất cứ lúc nào, hàng ngàn
hộ sống trong khu vực nguy hiểm cần được di dời1 Nghiêm trọng nhất là tại An Giang, thời gian qua, hàng trăm hecta đất đã bị nước nhấn chìm
Trang 17
b) Môi trường nước
ĐBSCL sẽ là vùng bị ảnh hưởng mạnh nhất, nước biển dâng cao hơn sẽ làm cho nhiều vùng đồng bằng nước ngọt hiện nay trở thành vùng nước lợ, làm thay đổi chế độ thủy văn dòng chảy và gây áp lực đến 90% diện tích ngập nước Vì theo dự báo, trong vài chục năm tới, nước biển sẽ dâng cao làm ngập lụt phần lớn ĐBSCL vốn đã bị ngập lụt hàng năm, dẫn đến mất nhiều đất nông nghiệp Sẽ có từ 15.000 – 20.000 km2 đất thấp ven biển bị ngập hoàn toàn Lưu lượng nước sông Mêkông giảm từ 2 – 24% trong mùa khô, tăng từ 7- 15% vào mùa lũ [5] Hạn hán sẽ xuất hiện nhiều hơn Nước lũ sẽ cao hơn tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang, Kiên Giang, Vĩnh Long, Thành phố Cần Thơ, Hậu Giang, thời gian ngập lũ tại đây sẽ kéo dài hơn
Theo báo cáo của Viện Khoa học thủy lợi miền Nam cho biết, hiện nước mặn từ 6 cửa sông thuộc hệ thống sông Mê kông đã xâm nhập vào nội địa vùng ĐBSCL 70 km Tại Long An, nước mặn từ sông Cửa Tiểu đã vào đến xã Thủy Tây (huyện Thạnh Hóa); tại Bến Tre, nước mặn từ sông Cửa Đại đã vào đến xã Phú Túc (huyện Châu Thành); tại Trà Vinh, nước mặn từ sông Hàm Luông đã vào đến xã Long Thới (huyện Tiểu Cần); tại Hậu Giang, nước mặn từ sông Trần Đề đã vào đến
xã Phú Hữu; tại Vĩnh Long, nước mặn từ sông Định An, Cung Hầu đã vào đến xã Quới An (huyện Vũng Liêm) và thị trấn huyện Trà Ôn Trên địa bàn Cà Mau, nước mặn từ sông Ông Đốc đã xâm nhập sâu 65km Nước mặn từ sông Cái Lớn cũng xâm nhập sâu 65 km đến thị xã Vị Thanh (Hậu Giang) [15]
Nước mặn từ 6 cửa sông nói trên và cửa Cổ Chiên (thuộc hệ thống sông Mê kông); từ cửa sông Ông Đốc, Cái Lớn đã xâm nhập sâu từ 10 – 60 km đến địa bàn
53 xã thuộc các tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang, Cà Mau, Vĩnh Long, Hậu Giang Hiện một số địa phuơng trong vùng ĐBSCL đã xuất hiện tình trạng thiếu nước ngọt trầm trọng
Ngoài ra, báo cáo khí tượng thuỷ văn các tỉnh ĐBSCL trong các đợt triều cường từ cuối năm 2008 đến đầu năm 2009 đã làm cho vùng ngoài đê bao 8 tỉnh,
Trang 18thành vùng lũ gồm: An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ bị ngập Ngoài ra, triều cường làm nước sông dâng cao
đã làm khoảng 70.000 ha vườn cây ăn trái, hàng trăm km đường nông thôn bị ngập sâu từ 10 – 30 cm Quốc lộ 53 thuộc địa phận thị trấn huyện Long Hồ cũng bị ngập trên chiều dài 200 m, sâu 15 cm Hàng trăm nhà dân chưa kịp tôn nền cũng bị ngập Trước đó, đợt triều cường kết hợp mưa nhiều thời điểm giữa tháng 12 năm 2008 làm 100.000 ha nằm ngoài các đê bao tại ĐBSCL bị ngập từ 10 – 40 cm, chủ yếu là vườn cây ăn trái Nước ngập xảy ra ngay trong mùa khô gây trở ngại trong sản xuất, sinh hoạt của người dân sống ngoài vùng đê bao [15]
c) Đa dạng sinh học
Sự tăng lên của nhiệt độ tác động đến các hệ sinh thái tự nhiên, làm dịch chuyển các ranh giới nhiệt của các hệ sinh thái lục địa và hệ sinh thái biển, làm thay đổi cơ cấu các loài thực vật và động vật ở một số vùng Nước mặn sẽ xâm nhập sâu vào nội địa giết chết nhiều loài động, thực vật nước ngọt của hệ sinh thái thủy sinh
và ảnh hưởng đến nguồn nước ngọt cho sinh hoạt cũng như hệ thống canh tác, cơ cấu cây trồng của nhiều vùng Các hệ sinh thái địa cầu sẽ phải đối mặt với hai mối
đe dọa là sự gia tăng CO2 khí quyển trên toàn cầu và những biến động khí hậu vùng liên quan Sự thích nghi không tốt với BĐKH đã khiến đa dạng sinh học suy giảm nghiêm trọng
Hệ sinh thái biển cũng sẽ bị tổn thương do BĐKH Các rạn san hô là hệ rừng nhiệt đới của biển, nơi sinh sống của nhiều loài hải sản quan trọng và nhiều loài sinh vật biển khác, là lá chắn chống xói mòn bờ biển và bảo vệ rừng ngập mặn, sẽ
bị suy thoái do nhiệt độ nước biển tăng, đồng thời mưa nhiều làm cho nước ven biển bị ô nhiễm phù sa và có thể cả các hóa chất nông nghiệp từ cửa sông đổ ra Tóm lại, các biến động của hệ sinh thái có thể đưa đến một sự thoái hóa về tính đa dạng của chủng loại sinh vật của vùng đất liền ĐBSCL và biển ven bờ của 8 tỉnh Bắc và Nam sông Hậu
Trang 191.1.3.2 Tác động tới kinh tế - xã hội
a) Nông nghiệp
Ngành sản xuất nông nghiệp chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong nền kinh tế; tuy nhiên, trong những năm gần đây, BĐKH đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến ngành và gián tiếp gây ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân Quá trình tác động được thể hiện như sau:
Hình 3: Tác động của biến đổi khí hậu đối với nông nghiệp 2
Do tác động của BĐKH, các tỉnh ven biển vùng ĐBSCL liên tục đối mặt với tình trạng nước mặn xâm nhập sâu vào nội đồng trong mùa khô và nước ngập do triều cường vào mùa mưa, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản xuất nông nghiệp và an ninh lương thực Diện tích ngập lụt ở đồng bằng sông Cửu Long tăng, xâm nhập mặn rộng và sâu hơn (theo kịch bản nếu nước biển dâng cao 0,5m, đến năm 2050, diện tích ngập lụt có thể lên tới 3.514.403 ha chiếm khoảng 89% so với diện tích toàn ĐBSCL; trong đó khoảng 64% diện tích ĐBSCL bị ảnh hưởng xâm nhập mặn, ảnh hưởng đến khoảng 2,5 triệu ha đất lúa [14] Bên cạnh đó, thời tiết thay đổi thất thường, hạn hán làm gia tăng các dịch bệnh cây trồng, vật nuôi; một số loài sâu bệnh tăng cao, thậm chí có thể phát sinh một số loại sâu bệnh mới gây hại trong sản
2
TSKH Trương Quang Học, năm 2009.
BĐKH
Khí hậu nông nghiệp
Sản lượng thực thu Kinh tế nông nghiệp
Trang 20xuất cũng như trong quá trình bảo quản, sơ chế lương thực, thực phẩm; nhiều loại cây trồng bị thoái hóa làm giảm sản lượng và năng suất
b) Thủy hải sản
Biến đổi khí hậu làm nhiệt độ tăng, gia tăng bão và áp thấp nhiệt đới, nước biển dâng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn lợi thủy sản cũng như diện tích nuôi trồng thủy hải sản Sự tăng nhiệt độ có thể làm suy giảm sản lượng thủy sản trong các ao, vuông tôm Dưới ảnh hưởng trực tiếp từ việc giảm mưa trong mùa khô, đồng thời cùng với sự tăng nhiệt độ không khí sẽ làm tăng lượng bốc hơi tại các đầm nuôi vì vậy sẽ làm tăng độ mặn trong các đầm này Theo dự báo Trung tâm Bảo tồn sinh vật biển và Phát triển cộng đồng như trong bảng dưới đây
Bảng 2 Dự báo diện tích đầm tôm do tác động của việc độ mặn tăng theo kịch bản
nước biển dâng 0,5m
kỳ di cư của cá giảm Các loài cá tầng nổi có xu hướng di chuyển ra xa bờ hay di chuyển lên phía Bắc
Trang 21Hình 4: Xu hướng suy giảm nguồn lợi thủy sản do biến đổi khí hậu [FAO]
Theo dự báo của tổ chức nông nghiệp thế giới, BĐKH sẽ làm giảm sản lượng thủy hải sản trên toàn thế giới nói chung và tại vùng biển của tỉnh nói riêng Từ năm
1950 đến nay, sản lượng nguồn lợi thủy hải sản tại các vùng biển đã giảm khoảng trên 20% và dự đoán sẽ tiếp tục giảm đến 100% vào năm 2050
Ngoài ra, sự gia tăng của bão, áp thấp nhiệt đới do BĐKH gây ra sự biến động ngư trường, các cơ sở hạ tầng nuôi trồng thủy sản bị phá hoại, giảm năng suất nuôi và đánh bắt, gây thiệt hại mùa vụ
c) Giao thông
Giao thông đường bộ ở nông thôn ĐBSCL phát triển ở mức thấp, chậm, chất lượng kém và còn nhiều cầu thô sơ Giao thông giữa các tỉnh ven biển Đông như Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng còn bị đứt quãng, một số xã vùng sâu vùng
xa chưa có đường ô tô tới trung tâm (Hậu Giang còn 10 xã, Bạc Liêu còn 18 xã) Mật độ đường bộ ở ĐBSCL đạt 0,2km/km2, thấp hơn so với toàn quốc (0,342km/km2), mật dộ dân số được sử dụng đường bộ là 0,52km/1vạn dân Khi xảy ra BĐKH, nước biển dâng một phần diện tích vùng bị ngập nước; điều đó cũng có nghĩa hệ thống đường bộ trên địa bàn tỉnh sẽ bị tác động mạnh
mẽ Ví dụ như các tuyến đường liên huyện, liên xã, tuyến đường nông thôn cũng xảy ra tình trạng ngập nặng trong những đợt mưa to kết hợp với triều cường Tiêu biểu như tuyến đường dẫn từ huyện Cái Nước vào huyện Trần Văn Thời, huyện Đầm Dơi… (Cà Mau).[14]
Giao thông thủy ở ĐBSCL có lợi thế phát triển, mật độ đường thủy là 0,68km/km2, cao hơn nhiều so với các nơi khác trong cả nước; với 2 tuyến đường
Trang 22thủy chính: Thành phố Hồ Chí Minh đi Cà Mau, Thành phố Hồ Chí Minh đi Kiên Lương Hàng hóa vận chuyển bằng đường thủy chủ yếu là lúa gạo, vật liệu xây dựng, vật tư nông nghiệp… hiện chiếm tới 90% tổng sản lượng hàng hóa được vận chuyển, riêng 2 tuyến chính chiếm 70-80% Tuy nhiên, do ảnh hưởng bởi BĐKH hệ thống giao thông này chịu những tác động không nhỏ Nguồn cung cấp nước cho các tuyến vận tải thủy không ổn định do sự thay đổi lượng mưa và do ảnh hưởng bởi hiện tượng thời tiết cực đoan (bão, mưa lớn, hạn hán) Những thay đổi này sẽ dẫn đến việc tăng hoặc giảm mực nước cũng như tốc độ dòng chảy; điều này gây ảnh hưởng đến sự lưu thông qua lại của các tàu thuyền.[14]
e) Tác động đến sức khỏe con người và y tế
Y tế là một trong những lĩnh vực bị ảnh hưởng trực tiếp do biến đổi khí hậu, trong đó vấn đề lớn nhất là sức khỏe con người Tác động chủ yếu của biến đổi khí hậu đối với y tế, sức khoẻ con người thông qua việc phá huỷ điều kiện môi trường và các
hệ sinh thái tự nhiên, vốn là nền tảng của sức khoẻ và sự sống, gây ra các thiên tai, hiện tượng khí hậu cực đoan và các thảm họa về môi trường Tác động của BĐKH và NBD đối với sức khỏe cộng đồng và mạng lưới y tế như sau:
Bảng 3 Tác động của BĐKH và NBD đối với sức khỏe và mạng lưới y tế [12] Các yếu tố
ít dẫn đến hạn hán, thiếu nước
Các bệnh dị ứng (viêm mũi dị ứng, hen, suyễn…)
Gia tăng các bệnh dị ứng do nhiệt độ và độ ẩm tăng, do gia tăng nồng độ ozone ở tầng đối lưu; đặc biệt là ở trẻ em, người có sức đề kháng yếu
Trang 23Nhiệt độ và độ ẩm tăng là điều kiện thuận lợi cho muỗi phát triển, làm gia tăng các bệnh như sốt rét, sốt xuất huyết đặc biệt ở những đối tượng
có sức đề kháng kém như trẻ em, người già, người bệnh; người nghèo, người sống ở khu dân
cư có thu nhập thấp, điều kiện vệ sinh kém; người sống ở vùng có nguy cơ bị ngập lụt Chuyển dịch vùng nhiễm bệnh do các chủng loại vi rút, vi khuẩn di chuyển lên các vĩ độ cao hơn cùng với sự thay đổi nhiệt độ Gia tăng và lan truyền dịch bệnh do sự lây nhiễm giữa người – người, động vật – người (như cúm) Tăng diện tích vùng nhiễm bệnh đối với bệnh
lan truyền qua đường nước như dịch tả (Vibrio
Cholera), đặc biệt ở những nơi không có khả
năng tiếp cận nguồn nước sạch, vùng thấp, có nguy cơ ngập
Tăng một số bệnh liên quan đến đường tiêu hóa
do nhiệt độ và độ ẩm tăng Tạo điều kiện thuận lợi cho các loài nấm mốc phát triển
Tăng nguy cơ bị viêm đường hô hấp, viêm phổi, và đột tử do gia tăng lượng khí oxit axit (NO2, SO2…) và bụi; đặc biệt là trẻ em, người làm việc ngoài trời, người già, người bệnh hô hấp Tăng nguy cơ ung thư đường hô hấp Các hiện
tượng khí
hậu cực đoan
khác: bão,
Tính mạng con người
Tăng nguy cơ bị thương hoặc tử vong do bão,
áp thấp nhiệt đới ngày càng tăng lên cả về cường độ lẫn tần suất Các đối tượng dễ bị tổn thương nhất là người già và trẻ em
Trang 24Các yếu tố
lụt
Cơ sở hạ tầng, thiết bị ngành y tế
Tăng mức độ phá hoại, hư hỏng đối với các cơ
sở hạ tầng y tế (bệnh viện, trạm y tế…) và các thiết bị y tế, cứu trợ
1.2 Tổng quan về một số làng sinh thái trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Khái niệm làng sinh thái
Làng sinh thái là một cộng đồng sống có truyền thống hay có nét đặc trưng,
nó sử dụng các quy trình có sự tham gia của địa phương để tạo nên sự đa chiều bền vững cả về sinh thái, kinh tế, xã hội và văn hóa nhằm cải tạo môi trường tự nhiên và
xã hội (GEN-Global ecovillage network) [25]
Theo GS.TS Nguyễn Văn Trương - Viện trưởng Viện Kinh tế sinh thái đưa ra khái niệm “Làng sinh thái là một hệ sinh thái có một không gian sống của một cộng đồng người nhất định Hệ sinh thái này vừa có chức năng sản xuất ra những thứ cần thiết cho nhu cầu của cộng đồng mà không phá vỡ cân bằng sinh thái Trong hệ, con người có vai trò trung tâm để điều hòa các mối quan hệ nhằm sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên sẵn có, hướng tới một sự cân bằng ổn định, bền vững cả khía cạnh
tự nhiên lẫn khía cạnh xã hội”
Các nghiên cứu về làng sinh thái tại Việt Nam cho thấy làng sinh thái là mô hình sống bền vững, hình thành bởi cộng đồng dân cư sống ở các vùng ngoại ô, nông thôn, qua đó giảm các tác động tiêu cực đến vấn đề môi trường, kết hợp phát triển kinh tế dựa trên các yếu tố sinh thái
1.2.2 Tổng quan một số làng sinh thái trên thế giới và Việt Nam
1.2.2.1 Trên thế giới
a) Làng sinh thái ở Hà Lan
Làng sinh thái Zaanse Schans nằm cách thành phố Amsterdam khoảng 15
km về phía Tây Bắc Ngôi làng sinh thái với tiêu chí xanh, sạch và tự sản xuất thực phẩm tiêu dùng, phương tiện giao thông phổ biến nhất của làng là xe đạp, không chỉ có không khí trong lành nơi đây còn có những kiểu nhà đặc trưng với
Trang 25mái ngói và ống khói cao cùng phong cách sống giản dị và chân tình của người dân nông thôn.[5]
Làng sinh thái Het Carre nằm giữa Roterdam và Hague, được xây dựng năm
2003, ngôi làng điển hình về sử dụng năng lượng sạch Những ngôi nhà hiện đại ở đây
có hệ thống sưởi ấm dựa trên nguồn năng lượng mặt trời, các thiết bị cấp nhiệt, bơm nhiệt, tấm pin mặt trời và máy nước nóng năng lượng mặt trời là sản phẩm phổ biến
b) Làng sinh thái BedZED (London, Anh)
Dự án Làng sinh thái BedZED nằm ở khu Wallington, phía Nam London (Anh) BedZED do tổ chức môi trường mang tên Tập đoàn Phát triển BioRegional khởi xướng, nhằm cung cấp chất lượng cuộc sống cao hơn mà không sử dụng quá nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên Đưa tỷ lệ tiêu thụ tài nguyên về mức “bền vững”, đồng thời vẫn không làm giảm bớt sự tiện nghi của cuộc sống hiện đại, năng động Nguyên tắc chủ đạo của các cộng đồng này là không carbon, không rác thải, giao thông bền vững, nguyên vật liệu địa phương và bền vững, thực phẩm địa phương, tiết kiệm nước, bảo tồn động thực vật, tôn trọng di sản văn hóa
c) Làng sinh thái Tengtou, Chiết Giang (Trung Quốc)
Làng Tengtou cách thành phố Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang khoảng 2 km, được biết đến với mô hình đặc biệt, phát triển kinh tế thân thiện với môi trường Tất cả các hộ dân cư được trang bị hệ thống năng lượng mặt trời sưởi ấm, đun nước, tiết kiệm hơn 50.000 kWh điện mỗi năm Ngoài ra làng còn xây dựng nhà vệ sinh thân thiện với môi trường, trong đó hệ thống nước được dùng là nước mưa được lưu trữ, tiết kiệm khoảng 9.500 m3 nước mỗi năm
Trong làng Tengtou, đối với khu dân cư, nước mưa và nước thải được quản
lý riêng biệt Làng có hệ thống thu gom, xử lý chất thải, sử dụng quy trình xử lý thân thiện với môi trường Đồng thời, người dân thay đổi thói quen mua sắm bằng túi vải thay vì sử dụng túi nilon
d) Làng sinh thái Nakhon Sawan (Thái Lan)
Làng sinh thái Nakhon Sawan (Thái Lan) là một điển hình về sự thành công của làng sinh thái trên đất rừng bị chặt phá; ngôi làng được chính phủ hỗ trợ xây
Trang 26dựng mô hình làng kinh tế sinh thái vào đầu năm 1986, nhằm khôi phục lại sự ổn định về sinh thái đất rừng, an ninh lương thực được đảm bảo, thiết kế mô hình nông lâm kết hợp và nông nghiệp bền vững Tái tạo quá trình sinh thái tự nhiên trên các trang trại, thiết lập lại quy trình phát triển tự nhiên Kinh tế vườn nhà được đa dạng hóa, cung cấp thực phẩm xanh, trồng cây lương thực, thuốc men và nhiều nguồn lợi khác… Sự thành công của làng kinh tế sinh thái ở Nakhon Sawan giúp hạn chế nạn phá rừng ở các cộng đồng, đồng thời là đòn bẩy cho sự thay đổi tích cực về một nền kinh tế sinh thái
Đánh giá chung:
Như vậy, trên thế giới làng sinh thái đã hình thành nhiều năm và có những bước tiến đáng kể, chúng ta có thể thấy trước những tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, người Hà Lan đã tìm ra hướng đi riêng nhằm tiết kiệm năng lượng Mô hình làng sinh thái ở Trung Quốc nhằm vào giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường hay mô hình cung cấp thực phẩm xanh đảm bảo an toàn thực phẩm Đối với
mô hình làng sinh thái ở Thái Lan nhằm vào mô hình làng kinh tế sinh thái hướng tới khôi phục sinh thái đất rừng, an ninh lương thực được đảm bảo, mô hình nông lâm kết hợp và nông nghiệp bền vững Tái tạo quá trình sinh thái tự nhiên trên các trang trại, thiết lập lại quy trình phát triển tự nhiên như sự phát triển trong các hệ sinh thái tự nhiên
- Làng sinh thái muốn tồn tại cần một kế hoạch quản lý cụ thể và được sự đồng ý của chính quyền địa phương
Trang 27- Chính quyền địa phương cần hướng dẫn cụ thể về hiệu quả xây dựng hoặc xác định cho làng sinh thái một kế hoạch chiến lược, kế hoạch môi trường cho địa phương hoặc kế hoạch kiểm soát sự phát triển vùng cho phù hợp
- Làng sinh thái có khả năng tự giải quyết vấn đề việc làm cho cư dân là bước đệm cho thành công và sự ổn định bền vững của làng sinh thái
1.2.2.2 Việt Nam
a) Làng – Hồ sinh thái [17]
Mô hình “Làng - Hồ sinh thái” khu dân cư vượt lũ xã Tân Tây, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An là sự kết hợp giữa việc lấy đất tôn nền và xây dựng hồ sinh thái trong khu dân cư, tạo nên môi trường xanh - sạch - đẹp, một không gian sống thân thiện với tự nhiên
Mục tiêu cụ thể của chương trình phát triển khu dân cư vượt lũ bao gồm:
- Về mùa lũ: đảm bảo sinh hoạt bình thường của người dân về các mặt đời sống như học hành, chợ búa, giao thông đi lại, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hệ thống
cơ sở hạ tầng đầy đủ tiện nghi về điện, nước và các dịch vụ khác
- Về mùa khô: khu dân cư vượt lũ là một cụm dân cư trong lành, rợp mát bóng cây, có hồ nước sạch với công viên mini điều hòa khí hậu, đảm bảo sức khỏe người dân sau những ngày sản xuất cực nhọc trên đồng ruộng, cùng với hệ thống dịch vụ đồng bộ, một môi trường sống bền vững
- Quy hoạch chi tiết khu dân cư vượt lũ: tôn nền vượt lũ tạo thành điểm dân
cư tập trung an toàn trong mùa lũ, thuận tiện trong việc cung cấp dịch vụ, đảm bảo các nhu cầu sinh hoạt ăn, ở, đi lại, học tập và khu vui chơi giải trí của người dân Khu vực lấy đất tôn nền sẽ được thiết kế nâng cấp cải tạo thành hồ sinh thái với các tiêu chí cụ thể nhằm đảm bảo khả năng ổn định, phát triển khu dân cư lâu dài trong tương lai
- Tiêu chí cơ bản làn hồ sinh thái khu dân cư vượt lũ:
Xanh: hệ thống vành đai cây xanh ven bờ hồ và thảm phủ thực vật, rừng cây
Tỷ lệ cây xanh vùng hồ sinh thái phải lớn hơn hồ từ 35% đến hàng chục lần diện tích hồ, tỷ lệ càng lớn hồ càng thể hiện tính bền vững
Trang 28Sạch: nguồn nước vào hồ phải đảm bảo độ sạch, nước trong hồ được bảo vệ bằng hệ thống các công trình kiểm soát chất lượng nước như bể xử lý lắng, lọc trước khi đưa nước vào hồ, công trình chống nước bẩn xâm nhập, công trình nhà ở trong lưu vực đều phải có hệ thống xử lý chất thải, nước bẩn
Đa mục tiêu: hồ sinh thái làm nhiệm vụ tưới, cấp nước sinh hoạt, nuôi trồng thủy sản, là nơi vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng ven hồ, điều hòa nhiệt độ, cải tạo môi trường, tiểu khí hậu vùng dân cư vượt lũ
Đẹp: tôn tạo cảnh quan môi trường cụm tuyến dân cư vượt lũ, thể hiện công trình đẹp, nên thơ,
b) Mô hình kinh tế sinh thái vùng đất trũng Hoa Lư - Ninh Bình
Hoa Lư là vùng đất trũng thuộc đồng bằng sông Hồng, diện tích tự nhiên 8.475 ha Trước khi có mô hình, vùng này độc canh cây lúa nước, hệ số sử dụng đất mới đạt 1,6 lần Trong vùng có 772 ha mới chỉ canh tác một vụ, 1.300 ha đất có khả năng canh tác nông nghiệp nhưng chưa được khai thác đưa vào sử dụng [17] Mô hình kinh tế được thiết kế và xây dựng tại Trường Yên, thuộc vùng đất phù sa sông Hồng không được bồi hàng năm và đất phù sa chịu ảnh hưởng của khu vực núi đá vôi; phương thức canh tác sao cho sử dụng tốt nhất nguồn tài nguyên đất và nước, xác lập biện pháp chăn nuôi dê khoa học để tránh sự đồng huyết và tận dụng được môi trường núi đá vôi Mô hình canh tác cá - lúa thay cho tập quán canh tác 1 vụ lúa đang sử dụng, mang lại nhiều lợi ích kinh tế và môi trường như giữ được nước tại ruộng trong mùa mưa, tích nước trong mùa khô Không phải làm đất và bón phân đạm, chỉ bón thêm lân Giảm được lượng phân hoá học, thuốc trừ sâu gây ô nhiễm cho nông nghiệp
c) Mô hình bảo vệ rừng giữ nước phục vụ phát triển rau xanh ở Việt Hải - Cát Bà - Hải Phòng
Việt Hải là xã có diện tích nằm hoàn toàn trong vườn Quốc gia Cát Bà Toàn
xã có trên 50 hộ gia đình với 188 nhân khẩu Trước đây do thiếu việc làm nên nhiều người đặc biệt là thanh niên, vẫn thường xuyên tham gia hoạt động săn bắn và khai thác rừng, gây tổn hại đến vườn Quốc gia Dự án “Góp phần bảo vệ đa dạng sinh
Trang 29học Vườn Quốc gia Cát Bà trên cơ sở cộng đồng” do GEF/SGP tài trợ, đã hỗ trợ cho người dân trên đảo và hàng nghìn tàu bè neo đậu thường xuyên ở bến cảng Rau xanh được người dân Việt Hải xác định là một nghề mới đảm bảo cho cuộc sống ổn định của mình Vì vậy, người dân nơi đây đã đưa vào hương ước của Làng về bảo
vệ rừng để duy trì nguồn nước tưới cho rau từ các cánh rừng
Đánh giá chung: Các mô hình làng sinh thái ở Việt Nam đã áp dụng là dựa
vào cộng đồng dân cư sống tại khu vực thực hiện dự án và ngoài mục đích bảo tồn nguồn gen, phủ xanh đồi trọc, bảo tồn thiên nhiên, các mô hình trên cùng hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế cho người dân sống trong khu vực
1.2.2.3 So sánh mô hình LST của Thế Giới và Việt Nam
Sự khác biệt giữa các mô hình làng sinh thái ở Việt Nam và các nước phát triển là nền kinh tế của các nước phát triển đã ổn định, nhu cầu về đa dạng sinh học,
du lịch sinh thái hay nguồn cung cấp thực phẩm xanh của các nước phát triển xuất phát từ chính nhu cầu của người dân; còn ở Việt Nam làng sinh thái xuất phát từ sự tâm huyết của các nhà khoa học, các nhà quản lý để phục vụ cho mục đích nhất định như bảo vệ rừng, bảo tồn nguồn gen hay phát triển kinh tế đồi rừng Tuy nhiên, hầu hết các mô hình làng sinh thái của chúng ta đều khó khăn để tồn tại và phát triển do đời sống của người dân còn nhiều khó khăn, nhận thức của người dân về đa dạng sinh học, bảo tồn nguồn gen còn chưa tốt, người dân nhất là những người dân nghèo vẫn còn phải đương đầu với những khó khăn về nhu cầu thiết yếu của cuộc sống, như lương thực, thực phẩm, nước uống…; thêm vào đó họ còn phải chống chọi trước những khắc nghiệt của thời tiết do biến đổi khí hậu gây ra, đây cũng là những điều trăn trở mà các nhà khoa học và các nhà quản lý vẫn đang tìm hướng giải quyết cho mỗi mô hình làng sinh thái riêng
Trang 30CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu là xây dựng các tiêu chí làng sinh thái nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng dân cư nông thôn
Đối tượng nghiên cứu: ấp Hiệp Dư, xã Nguyễn Huân, huyện Đầm Dơi, tỉnh
Cà Mau; là một trong những đặc trưng cho khu vực ven biển thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long; khu vực dân cư nghèo, dễ chịu ảnh hưởng của biển đổi khí hậu và nước biển dâng
Phạm vi nghiên cứu là ấp Hiệp Dư, xã Nguyễn Huân, huyện Đầm Dơi, tỉnh
Cà Mau đại diện cho một làng điển hình của đồng bằng sông Cửu Long
2.2 Phương pháp tiếp cận
Cách tiếp cận thứ nhất, thông qua cộng đồng: nhằm tìm hiểu phong tục tập quán, nơi ở, cách thức sản xuất, ý thức bảo vệ môi trường, những tác động gánh chịu do BĐKH qua đó hiểu được những khó khăn, những thuận lợi trong cuộc sống hàng ngày mà người dân phải đối mặt Từ đó xây dựng một số tiêu chí cho làng sinh thái có lồng ghép những giải pháp thích ứng nhằm khắc phục những tồn tại trong vấn đề cấp nước, xử lý chất thải và môi trường sinh thái
Cách tiếp cận thứ hai: tiêu chí được xây dựng dựa trên sự phù hợp dựa vào các chính sách của nhà nước, phù hợp với điều kiện thực tế của người dân, phù hợp với các tiêu chuẩn, quy chuẩn chuyên ngành
2.3 Phương pháp nghiên cứu
1) Phương pháp kế thừa
Khai thác, kế thừa điều tra hiện trạng môi trường, điều kiện tự nhiên – kinh
tế xã hội của khu vực, các báo cáo về kế hoạch hành động, ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, các kịch bản biến đổi khí hậu, cũng như các đề tài nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu, các mô hình làng sinh thái trên thế giới và ở Việt Nam đã và đang áp dụng
Trang 312) Phương pháp điều tra khảo sát:
Hoạt động điều tra khảo sát được thực hiện nhằm xác định rõ đơn vị điều tra
và cách thức thu thập thông tin đảm bảo hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tế; thông tin thu thập được phản ánh thực tế tác động của BĐKH tới người dân, tìm hiểu phong tục tập quán văn hóa, nhà ở, điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội Cụ thể như sau:
- Phương pháp điều tra: Thông tin của cuộc điều tra này được thu thập bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp, tới gặp chủ hộ để phỏng vấn thu thập thông tin và ghi vào phiếu điều tra
- Thiết kế phiếu điều tra: Phiếu hỏi được thiết kế, xây dựng để thu thập thông tin về tập quán sinh hoạt và tìm hiều các tác động của biến đổi khí hậu tới người dân địa phương; từ đó có thể thấy được tác động thực tế của BĐKH tới người dân nơi đây để làm cơ sở đề xuất các tiêu chí Phiếu điều tra gồm 03 nhóm thông tin, bao gồm:
Thông tin cá nhân người dân: Tên, địa chỉ, điện thoại, số nhân khẩu trong
gia đình; những thông tin này giúp cho kết quả điều tra có tính chính xác cao hơn
Thông tin tập quán sinh hoạt và ý thức bảo vệ môi trường: nghề nghiệp hiện
tại, phương tiện đi lại, nguồn nước sử dụng, biện pháp xử lý giảm thiểu rác thải,…
Thông tin về ảnh hưởng của biển đổi khí hậu tới người dân: như tìm hiểu các
hiện tượng mưa, lũ, ngập lụt, hạn hán tác động đến người dân địa phương, cũng như tìm hiểu những biện pháp người dân thích ứng với những tác động này
- Đối tượng và thời gian thực hiện điều tra khảo sát:
+ Phạm vi: Khảo sát thực tế dọc tuyến sông từ thị trấn Hộ Phòng, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu đến ấp Hiệp Dư, xã Nguyễn Huân, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau; nhìn chung các ấp trong khu vực có sự tương đồng về điều kiện sống Do đó, trong quá trình khảo sát học viên nhận thấy các xã này có sự tương đồng, mặt khác
do khó khăn về thời gian cũng như kinh phí thực hiện đề tài nên hoạt động khảo sát chi tiết được thực hiện tại ấp Hiệp Dư, xã Nguyễn Huân, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau đại diện cho một làng điển hình của đồng bằng sông Cửu Long
Trang 32+ Đối tượng điều tra: là các hộ dân khu vực, số phiếu điều tra là 50 phiếu + Thời gian: Công tác điều tra được tiến hành vào tháng 07 năm 2014
3) Phương pháp phân tích, tổng hợp: Thống kê số liệu từ tài liệu thu thập;
tổng hợp, phân tích và đánh giá tài liệu
4) Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong
lĩnh vực môi trường, biến đổi khí hậu trong việc phân tích, đánh giá và xây dựng cho điểm các tiêu chí
5) Phương pháp phân tích đa tiêu chí (MCA):
Là phương pháp đánh giá các giải pháp thay thế khác nhau dựa trên một số tiêu chí và kết hợp các đánh giá riêng rẽ vào trong một đánh giá tổng thể; phương pháp này có thể được sử dụng để nhận dạng một phương án tối ưu nhất, để xếp hạng các phương án, để chọn ra một danh sách các phương án rút gọn nhằm đánh giá chi tiết hơn hoặc đơn giản là để phân biệt giữa các phương án được chấp nhận
và không được chấp nhận Điều kiện cơ bản để áp dụng phương pháp này là hệ thống thông tin ban đầu được thu thập khá đầy đủ Nội dung cơ bản của phương pháp là sử dụng 1 hệ thống tiêu chí phù hợp dùng để đánh giá đối tượng nghiên cứu Điều quan trọng là phải định lương và định tính được cho từng tiêu chí, xác định được tầm quan trọng của từng tiêu chí và cuối cùng là đánh giá tổng quát
Tiêu chí là một khái niệm tổng hợp được dùng để biểu thị những đặc trưng
cơ bản của đối tượng nghiên cứu Mỗi đối tượng nghiên cứu được biểu thị bằng nhiều tiêu chí khác nhau Các tiêu chí có mối liên hệ với nhau tạo thành hệ thống có thể phản ánh toàn diện đối tượng nghiên cứu Mỗi tiêu chí có thể được đo lường bằng định lượng hoặc định tính thông qua 1 hay nhiều chỉ tiêu Việc đánh giá mức
độ đạt được của 1 tiêu chí cần thực hiện qua các chỉ tiêu hoặc chỉ số
Các bước thực hiện phân tích đa tiêu chí:
- Bước 1 (Xác định tiêu chí đánh giá): Xác định nội dung các tiêu chí bằng việc thu thập tài liệu, số liệu về biến đổi khí hậu, về thực trạng của nội dung tiêu chí cần xây dựng, từ đó tổng hợp tạo nguyên liệu cho việc phân tích, đánh giá tiêu chí làng sinh thái
Trang 33- Bước 2 (Xác định trọng số): Xây dựng hệ thống tiêu chí, xác định tầm quan trọng của mỗi tiêu chí Xây dựng hệ thống tiêu chí để đánh giá toàn diện làng sinh thái; nhưng vì không phải tiêu chí nào cũng có mức độ quan trọng như nhau nên sự phân biệt là rất cần thiết; hầu hết các kỹ thuật MCA giúp xác định tầm quan trọng tương đối của mỗi tiêu chí trong quá trình ra quyết định Phương pháp đánh giá tầm quan trọng sử dụng kỹ thuật đơn giản là so sánh các tiêu chí với nhau để xác định tầm quan trọng tương đối của chúng, đồng thời thông qua phương pháp phỏng vấn trực tiếp người dân và tham khảo ý kiến chuyên gia Trong đó, thang điểm đề xuất
cho điểm trọng số là thang điểm từ một tới bốn (Quy ước: Tầm quan trọng: Rất
quan trọng: 4 điểm, quan trọng: 3 điểm, ít quan trọng: 2 điểm, không quan trọng: 1 điểm) Điểm trọng số được cho cho từng tiêu chí, trong mỗi tiêu chí sẽ có các chỉ tiêu đề xuất đánh giá sẽ có mức độ quan trọng riêng do đó sẽ được tính điểm trọng
số riêng cho từng chỉ tiêu Việc đánh giá cho điểm này được thực hiện thông qua đánh giá phỏng vấn trực tiếp người dân, đồng thời tham khảo ý kiến chuyên gia
- Bước 3 (Phân tích thực hiện cho điểm): Thông qua phân tích các tiêu chí đưa ra các nhận định từng mặt của yêu cầu về làng sinh thái, xác định các giá trị thực tế của mỗi chỉ tiêu bằng cách định giá trực tiếp qua việc thực hiện đánh giá chuyên môn cho điểm cho mỗi phương án
- Bước 4: Nhân trọng số và điểm số cho mỗi phương án và rút ra điểm tổng
Trang 34CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đánh giá đặc điểm dân cư nông thôn khu vực nghiên cứu
3.1.1 Đánh giá tổng quan quá trình hình thành và phát triển dân cư nông thôn
ĐBSCL là vùng đất cư trú của nhiều dân tộc trong đó là một số dân tộc chủ
yếu như người Việt, người Khmer, người Hoa, người Chăm Những tộc người này
đã hình thành nên đặc điểm dân cư nông thôn của khu vực
- Người Việt: Người Việt, hiện nay là dân tộc chiếm đa số ở ĐBSCL
Khoảng đầu và giữa thế kỷ XVII, những lưu dân người Việt từ Bắc và Bắc Trung
Bộ đã vượt biển tìm đến khai khẩn vùng đất Nam Bộ Nhóm lưu dân người Việt đã
mở rộng dần vùng đất khai khẩn từ miền Đông sang miền Tây Nam Bộ.[8]
Hình 5: Sơ đồ cơ cấu tổ chức điểm dân cư nông thôn hiện nay
Cư dân người Việt đã đến ĐBSCL khai khẩn đất đai, tạo lập ruộng vườn,
hình thành xóm ấp Xóm, ấp là sự tái lập lại mô hình làng xóm ở Bắc Bộ, Bắc
1 Phạm vi không gian điểm dân cư nông thôn (xã)
2 Đơn vị cư trú cơ bản thôn (làng, xóm, bản, thôn, ấp)
3 Đơn vị đội (tổ, lối xóm)
4 Nhà ở gia đình
a Trung tâm xã: với trường hợp nhất định là Thị tứ,
b Trung tâm thôn (làng, xóm, bản,…)
Cơ cấu tổ chức điểm dân cư nông thôn hiện nay
A Mô hình cấu trúc; B Mô hình không gian
Trang 35Trung Bộ mà lưu dân người Việt mang theo đến vùng đất mới Tuy nhiên, làng xóm
ở Nam Bộ nói chung và ĐBSCL nói riêng có những nét khác biệt Đó là cảnh quan, không gian, mối quan hệ xã hội, nếp sống,… của xóm ấp ở ĐBSCL Ban đầu cư dân làng xóm là quan hệ láng giềng của những nông dân nghèo khổ tụ cư để cùng nhau khai khẩn đất đai, lập làng xóm cũng là lúc xây cất đình chùa, làm nơi thờ cúng, đáp ứng nhu cầu tâm linh, làm vững lòng người trong công cuộc chống chọi với thiên nhiên gian khó
b) Người Khmer
ĐBSCL là nơi tụ cư đông đảo của của người Khmer Việt Nam Người Khmer có mặt khá sớm ở Nam Bộ, nhiều ngôi chùa của người Khmer ở Trà Vinh, Sóc Trăng được xây dựng từ vài thế kỷ về trước Người Khmer là cư dân nông nghiệp, hoạt động chủ yếu là trồng lúa nước và một ít loại hoa màu Buổi đầu người Khmer sống thành các phum, sóc (như các xóm, ấp của người Việt) trên các giồng đất cao Đó là các gò phù sa cổ, có nguồn nước ngọt, cao ráo, khí hậu thoáng mát, tránh được nước ngập vào mùa lũ của sông Cửu Long
c) Người Hoa
Vào thế kỷ XVII và những thế kỷ tiếp theo, một luồng di cư khá đông đảo của người Trung Hoa ở duyên hải phía Nam Trung Quốc tìm đến định cư ở miền Nam Việt Nam Những người di dân Trung Hoa ban đầu đến Nam Bộ với tư cách kiều dân, nhưng dần dần trong quá trình định cư và tham dự công cuộc khẩn hoang
họ đã hội nhập vào cộng đồng các cư dân Việt Nam và trở thành công dân Việt Nam với tên gọi người Hoa Hoạt động kinh tế chủ yếu trên lĩnh vực sản xuất tiểu thủ công, thương nghiệp và thương mại dịch vụ Ở nhiều vùng thuộc đồng bằng sông Cửu Long, người Hoa còn sản xuất nông nghiệp, trồng lúa và các loại hoa màu Một bộ phận đông đảo người Hoa tập trung cư trú ở các đô thị, thành phố, thị trấn, nơi có điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế của họ
3.1.2 Đánh giá tập quán cư trú trước đây và hiện nay của cư dân ĐBSCL
Tập quán trước đây
Trước đây lựa chọn nhà ở những nơi có bến sông nhằm thuận tiện cho việc
đi lại, đánh bắt thủy sản, nơi có không gian thoáng đãng, có nước ngọt để sử dụng
Trang 36từ các con sông, kênh, rạch Việc lựa chọn cách bố trí này vừa giúp cho họ dễ dàng trong việc lao động sản xuất cũng như trong các hoạt động bán buôn Vì là có cùng lựa chọn vị trí nên cư dân ở ĐBSCL sống nương tựa và giúp đỡ lẫn nhau nên họ thường sống chung thành một cụm dân cư nhỏ
- Vật liệu làm nhà: thường là những vật liệu có sẵn trong vườn, hoặc ở địa phương mình…; nhà được cất bằng cây tròn, nhỏ như tràm, đước… và lợp bằng lá dừa nước Riêng nhà của những người có điều kiện thì được cất bằng các loại gỗ và mái lợp ngói hoặc là xây bằng bê tông cốt thép Cổng nhà làm bằng những vật liệu đơn giản như tre hoặc trồng hai bên ngõ hai cây bông giấy hoặc dâm bụt và uốn giao cành với nhau
- Hướng cất nhà: Người dân ĐBSCL ít chú trọng đến phương hướng khi cất nhà Nhà quay hướng nào cũng được, miễn hướng đó có đầy đủ ánh sáng, có điều kiện để làm ăn buôn bán…
Tập quán cư trú hiện nay
- Lựa chọn vị trí: Hiện nay, hình thức cư trú tại khu vực xuất hiện 2 hình thức cư trú nông nghiệp mới là cư trú nhà ống mặt phố và cư trú điểm dân cư tập trung; người dân từ chỗ quay mặt ra sông nước thì nay quay mặt ra đường lộ, xuất hiện kiểu cư trú “mặt tiền quốc lộ” giống như các thành phố, thị xã; loại nhà này hiện nay đang trở nên phổ biến ở ĐBSCL
- Vật liệu làm nhà: ở ĐBSCL vẫn có 02 mẫu nhà phổ biến là nhà ống được xây gạch, bê tông cốt thép, sử dụng các tấm tôn lợp mái và nhà lá
- Hướng nhà ở hiện nay hướng theo hướng ra sông hoặc ra đường lộ Tuy nhiên, nhà mặt tiền sông hiện nay đã thể hiện một số bất cập do việc thay đổi các phương tiện từ xuồng chèo tay sang chèo máy, ca nô, xà lan, tầu lớn ngược xuôi tạo nên những đợt sóng lớn va đập mạnh vào hai bờ khiến cấu trúc ven bờ thay đổi, gây
ra tiếng ồn ào Dọc theo những con sông lớn xuất hiện ngày càng nhiều các nhà máy, nhà hàng, khách sạn, các khu dân cư Tất cả những hành động lấn chiếm đất xây dựng làm thay đổi dòng chảy sông khiến cho bờ sông bị sạt lở nghiêm trọng Tất cả các con sông, kênh có hiện tượng sạt lở
Trang 37Nhìn chung, tập quán cư trú hiện nay có thay đổi nhưng không lớn; hầu như tại các khu vực có kênh rạch, người dân làm nhà bám dọc hai bờ kênh rạch, theo lối trước nhà là sông, phía sau có thể là đường, ruộng hay vuông tôm Hoặc trước nhà thường có con lộ đất nhỏ để đi lại quanh ấp Bên cạnh việc tồn tại của các không gian sống truyền thống thì ở khu vực ĐBSCL đã dần hình thành những không gian sống mới; tính hợp lý và bền vững của chúng cần phải được chứng minh trong nhiều thời gian nữa, tuy nhiên những sự thay đổi nhằm thích nghi này cũng cần được định hướng về các yếu tố đặc biệt là trong bối cảnh tác động của BĐKH nhằm định hướng quy hoạch làng sao cho phù hợp nhất
3.1.3 Đặc điểm điều kiện sống khu vực khảo sát
Ấp Hiệp Dư, xã Nguyễn Huân được bao bọc xung quanh là hệ thống sông, kênh rạch chằng chịt, khoảng cách từ ấp ra đến bờ biển khoảng 2km theo đường chim bay, do đó khu vực chịu ảnh hưởng lớn của triều cường biển Đông
Hình 6: Vị trí ấp Hiệp Dư, xã Nguyễn Huân, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau
Nguồn nước cấp
Nước là một thành tố quan trọng của tự nhiên đối với cuộc sống, hiện nay ngày càng nhiều hiện tượng xảy ra mà nguyên nhân bắt nguồn từ nước; do vậy trong quá trình thực hiện xây dựng tiêu chí làng sinh thái sẽ tìm hiểu, nghiên cứu những đặc trưng tài nguyên nước Tại khu vực khảo sát, nguồn nước của người dân thường sử dụng là nước giếng khoan, nguồn nước này hiện nay đã và đang bị ảnh hưởng của nước mặn xâm nhập, ngoài ra hầu như nhà nào cũng chuẩn bị cho mình
Trang 38nguồn nước thứ hai đó là nguồn nước mưa Nguồn nước thứ ba sử dụng cho ăn uống là nước đóng chai có giá thành cao
Hình 7: Chum đựng nước mưa và nước đóng chai khu vực nghiên cứu
Ngoài ra, một số gia đình có đất vườn, có ao chứa nước mưa, và trồng cây ăn trái, hoa trong vườn Cây xanh trong vườn không những cho bóng mát cảnh quan
mà còn đem lại giá trị kinh tế, từ trái cây, từ rau muống, rau mùng tơi, rau khoai,…nước mưa chứa trong ao là nguồn nước ngọt cung cấp cho cây trồng trong vườn, nuôi cá,…
Hình 8: Vườn, ao của người dân khu vực xã Nguyễn Huân
Đặc điểm về rác thải
Khảo sát thực tế ở một số khu vực ĐBSCL và cụm dân cư tại xã Nguyễn Huân, huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau, cho thấy hiện nay người dân vẫn còn một số thói quen sinh hoạt tự do, công trình vệ sinh vẫn chưa được quan tâm xây dựng, vẫn còn sử dụng những công trình vệ sinh tạm, công trình cấp nước mặc dù là thiết yếu nhưng vẫn chưa được quan tâm thích đáng, vấn đề thu gom và xử lý rác thải hầu như không có trong suy nghĩ của người dân
Trang 39Hầu như người dân chưa có khái niệm thu gom, xử lý rác thải Do điều kiện sống gần sông, nhiều bờ kênh, bờ vuông tôm, rác thải được đổ ra bờ ao, quanh nhà hoặc vứt ngay xuống sông Rác thải tại khu vực này chưa được thu gom và xử lý Rác không được xử lý là nguồn gây ô nhiễm môi trường nguồn nước mặt và nước ngầm đồng thời gây mất mỹ quan cho khu vực sinh sống của người dân
Hình 9: Rác thải sinh hoạt vứt bên sông và cạnh nhà
Công trình vệ sinh
Các công trình vệ sinh như nhà tắm, nhà xí thường làm cách xa nhà Nhà vệ sinh vẫn dùng nhà vệ sinh tạm bên bờ sông, hoặc ao nhà…không qua xử lý xả trực tiếp xuống kênh, sông Kiểu vệ sinh này vừa ảnh hưởng tới môi trường vừa ảnh hưởng tới sức khỏe của chính người dân, cũng như gây mất mỹ quan khu vực
Hình 10: Công trình vệ sinh của người dân
Giao thông đi lại
Khảo sát quanh khu vực cho thấy người dân sống ở hai bên bờ sông, đường giao thông tới ấp chủ yếu bằng đường sông, đường bộ là đường đất, chưa có đường
bộ nối liền với xã Người dân sống tập trung thành từng cụm nhỏ trong ấp, mỗi cụm