Như vậy, bảo vệ môi trường nói chung và quản lý làng nghề chế biến chè nói riêng đã, đang và chắc chắn sẽ trở thành một vấn đề bức xúc đối với tỉnh Thái Nguyên Từ thực tế khách quan đó,
Trang 1Trần Thế Long i K17-Khoa học Môi trường
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 SƠ LƯỢC VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN TỈNH THÁI NGUYÊN 4
1.1.1 Vị trí địa lý 4
1.1.2 Khí hậu 4
1.1.3 Điều kiện địa hình 5
1.1.4 Tài nguyên khoáng sản 7
1.1.5 Tài nguyên đất 8
1.1.6 Tài nguyên nước 11
1.1.6.1 Tài nguyên nước mặt 11
1.1.6.2 Tài nguyên nước ngầm 12
1.2 THỰC TRẠNG VỀ KINH TẾ- XÃ HỘI VÙNG NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN TỈNH THÁI NGUYÊN 12
1.2.1 Tình hình sử dụng đất đai 10
1.2.2 Tình hình phát triển sản xuất nông lâm nghiệp 10
1.2.2.1.Trồng trọt 11
1.2.2.2 Chăn nuôi 14
1.2.2.3 Lâm nghiệp 14
1.2.3 Thực trạng dân cư vùng nông thôn 15
1.3 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ Ở THÁI NGUYÊN 15
1.3.1 Thông tin chung về làng nghề 15
1.3.2 Thực trạng phát triển các ngành nghề chế biến chè tỉnh Thái Nguyên 18
Trang 2Trần Thế Long ii K17-Khoa học Môi trường
1.4 TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ CHẾ BIẾN CHÈ XÃ TÂN CƯƠNG 20
1.4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội các làng nghề trồng và chế biến chè ở xã Tân Cương 20
1.4.1.1 Địa hình 20
1.4.1.2 Khí hậu và thủy văn 20
1.4.1.3 Kinh tế xã hội xã Tân Cương 21
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
25
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 25
2.1.3 Nội dung nghiên cứu 25
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.2.1 Phương pháp thu thập và tổng hợp tài liệu 26
2.2.2 Phương pháp khảo sát môi trường tự nhiên 26
2.2.2.1 Thu mẫu, phân tích chất lượng nước 26
2.2.2.2 Thu mẫu, phân tích chất lượng đất 27
2.2.3 Phương pháp điều tra xã hội học 28
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Hiện trạng trồng trè và các vấn đề môi trường trong trồng trè ở làng nghề chế biến chè Tân Cương 29
3.1.1 Phương pháp canh tác 29
Trang 3Trần Thế Long iii K17-Khoa học Môi trường
3.1.2 Sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật và phân hóa học 29
3.1.2.1 Sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật 29
3.1.2.2 Sử dụng phân bón hóa học 32
3.1.3 Chất thải trên đồng 32
3.1.4 Hiện trạng quản lý chất thải trên ruộng chè 33
3.2 Hiện trạng chế biến chè và các vấn đề môi trường ở làng nghề chè Tân Cương
34
3.2.1 Phương pháp chế biến 34
3.2.2 Phương pháp sản xuất chè ở làng nghề chế biến chè Quyết Thắng xã Tân Cương 39
3.2.2.1 Hiện trạng sản xuất tại xưởng chế biến 39
3.2.3.2 Chất thải và các thứ không liên quan tới chất thải trong quá trình chế biến chè và tác động môi trường 42
3.2.4 Kết quả phân tích chất lượng đất, nước một số khu vực làng chè 44
3.3 Đề xuất các biện pháp BVMT ở làng nghề chè 51
3.3.1 Các biện pháp BVMT trong trồng trọt 51
3.3.1.1 Sử dụng hợp lý nguồn nước 51
3.3.1.2 Bảo vệ môi trường không khí 51
3.3.1.3 Áp dụng biện pháp canh tác hữu cơ trong trồng chè 51
3.3.1.4 Giáo dục môi trường 52
3.3.2 Quản lý phân hóa học, hóa chất BVTV 52
3.3.3 Quản lý dịch hại tổng hợp 60
3.3.4 Thu gom và xử lý chất thải rắn 64
3.4 Các biện pháp BVMT trong chế biến chè 64
Trang 4Trần Thế Long iv K17-Khoa học Môi trường
3.4.1 BVMT lao động 64
3.4.2 Quản lý chất thải rắn 65
3.4.3 Quản lý khí thải 65
3.5 Giải pháp kỹ thuật và quản lý trong trồng và chế biến chè tại xã Tân Cương 65
3.5.1 Giải pháp kỹ thuật 65
3.5.1.1 Chuyển đổi làng nghề thành khu lưu giữ các di sản văn hoá và khu du lịch với các sản phẩm đặc sắc có tính nghệ thuật cao 65
3.5.1.2 Áp dụng các giải pháp cải thiện môi trường làng nghề 66
3.5.1.3 Biện pháp trồng, chăm sóc, chế biến chè theo tiêu chuẩn VietGAP 67
3.5.2 Giải pháp quản lý môi trường làng nghề chè 67
3.5.2.1 Thành lập tổ quản lý môi trường tại mỗi làng nghề 67
3.5.2.2 Các giải pháp tăng cường hiệu quả của thanh tra, kiểm tra chấp hành pháp luật về BVMT 68
3.5.3 Giải pháp giáo dục 69
3.5.3.1 Xây dựng ý thức của người dân, sự tham gia của cộng đồng về BVMT nông nghiệp nông thôn Thái Nguyên 69
3.5.3.2 Đẩy mạnh sự tham gia của cộng đồng trong BVMT 71
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
PHỤ LỤC 75
Trang 5Trần Thế Long v K17-Khoa học Môi trường
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: diện tích, sản lượng chè phân theo huyện, thành phố, thị xã 13
Bảng 2.1: Thiết bị phân tích 27
Bảng 3.1: Kết quả phân tích đất 44
Bảng 3.2: Kết quả quan trắc nước ngầm 48
DANH MỤC HÌNH Hình 1.1: Bản đồ địa hình tỉnh Thái Nguyên 6
Hình 1.2: Bản đồ thổ nhưỡng tỉnh Thái Nguyên 10
Hình 1.3: Sơ đồ phân bố số lượng các làng nghề theo đơn vị hành chính 17
Hình 1.4 Thu nhập trung bình của các hộ dân trồng chè Quyết Thắng xã Tân Cương 23
Hình 1.5: Số lượng lao động của các hộ làm chè Tân Cương 23
Hình 1.6: Trình độ học vấn của các hộ dân làng nghề chè Tân Cương 24
Hình 3.1 Một số loại thuốc trừ sâu được bày bán tại xã Tân Cương, 5/2013 31
Hình 3.2: Phân bón hữu cơ được bày bán ở xã Tân Cương 32
Hình 3.3: Rác phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật trên đất chè ở xã Tân Cương, 5/2013 33
Hình 3.4: Quy trình sản xuất chè đen theo phương pháp cổ điển 37
Hình 3.5 Sơ đồ máy vò chè 38
Hình 3.6 Thiết bị sấy chè 39
Hình 3.7: Sơ đồ quy trình sản xuất chè ở xã Tân Cương 40
Trang 6Trần Thế Long 1 K17-Khoa học Môi trường
MỞ ĐẦU
Trong gần ba thập kỷ gàn đây tỉnh, Thái Nguyên đã khai thác có hiệu quả tài nguyên đất, khoáng sản, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế theo xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tuy sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng không cao trong tổng sản phẩm toàn tỉnh và nông nghiệp cả nước nhưng có một số loại sản phẩm chiếm vị trí khá như cây chè Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp khu vực nông thôn, làng nghề tiếp tục được sự quan tâm của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp Các hoạt động tìm kiếm du nhập nghề mới, khôi phục và phát triển nghề cũ diễn ra ở hầu khắp các địa phương trong tỉnh Nhiều loại hình doanh nghiệp, hợp tác
xã được hình thành trong các làng nghề
Tuy nhiên vùng nông thôn tỉnh Thái Nguyên đang đứng trước khó khăn thách thức đó là: bình quân thu nhập và mức sống trên đầu người thấp so với thành thị, sản xuất vẫn chủ yếu là nông, lâm nghiệp, ngành nghề chưa phát triển, sức ép lao động nông thôn dôi dư ngày càng tăng, lao động thiếu việc làm, nhất là các thời điểm nông nhàn và sự dịch chuyển lao động ra thành phố ngày càng lớn Để từng bước đưa nông thôn phát triển nhanh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần thiết phải bố trí lại cơ cấu lao động, phát triển ngành nghề nhằm chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, tạo nhiều việc làm, tăng thu nhập, giảm hộ nghèo, giảm dần tỉ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế, đồng thời đưa nhanh công nghiệp phục vụ chế biến nông lâm sản, xây dựng, cơ khí, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ vào nông thôn Theo định hướng này, duy trì, phát triển các làng nghề trên địa bàn tỉnh là nhiệm vụ quan trọng của chính quyền các cấp và nhân dân các địa phương có nghề truyền thống
Sau gần 30 năm đổi mới đất nước ta đã đạt được rất nhiều thành tựu về kinh
tế, xã hội, công nghiệp hoá và đô thị hoá được đẩy mạnh, chất lượng cuộc sống của nhân dân được nâng cao Tuy nhiên, cùng với đó các vấn đề môi trường đang ngày càng gia tăng, đặt ra nhiều thách thức Nguy cơ ô nhiễm môi trường và tác động tới sức khoẻ cộng đồng, văn hóa, giáo dục, du lịch, thủy sản, tài chính, đa dạng sinh
Trang 7Trần Thế Long 2 K17-Khoa học Môi trường
học do hoạt động sản xuất làng nghề đang trở thành một trong những vấn đề cấp bách của công tác bảo vệ môi trường ở nước ta Công tác quản lý làng nghề chế biến chè ở tỉnh Thái Nguyên từ lâu đã được chính quyền các cấp quan tâm Tuy nhiên, cho đến nay, việc quản lý và xử lý chất thải từ làng nghề chế biến này đang gặp rất nhiều khó khăn bởi sự phân bố lẻ tẻ của các hộ gia đình sản xuất chưa có quy hoạch cụ thể Hầu hết các hộ sản xuất đều có công nghệ thô sơ, lạc hậu, các chất thải đều chưa được thu gom đúng quy định Với phương thức chôn lấp là chính
và không để ý tới hộ xung quanh Như vậy, bảo vệ môi trường nói chung và quản lý làng nghề chế biến chè nói riêng đã, đang và chắc chắn sẽ trở thành một vấn đề bức xúc đối với tỉnh Thái Nguyên Từ thực tế khách quan đó, nhu cầu đó, được sự nhất trí của Ban Giám hiệu Trường Đại học khoa học tự nhiêvà dưới sự hướng dẫn của
PGS.TS Lê Trình, tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu vấn đề môi trường của làng nghề chế biến chè và đề xuất biện pháp giảm thiểu ô nhiễm trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên ” Đề tài nhằm nêu lên hiện trạng quản lý làng nghề chế biến chè, xác
định các thách thức, để từ đó đề ra những định hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp quản lý làng nghề một cách tổng thể, toàn diện
- Đề xuất các giải pháp có cơ sở khoa học và khả thi quản lý tốt làng nghề chế biến chè định hướng lâu dài trong tương lai, phù hợp với nhu cầu cấp thiết của người dân trong làng nghề
Yêu cầu
- Số liệu thu thập phải trung thực, khách quan, chính xác
Trang 8Trần Thế Long 3 K17-Khoa học Môi trường
- Đề xuất các phương án, giải pháp cần có tính khả thi, thực tế và phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của Thái Nguyên
Ý nghĩa của luận văn
Ý nghĩa khoa học
- Cung cấp cơ sở khoa học cho công tác quy hoạch và quản lý làng nghề chế biến chè trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
- Cung cấp dữ liệu về hiện trạng phát sinh của làng nghề chế biến chè
- Cung cấp thông tin, kiến thức về các công nghệ quản lý làng nghề chế biến chè, phù hợp cho điều kiện tỉnh Thái Nguyên hiện nay và tương lai
Ý nghĩa thực tiễn
- Đề tài cung cấp một giải pháp có tính khoa học và thực tiễn để quản lý làng nghề chế biến chè cho tỉnh Thái Nguyên
Trang 9Trần Thế Long 4 K17-Khoa học Môi trường
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 SƠ LƯỢC VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN TỈNH THÁI NGUYÊN
1.1.1 Vị trí địa lý
Thái Nguyên là tỉnh miền núi thuộc vùng Trung du-Miền núi Bắc Bộ, có tọa
độ từ 20020’ đến 20025’ vĩ độ Bắc; 105025’ đến 106016’ kinh độ Đông Thành phố Thái Nguyên cách trung tâm thủ đô Hà Nội 80 km về phía Bắc theo quốc lộ 3, là cửa ngõ nối thủ đô Hà Nội và các tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng với các tỉnh miền núi phía Bắc Thái Nguyên là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế của vùng Đông Bắc Cùng với quốc lộ 3, các quốc lộ 37, 1B, 279, tuyến đường sắt Hà Nội-Quán Triều đã tạo ra sự giao lưu thuận tiện giữa Thái Nguyên với các tỉnh đồng bằng sông Hồng và miền núi
- Thái Nguyên còn là nơi hội tụ của nhiều trường đại học, là nơi tập trung nhiều trí tuệ và các công trình khoa học kỹ thuật tiên tiến đã và đang áp dụng trên ruộng đồng Thái Nguyên
- Với vị trí địa lý của tỉnh nói trên đã tạo cho tỉnh có lợi thế đặc biệt trong phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa với thị trường rộng lớn
1.1.2 Khí hậu
- Do nằm gần chí tuyến Bắc trong vành đai Bắc bán cầu, nên khí hậu của tỉnh
Thái Nguyên mang tính chất của khí hậu nhiệt đới gió mùa Trên địa bàn tỉnh vào mùa nóng từ tháng 5 tới tháng 10 thì nhiệt độ trung bình khoảng 23-280C và lượng mưa trong mùa này chiếm tới 90% lượng mưa cả năm Mùa đông có khí hậu lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Tuy nhiên do có sự khác biệt rõ nét về độ cao và địa hình, địa thế nên trên địa bàn Thái Nguyên hình thành 3 tiểu vùng khí hậu khác nhau:
- Tiểu vùng 1 (vùng lạnh nhiều): Bao gồm các xã thuộc phía Tây Bắc huyện
Đại Từ, Định Hóa, Bắc Phú Lương và Võ Nhai, có độ cao trung bình từ 500 m trở lên Đây là vùng có mùa đông tương đối lạnh và kéo dài
Trang 10Trần Thế Long 5 K17-Khoa học Môi trường
- Tiểu vùng 2 (vùng lạnh vừa): bao gồm các xã thuộc phía đông huyện Đại
Từ, Nam huyện Phú Lương, Định Hóa và Đồng Hỷ, có độ cao từ 200 – 500 m
- Tiểu vùng 3 (vùng ấm): Bao gồm các xã thuộc huyện Phổ Yên, Phú Bình,
thị xã Sông Công, thành phố Thái Nguyên, Nam huyện Đồng Hỷ và Phú Lương Độ cao trung bình từ 30 đến 50m
Sự đa dạng về khí hậu của Thái Nguyên đã tạo sự đa dạng, phong phú về cây trồng, vật nuôi Đặc biệt tại Thái Nguyên có thể tìm thấy cả cây trồng, vật nuôi có nguồn gốc nhiệt đới và ôn đới Đây chính là cơ sở cho sự đa dạng hóa cơ cấu sản phẩm nông nghiệp
1.1.3 Địa hình
Là một tỉnh trung du - miền núi, Thái Nguyên có độ cao trung bình so với mặt biển khoảng 200-300m, thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông Tỉnh Thái Nguyên được bao bọc bởi dãy núi cao Bắc Sơn, Ngân Sơn và Tam Đảo Đỉnh cao nhất thuộc dãy Tam Đảo có độ cao 1592m
Về kiểu địa hình, địa mạo địa bàn tỉnh được chia thành 3 vùng rõ rệt (hình
1.1):
- Vùng địa hình vùng núi: bao gồm nhiều dãy núi cao ở phía Bắc chạy theo
hướng Bắc –Nam và Tây Bắc – Đông Nam Vùng này chung ở các huyện Đại Từ, Định Hóa và một phần huyện Phú Lương Đây là vùng có địa hình cao chia cắt phức tạp do quy trình Kastơ phát triển mạnh, có độ cao từ 500-1000m, độ dốc thường từ 25-350
- Vùng địa hình đồi cao, núi thấp: là vùng chuyển tiếp giữa vùng núi cao
phía Bắc và vùng Đồi gò đồng bằng phía Nam, chạy dọc theo sông Cầu
Trang 11Trần Thế Long 6 K17-Khoa học Môi trường
Hình 1.1: Bản đồ địa hình tỉnh Thái Nguyên [12]
Trang 12Trần Thế Long 7 K17-Khoa học Môi trường
và đường quốc lộ 3 thuộc Đồng Hỷ, Nam Đại Từ và Nam Phú Lương Địa hình gồm các dãy núi thấp đan chéo với dải đồi cao tạo thành bậc thềm lớn và nhiều thung lũng Độ cao trung bình từ 100-300m, độ cao thường từ 15-250
- Vùng địa hình nhiều ruộng ít đồi: bao gồm vùng đồi thấp và đồng bằng
phía Nam tỉnh Địa hình tương đối bằng, xen giữa các đồi bát úp dốc thoải là các khu đất bằng Vùng này chung ở các huyện Phú Bình, Phổ Yên, thị xã sông Công
và thành phố Thái Nguyên và một phần phía Nam huyện Đồng Hỷ, Phú Lương Độ cao trung bình từ 30-50m, độ dốc thường <100
Với đặc điểm địa hình địa mạo như trên làm cho việc canh tác, giao thông đi lại có những khó khăn, phức tạp Song chình sự phức tạp đó lại ra đa dạng phong phú về chủng loại đất và điều kiện khí hậu khác nhau, cho phép phát triển một tập đoàn cây trồng – vật nuôi đa dạng và phong phú
1.1.4 Tài nguyên khoáng sản
Thái Nguyên là một tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản rất phong phú về chủng loại và trữ lượng, trong đó có nhiều loại có ý nghĩa đối với cả nước như mỏ sắt, mỏ than Dưới đây là một số loại khoáng sản có lợi thế so sánh của tỉnh và các loại khoáng sản có ý nghĩa trong việc cung cấp nguyên vật liệu cho phát triển ngành nghề nông thôn:
+ Than mỡ: trữ lượng tiềm năng khoảng trên 15 triệu tấn, chất lượng tương đối tốt, trong đó trữ lượng thăm dò và tìm kiếm khoảng 8,5 triệu tấn
+ Than đá: trữ lượng tìm kiếm và thăm dò khoảng trên 90 triệu tấn, phân bố
ở mỏ Khánh Hòa, Núi Hồng, Cao Ngạn
+ Sắt: Hiện đã phát hiện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có 47 mỏ và điểm quặng, trữ lượng trên 50 triệu tấn
+ Đất sét: sét xi măng có trữ lượng khá lớn (khoảng 84,6 triệu tấn) phân bố ở Cúc Đường, Khe Me
Trang 13Trần Thế Long 8 K17-Khoa học Môi trường
+ Đá vôi xây dựng: trữ lượng khá lớn (khoảng 10 tỷ tấn) Tập trung ở khu núi Voi, La Giàng, La Hiên khoảng 222 triệu tấn
đồ đất tỉnh Thái Nguyên được thể hiện trong hình 1.2
- Đất phù sa: diện tích 19.448 ha, chiếm 5,49% diện tích tự nhiên Loại đất
này phân bố chủ yếu dọc sông Cầu, sông Công, và các sông suối trên địa bàn tỉnh, trong đó có 3.961 ha đất phù sa được bồi hằng năm ven sông thuộc huyện Phổ Yên, Đồng Hỷ, thị xã sông Công và thành phố Thái Nguyên Đất phù sa của tỉnh thường
có thành phần cơ giới trung bình, đất ít chua, hàm lượng dinh dưỡng khá, rất thích hợp cho phát triển các loại cây trồng nông nghiệp, đặc biệt là cây trồng ngắn ngày (lúa, ngô, đậu đỗ, rau màu)
- Đất bạc màu: diện tích chỉ có 4.331 ha, chiếm 1,22% diện tích tự nhiên
Loại đất này phân bố ở các huyện phía Nam tỉnh Đất bằng hiện nay đã được sử dụng vào sản xuất nông nghiệp
- Đất dốc tụ: diện tích 18.411 ha, chiếm 5,20% diện tích tự nhiên Loại đất
này được hình thành và phát triển trên sản phẩm rửa trôi và lắng đọng của tất cả các loại đất ở các chân sườn thoải hoặc khe dốc, nên thường có độ phì khác nhau và phân tán trên địa bàn các huyện trong tỉnh Đây là loại đất rất thích hợp với trồng ngô, đậu đỗ và các loại cây trồng ngắn ngày
- Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa: diện tích 4380 ha, chiếm 1,24% diện
tích tự nhiên Loại đất này phân bố phân tán ở hầu khắp các thung lũng trên địa bàn
Trang 14Trần Thế Long 9 K17-Khoa học Môi trường
các huyện trong tỉnh, hiện đã được sử dụng trồng lúa và một số cây trồng ngắn ngày khác
- Đất đỏ trên đá vôi: diện tích 6.289 ha, chiếm 1,78% diện tích tự nhiên
Phân bố ở huyện Võ Nhai và Phú Lương Nhìn chung đây là loại đất tốt nhưng có kết cấu rời rạc, thành phần cơ giới thịt trung bình, mức độ bão hòa bazo khá, ít chua Trên loại đất này có khoảng 70% diện tích có độ dốc dưới 200, thích hợp với sản xuất nông nghiệp và sản xuất theo phương thức nông lâm kết hợp
- Đất đỏ vàng trên phiến thạch sét: diện tích 136.880 ha, chiếm 38,65% diện
tích tự nhiên, đây là loại đất có diện tích tự nhiên lớn nhất Phân bố thành các vùng lớn thuộc các huyện Phú Lương, Võ Nhai, Đồng Hỷ, Đại Từ, Định Hóa Đất có thành phần cơ giới thịt trung bình đến thịt nặng, cấu trúc dạng cục, ngập nước lâu ngày sẽ có quá trình glay hóa mạnh Trên loại đất này có khoảng 48,5 diện tích có
độ dốc từ 8-250, rất thích hợp với cây chè, cây ăn quả
- Đất vàng nhạt phát triển trên đá cát: diện tích 42.052 ha, chiếm 11,88 %
diện tích tự nhiên Đây là loại đất đồi núi có diện tích lớn thứ hai sau đất đỏ vàng trên phiến thạch sét, phân bố rải rác tất cả các huyện, thị trong tỉnh và thường có độ dốc dưới 250, diện tích trên 250 chỉ có khoảng 23% Loại đất này trên tầng đất mặt thường có mầu xám, thành phần cơ giới nhẹ, có nhiều sạn thạch anh, đất chua
- Đất nâu vàng trên phù sa cổ: diện tích 14.776 ha, chiếm 4,71% diện tích
tự nhiên, phân bố ở Phú Lương, Phổ Yên, Võ Nhai, Đồng Hỷ, Phú Bình và Đại Từ Đất thường có độ dốc ca thấp, 58 % diện tích có độ dốc<80, rất thích hợp với trồng mầu, cây công ngiệp ngắn ngày (mía, lạc, thuốc lá)
- Đất vàng đỏ trên đá macma axit: diện tích 30.784 ha, chiếm 8,68% diện
tích tự nhiên, phân bố ở Đại Từ và Định Hóa Đây là loại đất dễ bị xói mòn, rửa trôi
vì lớp đất mặt có thành phần cơ giới nhẹ, tơi xốp, đất chua và khoảng 50% diện tích
có độ dốc>250
Trang 15Trần Thế Long 10 K17-Khoa học Môi trường
Hình 1.2 Bản đồ đất nhưỡng tỉnh Thái Nguyên [12]
Trang 16Trần Thế Long 11 K17-Khoa học Môi trường
1.1.6 Tài nguyên nước
1.1.6.1 Tài nguyên nước mặt [12]
Thái Nguyên là một tỉnh có mạng lưới sông suối khá dầy đặc và phân bố tương đối đều Mật độ sông suối trung bình khoảng 1,2 km/km2 Dưới đây là một số sông suối chính chảy qua địa bàn tỉnh:
- Sông Cầu: là sông lớn nhất tỉnh có lưu vực 3.480km2 Sông này bắt nguồn
từ chợ Đồn (Bắc Cạn) chảy theo hướng Bắc Đông Nam qua Phú Lương, Đồng Hỷ, thành phố Thái Nguyên, Phú Bình gặp sông Công tại Phù Lôi Chiều dài sông chảy qua địa bàn tỉnh Thái Nguyên khoảng 110 km Lượng nước đến bình quân năm khoảng 2,28 tỷ m3/năm Trên sông này hiện nay đã xây dựng hệ thống thủy nông Theo số liệu quan trắc tại thác Bưởi huyện Phú Lương, lưu lượng nước trung bình của sông này là 51,4 m3/s, lưu lượng nhỏ nhất (tháng 2) là 11,3 m3/s và lưu lượng lớn nhất tháng 8 là 128 m3/s
- Sông Công: có lưu vực 951km2 bắt nguồn từ vùng núi Ba Lá huyện Định Hóa chảy dọc chân núi Tam Đảo, nằm trong vùng có lượng mưa lớn nhất trong tỉnh Dòng sông đã được ngăn lại ở Đại Từ thành hồ Núi Cốc có mặt nước rộng trong khoảng 25 km2, chứa khoảng 175 triệu m3 nước, điều hòa dòng chảy và có khả năng tưới tiêu cho khoảng 12.000 ha lúa 2 vụ, cây công nghiệp cho các xã phía Đông Nam huyện Đại Từ, thị xã Sông Công, huyện Phổ Yên và cung cấp nước sinh hoạt cho thành phố Thái Nguyên và thị xã sông Công
- Sông Dong: sông này chảy trên địa phận huyện Võ Nhai chảy về Bắc
Giang Lưu lượng nước vào mùa mưa là 11,1 m3/s và lưu lượng mùa kiệt là 0,8
m3/s Tổng lượng nước đến trong mùa mưa là 146 triệu m3 và trong mùa khô là 6,2 triệu m3
Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn nhiều sông nhỏ khác phân bố đều khắp và một
số hồ chứa tương đối lớn tạo ra nguồn nước mặt khá phong phú phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt cho nhân dân trong tỉnh
Trang 17Trần Thế Long 12 K17-Khoa học Môi trường
1.1.6.2 Tài nguyên nước ngầm
Theo kết quả thăm dò trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trữ lượng nước ngầm khá lớn Nhưng hiện nay việc khai thác sử dụng còn nhiều hạn chế
1.2 THỰC TRẠNG VỀ KINH TẾ- XÃ HỘI VÙNG NÔNG NGHIỆP – NÔNG THÔN THÁI NGUYÊN[12]
1.2.2 Tình hình phát triển nông lâm nghiệp
Năm 2012, tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm trong tỉnh là 120.396 ha Trong đó diện tích gieo trồng cây lượng thực đạt 89.463 ha chiếm 74,31% tổng diện tích gieo trồng của tỉnh Diện tích cây dài ngày có 34.560 ha Trong đó diện tích cây
ăn quả có 17.548 ha và diện tích cây công nghiệp lâu năm (chè) là 16.994 ha, trong
đó diện tích chè đã cho thu hoạch là 15.730 ha
Trang 18Trần Thế Long 13 K17-Khoa học Môi trường
Thành tưu nổi bật trong sản xuất nông lâm nghiệp là sản xuất cây lượng thực
có hạt (lúa, ngô) tăng từ 279.432 tấn (1999) lên trên 410.000 tấn năm 2012, giá trị lương thực bình quân đầu người đạt 351 kg/người/năm
1.2.2.1.Trồng trọt
Năm 2012, tổng diện tích cây lương thực có hạt có 89.463ha trong đó diện tích lúa cả năm có 68.856 ha, trong đó lúa Đông Xuân đạt sản lượng 137.095 tấn
Diện tích cây công nghiệp hàng năm tăng không nhiều, diện tích cây lạc năm
2000 là 5.492 ha, năm 2005 giảm xuống còn 4.166 ha, năm 2006 giảm tiếp xuống còn 3.931 ha, năm 2007 tăng lên 4.327 ha, năm 2008 tăng lên 4.546 ha Diện tích cây đậu tương năm 2000 có 3.368 ha, năm 2005 có 3.389 ha, năm 2006 giảm xuống còn 2.889ha, và đến năm 2007 giảm tiếp xuống còn 2.316 ha, năm 2008 tăng lên 7.360 ha Chè là cây thế mạnh của tỉnh, năm 1990 toàn tỉnh có 5.970 ha, những năm vừa qua trồng và chế biến chè hàng hóa phát triển nhanh, diện tích năm 1999 đạt gần 11.993 ha (tăng gấp 2 lần năm 1990) Năm 2008, diện tích chè tăng lên 16.994
ha đạt khoảng 149.255 tấn chè tươi, góp phần quan trọng nâng cao giá trị kim ngạch xuất khẩu nông lâm sản của tỉnh Chè Thái Nguyên ngoài tiêu dùng trong tỉnh, hàng năm còn xuất ra tỉnh ngoài với số lượng lớn, xuất khẩu ra gần 10 nước và vùng lãnh thổ góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế nông thôn và tăng thêm kim ngạch cho tỉnh
Bảng 1.1: Diện tích, sản lượng chè phân theo huyện, thành phố, thị xã
Trang 19Trần Thế Long 14 K17-Khoa học Môi trường
Lương 3.554 29.039 3.650 32.170 3.725 34.960 3.650 35.000 H.Đồng
Hỷ 2.538 20.004 2.606 23.750 2.669 24.950 2.730 24.400 H.Đại
Năm 2012 toàn tỉnh có 131.654 con trâu, 23.350 con bò, 404.579 đầu lợn và
4 triệu gia cầm, có sản lượng thịt hơi các loại đạt 34 ngàn tấn, trong đó thịt lợn đạt 27,4 ngàn tấn Bình quân thịt hơi sản xuất trên đầu người đạt 19,4 kg thịt hơi/người
so với bình quân chung cả nước bằng 83% Năm 2008, toàn tỉnh có 106,9 ngàn con trâu, có 55 ngàn con bò, 529 ngàn con lợn và trên 5,3 triệu gia cầm
1.2.2.3 Lâm nghiệp
Hiện nay đất rừng của tỉnh là 160.333 ha chiếm 45,36% diện tích tự nhiên, trong đó rừng sản xuất có 91.687,58 ha, chiếm 53,11 diện tích đất có rừng Rừng phòng hộ có 52.332,23 ha, chiếm 30,31 % Rừng đặc dụng có 28.612,01 ha chiếm 16,57%
Trang 20Trần Thế Long 15 K17-Khoa học Môi trường
1.2.3 Hiện trạng dân cư vùng nông thôn
Theo số liệu thống kê năm 2008, toàn tỉnh Thái Nguyên có 1.150.000 người sống trên địa bàn 2.881 thôn, 23 phường, 13 thị trấn và 144 xã của 9 huyện, thị là: Thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công, huyện Đại Từ, huyện Phổ Yên, huyện Phú Lương, huyện Võ Nhai, huyện Phú Bình, huyện Đồng Hỷ, huyện Định Hóa Thành phố Thái Nguyên là nơi đông dân số nhất có 259.106 người Sau đó là huyện Đại Từ 170.636 người, huyện Phú Bình 147.174 người Huyện có dân số thấp nhất
là thị xã Sông Công 49.983 người
Dân cư nông thôn của tỉnh Thái Nguyên hiện có 868.234 người chiếm khoảng 75,50% và lao động nông nghiệp có 421.731 người, chiếm 63,24% lao động toàn xã hội
1.3 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ Ở THÁI NGUYÊN
1.3.1 Thông tin chung về làng nghề
Ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và các nghề truyển thống của tỉnh Thái Nguyên như sản xuất và chế biến chè, chế biến thực phẩm, nghề đan lát… đã phát triển khá mạnh, mặc dù so với các tỉnh khác như Hà Tây, Bắc Ninh là các tỉnh không xa với Thái Nguyên thì mức độ phát triển các ngành nghề còn ở mức khiêm tốn
Số cơ sản xuất tiểu thủ công nghiệp (TTCN) và làng nghề trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên cũng tăng đáng kể Năm 2002 có 9.172 cơ sở, năm 2004 giảm xuống còn 8.757 cơ sở, năm 2009 qua kết quả điều tra có khoảng 13.328 cơ sở Tốc độ gia tăng của các cơ sở sản xuất TTCN và làng nghề trong vòng mấy năm khoảng 6,45%
Tính tới thời điểm tháng 9 năm 2009 toàn tỉnh Thái Nguyên có 13.359 cơ sở sản xuất TTCN và làng nghề trong đó:
- Khối doanh nghiệp có 91 cơ sở
- Khối hợp tác xã có 40 cơ sở
Trang 21Trần Thế Long 16 K17-Khoa học Môi trường
- Khối hộ gia đình có 13.107 cơ sở
- Khối làng nghề có 121 cơ sở
Trong tổng số 13.359 cơ sở sản xuất TTCN và làng nghề phân theo các huyện, thành thị như sau:
- Thành phố Thái Nguyên có 3.385 cơ sở
- Thị xã Sông Công có 249 cơ sở
- Huyện Phổ Yên có 3.046 cơ sở
- Huyện Phú Bình có 761 cơ sở
- Huyện Đại Từ có 1.926 cơ sở
- Huyện Định Hóa có 369 cơ sở
- Huyện Đồng Hỷ có 2.212 cơ sở
- Huyện Phú Lương có 593 cơ sở
- Huyện Võ Nhai có 818 cơ sở
Số lượng các làng nghề phân bố theo từng huyện, TP, TX ở Thái Nguyên
được nêu ở hình 1.3
Trang 22Trần Thế Long 17 K17-Khoa học Môi trường
Hình 1.3: Sơ đồ phân bố số lượng các làng nghề theo đơn vị hành chính[13]
Trang 23Trần Thế Long 18 K17-Khoa học Môi trường
Các cơ sở sản xuất TTCN và làng nghề tỉnh Thái Nguyên đã thu hút một lượng lớn lao động, đặc biệt là số lao động còn thiếu việc làm do đặc điểm mang tính thời vụ Lượng vốn đầu tư của các cơ sở sản xuất TTCN và làng nghề cũng tăng khá nhanh, từ 63.385 triệu đồng vào năm 2000 tăng lên 11.912.148 triệu đồng vào năm 2009 Năm 2009, tổng giá trị sản xuất TTCN và làng nghề tỉnh Thái Nguyên đạt 431.890 triệu đồng trong đó:
- Khối doanh nghiệp đạt: 164.278 triệu đồng
- Khối kinh tế hộ đạt: 224.786 triệu đồng
- Khối làng nghề đạt: 27.829 triệu đồng
- Khối hợp tác xã đạt: 14.997 triệu đồng
1.3.2 Thực trạng phát triển các ngành nghề chế biến chè tỉnh Thái Nguyên
Thái Nguyên là một trong 9 tỉnh trọng điểm trồng chè trên tổng số 34 tỉnh thành trồng chè cả nước với diện tích năm 2008 có 16.994 ha, chiếm 17,6 % so với
cả nước và là tỉnh đứng thứ hai trong cả nước về quy mô diện tích (sau Lâm Đồng) Năng suất chè búp tươi của Thái Nguyên liên tục tăng: năm 2005 đạt 149.255 tấn, năm đạt 174.772 tấn
Hiện nay trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có tới 68 làng nghề sản xuất và chế biến chè Ngành nghề chế biến chè của Thái Nguyên đã giải quyết được bao tiêu nguyên liệu cho nông dân hiện nay nhưng hiện nay công nghệ chế biến còn chưa ở trình độ cao Mặt khác mới có một thương hiệu chè Tân Cương, một số địa phương khác có chè chất lượng cao nhưng chưa có thương hiệu như chè La Bằng ở Đại Từ… nên sức cạnh tranh sản phẩm không cao Trong các cơ sở chế biến thủ công, hầu hết nhà xưởng của nhiều cơ sở chế biến chè tư nhân có vốn đầu tư thấp, sơ sài, thiếu tính đồng bộ và lạc hậu; chưa được thiết kế xây dựng phù hợp nên dễ gây ra ô nhiễm môi trường xung quanh các cơ sở chế biến chè
Những năm gần đây, các địa phương trong tỉnh đã triển khai thực hiện trồng mới, cải tạo vườn chè, thâm canh đưa giống chè mới có năng suất chất lượng cao
Trang 24Trần Thế Long 19 K17-Khoa học Môi trường
vào sản xuất Bên cạnh đó, các mô hình trồng chè an toàn cũng đang được phát triển đưa lại những kết quả khả quan ban đầu, một số doanh nghiệp cũng đang nghiên cứu để phát triển mô hình chè hữu cơ trên địa bàn tỉnh
Dưới đây là quy mô một số làng nghề sản xuất và chế biến chè trên địa bàn tỉnh:
- Làng nghề trồng và chế biến chè xóm Thác Dài, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương chuyên sản xuất chè búp tươi và chế biến chè búp khô với sản lượng 54 tấn chè búp khô hàng năm, tiêu thụ trong xã, trong huyện, trong tỉnh và cả nước Vốn đầu tư khoảng 10.000 triệu đồng Tổng số hộ của làng có nghề là 153 hộ, trong đó
số hộ làm nghề có 153 hộ chiếm 100% Tổng số lao động của làng nghề là 600 lao động, trong đó số lao động làm nghề là 487 lao động chiếm 81,2% Tổng thu nhập của làng có nghề đạt 5.320 triệu đồng, trong đó thu nhập từ ngành nghề đạt 3.163 triệu đồng chiếm 59,5%
- Làng nghề trồng và chế biến chè xã Văn Hán, huyện Đồng Hỷ chuyên sản xuất chè búp tươi và chế biến chè búp khô với sản lượng 300 tấn chè búp khô hàng năm, tiêu thụ trong xã, trong huyện, trong tỉnh và cả nước Vốn đầu tư khoảng 50.000 triệu đồng Tổng số hộ của làng có nghề là 478 hộ, trong đó số hộ lao động, trong đó số lao động làm nghề là 523 lao động chiếm 40,2% Tổng thu nhập của làng có nghề đạt 8.500 triệu đồng, trong đó thu nhập từ ngành nghề đạt 3.420 triệu đồng chiếm 40,2%
- Xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên có 16 làng nghề chề biến chè ở các xóm Hồng Thái một, Hồng Thái hai, Y Na một, Y Na hai, Soi Vang, Tân Thái, Nam Thái, Nam Hưng, Nam Tiến…hàng năm sản xuất được 38,9 tấn chè khô Vốn đầu
tư 6.696 triệu đồng Tổng số hộ của làng có nghề của xã Tân Cương là 1.324 hộ, trong đó số hộ làm nghề có 1.297 hộ chiếm 98,0% Tổng số lao động của làng nghề
có nghề là 5.108 lao động, trong đó số lao động làm nghề là 2.853 lao động chiếm 55,9 % Tổng thu nhập của làng có nghề đạt 48.551 triệu đồng, trong đó thu nhập từ ngành nghề đạt 19.066 triệu đồng chiếm 39,3%
Danh sách các làng nghề chè trên địa bàn thành phố Thái Nguyên được nêu ở
phần phụ lục)
Trang 25Trần Thế Long 20 K17-Khoa học Môi trường
1.4 TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ CHẾ BIẾN CHÈ XÃ TÂN CƯƠNG
1.4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội các làng nghề trồng và chế biến chè ở
xã Tân Cương
Kết quả khảo sát và phân tích môi trường ở các làng nghề trồng và chế biến chè Khuôn Hai xã Phúc Trìu và làng nghề chế biến chè Quyết Thắng xã Tân Cương được tóm tắt dưới đây
1.4.1.1 Địa hình
Khu vực khảo sát các làng nghề trồng và chế biến chè trong luận văn thuộc vùng địa hình nhiều ruộng ít đồi: Bao gồm vùng đồi thấp và đồng bằng phía trung tâm tỉnh Địa hình tương đối bằng, xen giữa các đồi bát úp dốc thoải là các khu đất bằng Độ cao trung bình từ 30-50m so với mực nước biển, độ dốc thường <100
1.4.1.2 Khí hậu và thủy văn
cả năm Mùa đông có khí hậu lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
Thủy văn sông Công: Sông này dài 96 km Diện tích lưu vực 951 km², cao
trung bình 224 m, độ dốc trung bình 27,3%, mật độ sông suối 1,20 km/km² Tổng lượng nước 0,794 km³ ứng với lưu lượng trung bình năm 25 m³/s, môđun dòng chảy năm 26 l/s.km² Mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 10, chiếm 74,7% lượng nước cả năm; tháng 8 có lượng dòng chảy lớn nhất chiếm 19,30% lượng nước cả năm; tháng cạn kiệt nhất chiếm 1,8% lượng nước cả năm
Trang 26Trần Thế Long 21 K17-Khoa học Môi trường
- Chế độ thuỷ văn mùa lũ: Mùa lũ trên các sông ở Thái Nguyên bắt đầu tương
đối đồng nhất về thời gian, xuất hiện vào đầu tháng V và kết thúc vào cuối tháng X, đầu tháng XI, tỷ lệ xuất hiện lũ nhiều nhất vào các tháng VI, VII, VIII, và IX Số trận lũ trung bình 1 năm từ 1,5 – 2,0 trận, năm nhiều nhất có tới 4 trận lũ xuất hiện Thời gian duy trì mực nước lũ ở cấp báo động 3 bình quân từ 25 – 34 ngày đối với sông Cầu và 7 ngày đối với sông Công Còn ở cấp báo động 2 thì bình quân 30 – 55 ngày ở sông Cầu và 11 ngày ở sông Công
- Chế độ thuỷ văn mùa cạn: Chế độ thuỷ văn trên các sông suối ở Thái
Nguyên trong mùa cạn có quan hệ mật thiết với dòng chảy, lượng mưa năm và các điều kiện khác của lưu vực như diện tích hứng nước, thổ nhưỡng, thảm thực vật, cấu trúc hạ tầng và các yếu tố khí hậu Những yếu tố này có tác dụng làm quá trình điều tiết dòng chảy mùa cạn nhanh hay chậm Mùa mưa với lượng mưa tập trung lớn thường xảy ra tai biến về sụt lở, trượt đất, lũ quét ở một số triền đồi núi và lũ lụt
ở khu vực dọc theo lưu vực sông Cầu và sông Công
1.4.1.3 Kinh tế xã hội xã Tân Cương
Tân Cương là xã ngoại thành TP Thái Nguyên Theo báo cáo của UBND xã
Tân Cương (2012) [11] hiện trạng kinh tế xã hội của xã được nêu dưới đây
(i) Kinh tế
Sản xuất nông nghiệp
Diện tích gieo cấy lúa vụ xuân là 180ha, năng suất bình quân ước đạt 43,56 tạ/ha; lúa vụ mùa 215 ha, năng suất bình quân đạt 45,9 tạ/ha Tổng sản lượng cả năm 1.773 tấn bằng 97% kế hoạch (KH) năm Diện tích ngô: 15ha, đậu tương: 7ha, lạc: 12 ha, khoai lang: 1 ha, rau quả các loại: 3 ha
Trang 27Trần Thế Long 22 K17-Khoa học Môi trường
Đã tổ chức được 8 lớp tập huấn chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hại trên cây lúa và cây chè, với 580 lượt người tham gia
Về chương trình xây dựng nông thôn mới
Tính đến tháng 11/2012 xã Tân Cương đã đạt 14/19 tiêu chí nông thôn mới, còn 05 tiêu chí chưa đạt đó là: Tiêu chí 2: Giao thông, Tiêu chí 6: Cơ sở vật chất văn hóa, Tiêu chí 10: Thu nhập, Tiêu chí 12: Cơ cấu lao động, Tiêu chí 17: Môi trường
- UBND xã đã ra quyết định thành lập 03 tổ đi khảo sát các tuyến đường liên
xã
- Tổ chức các hội nghị tập huấn, tuyên truyền các cơ chế, chính sách của Đảng và nhà nước về chương trình xây dựng nông thôn mới
(ii) Hiện trạng kinh tế-xã hội các hộ trồng và chế biến chè ở xã Tân Cương
Trong quá trình khảo sát làng nghề chế biến chè Quyết Thắng xã Tân Cương,
tác giả đã khảo sát 20 hộ dân trong làng nghề chè bằng phiếu điều tra (xem phần
phụ lục) Thực trạng thu nhập của các hộ gia đình như sau:
- Số hộ có thu nhập khá (≥1 triệu/tháng): 1 TDA (chiếm 5 %)
Trang 28Trần Thế Long 23 K17-Khoa học Môi trường
- Số hộ có thu nhập trung bình (2,0 – 4,0 triệu): 19 hộ (chiếm 95 %)
Hình 1.4: Thu nhập trung bình của các hộ dân trồng chè
Quyết Thắng xã Tân Cương
- Số lượng lao động của các hộ dân làng nghề chè khảo sát được thống kê như sau:
Các hộ có số lao động 3 lao động chiếm 40%, từ 2 lao động chiếm 50% và 4
lao động chiếm 10% Số lượng lao động trung bình được thể hiện tại Hình 1.5
Hình 1.5: Số lượng lao động của các hộ làm chè Tân Cương
Trang 29Trần Thế Long 24 K17-Khoa học Môi trường
Trình độ học vấn:
- Số hộ có người được đào tạo cấp 1 là 25%, cấp 2 là 8%, cấp 3 là 46%, cao đẳng là 21%
Hình 1.6: Trình độ học vấn của các hộ dân làng nghề chè Tân Cương
Qua khảo sát cho thấy kinh tế của người dân làm chè còn thấp, trình độ dân trí cũng hạn chề Đây cũng là một sự khó khăn trong nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường, sức khỏe cho chính mình và mọi người xung quanh cũng như xã hội
Trang 30Trần Thế Long 25 K17-Khoa học Môi trường
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là loại hình làng nghề trồng và chế biến
chè ở Thái Nguyên và ô nhiễm môi trường từ loại hình làng nghề này
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu hiện trạng môi trường và đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường làng nghề chè tại một số làng chè tiêu biểu tại Thái Nguyên như làng nghề chế biến chè Quyết Thắng ở xã Tân Cương, làng nghề chế biến chè Khuôn Hai xã Phúic Trìu – TP Thái Nguyên
2.1.3 Nội dung nghiên cứu
Để thực hiện nội dung của Luận văn “Nghiên cứu vấn đề môi trường của
làng nghề chế biến chè và đề xuất biện pháp giảm thiểu ô nhiễm trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên” Tác giả đã được sự hỗ trợ của các đơn vị liên quan thực hiện các nội
Trang 31Trần Thế Long 26 K17-Khoa học Môi trường
(iv) Đề xuất một số biện pháp quản lý và công nghệ có thể áp dụng để ngăn ngừa ô nhiễm, bảo vệ môi trường làng nghề chè tỉnh Thái Nguyên
2.2.1 Phương pháp thu thập và tổng hợp tài liệu
Tác giả đã thu thập số liệu thông qua các cơ quan tỉnh/huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên như: Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Thái Nguyên, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND các xã vùng nghiên cứu, Trên cơ sở các số liệu thu thập được, tác giả đã lựa chọn những số liệu cần thiết, phù hợp để đưa vào sử dụng
2.2.2 Phương pháp khảo sát môi trường tự nhiên
Việc thu mẫu và phân tích mẫu môi trường được Trung tâm Quan trắc và Công nghệ môi trường – Sở Tài nguyên và Môi trường Thái Nguyên thực hiện
trong Dự án “Lập Đề án cải thiện và bảo vệ môi trường vùng nông nghiệp-nông
thôn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020” do Lê Trình (Viện Môi trường
và Phát triển Bền vững) chủ nhiệm, trong đó có sự tham gia của tác giả luận văn
2.2.2.1 Thu mẫu, phân tích chất lượng nước
- Các mẫu nước được thu theo TCVN 5994-1995 về hướng dẫn lấy mẫu nước ở hồ ao tự nhiên và nhân tạo, TCVN 5996-1995 về hướng dẫn lấy mẫu nước ở sông và suối
- Mẫu nước sau khi thu được bảo quản theo TCVN 5993-1995
- Mẫu dùng trong phân tích BOD và chỉ tiêu vi sinh (coliform) được lấy vào chai riêng với thể tích 500ml (với BOD), bảo quản trong điều kiện tối, ở 2-5 0C
- Mẫu dùng trong phân tích thông số amoni, SS, độ đục, độ mặn, tổng N, tổng P, COD được lấy vào chai riêng với thể tích 1000ml,
- Mẫu dung để phân tích các kim loại nặng được lấy vào chai thủy tinh, axit hoá bằng H2SO4 đến pH<2 (thêm 3ml axit H2SO4 30% trong 1 L mẫu),
- Các chỉ số nhiệt độ, pH, DO được đo ngay sau khi lấy mẫu
Trang 32Trần Thế Long 27 K17-Khoa học Môi trường
2.2.2.2 Thu mẫu, phân tích ô nhiễm đất
Lấy mẫu đất ở độ sâu từ 20-30 cm so với lớp bề mặt Phân tích theo đúng tiêu chuẩnViệt Nam
Bảng 2.1: Phương pháp và thiết bị phân tích
phân tích Phương pháp và thiết bị phân tích
1
Cd (mg/kg) Hong khô trong không khí, nghiền mịn qua rây 0,25 mm,
phân hủy mẫu bằng phương pháp ướt, định lượng bằng ICP
MS
2
Mn (mg/kg) Hong khô trong không khí, nghiền mịn qua rây 0,25 mm,
phân hủy mẫu bằng phương pháp ướt, định lượng bằng ICP
MS
3
As (mg/kg) Hong khô trong không khí, nghiền mịn qua rây 0,25 mm,
phân hủy mẫu bằng phương pháp ướt, định lượng bằng ICP
MS
4
Hg (mg/kg) Hong khô trong không khí, nghiền mịn qua rây 0,25 mm,
phân hủy mẫu bằng phương pháp ướt, định lượng bằng ICP
MS
5
Fe (mg/kg) Hong khô trong không khí, nghiền mịn qua rây 0,25 mm,
phân hủy mẫu bằng phương pháp ướt, định lượng bằng ICP
MS
6
Cu (mg/kg) Hong khô trong không khí, nghiền mịn qua rây 0,25 mm,
phân hủy mẫu bằng phương pháp ướt, định lượng bằng ICP
MS
7 Zn (mg/kg) Hong khô trong không khí, nghiền mịn qua rây 0,25 mm,
phân hủy mẫu bằng phương pháp ướt, định lượng bằng ICP
Trang 33Trần Thế Long 28 K17-Khoa học Môi trường
2.2.3 Phương pháp điều tra xã hội học
Tác giả luận văn đã phỏng vấn 20 hộ dân trong làng nghề chế biến chè (mẫu phiếu phỏng vấn xem phần phụ lục) Thông tin về thu nhập trung bình hàng tháng của hộ gia đình, trình độ học vấn, lượng phân bón, loại hóa chất bảo vệ thực vật hay được sử dụng trong trồng chè được nêu trong chương 3
Trang 34Trần Thế Long 29 K17-Khoa học Môi trường
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 HIỆN TRẠNG TRỒNG CHÈ VÀ CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG Ở LÀNG NGHỀ CHÈ TÂN CƯƠNG
3.1.1 Phương pháp canh tác
Hiện nay, người dân ở làng nghề chè vẫn sử dụng phương pháp canh tác chè
cổ điển là trên rạch chè đã bón phân lót và lấp đất ta bổ hố rộng 20 cm, sâu 25cm, khoảng cách giữa các hố dày hay thưa tuỳ yêu cầu; bóc túi PE, giữ nguyên bầu đất, đặt bầu chè quay theo hướng thuận lợi, lấp đất lèn chặt xung quanh, rồi lấp một lớp đất tơi xốp kín lên mặt bầu 1cm, sau trồng tủ cỏ rác theo rạch chè rộng 40
20-cm và tưới cho chè; thời vụ trồng từ tháng 8-10 Phương pháp này có ưu điểm là dễ làm
3.1.2 Sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật và phân hóa học
3.1.2.1 Sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật
Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trè thì nhu cầu phân bón cho chè là tất yếu Ngoài nhu cầu về phân bón (NPK) thì nhu cầu về hóa chất bảo vệ thưc vật cho chè là tương đối lớn Theo báo cáo hiện trạng môi trường Thái Nguyên năm 2005, một vụ lúa, ngô hoặc chè trung bình người nông dân dùng thuốc bảo vệ thực vật từ 3-3,5 kg/ha đất nông nghiệp Đặc biệt là cây chè, người dân phun thuốc diệt sâu, trừ rầy, từ 3 đến 5 lần và phun tổng hợp rất nhiều loại thuốc khác nhau để
đề phòng sâu bệnh kháng thuốc Theo Chi cục Bảo vệ thực vật Thái Nguyên cho biết lượng hoá chất bảo vệ thực vật (BVTV) trong sản xuất nông nghiệp tùy theo loại cây trồng như lúa nước khoảng 2,5kg/ha, chè khoảng 3 – 3,5 kg/ha
Sử dụng hoá chất BVTV trong chuyên canh chè đứng hàng đầu về số lượng thuốc sử dụng và số lần phun từ 15-30 lần/năm, điều này đã được nhiều nghiên cứu chỉ ra, [11] Một số loại thuốc BVTV được người dân sử dụng phổ biến được nêu dưới đây Việc sử dụng bao nhiêu lượng/ha tùy thuộc vào kinh nghiệm của từng
hộ dân
Trang 35Trần Thế Long 30 K17-Khoa học Môi trường
- Trebon: Trebon có tên gọi là Ethofe-nprox Trebon là một hợp chất cấu
trúc tạo bởi cacbon, hydrogen và oxygen Công thức phân tử C25H28O3 tên hóa học 2-(4-methypropyl-3 phenoxyl-benzylether) Trebon có tác dụng tốt, đạt hiệu quả cao đối với các loài sâu hại khác nhau thuộc họ cánh phấn, cánh nửa cánh cứng và sâu 2 cánh
- Padan: tên hóa học S,S{2-dymethylalamion-trimethylene}bis thiocarba
- mate) hydrochlorid, tên khác Carap Phân tử lượng: 273,8 Công thức phân tử C7H16CIN3O2S2 Đây là loại hóa chất thuộc nhóm Carbamat Padan có tác dụng tốt, đạt hiệu quả cao đối với các loài sâu hại khác nhau như sâu đục thân, rầy xanh đuôi đen, bọ xít hôi, bọ trĩ, sâu tơ, sâu khoang, sâu xanh, bọ cánh tơ và sâu xếp lá hại chè Nó được sử dụng với nhiều loại HCBVTV khác như: Sumithion, Azodrin, hoặc Wofatox
- Shepar: Thuộc nhóm Pyrethrin và Pyrethrinodie, trong đó Pyrethrin có
nguồn gốc tự nhiên được chiết xuất từ cây cúc, còn Pyrethrinodie được tổng hợp Các chất có cùng nhóm Pyrethroid tổng hợp là Bioresmethrin, Cypermethrin, Deltameth- rin, Perme - thrin, Fenvaslerate và Resmethrin được sử dụng diệt côn trùng để bảo vệ ngũ cốc, rau quả và các nông sản thực phẩm Shepar có thể xâm nhập qua da, hít thở và qua ăn uống Độc với não, kích thích phổi và gây dị ứng
- Hóa chất 2.4D: Là thuốc diệt cỏ thuộc nhóm Axit Phenoxy axetic, có
tác dụng như hocmon đối với cây trồng Thuốc hấp thu qua da, hô hấp và thải qua nước tiểu theo cơ chế vận chuyển tích cực Trên thực nghiệm nếu dùng kéo dài gây giảm trọng lượng cơ thể, giảm số lượng bạch cầu, hồng cầu, huyết sắc tố
- Wofatox: Tên khác Methy Parathion Metaphos, Metacide Tên hóa học 0,0
dymethy 0-4-nitrophenyl photphothiorate Phân tử lượng: 263 Đa y l à hó a ch ấ t thu ộc n hó m P hos ph o – h ữu cơ Wofatox có tác dụng tốt, đạt hiệu quả cao đối với các loài sâu hại khác nhau như sâu đục thân, rầy xanh đuôi đen, bọ xít xanh, bọ xít hôi, bọ trĩ, sâu cuốn lá, bướm rệp lá, bọ nhảy Wofatox 50EC là hoá chất cấm sử dụng tại Việt Nam
Trang 36Trần Thế Long 31 K17-Khoa học Môi trường
- Regent: Tên hoạt chất: Fipronil Tên thương mại: Regent 5SC, 0,2G,
800G Tác dụng đối với loại sâu hại: sâu đục thân, rầy nâu, bọ xít xanh, bọ trĩ, sâu cuốn lá, kiến, nhện, sâu keo, sâu leo
- Aminre: Tên hoạt chất: Imidaclorid Tên thương mại: Adinre 50EC Đặc
điểm là thuốc thế hệ mới có tính lưu dẫn cực mạnh đặc trị rầy nâu, rầy xanh, bọ trĩ, rệp, sâu vẽ bùa trên cây lá, cam, quýt, vải và cây chè
Hình 3.1 Một số loại thuốc trừ sâu được bày bán tại xã
Tân Cương, TP Thái Nguyên, 05/2013
Trang 37Trần Thế Long 32 K17-Khoa học Môi trường
3.1.2.2 Sử dụng phân hóa học
Theo số liệu điều tra trong phiếu phỏng vấn của các hộ dân trong làng nghề chế biến chè Tân Cường là 80kg lân/sào và 50 kg đạm/sào cho mỗi lứa chè (mỗi năm chè có từ 7-8 lứa hoặc là tính theo kg chè khô: 2 tạ phân/30 kg chè khô) Như vậy lượng phân bón cho cây chè một năm là khá lớn Nếu người dân trồng chè sử dụng là cho cây chè được sử dụng tùy tiện không có kiểm soát về số lượng dẫn tới
dư thừa lượng phân bón và lượng phân bón này sẽ thấm vào đất gây ô nhiễm môi trường đất
Hình 3.2: Phân bón hữu cơ được bày bán ở xã Tân Cương, 05/2013
3.1.3 Chất thải trên đồng
Hình ảnh thường thấy trên các cánh đồng, ruộng chè ở nông thôn nói chung
và ở làng nghề chè Tân Cương nói riêng là bao bì, nylon của hóa chất BVTV, phân bón thường được sử dụng xong vứt luôn tại chỗ Việc này dẫn tới ảnh hưởng rất xấu tới môi trường [6] Một số công trình nghiên cứu đã chỉ ra sự tồn lưu hóa chất BVTV trong đất, nước, không khí, trong cây trồng và cả trong thực phẩm, hậu quả
đã ảnh hưởng xấu đến động vật đặc biệt là con người
Tác dộng đến môi trường không khí
Trang 38Trần Thế Long 33 K17-Khoa học Môi trường
Không khí có thể bị ô nhiễm do hóa chất BVTV dễ bay hơi, thậm chí không bay hơi như c á c l o ạ i c l o - h ữ u c ơ sẽ bay hơi trong điều kiện khí hậu thời tiết nóng Ở các vùng nhiệt đới, khoảng 90 % hóa chất BVTV phospho hữu cơ có thể bay hơi Các thuốc diệt cỏ cũng bị bay hơi nhất là trong quá trình phun thuốc Tuy nhiên theo hiện nay có ít bằng chứng về tiếp xúc với HCBVTV trong không khí gây ảnh hưởng nghiêm trọng lên sức khỏe con người trừ những nơi mà hóa chất BVTV được sử dụng trong những khu vực bị quây kín, thông khí không được thông thoáng hoặc khi sử dụng ở nồng độ cao [6]
Tác động đến môi trường đất
T h e o t à i l i ệ u [ 6 ] c ó tới 50 % lượng h ó a c h ấ t BVTV được phun
để bảo vệ mùa màng hoặc được sử dụng diệt cỏ đã phun không đúng vị trí c ầ n
p h u n Một vài h ó a c h ấ t BVTV nhóm clo hữu cơ có thể tồn tại trong đất nhiều năm, khó bị phân hủy nên có thể gây ô nhiễm đất lâu dài
Tác động đến môi trường nước
N g u ồ n n ư ớ c có thể bị ô nhiễm bởi việc đổ các h ó a c h ấ t BVTV
thừa sau khi phun xong Đổ nước rửa dụng cụ sau khi phun xuống hồ ao Cây trồng được phun h ó a c h ấ t BVTV, sự rò rỉ, xói mòn từ đất đã xử lý bằng h ó a
c h ấ t BVTV hoặc h ó a c h ấ t BVTV s a l ắ n g từ không khí bị ô nhiễm
3.1.4 Hiện trạng quản lý chất thải trên ruộng chè
Hiện nay, dù đã được nhiều cơ quan chức năng khuyến cáo nhưng công tác quản lý môi trường tại các cánh đồng trồng chè tại xã Tân Cương hầu như chưa có chuyển biến Hiện tượng thải bỏ vỏ bao bì hóa chất BVTV, bao bì phân hóa học
vẫn rất phổ biến (hình 3.6)
Trang 39Trần Thế Long 34 K17-Khoa học Môi trường
Hình 3.3: Rác phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật trên đất chè ở xã Tân
Cương 5/2013
Qua hình ảnh ở trên ta có thể thấy việc quản lý chất thải trên ruộng chè là hoàn toàn bỏ ngỏ, phụ thuộc hoàn toàn vào người dân Nếu ý thức họ tốt thì việc quản lý chất thải trên ruộng chè mới tốt Hiểu đầy đủ về tác dụng của sử dụng h ó a
c h ấ t BVTV thấp Hầu hết mọi người chỉ biết tác dụng h ó a c h ấ t BVTV dùng để diệt sâu bệnh Chính vì vậy người dân thường có suy nghĩ họ phải dùng nhiều thuốc mới có khả năng diệt sâu bệnh, làm cho sâu bệnh chết ngay do vậy họ thường phối hợp từ hai hoặc nhiều loại thuốc Đây là một suy nghĩ không tốt thường có ở người dân Việc phối hợp thuốc có thể gây tương tác làm mất tác dụng của thuốc, mặt khác làm cho sâu bệnh dễ nhờn và kháng với thuốc, đương nhiên giá thành sẽ cao lên Mặt khác các sinh vật có ích bị tiêu diệt, do vậy làm mất cân bằng sinh thái, sâu bệnh ngày càng phát triển hơn; như vậy người dân lại càng dùng thuốc nhiều và mạnh hơn nên càng làm cho môi trường bị ô nhiễm hơn [6]
3.2 HIỆN TRẠNG CHÊ BIẾN CHÈ VÀ CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG Ở LÀNG NGHỀ CHÈ TÂN CƯƠNG
3.2.1 Phương pháp chế biến
Quy trình sản xuất chè xanh
Theo tài liệu [7] chè xanh được chế biến như sau
Kỹ thuật sản xuất chè xanh bằng bằng phương pháp sao
Trang 40Trần Thế Long 35 K17-Khoa học Môi trường
(i) Sao diệt men
- Sử dụng nhiệt độ cao để phá hủy hệ thống enzym có trong nguyên liệu chè
Do đó, đình chỉ sự oxy hóa các chất nhất là tanin, giữ màu xanh tự nhiên và vị chát của nguyên liệu
- Làm bay hơi một phần nước của nguyên liệu, làm giảm áp lực trương nở của tế bào, do đó lá chè trở nên mềm dịu, thuận lợi cho quá trình vò chè
- Làm bay đi mùi hăng ngái của nhiên liệu, bước đầu tạo mùi thơm cho chè xanh
Yêu cầu kỹ thuật
- Diệt men đầy đủ và đều đặn trong khối nguyên liệu, độ ẩm còn lại từ 63% Sau khi sao nguyên liệu có mùi thơm không bị cháy khét và có màu vàng sáng
59 Trên mặt lá hơi dính, mùi hăng mất đi
- Nhiệt độ và thời gian diệt men: nhiệt độ trong khối nguyên liệu 800C, nhiệt
độ của chảo sao là 3500C Ở những điều kiện này thì thời gian sao khoảng 5-6 phút Cần chú ý không đưa nhiệt độ chảo sao lên cao hơn 3500C vì chè dễ bị cháy và sao không đều (do nhiệt độ của khối chè tăng quá đột ngột)
- Lượng nguyên liệu cho vào chảo sao từng mẻ: lượng nguyên liệu cho vào chảo sao phụ thuộc dung tích chảo sao Nếu quá ít so với dung tích chảo sao thì nhiệt độ khối nguyên liệu khó đảm bảo 800C do bị đảo nhiề, nguyên liệu chè tiếp xúc nhiều với chảo nên dễ bị cháy Ngược lại, nếu lượng nguyên liệu quá nhiều so với dung tích chảo thì chè dễ bị diệt men không đều Thực nghiệm cho thấy nếu đường kính chảo 85-95 cm thì lượng nguyên liệu cho vào chảo là 8 kg
(ii) Vò và sàng tơi