1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý bệnh tiên mao trùng do trypanosoma evansi gây bệnh thực nghiệm trên mèo

79 333 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để hạn chế, tiến tới ngăn chặn được bệnh Tiên mao trùng do Trypanosoma evansi thì việc nghiên cứu tìm hiểu rõ nguyên nhân cũng như cơ chế tác động của Tiên mao trùng với vật chủ và nhữn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

- -

HOÀNG THỊ MINH NGUYỆT

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ BỆNH

TIÊN MAO TRÙNG DO TRYPANOSOMA EVANSI

GÂY BỆNH THỰC NGHIỆM TRÊN MÈO

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI – 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

- -

HOÀNG THỊ MINH NGUYỆT

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ BỆNH

TIÊN MAO TRÙNG DO TRYPANOSOMA EVANSI

GÂY BỆNH THỰC NGHIỆM TRÊN MÈO

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ

rõ nguồn gốc Mọi sự giúp đỡ đã được cảm ơn

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Minh Nguyệt

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành tốt chương trình học cũng như đề tài thực tập tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của bản thân tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới gia đình, quý thầy cô và bạn bè đã luôn động viên giúp đỡ tôi trong những học vừa qua và trong suốt quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp này Nhân dịp này cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS

TS Phạm Ngọc Thạch, trưởng bộ môn Nội chẩn - Dược - Độc chất, khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ và chỉ bảo tận tình trong suốt thời gian tôi thực hiện đề tài Tôi cũng chân thành cảm ơn quý thầy

cô trong bộ môn Nội chẩn – Dược – Độc chất, khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực tập Qua đây cho tôi được gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu trên !

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Minh Nguyệt

Trang 5

1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu Tiên mao trùng, bệnh Tiên mao trùng do

1.1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu Tiên mao trùng trên thế giới 31.1.2 Sơ lược lịch sử nghiên cứu Tiên mao trùng ở Việt Nam 4

1.3.1 Vị trí của Tiên mao trùng trong hệ thống phân loại động vật 6

1.4.1 Triệu chứng bệnh Tiên mao trùng do Trypanosoma evansi gây ra ở

1.5 Một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu trâu, bò nhiễm Tiên mao trùng do

Trang 6

1.7 Những nghiên cứu về dịch tễ học bệnh Tiên mao trùng 18

1.7.2 Những nghiên cứu về loài động vật mắc bệnh Tiên mao trùng 191.7.3 Các nghiên cứu về côn trùng môi giới truyền bệnh Tiên mao trùng 20

1.8.2.1 Phương pháp phát hiện Tiên mao trùng trực tiếp 221.8.2.2 Phương pháp tập trung Tiên mao trùng 221.8.2.3 Phương pháp tiêm truyền động vật thí nghiệm 221.8.2.4 Phương pháp chẩn đoán huyết thanh học 231.8.2.5 Phương pháp phát hiện ADN của Tiên mao trùng bằng

phản ứng PCR (Polymerase Chain Reaction) 241.9 Một số nghiên cứu về phòng trị bệnh Tiên mao trùng 241.10 Xây dựng và thực hiện quy trình phòng bệnh Tiên mao trùng cho

2.3.1 Kiểm tra đặc tính gây bệnh của Trypanosoma evansi ở mèo sau

Trang 7

2.3.5 Kiểm tra tổn thương bệnh lý ở mèo sau gây nhiễm Trypanosoma

2.5.2 Các phương pháp tiến hành phát hiện Tiên mao trùng 29 2.5.3 Xác định một số chỉ tiêu lâm sàng, bệnh tích đại thể của mèo

2.5.4 Theo dõi một số chỉ tiêu sinh lý máu mèo sau khi gây nhiễm

2.5.5 Theo dõi một số chỉ tiêu sinh hóa máu của mèo sau khi gây

3.1 Theo dõi đặc tính gây bệnh của Trypanosoma evansi trong máu mèo

3.2 Các biểu hiện lâm sàng ở mèo sau gây nhiễm Trypanosoma evansi 33

3.3 Thân nhiệt, tần số hô hấp, tần số tim mạch của mèo sau gây nhiễm

3.3.2 Tần số hô hấp của mèo sau gây nhiễm Trypanosoma evansi 37

3.4 Một số chỉ tiêu sinh lý máu ở mèo sau gây nhiễm T.evansi 39

3.4.3 Thể tích bình quân của hồng cầu mèo sau gây nhiễm T.evansi 413.4.4 Hàm lượng huyết sắc tố, lượng huyết sắc tố trung bình của hồng cầu 42

Trang 8

3.4.4.2 Lượng huyết sắc tố trung bình của hồng cầu 43

3.5 Một số chỉ tiêu sinh hóa máu ở mèo sau gây nhiễm T.evansi 50

3.5.3 Protein tổng số và các tiểu phần protein trong huyết thanh 53

3.5.3.2 Các tiểu phần protein trong huyết thanh 54

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Sự phát triển của Tiên mao trùng do Trypanososma evansi

Bảng 3.2 Biểu hiện lâm sàng của mèo sau gây nhiễm T.evansi 34 Bảng 3.3 Thân nhiệt, tần số hô hấp, tần số tim mạch của mèo sau gây

Bảng 3.4 Số lượng hồng cầu, tỷ khối hồng cầu, thể tích bình quân

Bảng 3.5 Hàm lượng huyết sắc tố và lượng huyết sắc tố trung bình của

Bảng 3.6 Số lượng bạch cầu và công thức bạch cầu ở mèo sau gây nhiễm

Bảng 3.7 Hàm lượng đường huyết và độ dự trữ kiềm trong máu mèo 51

Bảng 3.8 Hàm lượng Protein huyết thanh và các tiểu phần protein huyết

thanh của máu mèo sau gây nhiễm T evansi 56 Bảng 3.9 Bệnh tích đại thể của mèo được gây nhiễm Tiên mao trùng

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.4: Mèo mắc T.evansi có biểu hiện triệu chứng thần kinh 57

Hình 3.7: Các xoang trong cơ thể mèo mắc T.evansi tích nước 58

Hình 3.8: Phổi mèo mắc T.evansi sưng, xuất huyết, nhục hóa 58

Hình 3.11: Thận mèo GN T.evansi sưng, xuất huyết lấm tấm 58

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của xã hội, trâu, bò ít được sử dụng vào mục đích cày kéo, nhưng nhu cầu sử dụng thịt, sữa, da, sừng, lại ngày một tăng cao thúc đẩy đàn trâu, bò không ngừng tăng nhanh về số lượng mà còn cả

về chất lượng Tuy nhiên ngành chăn nuôi trâu, bò vẫn gặp nhiều khó khăn, bên cạnh các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm thì các bệnh ký sinh trùng vẫn tồn tại gây tác động xấu tới vật nuôi Chúng thường làm giảm khả năng sinh trưởng và phát triển, giảm chất lượng thực phẩm, phẩm chất da lông, giảm sức cày kéo, giảm sản lượng sữa,

Bệnh Ký sinh trùng thường không gây chết ngay mà thường dai dẳng làm con vật gầy còm ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng vật nuôi Chính vì bệnh thường biểu hiện dạng mạn tính, dai dẳng nên người ta thường ít quan tâm đến nó Trên thực tế bệnh ký sinh trùng đã gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi đặc biệt là bệnh ký sinh trùng đường máu Trong những năm 1960 - 1970, cứ qua vụ Đông Xuân giá rét, các tỉnh đồng bằng và trung du Bắc bộ mỗi năm có khoảng từ 15 đến

20 nghìn trâu bò chết do bệnh Tiên mao trùng Các địa phương thường gọi là trâu

bò đổ ngã vụ Đông Xuân hoặc "trâu ngã nước" vì bệnh này thường nhập trâu bò từ trung du và miền núi về đồng bằng Theo điều tra của Viện thú y Quốc gia, thì tỷ lệ

bò vùng đồng bằng có tỷ lệ nhiễm bệnh khoảng 10 đến 15%

Bệnh tiên mao trùng trâu, bò (Trypanosomiasis) là bệnh ký sinh trùng đường máu do Trypanosoma evansi gây ra Chúng tiết độc tố Trypanotoxin vào máu Loài ruồi, mòng là các môi giới trung gian truyền mầm bệnh Trypanosoma evansi, khi vào cơ thể gia súc chúng sinh sản nhanh, làm vỡ hồng cầu, con vật bị

thiếu máu trầm trọng, làm thay đổi một số chỉ tiêu huyết học, ảnh hưởng đến chức năng sinh lý Chúng làm mức tăng trưởng giảm, sức đề kháng của cơ thể yếu đi tạo

cơ hội cho một số bệnh truyền nhiễm kế phát Trâu, bò ở mọi lứa tuổi đều có thể

bị bệnh, ảnh hưởng rất lớn đến sức sản xuất của đàn trâu bò

Trang 12

Theo số liệu của Phạm Sỹ Lăng (1982), Phan Địch Lân và cộng sự (2004),

Phan Văn Chinh (2006), bệnh Tiên mao trùng do Trypanosoma evansi xuất hiện ở

nhiều vùng chăn nuôi trên cả nước với tỷ lệ mắc khá cao: trên trâu là 13 - 30%, bò

là 7 - 14%, trong đó tỷ lệ gia súc chết/gia súc mắc bệnh lên tới 6,3 - 20%

Trypanosoma evansi có khả năng gây nhiễm cao cho nhiều loài động vật kể cả

các động vật thí nghiệm như thỏ, chuột

Ở nước ta việc nghiên cứu sự biến đổi các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa trên cơ thể

động vật cảm nhiễm Trypanosoma evansi còn chưa được quan tâm nhiều bởi chi

phí thực hiện trên trâu, bò rất cao và khó kiểm soát Để hạn chế, tiến tới ngăn chặn

được bệnh Tiên mao trùng do Trypanosoma evansi thì việc nghiên cứu tìm hiểu rõ

nguyên nhân cũng như cơ chế tác động của Tiên mao trùng với vật chủ và những rối

loạn bệnh lý của vật chủ khi nhiễm Trypanosoma evansi là rất quan trọng Xuất

phát từ thực tiễn trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý bệnh Tiên mao trùng do Trypanosoma evansi gây bệnh thực nghiệm trên mèo”

2 Mục tiêu của đề tài

- Xác định được đặc tính gây bệnh của Trypanosoma evansi trên mèo gây

bệnh thực nghiệm

- Xác định được những biến đổi bệnh lý của mèo được gây nhiễm

Trypanosoma evansi

* Mục đích sau nghiên cứu của việc gây bệnh Trypanosoma evansi trên

mèo nhằm giữ giống Tiên mao trùng phục vụ cho các nghiên cứu khác trên trâu, bò

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu Tiên mao trùng, bệnh Tiên mao trùng do

Trypanosoma evansi

1.1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu Tiên mao trùng trên thế giới

Trypanosoma đã được các nhà khoa học phát hiện rất sớm: năm 1837, Done phát hiện một loài Trypanosoma trong ruột người, năm 1841 Valetin tìm ra con trùng roi (Trypanosoma) đầu tiên trong máu một loài cá Sau đó nhiều loài Tiên

mao trùng khác đã được phát hiện trong máu nhiều loài động vật, trong các loài

được phát hiện thì loài Trypanosoma evansi ký sinh, gây bệnh cho động vật đóng vai trò đặc biệt quan trọng

Năm 1843, Gruby đã phát hiện thấy con Tiên mao trùng trong máu ếch, đặt

tên là Eryganosoma sanguinis Tiếp sau đó nhiều loài Tiên mao trùng khác thuộc giống Trypanosoma Gruby lần lượt được phát hiện ký sinh, gây bệnh cho động vật

có vú và người

Đến năm 1880, Griffilt Evans tìm thấy loài Tiên mao trùng gây bệnh trong máu ngựa và lạc đà ở bang Punjap - Ấn Độ Nó được xác định là một thủ phạm gây

ra bệnh chung cho ngựa, la, lạc đà, trâu ở Ấn Độ được gọi chung là bệnh "Sura"

Năm 1885, Steel phát hiện ra Trypanosoma trong máu la Miến Điện, mô tả hình thái ký sinh trùng, đặt tên Spirochaete evansi sau đổi thành Trypanosoma evansi (T.evansi)

Một năm sau (1886), Branchard cũng thông báo tìm thấy Tiên mao trùng trên máu của loài la nhập nội vào Bắc bộ Việt Nam Tác giả mô tả rất tỷ mỉ hình thái ký sinh trùng và những biểu hiện lâm sàng trên vật mắc bệnh

Năm 1906, Lavera và Mesnil trong tác phẩm kinh điển nói về Tiên mao

trùng, những bệnh do Tiên mao trùng (Trypanosoma và Trypanosomiasis - Paris 1911) đã trình bày về bệnh lý học do Trypanosoma evansi gây ra cho các loài động vật, vai trò ký chủ trung gian của một loài ruồi hút máu họ Stomoxydinae, loài mòng

họ Tabanidae

Trong khoảng thời gian từ 1885 đến 1920, nhiều bệnh ở gia súc và dã thú tương

Trang 14

tự như bệnh "Sura" lưu hành ở nhiều nước trên thế giới với nhiều tên gọi khác nhau như: bệnh "Eldebab", bệnh "Tahaga" của lạc đà An-giê-ri và Ni-giê-nia, bệnh "Zousifana" của ngựa, chó các nước ở nam sa mạc Sahara Bệnh "Su-rusu" của lạc đà ở tây nam Liên Xô Bệnh " Muvina" của ngựa ở Trung Mỹ Bệnh "Dịch tả boba", bệnh "Desangadera" của ngựa, chó ở Vê-nê-zua-la Bệnh đau mông " Mal da cadera" ở ngựa, la các nước Nam Mỹ Đã được các nhà khoa học nghiên cứu, tìm ra nguyên nhân Đó là những Tiên mao

trùng có hình thái, tính chất sinh học gần giống như Trypanosoma evansi được đặt nhiều tên khác như Trypanosoma hippicum, Trypanosoma equinum, Trypanosoma vietnamense, Trypanosoma soudanense, Trypanosoma ninae Kohl-Yakimovi,

Trypanosoma berberum, Trypanosoma venezualense

Mãi sau này, Hoare, nghiên cứu lịch sử phát triển, hình thái, tính chất sinh vật học của Tiên mao trùng trên đã đi đến kết luận: " Tất cả các loài Tiên mao trùng đều có những chủng gốc châu Âu, châu Phi, châu Á, châu Mỹ của một loài duy nhất

là Trypanosoma evansi"

Tổ chức dịch tễ thế giới (OIE) đã thông báo hiện nay có 7 loài Tiên mao

trùng gây bệnh cho động vật có vú và người là: Trypanosoma evansi, Trypanosoma vivax, Trypanosoma brucei, Trypanosoma congolence, Trypanosoma gambiense, Trypanosoma simiae, Trypanosoma cruzi Trong số các loài kể trên thì

Trypanosoma evansi là loài phổ biến nhất, phân bố ở khắp nơi trên thế giới, gây bệnh cho hầu hết các loài động vật có vú trừ người, chiếm ưu thế ở vùng cận đông, châu Á và châu Mĩ la tinh

1.1.2 Sơ lược lịch sử nghiên cứu Tiên mao trùng ở Việt Nam

Ở nước ta, bệnh Tiên mao trùng do Trypanosoma evansi gây nên được phát

hiện đầu tiên và sớm nhất trong số các bệnh do đơn bào gây ra cho gia súc ở nước

ta Năm 1886, Blanchard phát hiện ra Tiên mao trùng đầu tiên trong máu của la

nhập nội vào miền Bắc Việt Nam và ông đặt tên cho loài này là Tannamese laveran, sau đổi thành Trypanosoma evansi Tiếp đó ở Nha Trang cũng tìm thấy Tiên mao

trùng, sau đó lần lượt cở các tỉnh như: Hà Tuyên

Năm 1906, Bodin thấy ngựa ở Nam Định bị mắc bệnh Trypanosoma evansi

Cùng năm đó Brau nghiên cứu triệu chứng bệnh ở bò, ngựa vùng Sài Gòn

Trang 15

Năm 1911, một ổ dịch làm chết nhiều ngựa ở hang Hít (Thái Nguyên), nhiều trường hợp chết tại chuồng ngựa của Công ty Khai thác rừng Hà Nội

Từ năm 1922 - 1926 ở Nam Bộ ngựa, chó mắc bệnh Tiên mao trùng đã chết hàng trăm con

Năm 1925, bệnh Tiên mao trùng xảy ra ở hầu hết các tỉnh Bắc bộ như Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Lai Châu, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lào Cai, Sơn La, Bắc Giang, Băc Ninh, Phú Thọ, Hà Đông, làm chết hàng trăm ngựa, bò

Theo Phạm Sĩ Lăng (1995) đến nay ba loài Tiên mao trùng ký sinh ở động vật có vú đã được tìm thấy ở nước ta:

Trypanosoma evansi steel 1885

Trypanosoma theileri Laveran 1902

Trypanosoma newisi kant 1880

Ở Việt Nam hiện nay, bệnh Tiên mao trùng do Trypanosoma evansi gây ra

rất phổ biến ở các tỉnh miền núi phía bắc như: Thái Nguyên, Bắc Cạn, Hòa Bình, Cao Bằng, Ninh Bình, Sơn La, Lạng Sơn

1.2 Nguyên nhân gây bệnh Tiên mao trùng ở trâu, bò

Theo Trịnh Văn Thịnh (1982), hàng năm khi mùa đông tới trâu, bò ở các tỉnh miền Bắc nước ta thường bị đổ ngã Theo dõi ở các tỉnh Trung du miền núi thấy hàng năm trâu, bò vẫn bị chết, tỷ lệ chết phụ thuộc vào thời tiết năm đó, giá rét kéo dài trâu, bò chết càng nhiều, làm ảnh hưởng đến sức cày kéo, thiệt hại to lớn về kinh

tế cho nông dân Để hạn chế, tiến tới ngăn chặn được bệnh Tiên mao trùng, các nhà nghiên cứu ký sinh trùng phải tìm hiểu nguyên nhân gây chết ở trâu, bò Đàn trâu,

bò ở miền núi có mang trùng, trong điều kiện thức ăn đầy đủ chúng vẫn khỏe mạnh Khi chuyển về các tỉnh đồng bằng do làm việc nặng nhọc, thức ăn quá thiếu thốn, gặp thời tiết giá rét, thể trạng suy yếu dần, dẫn đến sức đề kháng giảm, vì thế

T.evansi có điều kiện phát triển, làm cho trâu từ thời kì mang bệnh T.evansi trở

thành thời kì phát bệnh, chết hàng loạt Với triệu chứng cước chân, có hiện tượng trâu tiêu chảy, trâu ngã nước có liên quan đến bệnh Tiên mao trùng Khi xét nghiệm bệnh Tiên mao trùng ở những hợp tác xã có trâu, bò chết nhiều, thấy tỷ lệ nhiễm từ 3,5 đến 7% Tác giả kết luận: nguyên nhân trâu chết trong vụ đông xuân ở vùng

Trang 16

đồng bằng sông Hồng là do thức ăn thiếu nghiêm trọng, chế độ dinh dưỡng quá kém, làm việc nhiều, giá rét là điều kiện để Tiên mao trùng phát triển gây tác hại cho trâu, bò

Trịnh Văn Thịnh (1982), Phạm Sỹ Lăng (1982), trong quá trình nghiên cứu

bệnh Tiên mao trùng và đi đến, kết luận: Trypanosoma evansi tác nhân gây bệnh

Tiên mao trùng, là một trong những tác nhân gây thiệt hại cho đàn trâu, bò ở nước

ta Trypanosoma evansi là nguyên nhân chủ yếu gây bệnh, kết hợp với một số

nguyên nhân khác như các bệnh truyền nhiễm, sán lá gan, thức ăn thiếu nghiêm trọng, làm quá nặng nhọc, giá rét kéo dài đã làm cho trâu đổ ngã hàng loạt trong vụ đông xuân

1.3 Một số đặc điểm và phân loại Tiên mao trùng

1.3.1 Vị trí của Tiên mao trùng trong hệ thống phân loại động vật

Loài : Trypanosoma evansi

Giống Trypanosoma bao gồm rất nhiều loài đã được phát hiện ở động vật có

xương sống thuộc lớp cá, lớp bò sát, lớp ếch, lớp động vật có vú, lớp chim Việc phân biệt các loài Tiên mao trùng của các lớp động vật khác nhau thì tương đối dễ Nhưng việc phân biệt các loài Tiên mao trùng trong lớp động vật có vú thì phức tạp hơn nhiều

Phạm Sỹ Lăng (1982), cho biết: 1943 Neveu - Lemarie, đã chia các loài

thuộc giống Trypanosoma ký sinh ở động vật có vú và người thành năm nhóm căn

cứ theo đặc tính hình thái học, sinh vật học của chúng Các nhóm đó là nhóm Lewisi, nhóm Evansi, nhóm Vivax, nhóm Congolense, nhóm Brucei

Trang 17

Theo đề nghị của Lapage, nhóm Evansi thuộc nhóm Brucei gồm bảy loài, nhóm này lại chia làm ba nhóm phụ, nhóm phụ Suis có một loài Trypanosoma suis, nhóm phụ Evansi có 4 loài Trypanosoma brucei, Trypanosoma evansi, Trypanosoma gambiense, Trypanosoma rhodesiense

1.3.2 Đặc điểm hình thái của Trypanosoma evansi

Chen Quijun (1992) cho biết T.evansi được xếp vào loại đơn hình thái Trypanosoma evansi hình suốt chỉ hay hình thoi, ở giữa có nhân, không có Cytochrome Cuối thân có kinetoplast và kinetosome, màng rung động rộng, gấp nếp rõ Trong nguyên sinh chất có những hạt nhỏ bắt màu trắng

Vickerman, K (1974) cho biết: về cơ bản cấu tạo của các loài Tiên mao trùng

của họ Trypanosomatidae giống nhau Tế bào có hình con suốt là nhờ các vi ống

xếp song song nằm dọc theo chiều dài dưới màng tế bào Chuyển động liên tục của Tiên mao trùng được hoạt hóa bởi một cái roi bắt nguồn từ thể cơ động Ở chỗ cái roi nhập vào thân tế bào có một chỗ lõm trên bề mặt tế bào gọi là túi roi Chính phần này của tế bào là nơi thực hiện chủ yếu các quá trình bài tiết, quá trình hấp thu các chất dinh dưỡng của Tiên mao trùng

Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996) T.evansi là

loại ký sinh trùng ký sinh bên ngoài hồng cầu, có hình thoi, dài 18 - 34µm giữa thân

có một roi nguồn từ thể hình roi, cách đuôi T.evansi khoảng 1,5µm Roi này chạy

dọc thân, tạo thành nhiều màng ngăn rung động, cuối cùng roi này lơ lửng ở phần

đầu thành roi tự do dài 6µm Nhờ có roi màng rung động mà Trypanosoma evansi

chuyển động được trong máu động vật Tiêu bản máu nhuộm Giemsa, nguyên sinh

chất của T.evansi bắt màu xanh nhạt Nhân bắt màu hồng, Tiên mao trùng ký sinh

trong máu hoặc ở một số tổ chức của động vật có xương sống, được truyền từ động vật này sang động vật khác theo phương thức cơ giới nhờ những côn trùng hút máu

thuộc họ mòng Tabanidae, họ ruồi Stomoxydinae Trypanosoma evansi được xếp

vào loại đơn hình thái (Monomorpha) Kilick-Kendrick, R (1964), đã gặp những thể

bị biến mất thể cơ động (diskinetoplas) Sau khi sử dụng thuốc điều trị Berenil,

Prothidium, Trypanosoma evansi khó nuôi cấy trong môi trường, những thay đổi

tính kháng nguyên mất độc lực, không gây bệnh cho cả những động vật dị cảm Một

Trang 18

số loài Tiên mao trùng có thể quan sát thấy nhiều hình thái trong quá trình phát triển

ở ký chủ trung gian, ký chủ cuối cùng Hình thái Tiên mao trùng thường gặp là:

1 Thể Crithidia: thể cơ động ở trước, gần thân, từ thể cơ động xuất phát

một roi, giới hạn một màng rung động ngắn, roi tự do ở phía trước

2 Thể Leptomonas: thể cơ động hoàn toàn ở phía trước, từ thể cơ động xuất

hiện một roi tự do, không có màng rung động

3 Thể Leishmania: hình bầu dục hay hình cầu có một nhân to, một bào tử thể

hình gậy, từ đó xuất phát mội cái roi chưa thành hình kết thúc ở giữa thân

4 Thể Trypanosoma: trong côn trùng có hình dạng bình thường, nhưng có roi

dính vào thân, chạy thẳng lên phía trước, không tạo thành màng rung

1.3.3 Đặc điểm cấu trúc của Trypanosoma evansi

Cấu trúc của T.evansi cũng giống như các loài Tiên mao trùng khác thuộc họ Trypanosomadiae, từ ngoài vào trong được chia thành 3 phần chính:

+ Vỏ: ngoài cùng là lớp vỏ dày 10 - 15 nm, vỏ được chia làm 3 lớp (lớp ngoài và lớp trong cùng tiếp giáp với nguyên sinh chất dầy hơn lớp giữa) Lớp vỏ ngoài cùng được cấu tạo từ các phân tử glycoprotein luôn biến đổi (Vanant Glycoprotein Surface - VGS) Tiếp giáp với lớp trong cùng là 9 cặp vi ống xếp song song dọc theo chiều dài thân Tiên mao trùng Chính nhờ sự sắp xếp của các cặp vi ống nên Tiên mao trùng có dạng hình suốt chỉ mảnh (Hoare, 1972; Phạm Sỹ Lăng, 1982; Nguyễn Quốc Doanh,1998)

+ Nguyên sinh chất: gồm lớp trong và lớp ngoài Trong nguyên sinh chất có chứa các nội quan: ribosome có màu thẫm xen kẽ vùng không bào màu sáng, kinetoplast 244 (thể cơ động), mitochrondno, reticulum (lưới nội bào) và mạng lưới golgi

+ Nhân: nhân Tiên mao trùng có chứa ADN, hình bầu dục hoặc hình trứng Nhân thường nằm ở vị trí trung tâm hoặc gần vị trí trung tâm cơ thể Ngoài nhân, vế phải cuối thân còn có thể kinetoplast chứa AND (KADN) Từ kinetoplast có một roi chạy vòng quanh thân lên đầu và ra phía ngoài cơ thể thành một roi tự do Roi của Tiên mao trùng có lớp vỏ ngoài cùng giống lớp vỏ của thân Trong roi có 9 cặp vi ống ở xung quanh và một cặp ở trung tâm, xếp song song dọc chiều dài roi (Hoare,

Trang 19

1972; Nguyễn Quốc Doanh, 1998)

Hình 1.1: Cấu tạo của Trypanosoma evansi

A Roi; B tổ hợp cytoskeleton; C Nhân; D Mitochondrion; E Thể cơ động kinetoplast; F Thể đặc; G túi tiên mao; H phần thân chính; 1 Golgi;

J Lưới nội sinh chất; K màng rung; L Chỗ tiếp xúc roi với màng rung;

M chỗ tiếp xúc roi với thân

1.3.4 Một số đặc điểm sinh học của Tiên mao trùng

Theo Phan Địch Lân, Tiên mao trùng sống trong máu (huyết tương, ngoài hồng cầu) Tiên mao trùng sống trong máu nhiều loài động vật như trâu, bò, ngựa, chó, mèo, lạc đà, voi, hươu, hoẵng, thỏ, chuột cống, chuột lang, chuột bạch

Tiên mao trùng sinh sản bằng cách trực phân theo chiều dọc Đầu tiên, nó tăng thể tích, thể cơ động phân chia, rồi nhân phân chia hình thành roi mới Lúc này Tiên mao trùng có thể tách ra thành 2 hoặc 4 con mới Trong thời gian sống trong

máu nó tiết ra độc tố Trypanotoxin tác động vào các cơ quan nội tạng của con vật và

gây những biến đổi bệnh lý

Theo Chard, K, Sinett, R P , Tiên mao trùng có thể nuôi cấy được trong môi trường NNN (Novy MeNeal and Nicole) Ngoài ra Tiên mao trùng có thể nuôi cấy

trong bào thai gà, môi trường dịch tổ chức, Trypanosoma evansi rất khó nuôi cấy

trong môi trường, trong một số điều kiện đặc biệt chúng có thể phát triển trong môi trường, nhưng nó thay đổi tính kháng nguyên, mất độc lực, không gây bệnh cho các

động vật dị cảm, đặc tính này đã được dùng để phân biệt với loài Trypanosoma brucei, đây là loài rất khó phân biệt với Trypanosoma evansi về hình thái, khả năng

gây bệnh

Theo Toure, S.M , T.evansi nuôi cấy trong phòng thí nghiệm không có kết quả, nuôi cấy ở nhiệt độ thấp T.evansi có hình dạng tương tự như đang phát triển đã

Trang 20

tìm thấy ở ruồi Tse tse Trypanosoma evansi không có khả năng gây nhiễm cho động vật khi nuôi cấy Những chủng đơn hình thái của Trypanosoma brucei bị mất

khả năng phát triển trong ký chủ trung gian cũng không nuôi cấy được

1.4 Những nghiên cứu về bệnh lý lâm sàng của vật chủ

1.4.1 Tri ệu chứng bệnh Tiên mao trùng do Trypanosoma evansi gây ra ở trâu, bò

Theo Phạm Sỹ Lăng (1982), đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm theo dõi các triệu chứng lâm sàng của bệnh Tiên mao trùng trên trâu, bò Triệu chứng lâm

sàng của bò nhiễm T.evansi ở thể cấp tính: sốt cao, gián đoạn, thiếu máu, suy

nhược, chảy nước mắt, bại liệt chân sau, thủy thũng dưới mõm, ức, phần bụng sau,

đôi khi bị kéo dài tới 6 tháng Một số trường hợp bò nhiễm Trypanosoma evansi thể

cấp tính chết nhanh, chỉ trong vòng vài ngày

Theo Verma, B.B Gautam, O.P (1988), cho biết trâu, bò nhiễm

Trypanosoma evansi thể hiện rất rõ trạng thái bệnh lý, chết trong khoảng 22 - 96

ngày sau khi gây nhiễm Một số bò lại khỏi bệnh tự nhiên trở thành vật mang trùng

Ở nước ta, Phạm Sỹ Lăng (1982), Hồ Văn Nam (1963), Đoàn Văn Phúc (1985), Trịnh Văn Thịnh (1982), cũng đã phát hiện thấy trâu bị bệnh cấp tính rất nặng, sốt cao,

bỏ ăn, điên loạn, chết nhanh Trâu nhiễm bệnh thể mãn tính thường sốt gián đoạn, gầy còm, thiếu máu kéo dài, viêm giác mạc, phù thũng ở bụng, liệt chân sau, chết do kiệt sức Đối với bệnh Tiên mao trùng ở bò có những biểu hiện lâm sàng gần giống như ở trâu, ít thấy các trường hợp cấp tính, con vật sốt gián đoạn, chậm chạp, hạch lâm ba trước đùi sưng, một số con thủy thũng ở vùng hàm, vùng cổ nhưng không đau, gần chết thì bại liệt

Nguyễn Văn Duệ và cs (1995), quan sát triệu chứng lâm sàng của bò nhiễm bệnh Tiên mao trùng miêu tả như sau: một số bò nhiễm bệnh Tiên mao trùng cơ thể gầy còm, tiêu chảy dai dẳng, niêm mạc nhợt nhạt, chảy nước mắt, nước mũi liên tục, viêm kết mạc, giác mạc, có hiện tượng thủy thũng, bại liệt chân sau Bò thường sốt ngắt quãng, sốt rất cao vào buổi sáng, niêm mạc nhợt nhạt, lông xù, đi khập khiễng đôi lúc còn có triệu chứng thần kinh, run rẩy, sẩy thai, lồng lên trước khi chết Ở ngựa bệnh thường thể hiện cấp tính, rất nặng so với trâu, bò, sốt cao, phù thũng ở dịch hoàn, trước ngực, chân bại liệt nặng nhưng vẫn ăn cho đến khi chết

Trang 21

Bùi Quý Huy và cs (1998), điều tra và nghiên cứu nguyên nhân gây sẩy thai ở đàn Trâu sữa nhập từ Ấn Độ thuộc nông trường Trâu sữa Phùng Thượng tỉnh Ninh Bình và cho biết: Nguyên nhân chính gây sẩy thai ở đàn Trâu sữa nhập từ Ấn Độ

thuộc nông trường Trâu sữa Phùng Thượng tỉnh Ninh Bình chính là do Trypanosoma evansi gây ra

Khi điều tra và nghiên cứu hiện tượng Trâu bò chửa bị sẩy thai nhiều trên đàn Trâu thuộc huyện Kỳ Sơn, Đà Bắc- Hòa Bình vào năm 1991, Lương Tố Thu và

cs (1994) đã đưa ra kết luận: Nguyên nhân chính của hiện tượng Trâu bò chửa bị

sẩy thai là do Trypanosoma evansi

1.4.2 Bệnh tích của bệnh Tiên mao trùng trâu, bò

T.evansi ký sinh trong máu gây cho gia súc một thể bệnh toàn thân Trong quá trình ký sinh, T.evansi lấy các chất dinh dưỡng trong máu, thải ra các chất cặn

bã, các chất này là độc tố cho cơ thể, khi T.evansi bị tiêu tan cũng là những chất độc, chất độc do T.evansi thải ra các tác giả gọi là Trypanotoxin Độc tố theo máu đi

khắp cơ thể, tác động lên các nội quan của vật bệnh, đặc biệt là hệ thống tuần hoàn, gây ra một số bệnh tích đặc biệt

Morales, G.A Caraenore (1976), đã quan sát thấy động vật mắc bệnh Tiên mao trùng có các bệnh tích như: thể trạng gầy, bao tim có dịch vàng, tràn dịch màng phổi, lách gan sưng to, màu nhạt hoặc tụ huyết trùng theo giai đoạn phát triển của bệnh

Hồ Văn Nam (1963), cùng các tác giả khác cũng thấy những bệnh tích đặc

trưng ở trâu nước ta khi mắc bệnh do Trypanosoma evansi Ở những trâu, bò chết

do Trypanosoma evansi thường bị thủy thũng ở ức (có dịch màu vàng lầy nhầy), thịt

nhão chứa nhiều nước, trong xoang bụng, xoang ngực có dịch màu vàng chanh, gan sưng to, có khi cứng lại, có màu xám nhạt, cơ tim nhão, đáy thủy thũng

1.5 Một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu trâu, bò nhiễm Tiên mao trùng do

Trang 22

cho biết: số lượng hồng cầu của trâu trưởng thành bình quân 6,7 triệu/mm3, hàm lượng hemoglobin 9,5 g%, số lượng bạch cầu 13-15 nghìn/mm3 Công thức bạch cầu: bạch cầu ái kiềm 0,5%, bạch cầu ái toan 4,5%, bạch cầu đa nhân trung tính 40%, lâm ba cầu 52%, bạch cầu đơn nhân 3% Số lượng bạch cầu thay đổi theo điều kiện địa lý, khí hậu, giống, tuổi, tính biệt, mùa vụ trong năm

Tốc độ huyết trầm của máu trâu trung bình 3,58 ± 0,12, mùa hè tốc độ lắng máu nhanh hơn mùa đông Sức đề kháng tối đa, tối thiểu của hồng cầu là 0,438 ± 0,003 và 0,637 ± 0,003% NaCl

Protein huyết thanh ở trâu tăng theo tuổi, cao nhất giai đoạn 8 - 10 tuổi: 6,26

- 8,12 Bằng phương pháp điện di trên giấy phân tích protein huyết thanh thành 4 thành phần: albumin, α globulin,β globulin, γ globulin ở một số trường hợp khác α globulin lại tách ra làm hai phần nhỏ khác nhau về tốc độ nhuộm màu

Theo Lê Doãn và cs (1978), lượng Protein huyết thanh theo các khoảng thời gian trong ngày là tương đối ổn định

Theo Đái Duy Ban (1980), sự thay đổi các chỉ tiêu sinh lý, huyết học, đặc biệt là các chỉ tiêu về số lượng và chất lượng hồng cầu, các chỉ tiêu protein huyết thanh là triệu chứng của suy dinh dưỡng, thiếu máu và tổn thương gan do các bệnh truyền nhiễm, ký sinh trùng gây ra cho động vật

Hồ Văn Nam và cs (1984); Nguyễn Thị Đào Nguyên (1993) đã nghiên cứu hàm lượng các chất vô cơ: canxi, photpho, natri, kali, clo trong máu trâu, tỷ khối hồng cầu khi trâu, bò bị Tiên mao trùng cho biết các chỉ tiêu về chất lượng hồng cầu đều thay đổi, sức kháng hồng cầu giảm, hàm lượng protein huyết thanh trâu bệnh rất thấp, lượng huyết đường huyết thấp, albumin và tỷ lệ A/G giảm, β globulin, γ globulin tăng, hàm lượng bilirubin toàn phần trong huyết thanh tăng Những số liệu trên nói lên tình trạng chức năng gan bị rối loạn do tác động của nguyên nhân gây bệnh

Takarhede M.L et al (1993), đã cho biết: ở gia súc nhiễm Trypanosoma evansi có số lượng hồng cầu, hàm lượng huyết sắc tố, lympho, bạch cầu kiềm tính

giảm, nhưng lại tăng bạch cầu toan tính, bạch cầu đơn nhân, bạch cầu trung tính

Khi gây nhiễm 107 Trypanosoma evansi / con, cho 4 ngựa ở độ tuổi 4- 6 tuổi

Trang 23

và 35 ngày sau gây nhiễm các tác giả thấy glucoza huyết giảm, tỷ lệ albumin, globulin giảm Không có sự thay đổi về acid lactic, protein toàn phần, potasium trong huyết thanh Tỷ lệ tốc độ huyết trầm 35 - 54% Giảm tỷ khối hồng cầu, tổng

số hồng cầu, bạch cầu trung tính giảm, nhưng tăng tế bào lympho so với trước khi gây nhiễm

Ở nước ta việc nghiên cứu sự biến đổi các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa cơ thể

động vật nhiễm Trypanosoma evansi còn ít Phạm Sỹ Lăng và cs (1974 - 1984), xét nghiệm đàn trâu, bò nhiễm Trypanosoma evansi tự nhiên hay thực nghiệm thấy

số lượng hồng cầu, hàm lượng huyết sắc tố đều giảm Số lượng bạch cầu của trâu,

bò bệnh tăng dần trong quá trình bệnh, nhưng tăng cao nhất vào tháng thứ hai sau gây nhiễm Thành phần các loại bạch cầu tăng không đều Ở trâu, bò bệnh, lympho bào, bạch cầu ái toan đều tăng, bạch cầu đa nhân trung tính giảm Khảo sát các tiểu phần protein trong huyết thanh thấy lượng protein tổng số, albumin giảm rõ rệt, ngược lại α, β, γ globulin đều tăng, chỉ số A/G < 0,5

Theo Nguyễn Quốc Doanh (1998), trâu, bò nhiễm Tiên mao trùng có số lượng hồng cầu trâu giảm còn 4,12 triệu/mm3, hàm lượng huyết sắc tố giảm 8,24%,

bò số lượng hồng cầu giảm còn 4,04 triệu/mm3, hàm lượng huyết sắc tố giảm 8,08%, mức độ giảm còn phụ thuộc vào chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, quá trình tiến triển của bệnh, nhưng số lượng bạch cầu tăng cao

1.6 Những nghiên cứu về miễn dịch Tiên mao trùng

Theo Đặng Đức Trạch và cs (1987), khi có bất kỳ virus, ký sinh trùng xâm nhập vào cơ thể có thể chống lại chất lạ tạo ra miễn dịch cho cơ thể khi chất lạ xâm nhập lần sau Thể hiện dưới hai hình thức đáp ứng miễn dịch: miễn dịch dịch thể và miễn dịch qua trung gian tế bào

Miễn dịch của đơn bào khác với miễn dịch của virus, vi khuẩn Với đơn bào, chúng có đặc tính chung là luôn luôn thay đổi kháng nguyên bề mặt, do vậy khi cơ thể sản xuất kháng thể tương ứng đủ để trung hòa kháng nguyên thì kháng nguyên

bề mặt lại biến đổi tạo ra loại kháng nguyên khác, làm cho cơ thể rất khó tạo ra miễn dịch hoàn toàn bền vững, chống lại đơn bào

Weir, C et al (1986), đã nhận thấy những động vật mẫn cảm, thời gian sinh

Trang 24

kháng thể kháng Tiên mao trùng chậm hơn những động vật ít mẫn cảm, tới khi Tiên mao trùng đã xuất hiện khắp nơi trên cơ thể mà vẫn chưa xuất hiện kháng thể Tiên

mao trùng, khi gây nhiễm Trypanosoma brucei, lần thứ nhất chỉ xuất hiện IgG, gây

nhiễm lần thứ hai mới thấy xuất hiện IgG1, IgG2 Các yếu tố vật lý cũng có vai trò trong kháng bệnh tự nhiên Hàm lượng kẽm trong huyết thanh của loài động vật mẫn cảm cao hơn của loài động vật không mẫn cảm với Tiên mao trùng Giả thiết rằng kẽm tăng quá mức gây cản trở sự hiện diện của kháng nguyên đồng thời kìm hãm kích thích tạo phân chia tế bào lyphocyte ở động vật mẫn cảm

Theo Phạm Sỹ Lăng (1982), những nghiên cứu rõ nhất về miễn dịch học

là sự ứng dụng của các phản ứng huyết thanh học trong chẩn đoán đối với

Trypanosoma evansi Tại trung tâm Thú y nhiệt đới đã xác định lượng IgM, IgG tăng lên trong huyết thanh lạc đà nhiễm T.evansi đã ứng dụng IFAT, ELISA đã

phát hiện kháng thể đặc hiệu trong huyết thanh lạc đà bệnh Các phản ứng này được xem như chính xác hơn các phản ứng chẩn đoán huyết thanh học trước đây (phản ứng Formol, phản ứng Chlorremercure), nhưng chưa được ứng dụng rộng rãi, dụng cụ đắt tiền, công kềnh

Theo Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương (1997), ký sinh trùng ký sinh trong máu kích thích hệ thống miễn dịch của cơ thể gia súc sinh ra kháng thể chống lại ký sinh trùng, kháng thể xuất hiện làm ngưng kết hoặc tiêu tan ký sinh trùng Quá trình này làm giảm sự sinh sôi, hạn chế quá trình phát triển của ký sinh trùng, kháng thể xuất hiện với nồng độ cao làm ký sinh trùng suy yếu có thể gây nên thể mãn tính hoặc gia súc tự khỏi bệnh Qua nhiều nghiên cứu về miễn dịch của ký sinh trùng đường máu, người ta nhận định về đáp ứng miễn dịch của cơ thể, sự lẩn tránh đáp ứng miễn dịch của Tiên mao trùng như sau: đáp ứng miễn dịch không hoàn toàn đối với các loại ký sinh trùng nói chung có tính miễn dịch yếu Điều này không đúng trong trường hợp ký sinh trùng có tính kháng nguyên đầy đủ, nhưng khi ký sinh trong máu của động vật chủ, Tiên mao trùng đã tạo ra một cơ chế cho phép chúng tồn tại trước sự đáp ứng miễn dịch của cơ thể Tuy nhiên, cũng giống các phần tử kháng nguyên khác, Tiên mao trùng có thể kích thích cơ thể sản sinh kháng thể dịch thể, kháng thể tế bào Kháng thể phục vụ chủ yếu việc kiểm soát số lượng

Trang 25

ký sinh trùng tự do trong máu, trong dịch mô, còn kháng thể tế bào có thể trực tiếp chống lại ký sinh trùng ở trong tế bào Kháng thể dịch thể ức chế trực tiếp các kháng nguyên bề mặt của Tiên mao trùng không chuyển động được Kháng thể cùng với chất tiết của thế bào (cytotoxit) có thể giết chết Tiên mao trùng Mặt khác, kháng thế có thể ức chế hoạt động của các men tham gia vào quá trình sinh sản của Tiên mao trùng (sao chép) Song bản thân Tiên mao trùng cũng có cơ chế để chống lại đáp ứng miễn dịch của vật chủ rất mạnh Nhưng cách thức hoạt động của nó chưa được làm sáng tỏ, một số quan điểm cho rằng: Tiên mao trùng cũng

có khởi động sự phát triển của những tế bào ức chế (Supperesser cell) hoặc hệ thống tế bào lympho B Trong khi đó một số nhà nghiên cứu lại cho rằng: Tiên mao trùng giải phóng ra các yếu tố ức chế miễn dịch, Tiên mao trùng còn có 2 phương thức lẩn tránh đáp ứng miễn dịch rất có hiệu quả Thứ nhất là trở thành tính kháng nguyên thấp (hypoantigenis) hoặc không có tính kháng nguyên (nolmmunogenie) Cách thức thứ hai là có khả năng thay đổi kháng nguyên bề mặt

rất mạnh, giữ được kháng nguyên cũ Trypanosoma theilieri ở trâu, bò, Trypanosoma lewisi ở chuột, cả hai loài này đều là Trypanosoma không gây bệnh

Cho nên chúng có thể sống được trong máu của các động vật bị nhiễm Bởi vì chúng được bao phủ bởi một lớp protein huyết thanh của vật chủ, do đó chúng không được nhận biết như là một vật lạ

Trong điều kiện thí nghiệm, Tiên mao trùng phát triển trong môi trường nuôi cấy tế bào, cũng cho ta thấy những trường hợp biến đổi kháng nguyên lẻ tẻ Bằng kính hiển vi điện tử có thể quan sát thấy sự biến đối kháng nguyên, hình thành một lớp bao phủ trên bề mặt của Tiên mao trùng Khi sự thay đổi kháng nguyên xảy ra, các protein ở lớp bao phủ cũ mất đi, được thay thế bởi loại protein có tính kháng nguyên khác Sự phân tích di truyền của quá trình này chỉ ra rằng: Tiên mao trùng

có một số lượng gen rất lớn để chỉ huy tổng hợp loại protein đó, sự biến đổi tính kháng nguyên xảy ra là do kết quả của việc gen sắp xếp lại, chọn lọc

Chính vì những lý do trên, việc chẩn đoán Tiên mao trùng còn gặp nhiều khó khăn nhất là trong thời kỳ Tiên mao trùng không xuất hiện ở mạch máu ngoại vi Bởi vậy, việc tìm ra một phương pháp chẩn đoán chính xác, nhanh nhạy đang là

Trang 26

một vấn đề được các nhà khoa học quan tâm đến Đối với bệnh Tiên mao trùng do

T.evansi gây ra từ lâu một số nhà khoa học có nhận xét: sau một cơn bệnh cấp tính

con vật tiếp tục mang trùng trong nhiều tháng, đến cả nhiều năm, chỉ phát hiện ký sinh trùng khi tiêm cho động vật mẫn cảm

Lê Ngọc Vinh (1992), đã nghiên cứu ứng dụng phản ứng ngưng kết trực tiếp

để chẩn đoán bệnh Tiên mao trùng trâu, bò đạt tỷ lệ phát hiện 80 - 85% lại nhanh, thuận tiện, đồng thời cũng sử dụng qui trình phòng trị bệnh của Trịnh Văn Thịnh (1982) và Phạm Sỹ Lăng (1982), đã công bố cho kết quả tốt

Lê Ngọc Vinh (1992), khi nghiên cứu về bệnh Tiên mao trùng cho biết: trâu

gây nhiễm T.evansi sau 24 đến 30 ngày hàm lượng kháng thể xuất hiện trong máu

cao nhất, giảm dần sau 90 ngày Sau khi điều trị một tuần bằng Trypamidium với

liều 1 mg/kg thể trọng, hàm lượng kháng thể kháng T.evansi vẫn còn cao trong

máu, bắt đầu giảm dần sau từ 2 đến 3 tuần điều trị Bò sau khi điều trị 3 tháng, hàm

lượng kháng thể kháng T.evansi vẫn còn tồn tại trong máu

Lê Ngọc Mỹ (1991 - 1994), Lương Tố Thu và cs (1994), sử dụng kỹ thuật

ELISA phát hiện kháng thể kháng T.evansi trong máu trâu nhiễm T.evansi cho

biết, kháng thể lưu hành được phát hiện trong vòng 7 - 14 ngày sau gây nhiễm Hàm lượng kháng thể trong máu trâu gây nhiễm Tiên mao trùng sau 2 - 5 tuần là cao nhất

Lê Ngọc Mỹ (1991- 1994); Lương Tố Thu và cs (1994); Lê Ngọc Mỹ và cs (2001), đã sử dụng kỹ thuật ELISA để xác định kháng nguyên ở những trâu gây nhiễm thấy rằng, kháng nguyên lưu hành được phát hiện trong vòng 7 - 14 ngày sau khi gây nhiễm 83 ngày sau khi điều trị khỏi bằng Berenil

Lê Ngọc Mỹ và cs (2001) cho biết: bò sau khi nhiễm Tiên mao trùng, hai tuần trong máu xuất hiện kháng thể kháng Tiên mao trùng lưu hành, hàm lượng kháng thể bắt đầu cao dần ở tuần thứ 4 đạt hàm lượng cao nhất ở tuần thứ 7 sau khi nhiễm bệnh Bê sau khi điều trị bệnh Tiên mao trùng bằng Trypamidium với liều 1 mg/kg thể trọng một tuần, hàm lượng kháng thể vẫn còn cao trong máu (0,90%), bắt đầu giảm dần ở tuần thứ hai, tuần thứ ba nhưng vẫn còn tồn tại trong máu kéo dài sau khi điều trị 2 - 3 tháng

Trang 27

Weir, C Et al (1986); Uilenber, G (1988), cho biết: Glycoprotein chịu trách

nhiệm về sự thay đổi tính kháng nguyên của T.evansi Cấu trúc kháng nguyên, đặc

tính, chức năng của Glycoprotein bề mặt là khó hiểu nhất của một kháng nguyên ký

sinh trùng Giai đoạn nhân lên của T.evansi ở trong máu dài hơn, còn giai đoạn Trypamastigote ngắn ngủi Sự nhân lên của T.evansi tiếp tục tới khi ký chủ có kháng nguyên sản sinh kháng thể làm ngưng kết, tiêu tan T.evansi Kháng thể xuất hiện làm số lượng T.evansi giảm tụt xuống T.evansi mới được xuất hiện lần đầu, ngay sau đó T.evansi đợt mới bị kháng thể tiêu diệt, tới khi T.evansi phát triển giai đoạn thứ ba Quá trình phát triển nhịp nhàng của T.evansi, kháng thể của ký chủ đã làm T.evansi suy yếu, trở nên dạng chỉ có thể gây nên thể bệnh mạn tính Chu ký

xuất hiện variants thường là bảy ngày Sự thay đổi tính kháng nguyên là do có sự

thay đổi độ dày chất bề mặt của T.evansi

Phạm Sỹ Lăng và cs (2001) cho biết: khi bị bệnh do T.evansi, gia súc chứa

một lượng lớn kháng nguyên khác nhau, hàng trăm glycoprotein khác nhau về tính kháng nguyên được gây nhiễm một lần Sự khác nhau của glycoprotein bề mặt trong thời gian gây nhiễm là ngẫu nhiên, mặc dầu không phải là tuyệt đối Những sự thay đổi kháng nguyên đặc biệt tạo ra tần số trong những khoảng thời gian có thể

sớm, muộn hay trung bình Khi gây nhiễm T.evansi, trong thời gian xuất hiện kháng thể của ký chủ, T.evansi biến động có lựa chọn hơn là vai trò kích thích của kháng thể Thường có khoảng 104 - 105 kháng nguyên T.evansi khác nhau

Garcia, F and Aso, P.M (1992), khi nghiên cứu trên ngựa gây nhiễm cho biết, ngựa gây nhiễm 106 T.evansi dạng Trypamastigote hai lần, mười ngày gây nhiễm một lần, thời gian đầu mật độ T.evansi giảm xuống, sự ngưng kết có thay đổi, chứng tỏ ký sinh trùng đã sản sinh kháng thể kháng T.evansi

Lê Ngọc Vinh (1992) khi theo dõi về sự biến động kháng thể T.evansi trong

máu động vật gây nhiễm cho biết, trâu gây nhiễm từ ngày 24 - 30 thì nồng độ kháng thể cao nhất, sau 90 ngày kháng thể giảm dần, sau điều trị 4 - 5 tháng kháng thể

không còn trong máu Thỏ gây nhiễm sau 4 - 5 ngày kháng thể T.evansi bắt đầu

xuất hiện, 8 - 15 ngày kháng thể cao nhất, sau 65 ngày kháng thể thấp dần

Theo Turner (1984), lứa tuổi cũng có liên quan đến sức đề kháng bệnh Tiên mao trùng Bê từ hai tháng đến một năm có kháng nguyên sản sinh kháng thể kháng

Trang 28

Tiên mao trùng cao với bò già

Authie, E (1974), cũng cho biết: trong cùng một giống gia súc, sự mẫn cảm của các loài Tiên mao trùng cũng khác nhau Sự gây nhiễm tự nhiên rất quan trọng, thậm chí đến đời thứ ba của động vật mẫn cảm cũng không có kháng nguyên sống sót ở những vùng gây nhiễm nặng

Theo Phan Lục (1996), miễn dịch mang trùng ở bò có thể kéo dài 6 - 10 tháng

số ký sinh trùng ấy chết đi thì con vật lại có thể tái nhiễm Nếu con vật tiếp tục nhiễm bệnh rồi qua khỏi nhiều lần thì sức miễn dịch đó càng được củng cố

1.7 Những nghiên cứu về dịch tễ học bệnh Tiên mao trùng

1.7.1 Phân bố địa lý của Tiên mao trùng

Tiên mao trùng, nguyên trùng gây bệnh Surra có một phạm vi phân bố địa

lý cực kỳ rộng trước khi nó được phát hiện ở vật nuôi trong nhà và các động vật hoang dã

Bệnh Tiên mao trùng phân bố rất rộng, từ phía Tây sang phía Đông bán cầu Phía Tây bán cầu thuộc châu Mỹ, phía Đông bán cầu trải dài từ châu Phi cho đến Philippine Bệnh phổ biến ở trâu, bò, ngựa các nước nhiệt đới ở châu Phi, châu Á và Nam Mỹ

Ở châu Phi, bệnh trải dài từ Tây sang Đông, phía Bắc qua vùng sa mạc Sahara, dọc theo bờ biển Atlantique Địa trung hải

Bệnh Tiên mao trùng xảy ra với tên gọi "bệnh Surra" ở Ả Rập Saudi, Yêmen, Sultanate, Ả Rập thống nhất, Thổ Nhĩ Kỳ, Israel, Syrie, Afganistan, Pakistan

Ở châu Á, bệnh xuất hiên ở Trung Á (thuộc Liên Xô cũ), Ấn Độ, Malaysia, bán đảo Đông Dương, Trung Quốc, Indonexia, Philippine

Ở châu Âu, bệnh xuất hiện ở Bungaria (nay đã được thanh toán), hiện chỉ còn ở vùng Volga và Nam Capcase(Liên Xô cũ)

Ở châu Mỹ, bệnh xuất hiện, ở Trung Mỹ, Nam Mỹ, đặc biệt phổ biến ở Brazil Mexico, Venezuala, Colombia

Ở châu Úc cũng đã được xác định là có bệnh Tiên mao trùng

Losos G.J (1972) cho rằng, bệnh Tiên mao trùng phổ biến nhất ở châu Á và châu Phi, từ Ấn Độ đến Srilanca, Trung Quốc, Indonexia, Thái Lan, Lào,

Trang 29

Camphuchia, Philippine

Ở Việt Nam, bệnh Tiên mao trùng thấy ở hầu hết các vùng sinh thái khác nhau: miền núi, trung du, đồng bằng, ven biển Theo Phạm Sỹ Lăng (1982), bệnh Tiên mao trùng có ở tất cả các tỉnh miền Bắc ( Bắc Kim, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Ninh Bình, Hà Tây) Trâu, bò nhiễm bệnh với tỷ lệ cao và thay đổi giữa các vùng khác nhau (trâu, bò ở đồng bằng nhiễm Tiên mao trùng cao hơn vùng trung du và miền núi, đặc biệt ở trâu, bò có nguồn gốc từ miền núi chuyển xuống vùng đồng bằng)

1.7.2 Những nghiên cứu về loài động vật mắc bệnh Tiên mao trùng

Theo Trịnh Văn Thịnh (1982), Trypanosoma evansi là loài gây bệnh phổ

biến nhất trong các loài Tiên mao trùng, chúng gây bệnh cho hầu hết các loài gia súc trên thế giới: trâu, bò, ngựa, chó, mèo

Cũng theo Trịnh Văn Thịnh (1967), cho biết: Launoy cũng đã phát hiện thấy

mèo nhiễm Trypanosoma evansi

Ở các nước trâu, bò đều nhiễm Trypanosoma evansi tự nhiên, nhưng bò ít mẫn cảm thường ở thể mãn tính, mang trùng Lạc đà thường nhiễm Trypanosoma evansi ở thể cấp tính, chết khá nhiều ở một số nước châu Phi, châu Á

Theo Lapage G (1968), cho biết ngoài những động vật nhiễm Trypanosoma evansi tự nhiên, trong phòng thí nghiệm có thể truyền bệnh cho các loài động vật nhỏ:

chuột bạch, chuột nhắt trắng, chuột cống, thỏ, chuột lang, chồn, cầy hương, chó, mèo

Trong đó chuột bạch và chuột cống đặc biệt mẫn cảm với Trypanosoma evansi

Gill, B.S et al (1987), cho biết ở Ấn Độ đã thấy 13 lợn chết ở trại Khara

(Punab), sau khi tiêm truyền qua chuột bạch, có 7 lợn nhiễm Trypanosoma evansi

Ở Venezuela, bò dưới 3 tháng tuổi nhiễm Trypanosoma evansi chiếm 13%,

bò trên 36 tháng tuổi nhiễm 50%

Hoare, C.A and Sulsby E.J (1972), đã kiểm tra phát hiện các thú hoang

châu Á nhiễm T.evansi tự nhiên: hươu sao, (cervus unicolor) ở đảo Maurice, nai

(cervus timdressis) ở Indinesia, cừu hoang (ovis amnion), hoẵng (careolus), linh dương ở Kazachtan (Liên Xô), tinh tinh (orang outang) ở đảo Soumatra, chuột hamster ở Ấn Độ, khỉ (kacacun rhegus) ở một số nước Ở Nam Mỹ, Trung Mỹ một

Trang 30

số loài thú cũng mắc bệnh do Trypanosoma evansi gây ra ở thể cấp tính, chết, chó

rừng (canis azarae), khỉ (mucelles ursimus) ở Venezuela, nai đuôi trắng (odoeciluns chiriquenst), hươu (mazuma hutavi), dơi hút máu (demodue rotundus) ở Panama, Colombia

Theo Nguyễn Quốc Doanh và cs (1999 - 2001), khi nghiên cứu bệnh Tiên mao trùng trên các loài bò sát, ếch nhái ở đồng bằng sông Hồng cho biết: các loài

rắn, ba ba, cóc, ếch, nhái cũng nhiễm T.evansi với tỷ lệ 8,03%

1.7.3 Các nghiên cứu về côn trùng môi giới truyền bệnh Tiên mao trùng

Theo Trịnh Văn Thịnh (1967), cho biết: năm 1949, Brumpt E đã tìm ra

những loài ruồi hút máu họ Stomoxydinae, loài mòng họ Tabaninae đóng vai trò môi giới truyền bệnh chủ yếu của Trypanosoma evansi không có chu kỳ phát triển

trong ký chủ trung gian, mà chỉ được truyền theo phương thức cơ giới Ngoài ra

T.evansi còn có khả năng truyền bệnh nhờ một loại ve, nhuyễn thể khác

Theo Phạm Sỹ Lăng (1982), ở Nam Mỹ, Ligniere, Elmasson, đã truyền bệnh

thực nghiệm thành công bằng ruồi Stomoxys calcitrans, Snobolosa Ở Angeri cũng truyền bệnh T.evansi cho động vật bằng ruồi Stomoxys calcitrans và xác định

khoảng cách ruồi đốt vật ốm sang vật khỏe không quá 24h Crosse H.E đã thành

công trong thí nghiệm truyền T.evansi cho chó bằng ve mềm Ornithodorus roasi ở

Ấn Độ Một loài dơi hút máu ở Nam Mỹ cũng đóng vai trò truyền T.evansi cho ngựa Kênh đào Panama, một số nước ở Nam Mỹ, T.evansi cũng có thể truyền bệnh

bằng thịt tươi của súc vật bị bệnh

Phan Địch Lân (1983), cho biết: ở nước ta có khí hậu, điều kiện sinh thái

thích hợp cho những ký chủ trung gian thuộc họ mòng Tabanidae, họ ruồi Stomoxydinae, chúng cần có thảm thực vật để cư trú, đẻ trứng, cần khí hậu nóng (16oC - 30oC), độ ẩm (50 - 100%), mặt đất ướt để trứng nở, các giai đoạn ấu trùng phát triển, cuối cùng cần có trâu, bò, động vật thích hợp để hút máu, duy trì sự sống

đồng thời truyền bệnh Trypanosoma evansi cho những động vật này Ở miền Bắc

Việt Nam mòng hoạt động tới tháng 9, ruồi hút máu hoạt động quanh năm Nhưng tập trung vào những tháng nóng nực Điều kiện này giải thích tại sao bệnh Tiên mao trùng phân bố rộng rãi, mang tính chất mùa vụ

Trang 31

Ở nước ta họ mòng môi giới trung gian truyền Trypanosoma evansi đã được

các nhà khoa học nghiên cứu về thành phần, khả năng truyền bệnh của chúng

Thành phần họ mòng Tabanidae ở miền Bắc đã được Trịnh Văn Thịnh (1967), cùng

Ban điều tra Côn trùng Thú y công bố 77 loài như sau:

Họ mòng Tabanodae:

Họ phụ Tabaninae:

Giống phụ Ochrops: 1 loài

Giống Chrysops: 9 loài

Giống Chrysozona: 12 loài

Thành phần họ mòng Tabanidae ở miền Bắc gồm có 65 loài thuộc 3 giống

và những đặc điểm sinh học của loài

Phạm Sỹ Lăng và Chu Huy Bào (1971), đã xác định vai trò của họ mòng

Tabanidae truyền bệnh Trypanosoma evansi cho bê bằng cách cho mòng Tabanus rubidus đốt và kết luận Tabanus rubidus đã truyền được mầm bệnh cho bê Khoảng

cách mòng đốt bê ốm và bê khỏe khoảng 43 phút, đã gây cho bê một thể bệnh Tiên

mao trùng mãn tính Trypanosoma evansi sống tới giờ thứ 53 sau khi xâm nhập vào

ruột mòng nhưng chỉ có khả năng gây bệnh đến giờ thứ 7 Cũng năm 1971, tác giả

đã thông báo tỷ lệ mang mầm bệnh Trypanosoma evansi của một số loài ruồi, mòng như sau: ở Hà Nội mòng Tabanus rubidus mang mầm bệnh 26,58%, mòng Tabanus striatus 25,58%, mòng Chrysops dispar 7,55% Ở Lục Bình mòng Tabanus rubidus 25,1%, mòng Tabanus striatus 24,7%, Tabanus kiangsuensia 19,5%, ruồi Stomoxys calcitrans 20,4%

1.8 Chẩn đoán bệnh Tiên mao trùng

1.8.1 Chẩn đoán lâm sàng

Các biểu hiện lâm sàng đặc trưng của bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò, ngựa không phải lúc nào cũng phát hiện được Rất nhiều gia súc mang bệnh nhưng khó phát hiện các triệu chứng đặc trưng, nhất là đối với những gia súc mắc bệnh Tiên mao trùng mãn tính Đối với gia súc mắc bệnh ở thể cấp tính, các biểu hiện bệnh đặc trưng là sốt cao, bỏ ăn, có triệu chứng thần kinh (điên loạn) và chết nhanh Trâu bị bệnh mãn tính

Trang 32

có thể thấy triệu chứng: sốt gián đoạn, gầy còm, thiếu máu kéo dài, viêm giác mạc, phù thũng ở bụng và chân sau, chết do kiệt sức (Phạm Sỹ Lăng, 1982) Triệu chứng sẩy thai

có thể thấy ở trâu, bò bị bệnh Tiên mao trùng

1.8.2 Chẩn đoán thí nghiệm

Có nhiều phương pháp chẩn đoán Tiên mao trùng trong phòng thí nghiệm, mục đích là phát hiện Tiên mao trùng trong máu gia súc Tùy từng trường hợp bệnh, tuỳ điều kiện mà có thể làm cùng lúc một số phương pháp hoặc lựa chọn một phương pháp phù hợp và có độ chính xác cao

1.8.2.1 Phương pháp phát hiện Tiên mao trùng trực tiếp

• Phương pháp xem tươi (Direct smear)

Khi sốt, trong mao quản ngoại vi của gia súc mắc bệnh Tiên mao trùng thường có T evansi Vì vậy, trường hợp này nên lấy máu vùng ngoại vi để xem tươi

• Phương pháp nhuộm Giemsa tiêu bản máu khô (Romanovsky)

- Phương pháp giọt dầy

- Phương pháp giọt mỏng

- Phương pháp làm tan hồng cầu

1.8.2.2 Phương pháp tập trung Tiên mao trùng

• Phương pháp ly tâm tập trung bằng ống Haematocrit

Phương pháp này đơn giản, phát hiện Tiên mao trùng tốt hơn phương pháp xem tươi và nhuộm Giemsa Song, tỷ lệ phát hiện chưa cao

Với ống Haematocrit trên, có thể thực hiện phương pháp Darkground

• Phương pháp tách Tiên mao trùng bằng tiền DEAE - cellulose (Diethyl - Anomino Ethyl - cellulose)

Bằng phương pháp này, có thể tách được trên 96% Tiên mao trùng

1.8.2.3 Phương pháp tiêm truyền động vật thí nghiệm

Đây là phương pháp phổ biến, hiệu quả, chính xác và thường được sử dụng nhiều để chẩn đoán bệnh Tiên mao trùng ở Việt Nam Phương pháp này có ưu điểm

là chính xác, do trực tiếp phát hiện thấy Tiên mao trùng sau khi nhân chúng lên trong động vật thí nghiệm mẫn cảm Song, nhược điểm của phương pháp tiêm truyền động vật thí nghiệm là khi cần chẩn đoán nhanh, với số lượng nhiều và thời

Trang 33

gian ngắn thì phương pháp này không thể đáp ứng được

1.8.2.4 Phương pháp chẩn đoán huyết thanh học

Bằng phương pháp huyết thanh học, có thể phát hiện kháng thể hoặc kháng nguyên Tiên mao trùng Đây là các phương pháp huyết thanh học đặc hiệu

* Các phương pháp phát hiện kháng thể kháng Tiên mao trùng

• Phương pháp ngưng kết trên phiến kính (SAT: Slice Agglutination Test) Phương pháp này đơn giản, dễ làm và có thể áp dụng trên diện rộng

• Phương pháp LATEX (Latex Agglutination Test)

LATEX là phương pháp ngưng kết gián tiếp, được dùng để phát hiện kháng thể lưu động có trong máu của gia súc mắc bệnh tiên mao trùng

Phương pháp này có thể ứng dụng để chẩn đoán nhanh, số lượng nhiều, tỷ lệ phát hiện cao Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là có thể có phản ứng giả khi pha loãng huyết thanh ở nồng độ thấp 1/2, 1/4 và dương tính cả khi con vật khỏi bệnh nhưng vẫn còn kháng thể tồn tại trong huyết thanh Mặt khác, phải nhập kháng nguyên của nước ngoài nên giá thành rất cao

• Phương pháp CATT (Card Agglutination Test for Trypanosomiasis)

Theo Lương Tố Thu và Lê Ngọc Mỹ (1995), Phương pháp CATT dễ sử dụng, có

độ nhậy cao gần gấp đôi phương pháp tiêm truyền chuột bạch (73,75% so với 40%)

• Phương pháp kháng thể huỳnh quang gián tiếp IFAT (Indirect Fluorescent Antibody Test)

Phản ứng này là phản ứng huyết thanh học đặc hiệu có độ nhạy cao, được ứng dụng rộng rãi trong phòng thí nghiệm và thực địa Ngoài việc được dùng làm phản ứng chuẩn để so sánh với các phương pháp huyết thanh khác, phương pháp IFAT còn được dùng trong nghiên cứu cấu trúc của kháng nguyên Tiên mao trùng (Luckins, A.G., 1998)

Ứng dụng phương pháp này ở Việt Nam, Lương Tố Thu và cs (1994) đã chế tạo conjugate huỳnh quang trên thỏ kháng IgG của bò để chẩn đoán bệnh Tiên mao trùng Độ pha loãng của conjugate tự chế sử dụng cho phản ứng là 1/8 và huyết thanh chuẩn pha loãng ớ 1/40 Độ nhậy của phương pháp IFAT là 71,25%, trong khi phương pháp tiêm truyền chuột bạch là 40%

Trang 34

• Phương pháp ELISA (Enzym Linked Immunosorbent Assay)

Phương pháp ELISA là một trong những phương pháp hiện đại nhất được ứng dụng để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng

Phương pháp ELISA hiện dang được sử dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới Ở Việt Nam, Lương Tố Thu và cs (1994) đã bước đầu chế kháng nguyên Tiên mao trùng và ứng dụng để chẩn đoán bệnh Tiên mao trùng ở nước ta

* Các phương pháp phát hiện kháng nguyên Tiên mao trùng

• Phương pháp ELISA kháng nguyên (Ag - ELISA)

Lương Tố Thu và cs (1994) đã bước đầu ứng dụng phương pháp này để chẩn đoán bệnh Tiên mao trùng ở Việt Nam Tuy nhiên, theo cơ quan năng lượng nguyên tử thế giới, phương pháp ELISA kháng nguyên có độ nhậy kém hơn so với các phương pháp phát hiện Tiên mao trùng cổ điển Vì vậy, phương pháp này đã không được phổ biến trong thời gian hiện tại và tương lai (cơ quan năng lượng nguyên tử thế giới đã không sản xuất đĩa Ag - ELISA cho nhiều nước trên thế giới)

• Phản ứng Suratex

Phản ứng Suratex là phản ứng ngưng kết giữa các hạt latex được gắn kháng thể đơn dòng với kháng nguyên lưu động trong máu động vật nhiễm Tiên mao trùng Phản ứng này hiện đang được thử nghiệm và đánh giá ở thực địa

1.8.2.5 Phương pháp phát hiện ADN của Tiên mao trùng bằng phản ứng PCR (Polymerase Chain Reaction)

PCR là phương pháp hiện đại nhất, mới được đưa vào ứng dụng để chẩn

đoán bệnh Tiên mao trùng trong những năm gần đầy

Phương pháp PCR có độ nhậy và độ chính xác rất cao Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi phải có trình độ kỹ thuật cao, trang thiết bị hiện đại nên hiện nay mới đang được thử nghiệm tại một số phòng thí nghiệm hiện đại

1.9 Một số nghiên cứu về phòng trị bệnh Tiên mao trùng

Trypanosoma evansi đã gây bệnh cho nhiều loài động vật như trâu, bò, lạc

đà, ngựa, nhiều loài hoang thú dã Khả năng phân bố Trypanosoma evansi rộng rãi

trong các loài Tiên mao trùng, chúng có ở khắp các châu lục, gây thiệt hại đáng kể

về kinh tế cho người chăn nuôi trâu, bò

Trang 35

Ở nước ta các bệnh ký sinh trùng phát triển quanh năm trong đó có bệnh Tiên mao trùng gây nhiều thiệt hại cho đàn trâu, bò Năm 1963 - 1964 ở miền Bắc

đã có trên 2 vạn trâu, bò chết trong vụ đông xuân Hiện nay Trypanosoma evansi

không còn gây chết trâu, bò hàng loạt, nhưng vẫn gây thiệt hại đáng kể cho trâu, bò miền Trung cần được tiếp tục nghiên cứu để tìm ra những biện pháp phòng trị bệnh

có hiệu quả nhất, tiến tới khống chế hoàn toàn được bệnh Để phòng chống bệnh

Tiên mao trùng Trypanosoma evansi nói riêng, khoa học thế giới đã đạt được nhiều

thành tựu quan trọng, nhiều loại hóa dược đặc biệt được chế tạo, sử dụng rộng rãi

để phòng chống dịch Naganol được xem như một loại thuốc kinh điển có hiệu lực cao trong điều trị, phòng nhiễm Trypanosoma evansi cho hầu hết các loại gia súc,

ngụa, lạc đà, trâu, bò, chó, mèo kể cả tự nhiên cũng như thực nghiệm

Theo Touratier, L, Aims (1979), Trypamidium có khả năng điều trị, phòng

bệnh do Trypanosoma evansi trong thời gian 4 tháng Các loại thuốc có hiệu lực phòng trị Trypanosoma evansi đã được sử dụng trong khoảng 20 năm gần đây:

• Nhóm hợp chất có Phênanthridinium

Haumidium bromide (Ethidium) Haumidium chloride (Novidium) Pyrithudium bromide (Prothidium) Isoe'tamidium chloride (Trypamidium)

Trang 36

• Naganin, liều 10 mg/kg trọng lượng, thuốc có tác dụng rất tốt điều trị bệnh

Tiên mao trùng trâu, bò do Trypanosoma evansi gây nên ở nước ta ( Phan Địch Lân,

1983), Hồ Văn Nam (1963), Phạm Sỹ Lăng (1972), Đoàn Văn Phúc và cs.(1981)

• Novarsenobenzol, liều 0,01 g/kg trọng lượng, điều trị 2 lần cách nhau 2 ngày, hiệu lực của thuốc đạt 80%, tỷ lệ an toàn 80,3% - 82% theo Hồ Văn Nam (1963), Phạm Sỹ Lăng (1982)

• Trypamidium, liều 1 mg/kg trọng lượng, tiêm bắp sâu rất an toàn, hiệu lực của thuốc đạt 100% Đoàn Văn Phúc và cs (1981), Phạm Văn Khuê (1962), Nguyễn Quốc Doanh và cs (1996), Hồ Thị Thuận (1980)

• Berenil, liều điều trị 7 mg/kg trọng lượng, tiêm bắp, Hồ Thị Thuận (1980), Lê Ngọc Mỹ và cs.(1996 - 2000)

• Trypamidium samorin, liều 1 mg/kg trọng lượng, tiêm bắp sâu rất an toàn, hiệu lực của thuốc đạt 100% Nguyễn Quốc Doanh và cs.(1996)

• Trypazen, liều 3,5 mg/kg trọng lượng, thuốc rất an toàn, tỷ lệ khỏi bệnh 100% Nguyễn Quốc Doanh và Phạm Sỹ Lăng (1997), Phạm Văn Khuê (1962)

Phạm Sỹ Lăng (1962 - 1980), Nguyễn Văn Duệ và cộng sự (1993), đã nghiên cứu, sử dụng 5 loại hóa dược Naganol, Sulfarsenol, Novarsenobenzol, Berbil, Trypamidium để phòng, điều trị bệnh Tiên mao trùng, tác giả đã đề xuất 5 phác đồ điều trị và cho kết quả tốt

1.10 Xây dựng và thực hiện quy trình phòng bệnh Tiên mao trùng cho trâu, bò

Để khống chế bệnh, trong quá trình nghiên cứu các nhà khoa học đã đưa ra

quy trình phòng bệnh Tiên mao trùng Trypanosoma evansi như sau:

- Diệt Trypanosoma evansi trên thân gia súc: định kỳ kiểm tra máu đàn

trâu, bò mỗi năm 2 lần hoặc 3 lần, phát hiện trâu, bò bệnh hoặc mang trùng, để kịp

điều trị, thanh toán nguồn tàng trữ mầm bệnh Trypanosoma evansi tự nhiên

- Ngăn không cho mầm bệnh lây lan: thực hiện tiêm hóa dược phòng nhiễm (Naganol, Trypamidium, Berenil) cho đàn trâu, bò có lưu hành bệnh, theo định kỳ một năm hai lần vào thời gian mà ruồi, mòng hoạt động, truyền bệnh Ở

những vùng mà đàn trâu, bò nhiễm Trypanosoma evansi trên 6% thì tổ chức

tiêm cho toàn đàn

Trang 37

Cùng với việc tiêm phòng phải tăng sức đề kháng với bệnh Trypanosoma evansi bằng biện pháp đẩy mạnh công tác nuôi dưỡng, chăm sóc tốt đàn trâu, bò, đồng thời phải sử dụng cày kéo hợp lý

- Chống côn trùng môi giới trung gian truyền bệnh Trypanosoma evansi tổ

chức diệt ruồi, mòng bằng biện pháp cơ giới như phát quang bờ bụi, lấp cống rãnh để ngăn không cho ruồi có chỗ cư trú, phát triển vòng đời, diệt bằng hóa dược, phun, xua đuổi ruồi, mòng trên đàn trâu, bò khu vực chăn thả

Trang 38

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Trypanosoma evansi gây nhiễm thực nghiệm trên mèo

2.2 Địa điểm nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành thí nghiệm tại phòng thí nghiệm bộ môn Nội chẩn - Dược - Độc chất, Khoa Thú Y, Học viện Nông Nghiệp Việt Nam

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 K i ểm tra đặc tính gây bệnh của Trypanosoma evansi ở mèo sau gây nhiễm

- Trypanosoma evansi được tìm thấy ở máu trâu Bắc Cạn và được cấy truyền

tiếp đời thứ nhất qua chuột nhắt trắng

- Mèo thí nghiệm (có độ tuổi từ 2 – 8 tháng ; trọng lượng từ 0,5kg đến 1,0kg)

khỏe mạnh bình thường, đặc biệt là không mắc bệnh Tiên mao trùng do T evansi

Các loại động vật trên được nuôi tại khu nuôi dưỡng động vật thí nghiệm của

bộ môn Nội chẩn - Dược - Độc chất, Khoa Thú Y, Học viện Nông Nghiệp Việt Nam và cùng chế độ chăm sóc nuôi dưỡng

Trang 39

2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Ph ương pháp gây nhiễm

- Gây nhiễm T.evansi cho chuột nhắt trắng

Qua điều tra trâu, bò nhiễm Tiên mao trùng tại tỉnh Bắc Cạn bằng cách soi tươi

trên kính hiển vi tìm T.evansi Những mẫu máu có T.evansi chúng tôi chuyển về

phòng thí nghiệm của bộ môn Nội Chẩn - Dược - Độc Chất, khoa Thú y gây bệnh cho chuột nhắt trước Chuột được gây nhiễm phải là chuột sạch, khỏe mạnh bình thường Trước khi gây nhiễm chúng tôi tiến hành kiểm tra Tiên mao trùng

Trypanosoma evansi và cho kết quả âm tính Sau đó tiến hành gây nhiễm trên chuột

nhắt trắng bằng cách tiêm 0,3 ml máu vào xoang phúc mạc của chuột

- Gây nhiễm T.evansi cho mèo

Chúng tôi lấy 0,5ml máu chuột có T.evansi (với liều 106 T.evansi) tiêm vào

tĩnh mạch khoeo hoặc tĩnh mạch chân trước Trước khi gây nhiễm cho mèo chúng

tôi lấy máu chuột xem tươi trên kính hiển vi để xác định được mật độ T.evansi trong

máu Sau đó, chúng tôi tiến hành theo dõi các biểu hiện lâm sàng, các chỉ tiêu lâm

sàng cũng như chỉ tiêu máu sau khi gây nhiễm T.evansi ( 24h, 48h, 72h, 96h ) 2.5.2 Các ph ương pháp tiến hành phát hiện Tiên mao trùng

- Phương pháp xem tươi

Theo Đoàn Văn Phúc, 1985, chọn một phiến kính trong sáng, sạch sẽ, nhỏ lên đó 1 giọt Citrat natri 3,8% Lấy 1 giọt máu ở tĩnh mạch chân của mèo hòa lẫn rồi đậy lamel, kiểm tra dưới kính hiển vi có độ phóng đại 10 x 40 để tìm Tiên mao trùng di chuyển, thấy Tiên mao trùng chuyển động tiến thẳng

-Phương pháp nhuộm Giemsa

Chọn 1 phiến kính trong sáng, sạch sẽ Lấy một giọt máu đường kính 2 - 4mm Dùng mép 1 phiến kính phẳng đặt phía trái giọt máu, đẩy ngược trên phiến kính, góc giữa hai phiến kính là 40 - 450, sau đó để máu khô tự nhiên Cố định tiêu bản bằng cồn tuyệt đối trong 3 - 5 phút Rửa nước, để khô Nhỏ dung dịch Giemsa 1/12 - 1/10 (tùy theo thời gian nhuộm nhanh hay chậm), để trong 20 - 30 phút Rửa nước, để khô Mang đi soi kính có độ phóng đại 10 x 40 để phát hiện Tiên mao trùng

Ngày đăng: 06/06/2015, 10:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Triệu An, Nguyễn Ngọc Lanh và Nguyễn Hữu Mô (1990). Bài giảng sinh lý bệnh, Nhà xuất bản Y học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng sinh lý "bệnh
Tác giả: Vũ Triệu An, Nguyễn Ngọc Lanh và Nguyễn Hữu Mô
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học Hà Nội
Năm: 1990
2. Đái Duy Ban (1980). Những vấn đề hóa sinh dinh dưỡng động vật, tập 2, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề hóa sinh dinh dưỡng động vật
Tác giả: Đái Duy Ban
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật
Năm: 1980
4. Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương (1997). Giáo trình ký sinh trùng thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thủ Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ký sinh trùng thú y
Tác giả: Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương
Năm: 1997
5. Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996). Ký sinh trùng thú y, Trường Đại Học Nông Nghiệp I. Nhà xuất bản nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng thú y
Tác giả: Phạm Văn Khuê và Phan Lục
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1996
6. Phạm Sỹ Lăng (1995). Một số thành tựu nghiên cứu về bệnh Tiên mao trùng (T.evansi) ở Việt Nam, sách sưu tập Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số thành tựu nghiên cứu về bệnh Tiên mao trùng "(T.evansi) ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng
Năm: 1995
7. Phan Địch Lân (2004). Bệnh ngã nước trâu bò (1994, 2004). Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, 56 - 73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: (2004). Bệnh ngã nước trâu bò
Tác giả: Phan Địch Lân
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2004
8. Phan Lục (1996). Ký sinh trùng thú y, Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng thú y
Tác giả: Phan Lục
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1996
9. Nguyễn Quang Mai (2004). Sinh lý học động vật và người, NXB Khoa học Kỹ Thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học động vật và người
Tác giả: Nguyễn Quang Mai
Nhà XB: NXB Khoa học Kỹ Thuật
Năm: 2004
10. Hồ Văn Nam, Nguyễn Thị Đào Nguyên và Phạm Ngọc Thạch (1997) Giáo trình bệnh nội khoa gia súc, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình "bệnh nội khoa gia súc
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
11. Phạm Ngọc Thạch, Hồ Văn Nam và Chu Đức Thắng (2006). Bệnh nội khoa gia súc, Nhà xuất bản Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh nội khoa gia "súc
Tác giả: Phạm Ngọc Thạch, Hồ Văn Nam và Chu Đức Thắng
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông Nghiệp
Năm: 2006
12. Lê Khắc Thận và Nguyễn Thị Phức Nhuận (1974). Sinh hóa động vật, NXB Nông thôn, tr. 502 -507 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh hóa động vật
Tác giả: Lê Khắc Thận và Nguyễn Thị Phức Nhuận
Nhà XB: NXB Nông thôn
Năm: 1974
13. Trịnh Văn Thịnh (1967). Công trình nghiên cứu ký sinh trùng ở Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công trình nghiên cứu ký sinh trùng ở Việt Nam
Tác giả: Trịnh Văn Thịnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật Hà nội
Năm: 1967
14. Trịnh Văn Thịnh (1982). Công trình nghiên cứu ký sinh trùng donkey and dog experimentally with Trypanosoma evansi, Indian Vet.J., 47: pp.475. Ở Việt Nam, Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công trình nghiên cứu ký sinh trùng donkey and dog "experimentally with Trypanosoma evansi
Tác giả: Trịnh Văn Thịnh
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật Hà Nội
Năm: 1982
15. Đặng Đức Trạch, Nguyễn Đình Hường và cs. (1987). Miễn dịch học, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật, Hà Nội.Tài liệu tham khảo là tạp chí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miễn dịch học
Tác giả: Đặng Đức Trạch, Nguyễn Đình Hường và cs
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật
Năm: 1987
16. Nguyễn Quốc Doanh, Lương Tố Thu, Lê Ngọc Mỹ và Phạm Sỹ Lăng (1996). Kết quả dùng Trypamidium điều trị bệnh Tiên mao trùng trâu, bò do Trypanosoma evansi gây ra, Tạp chí khoa học công nghệ và quản lý, tr. 500 - 501 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết "quả dùng Trypamidium "điều trị bệnh Tiên mao trùng trâu, bò do Trypanosoma "evansi gây ra
Tác giả: Nguyễn Quốc Doanh, Lương Tố Thu, Lê Ngọc Mỹ và Phạm Sỹ Lăng
Năm: 1996
17. Nguyễn Quốc Doanh và Phạm Sỹ Lăng (1997). Hiệu lực của Trypazen trong điều Ttrị bệnh Tiên mao trùng trâu do Trypanosoma evansi gây ra, Tạp chí khoa học, công nghệ và quản lý kinh tế, (4): 87–88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hi"ệ"u l"ự"c c"ủ"a Trypazen trong "đ"i"ề"u "Ttr"ị "b"ệ"nh Tiên mao trùng trâu do Trypanosoma evansi gây ra
Tác giả: Nguyễn Quốc Doanh và Phạm Sỹ Lăng
Năm: 1997
18. Nguyễn Văn Duệ và cs (1995). Kết quả điều tra sự phân bố Tiên mao trùng và huyết bào tử trùng trâu, bò miền Trung, Nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm, (10): 386-387 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều tra sự phân bố Tiên mao trùng và huyết bào "tử trùng trâu, bò miền Trung
Tác giả: Nguyễn Văn Duệ và cs
Năm: 1995
19. Bùi Quý Huy, Trần Ngọc Thắng và Đặng Khánh Vân (1988). Một số dịch sẩy thai ở đàn bò do Tiên mao trùng, Thông tin thú y, tr 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số dịch sẩy thai "ở đàn bò do Tiên mao trùng
Tác giả: Bùi Quý Huy, Trần Ngọc Thắng và Đặng Khánh Vân
Năm: 1988
20. Phạm Văn Khuê (1962). Chẩn đoán phòng trị bệnh Tiên mao trùng trâu, Khoa học và kỹ thuật Nông nghiệp, (4): 34 - 38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chẩn đoán phòng trị bệnh Tiên mao trùng trâu
Tác giả: Phạm Văn Khuê
Năm: 1962
21. Phạm Sỹ Lăng, Chu Duy Bào (1971). Vai trò truyền bá mầm bệnh Trypanosoma evansi của loài mòng Tabanus rubidus ở miền Bắc Việt Nam, Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp, (5): 367 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò truyền bá mầm bệnh "Trypanosoma evansi của loài mòng Tabanus rubidus ở miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Chu Duy Bào
Năm: 1971

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Cấu tạo của Trypanosoma evansi - Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý bệnh tiên mao trùng do trypanosoma evansi gây bệnh thực nghiệm trên mèo
Hình 1.1 Cấu tạo của Trypanosoma evansi (Trang 19)
Bảng 3.1. Sự phát triển của Tiên mao trùng do Trypanososma evansi   trong máu mèo sau gây nhiễm - Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý bệnh tiên mao trùng do trypanosoma evansi gây bệnh thực nghiệm trên mèo
Bảng 3.1. Sự phát triển của Tiên mao trùng do Trypanososma evansi trong máu mèo sau gây nhiễm (Trang 42)
Hình 3.1: T.evansi trong máu mèo - Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý bệnh tiên mao trùng do trypanosoma evansi gây bệnh thực nghiệm trên mèo
Hình 3.1 T.evansi trong máu mèo (Trang 43)
Bảng 3.2. Biểu hiện lâm sàng của mèo sau gây nhiễm T.evansi  (n = 12 con) - Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý bệnh tiên mao trùng do trypanosoma evansi gây bệnh thực nghiệm trên mèo
Bảng 3.2. Biểu hiện lâm sàng của mèo sau gây nhiễm T.evansi (n = 12 con) (Trang 44)
Bảng 3.3. Thân nhiệt, tần số hô hấp, tần số tim mạch   của mèo sau gây nhiễm T.evansi - Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý bệnh tiên mao trùng do trypanosoma evansi gây bệnh thực nghiệm trên mèo
Bảng 3.3. Thân nhiệt, tần số hô hấp, tần số tim mạch của mèo sau gây nhiễm T.evansi (Trang 46)
Bảng 3.4. Số lượng hồng cầu, tỷ khối hồng cầu, thể tích bình quân                   của hồng cầu mèo sau gây nhiễm T - Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý bệnh tiên mao trùng do trypanosoma evansi gây bệnh thực nghiệm trên mèo
Bảng 3.4. Số lượng hồng cầu, tỷ khối hồng cầu, thể tích bình quân của hồng cầu mèo sau gây nhiễm T (Trang 50)
Bảng 3.5. Hàm lượng huyết sắc tố và lượng huyết sắc tố trung bình của hồng  cầu mèo sau gây nhiễm T - Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý bệnh tiên mao trùng do trypanosoma evansi gây bệnh thực nghiệm trên mèo
Bảng 3.5. Hàm lượng huyết sắc tố và lượng huyết sắc tố trung bình của hồng cầu mèo sau gây nhiễm T (Trang 53)
Bảng 3.7. Hàm lượng đường huyết và độ dự trữ kiềm trong máu mèo   sau gây nhiễm T.evansi - Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý bệnh tiên mao trùng do trypanosoma evansi gây bệnh thực nghiệm trên mèo
Bảng 3.7. Hàm lượng đường huyết và độ dự trữ kiềm trong máu mèo sau gây nhiễm T.evansi (Trang 61)
Bảng 3.8. Hàm lượng Protein huyết thanh và các tiểu phần protein huyết thanh của máu mèo   sau gây nhiễm T - Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý bệnh tiên mao trùng do trypanosoma evansi gây bệnh thực nghiệm trên mèo
Bảng 3.8. Hàm lượng Protein huyết thanh và các tiểu phần protein huyết thanh của máu mèo sau gây nhiễm T (Trang 66)
Hình 3.2: Viền mắt, mắt của mèo mắc T.evansi có dử - Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý bệnh tiên mao trùng do trypanosoma evansi gây bệnh thực nghiệm trên mèo
Hình 3.2 Viền mắt, mắt của mèo mắc T.evansi có dử (Trang 69)
Hình 3.7: Các xoang trong cơ thể mèo mắc T.evansi tích nước - Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý bệnh tiên mao trùng do trypanosoma evansi gây bệnh thực nghiệm trên mèo
Hình 3.7 Các xoang trong cơ thể mèo mắc T.evansi tích nước (Trang 70)
Hình 3.8: Phổi mèo mắc T.evansi sưng,  xuất huyết, nhục hóa - Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý bệnh tiên mao trùng do trypanosoma evansi gây bệnh thực nghiệm trên mèo
Hình 3.8 Phổi mèo mắc T.evansi sưng, xuất huyết, nhục hóa (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w