Hơn thế nữa, trên địa bàn tỉnh hiện nay chưa có đơn vị nào được cấp phép đủ điều kiện hành nghề vận chuyển, xử lí rác thải y tế nguy hại, nên các cơ sở y tế tư nhân cũng như một số các b
Trang 1CTRYTNH : Chất thải rắn y tế nguy hại
CSSKSS : Chăm sóc sức khỏe sinh sản
UBND : Ủy ban nhân dân
URENCO : Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị Hà Nội CITENCO : Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị Hồ Chí Minh
Trang 2DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Hiện trạng thu gom, phân loại chất thải y tế tại các bệnh viện trên địa bàn
thành phố Hà Nội năm 2010 7 Bảng 1.2 : Thực trạng các trang thiết bị thu gom lưu giữ CTR y tế
tại một số thành phố 7 Bảng 3.1 Đặc điểm 18 cơ sở y tế trên địa bàn thành phố Bắc Giang 22 Bảng 3.2 Đặc điểm môi trường của các bệnh viện trong địa bàn
thành phố Bắc Giang 23 Bảng 3.3 Khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh tại các bệnh viện
trên địa bàn thành phố Bắc Giang năm 2013 và ước tính đến năm 2020 25 Bảng 3.4 Danh sách các cơ sở y tế đăng kí chủ nguồn thải chất thải nguy hại 26 Bảng 3.5 Khối lượng chất thải rắn y tế của hệ thống y tế dự phòng và cơ sở
đào tạo y dược 27 Bảng 3.6 Khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại tại phòng khám tư nhân theo loại hình khám chữa bệnh tại thành phố Bắc Giang 29 Bảng 3.7 Kết quả phân loại chất thải rắn tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang 30 Bảng 3.8 Biện pháp xử lý chất thải rắn y tế tại các bệnh viện trên địa bàn
thành phố Bắc Giang 36
Trang 3DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Đặc điểm phân bố các cơ sở y tế trên thành phố Bắc Giang 24 Hình 3.2 : Sơ đồ hệ thống xử lý khí thải lò đốt chất thải y tế 41
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Khái quát về chất thải rắn y tế 3
1.2 Thực trạng quản lý và xử lý chất thải rắn y tế 4
1.2.1 Tình hình xử lý chất thải rắn y tế trên thế giới 4
1.2.2 Tình hình quản lý và xử lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam 5
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 18
2.1.1 Phạm vi nghiên cứu 18
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 19
2.2 Phương pháp nghiên cứu 19
2.2.1 Phương pháp thu thập và phân tích tổng quan tài liệu 19
2.2.2 Phương pháp khảo sát thực địa kết hợp phỏng vấn 20
2.2.3 Phương pháp đánh giá nhanh môi trường 21
2.2.4 Phương pháp dự báo……….20
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
3.1 Hiện trạng các cơ sở y tê 22
3.1.1 Đặc điểm các cơ sở y tế 22
3.1.2 Phân loại chất thải 30
3.1.3 Thu gom, vận chuyển và lưu giữ chất thải 32
3.2 Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế trên địa bàn thành phố Bắc Giang 38
3.2.1 Những mặt đạt được trong công tác quản lý chất thải y tế 38
3.2.2 Những mặt chưa đạt được trong công tác quản lý chất thải y tế 38
3.3 Đề xuất mô hình quản lý và xử lý chất thải y tế 39
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
PHIẾU ĐIỀU TRA QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ TẠI TP BẮC GIANG 50
Trang 5MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, cùng với tốc độ phát triển của khoa học kĩ thuật thì chất lượng cuộc sống của con người ngày càng được nâng cao Công tác khám chữa bệnh ngày càng được quan tâm và chú trọng, có nhiều công trình khoa học y tế
và những phát minh về máy móc kĩ thuật hiện đại phục vụ cho nhu cầu khám chữa bệnh của con người Hiện nay cả nước có 1087 bệnh viện bao gồm 1023 bệnh viện nhà nước, 64 bệnh viện tư nhân với tổng số hơn 140.000 giường bệnh Ngoài ra còn
có hơn 10.000 trạm y tế xã, hơn chục ngàn cơ sở phòng khám tư nhân Việc tăng số lượng giường bệnh thực tế do tăng nhu cầu về khám chữa bệnh đồng nghĩa với việc tăng khối lượng chất thải y tế Tỷ lệ gia tăng chất thải rắn y tế phụ thuộc vào số giường bệnh, tình hình thực hiện các kỹ thuật y tế và sự tiếp cận của người dân với các dịch vụ y tế (khoảng 7.6%/năm) Hầu hết các CTR y tế là các chất thải sinh học độc hại và mang tính đặc thù so với các loại CTR khác Theo báo cáo của Cục Quản lý môi trường y tế (Bộ Y tế), tỷ lệ bệnh viện có thực hiện phân loại chất thải rắn y tế là 95,6% và thu gom chất thải rắn y tế hàng ngày là 90,9% Tuy nhiên chỉ
có 50% các bệnh viện phân loại, thu gom chất thải rắn y tế đạt yêu cầu theo Quy chế quản lý chất thải y tế Nguyên nhân chủ yếu do phương tiện thu gom chất thải y
tế như túi, thùng đựng chất thải, xe đẩy rác, nhà chứa rác, còn thiếu và chưa đồng
bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn theo yêu cầu
Bắc Giang là trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị của cả tỉnh, là nơi tập trung đông dân cư Việc quản lí và xử lí chất thải rắn y tế cũng không nằm ngoài bối cảnh trên Hầu hết các bệnh viện công lập trên địa bàn thành phố mặc dù đã được đầu tư lắp đặt hệ thống xử lí rác thải, nhưng đều trong tình trạng lạc hậu và xuống cấp trầm trọng Hơn thế nữa, trên địa bàn tỉnh hiện nay chưa có đơn vị nào được cấp phép đủ điều kiện hành nghề vận chuyển, xử lí rác thải y tế nguy hại, nên các cơ sở y tế tư nhân cũng như một số các bệnh viện công lập gặp khó khăn trong việc xử lí rác thải
y tế Vì thế, việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường do chất thải y tế gây ra trên địa
Trang 6bàn thành phố tránh làm ảnh hưởng tới môi trường và sức khỏe cộng đồng là nhiệm
vụ cấp bách và cần được quan tâm
Để nhận biết thực trạng phát sinh, xử lý và quản lí chất thải y tế nguy hại trên địa bàn thành phố Bắc Giang và sự phát triển, đảm bảo đời sống sức khỏe cho cộng đồng xã hội, luận văn này thực hiện đề tài “Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp phù hợp xử lí chất thải rắn y tế tại thành phố Bắc Giang”
Mục tiêu chính của luận văn nhằm giải quyết những nhiệm vụ sau:
Đánh giá hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế, công tác thu gom, vận chuyển và xử lí chất thải rắn y tế trên địa bàn thành phố Bắc Giang trong giai đoạn gần đây
Đề xuất các phương án nhằm nâng cao hiệu quả quản lí và xử lí chất thải rắn y tế trên địa bàn thành phố Bắc Giang
Trang 7CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái quát về chất thải y tế
Chất thải rắn (CTR) là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác Chất thải rắn bao gồm chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại
Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường
Chất thải rắn y tế (CTRYT) là CTR được thải từ các cơ sở y tế, bao gồm chất thải nguy hại và chất thải thông thường
Chất thải y tế nguy hại là chất thải có chứa một trong các thành phần như: máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận hoặc cơ quan của người, động vật, bơm kim tiêm và các vật sắc nhọn, dược phẩm, hóa chất và các chất phóng xạ dùng trong chất thải y tế Nếu những chất thải này không được tiêu hủy sẽ gây nguy hại cho môi trường và sức khỏe con người [3]
Để phân loại chất thải y tế có rất nhiều cách, tuy thành phần của chất thải y tế không phong phú hơn các chất thải khác như chất thải sinh hoạt, chất thải đô thị, nhưng mức độ nguy hại thì chất thải y tế lại đứng hàng số 1 Dựa vào các đặc điểm
lý học, hóa học, sinh học và tính chất nguy hại, chất thải y tế được phân thành 5 nhóm sau [4]:
- Chất thải lây nhiễm
- Chất thải hóa học nguy hại
- Chất thải phóng xạ
- Bình chứa áp suất
- Chất thải thông thường
Trang 81.2 Thực trạng quản lý và xử lý chất thải rắn y tế
1.2.1 Giới thiệu về tình hình xử lý chất thải rắn y tế trên thế giới
Trên thế giới, quản lý rác thải bệnh viện được nhiều quốc gia quan tâm và tiến hành một cách triệt để từ rất lâu Về quản lý, một loạt những chính sách quy định đã được ban hành nhằm kiểm soát chặt chẽ loại chất thải này Các hiệp ước quốc tế, các quy định về chất thải nguy hại, trong đó có cả chất thải bệnh viện cũng
đã được công nhận và thực hiện trên hầu hết các quốc gia trên thế giới
Xử lý chất thải bệnh viện, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế và khoa học công nghệ, nhiều nước trên thế giới đã có những biện pháp khác nhau để xử lý loại rác thải nguy hại này
Ngày nay, thiêu đốt và khử khuẩn là hai phương pháp được sử dụng phổ biến nhất Tùy thuộc vào các điều kiện cụ thể (kinh phí, công nghệ, quỹ đất, quan điểm
và các quy định về bảo vệ môi trường), mỗi quốc gia có thể lựa chọn cho mình biện pháp xử lý phù hợp riêng [7][18]
Ở Mỹ, luật phòng chống ô nhiễm không khí đã làm giảm đáng kể việc áp dụng thiêu đốt trong xử lý chất thải rắn Hiện nay, phương pháp khử khuẩn được áp dụng rộng rãi [14]
Ngược lại, ở Malaisia, phương pháp thiêu đốt trong các nhà máy xử lí chất thải tập trung được lựa chọn và là mô hình chủ yếu để xử lý phần lớn chất thải y tế được thu gom Hầu hết chất thải y tế có khả năng cháy được thu gom và xử lý ở 3 nhà máy thiêu đốt rác tập trung [16]
Ở Pháp, sau khi ban hành hướng dẫn về phát thải không khí của Cộng đồng châu Âu (1992), một số lò đốt chất thải y tế của các bệnh viện đã bị đóng cửa do không đáp ứng yêu cầu [17] Ngày nay chất thải rắn y tế nguy hại tại Pháp được xử
lý theo 3 mô hình: phối hợp giữa thiêu đốt tại chỗ và thiêu đốt bên ngoài bệnh viện, đốt chung với chất thải sinh hoạt và khử khuẩn Mỗi mô hình được áp dụng phù hợp với điều kiện của từng địa phương
Tại Hồng Kông, chất thải lây nhiễm được xử lý bằng phương pháp thiêu đốt, chất thải còn lại không lây nhiễm được chôn lấp Chỉ có 4 bệnh viện công có cơ sở
Trang 9thiêu đốt chất thải lây nhiễm tại chỗ Đối với các cơ sở không có lò đốt, chất thải lây nhiễm được thu gom vận chuyển đến lò đốt chất thải tập trung để xử lý chất thải lây nhiễm Mô hình áp dụng này giống Malaysia
Tại Nhật Bản, hầu hết chất thải y tế phát sinh trong ngày được thiêu hủy trong các cơ sở đốt chất thải của tư nhân
Phương pháp khử khuẩn: Mục đích của việc khử khuẩn là biến đổi rác nhiễm khuẩn sang dạng rác thải không nhiễm khuẩn Tuy nhiên, phương pháp này không thể áp dụng cho một số loại CTYT như chất thải hóa học, chất thải phóng xạ… Nguyên lý của phương pháp này là tạo ra các phản ứng hóa học, ở nhiệt độ cao được tạo ra do các thiết bị nhiệt hoặc lò vi sóng
1.2.2 Tình hình quản lý và xử lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam
1.2.2.1 Hiện trạng công tác quản lý chất thải y tế
Công tác thu gom, lưu trữ CTR y tế nói chung đã được quan tâm bởi các cấp
từ Trung ương đến địa phương, thể hiện ở các mức độ thực hiện quy định ở các bệnh viện khá cao Chất thải y tế phát sinh từ các cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc
sự quản lý của Bộ y tế, phần lớn được thu gom và vận chuyển đến các khu vực lưu giữ sau đó được xử lý tại các lò thiêu đốt nằm ngay trong cơ sở hoặc ký hợp đồng vận chuyển đến khác khu vực lưu giữ sau đó được xử lý tại các lò thiêu đốt nằm ngay trong cơ sở hoặc ký hợp đồng vận chuyển và xử lý đối với các cơ sở xử lý chất thải đã được cấp phép tại địa bàn cơ sở khám chữa bệnh đó
Đối với các cơ sở khám chữa bệnh ở địa phương do các Sở Y tế quản lý, công tác thu gom, lưu giữ và vận chuyển CTR chưa được chú trọng, đặc biệt là công tác phân loại và lưu giữ chất thải tại nguồn (chất thải y tế thông thường, chất thải y tế nguy hại…)
Trong vận chuyển CTR y tế, chỉ có 53% số bệnh viện sử dụng xe có nắp đậy
để vận chuyển chất thải y tế nguy hại; 53,4 % bệnh viện có mái che để lưu giữ CTR [1]… đây là những yếu tố để đảm bảo an toàn cho người bệnh và môi trường Phương tiện thu gom chất thải còn thiết và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn Nguyên nhân do có rất ít nhà sản xuất quan tâm đến mặt hàng này, do vậy
Trang 10mua sắm phương tiện thu gom CTR đúng tiêu chuẩn của các bệnh viện gặp khó khăn Theo báo cáo của JICA (2011), các cơ sở y tế của 5 thành phố điển hình là Hải Phòng, Hà Nội, Huế, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh, hầu hết các bệnh viện sử dụng thùng nhựa có bánh xe, xe tay, các dụng cụ vận chuyển bằng tay khác Một số khu vực lưu trữ CTR trước khi xử lý tại chỗ hoặc tại các khu vực xử lý bên ngoài được trang bị điều hòa và hệ thống thông gió theo quy định [1]
Nhìn chung các phương tiện vận chuyển chất thải y tế còn thiếu, đặc biệt là các xe chuyên dụng Hoạt động vận chuyển chất thải y tế nguy hại từ bệnh viện, các
cơ sở y tế đến nơi xử lý, chôn lấp hầu hết do Công ty môi trường đô thị đảm nhiệm, không có trang thiêt bị đảm bảo cho quá trình vận chuyển được an toàn Có 95,6% bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải trong đó 91,1 % đã sử dụng dụng cụ tách riêng vật sắc nhọn Theo báo cáo kiểm tra của các tỉnh và nhận xét của đoàn kiểm tra liên Bộ, còn có hiện tượng phân loại nhầm chất thải, một số loại chất thải thông thường được đưa vào chất thải y tế nguy hại gây tốn kém trong việc xử lý Có 63,6
% sử dụng túi nhựa làm bằng nhựa PE, PP Chỉ có 29,3 % sử dụng túi có thành dày theo đúng quy chế
Chất thải y tế đã được chứa trong các thùng đựng chất thải Tuy nhiên, các bệnh viện có các mức độ đáp ứng yêu cầu khác nhau, chỉ có một số ít bệnh viện có thùng đựng chất thải theo đúng quy chế (bệnh viện trung ương và bệnh viện tỉnh)
Hầu hết ở các bệnh viện (90,9%) CTR được thu gom hàng ngày, một số bệnh viện có diện tích chật hẹp nên gặp khó khăn trong việc thiết kế lối đi riêng để vận chuyển chất thải Chỉ có 53% số bệnh viện chất thải được vận chuyển trong xe có nắp đậy Có 53,4% bệnh viện có nơi lưu giữ chất thải có mái che, trong đó có 45,3
% đạt yêu cầu theo quy chế quản lý chất thải y tế [2]
Trang 11Bảng 1.1: Hiện trạng thu gom, phân loại chất thải y tế tại các bệnh viện trên địa
bàn thành phố Hà Nội năm 2010
Các yêu cầu theo quy chế quản lý CTYT Tỷ lệ tuân thủ (%) Túi đựng chất thải đúng quy cách về bề dày và dung tích 66,67
Túi đựng chất thải đúng quy cách về buộc đóng gói 81,33
[Nguồn: Số liệu thống kê trung bình của Sở y tế từ kết quả
khảo sát 74 bệnh viện Hà Nội năm 2009-2010]
Bảng 1.2 : Thực trạng các trang thiết bị thu gom lưu giữ CTR y tế
Dụng cụ thu gom tại
Xe tay
Thùng
có bánh
xe
Khác
Có điều hòa và thông gió
Không
có điều hòa và thông gió
Phòng chung
Không
có khu lưu trữ
[Nguồn: Nghiên cứu quản lý môi trường đô thị tại Việt Nam – Tập 6 Nghiên
cứu về quản lý CTR ở Việt nam, JICA, tháng 5 -2011]
Trang 12Khối lượng CTR y tế nguy hại được xử lý đạt tiêu chuẩn chiếm 68% tổng lượng phát sinh CTR y tế nguy hại trên toàn quốc CTR y tế xử lý không đạt chuẩn (32%) là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng Các thành phố lớn như TP Hồ Chí Minh và Hà Nội đã có xí nghiệp xử lý CTR y tế nguy hại vận hành tốt, tổ chức thu gom và xử lý, tiêu hủy CTR y tế nguy hại cho toàn bộ cơ sở y tế trên địa bàn CTR y tế nguy hại của các tỉnh, thành phố khác hiện được xử lý và tiêu hủy với các mức độ khác nhau: Một số địa phương như Thái nguyên, Hải phòng, Cần Thơ đã tận dụng tốt lò đốt trang bị cho cụm bệnh viện, chủ động chuyển giao lò đốt cho công ty môi trường đô thị tổ chức vận hành
và thu gom xử lý CTR y tế nguy hại cho toàn tỉnh, thành phố; Nghệ An có lò đốt đặt tại bệnh viện tỉnh xử lý CTR y tế nguy hại cho các bệnh viện khác thuộc địa bàn thành phố, thị xã
Một số thành phố lớn đã bố trí lò đốt CTR y tế nguy hại tập trung tại khu xử
lý chung của thành phố Tỷ lệ lò đốt CTR y tế phân tán được vận hành tốt chỉ chiếm khoảng xấp xỉ 50% số lò được trang bị, có vùng chỉ đạt 20% Nếu xét mức độ xử lý của các cơ sở y tế theo tuyến trung ương và địa phương, các sở trực thuộc Bộ y tế
có mức độ đầu tư xử lý CTR y tế nguy hại cao hơn hẳn các cơ sở tuyến địa phương Bên cạnh lí do về công nghệ và trình độ quản lý, thì thiếu kinh phí vận hành là yếu
tố quan trọng dẫn đến các lò đốt hoạt động phân tán không hiệu quả
- Công tác xử lý CTR y tế nguy hại tại 7 vùng trong cả nước:
+ Vùng đồng bằng sông Hồng có 244 cơ sở khám chữa bệnh cấp địa phương trong đó có 98 cơ sở có trang bị lò đốt CTR y tế chiếm 40%, số lò đốt còn hoạt động tốt là 63 (chiếm 64%) Đối với các cơ sở y tế chưa được trang bị lò đốt, hoặc
lò đốt không hoạt động, CTR y tế nguy hại xử lý tập trung tại khu xử lý CTR chung
Có 8/11 tỉnh của vùng đã bố trí xử lý CTR y tế tại khu xử lý CTR chung, số cơ sở y
tế cấp địa phương xử lý tại khu xử lý tập trung chiếm 65% Tại 3 tỉnh Bắc Ninh, Hà Nam và Vĩnh Phúc 100% CTR y tế xử lý phân tán tại các bệnh viện
+ Vùng Đông Bắc và Tây Bắc Bộ có 209 cơ sở khám chữa bệnh cấp địa phương, 93 cơ sở có trang bị lò đốt CTR y tế (chiếm hơn 44%), số lò đốt còn hoạt
Trang 13động tốt là 42 (chiếm trên 45%) Có 9/15 tỉnh của vùng đã bố trí xử lý CTR y tế tại khu xử lý CTR chung của tỉnh và thành phố Chỉ có 31 cơ sở y tế xử lý tại các khu
xử lý CTR chung, tương đương gần 15% Một số tỉnh đã có khu vực xử lý CTR y tế chung nhưng rất ít cơ sở vận chuyển đến như Cao Bằng, Bắc Cạn… phần lớn CTR
y tế ở các tỉnh như Bắc Kạn, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La… được xử lý tại chỗ, không đạt yêu cầu
+ Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên Hải miền Trung có 236 cơ sở khám chữa bệnh cấp địa phương Trong đó 168 cơ sở có trang bị lò đốt CTR y tế (chiếm 50%),
số lò đốt còn hoạt động tốt là 79 (chiếm 47%) Có 12/14 tỉnh đã bố trí xử lý CTR y
tế tại khu xử lý CTR chung của tỉnh; 47% số cơ sở y tế xử lý tại khu xử lý CTR tập trung Đối với bệnh viện tuyến Trung ương tập trung tại Đà Nẵng thì 100% CTR y
tế nguy hại được đưa về lò đốt CTR tại khu xử lý Khánh Sơn
+ Vùng Đông Nam Bộ có 34/100 cơ sở khám chữa bệnh cấp địa phương có trang bị lò đốt CTR y tế (chiếm 34%), trong đó có 7 lò đốt hoạt động tốt (20%) Tại
TP Hồ Chí Minh 100% CTR y tế nguy hại được đưa về lò đốt CTR của thành phố
+ Vùng Đồng bằng sông Cửu Long có 110/164 cơ sở khám bệnh cấp địa phương (chiếm 67%) số lò đốt hoạt động tốt là 64 lò (chiếm 58%) Có 10/13 tỉnh đã
bố trí xử lý CTR y tế tại khu xử lý CTR chung của tỉnh và thành phố Với 74 cơ sở (45%) số cơ sở xử lý tại khu xử lý CTR tập trung [6]
Đến năm 2006, hơn 500 lò đốt đã được lắp đặt tại các cơ sở y tế tại Việt Nam, tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn Tuy nhiên, trong số đó có tới hơn 33%
số lò không được hoạt động do nhiều lí do khác nhau
- Công nghệ xử lý CTR y tế nguy hại ở các thành phố lớn:
+ Tại Hà Nội sử dụng lò đốt chất thải y tế DEL – MONEGO công suất 200kg/h
ở Cầu Diễn do Công ty TNHH Nhà nước một thành viên môi trường đô thị (URENCO) quản lý để xử lý chất thải y tế trong địa bàn Hà Nội
+ Tại Đà Nẵng, sử dụng lò đốt HOVAL công suất 200kg/h ở khu xử lý chất thải rắn Khánh Sơn do Công ty môi trường đô thị quản lý để xử lý chất thải y tế trong địa bàn thành phố (CITENCO)
Trang 14+ Tại TP Hồ Chí minh, sử dụng hai lò đốt HOVAL công suất 150kg/h và 300kg/h đặt tại Nhà máy xử lý chất thải rắn y tế và công nghiệp do Công ty môi trường thành phố quản lý để xử lý chất thải y tế nguy hại cho các cơ sở y tế trong và ngoài thành phố [nguồn: Cục quản lý chất thải và cải thiện môi trường, TCMT, 2010]
Hiện có hai loại công nghệ thân thiện với môi trường được lựa chọn thay thế các
lò đốt chất thải y tế là công nghệ khử khuẩn bằng nhiệt ẩm (autoclave) và công nghệ
có sử dụng vi sóng Trong đó, công nghệ sử dụng vi sóng kết hợp hơi nước bão hòa
là loại công nghệ tiên tiến nhất hiện nay bởi có hiệu quả khử tiệt khuẩn cao và thời gian xử lý nhanh, hiện đang được áp dụng tại Trung tâm y tế Viesovpetro Vũng Tàu Định hướng trong tương lai sẽ hạn chế việc sử dụng các lò đốt để xử lý chất thải y
tế nguy hại, từng bước thay thế chúng bằng các thiết bị sử dụng công nghệ khử khuẩn bằng nhiệt ướt, vi sóng hoặc các phương pháp tiên tiến khác
Nhìn chung các lò đốt CTR y tế nguy hại còn nhiều hạn chế, tập trung vào các vấn đề sau: Chi phí đầu tư, hiệu suất vận hành, chi phí xử lý khí thải lớn Gía nhiên liệu quá cao dẫn đến nhiều cơ sở không đốt hoặc đốt không đảm bảo Thiếu phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất đốt và chất thải (khí, tro, nước thải từ bồn ngưng tụ xử lý khí) Hơn nữa, do chất đốt thường được sử dụng là dầu diezel nên rất khó đảm bảo đủ và đúng yêu cầu nhiệt độ khi vận hành (nhiệt trị của dầu thấp, và bắt buộc phải lưu thông khí khi đốt) Nếu phân loại rác không đúng sẽ gây tốn kém khi đốt các rác thường, không kiểm soát được khí thải lò đốt dẫn đến phí
xử lý khí thải lớn [1]
1.2.2.2 Một số biện pháp và công nghệ xử lý chất thải rắn y tế nguy hại
Công nghệ xử lý và tiêu hủy [12]
Có rất nhiều biện pháp và công nghệ xử lý CTRYTNH Những công nghệ và giải pháp chủ yếu là:
Công nghệ thiêu đốt: Sử dụng năng lượng từ các nhiên liệu để đốt rác Có thể xử
lý được nhiều loại rác đặc biệt là chất thải lâm sàng Phương pháp này làm giảm thiểu tối đa số lượng và khối lượng rác, đồng thời tiêu diệt hoàn toàn các mầm bệnh
Trang 15trong rác Phương pháp này đòi hỏi chi phí đầu tư ban đầu khá cao, chi phí vận hành, chi phí bảo dưỡng tương đối tốn kém
Công nghệ khử khuẩn hóa học: Sử dụng một số hóa chất khử trùng để tiêu diệt
các vi sinh vật trong đó có mầm bệnh làm cho rác được an toàn về mặt vi sinh vật Hóa chất thường được hay sử dụng như formaldehyde, ethylen oxide (CH2OCH2), sodium hypoclorite (NaOCl), chrorine dioxide (ClO2) Phương pháp này chi phí đầu
tư ban đầu thấp hơn, chi phí vận hành đắt tùy thuộc vào loại hóa chất, một số ô nhiễm thứ cấp có thể gặp từ các hóa chất dư Chi phí xử lý rác y tế ở các nước công nghiệp khoảng 100-120USD/tấn
Công nghệ xử lý nhiệt khô và hơi nước: sử dụng nhiệt ẩm hoặc hấp khô để diệt
khuẩn ở nhiệt độ 121-1600C Hầu hết các mầm bệnh bị tiêu diệt ở nhiệt độ này Ưu điểm của phương pháp này là có thể áp dụng được với các trường hợp có số lượng chất thải nhỏ, nhược điểm là hiệu quả kém trong việc làm giảm thiểu cả về khối lượng và trọng lượng
Công nghệ vi sóng: công nghệ vi sóng để xử lý CTRYTNH là một công nghệ
mới, hiệu quả Các thiết bị hiện đại có thể xử lý được 250kg/giờ tương đương khoảng 3000 tấn/năm Lò vi sóng loại này thường sử dụng nguồn phát bức xạ sóng điện từ siêu cao tần có tần số 2450 MHz, bước sóng khoảng 12,24cm Chi phí đầu
tư ban đầu tương đối đắt nhưng xử lý bằng phương pháp này nhiều vật liệu có thể tái sử dụng làm nguyên liệu để đưa vào kinh tế
Công nghệ chôn lấp: Phương pháp này có chi phí đầu tư ban đầu thấp, chi
phí vận hành rẻ nhưng chỉ nên thực hiện khi các nhà chức trách quản lý về môi trường cho phép và có điều kiện tự nhiên phù hợp như diện tích rộng, đặc điểm thổ nhưỡng và đặc điểm nguồn nước ngầm xa khu dân cư…
Nhốt chất thải: quá trình nhốt các chất thải với chất cố định xi măng, vôi
Thông thường người ta trộn hỗn hợp với rác y tế nguy hại 65%, xi măng 15%, nước
5 % Hỗn hợp này được nén thành khối
Công nghệ phù hợp
Xử lý và tiêu hủy CTRYTNH tuy có nhiều biện pháp và công nghệ như đã nêu ở trên, tuy nhiên không có một công nghệ nào giải quyết được toàn bộ các khía
Trang 16cạnh như mong muốn kể cả công nghệ đốt rác hiện đại Để hướng tới một môi trường lành mạnh và bảo vệ sức khỏe cộng đồng, CTRYTNH phải được xử lý, tuy nhiên sự lựa chọn cuối cùng về công nghệ, phương pháp sẽ phải được cân nhắc thận trọng Sự thận trọng nói trên dựa vào rất nhiều yếu tố cũng như điều kiện cụ thể của mỗi khu vực Các yếu tố tác động đến sự quyết định bao gồm:
- Hiệu quả khử trùng làm cho CTRYTNH trở thành vô hại
- Những cân nhắc về môi trường và sức khỏe
- Sự giảm thiểu về khối lượng và trọng lượng
- Cân nhắc tới khía cạnh an toàn lao động và bệnh nghề nghiệp
- Tổng khối lượng chất thải cần xử lý và tiêu hủy trên tổng khả năng xử lý của thiết bị
- Nhóm loại chất thải để xử lý và tiêu hủy
- Nhu cầu cơ sở hạ tầng
- Lựa chọn xử lý của địa phương khu vực và công nghệ
- Lựa chọn khả năng tiêu hủy cuối cùng trong chu trình
- Nhu cầu đào tạo nhân lực cho vận hành
- Cân nhắc về khía cạnh vận hành và bảo trì hệ thống
- Mặt bằng, thổ nhưỡng khu vực xử lý tiêu hủy
- Chi phí đầu tư ban đầu và chi phí vận hành
- Sự chấp nhận của cộng đồng
- Yêu cầu về các quy định, luật lệ chung của khu vực
Trong điều kiện Việt Nam, tùy điều kiện cụ thể của mỗi địa phương, điều kiện
cụ thể của cơ sở y tế mà lựa chọn công nghệ cho thích hợp hay còn gọi là công nghệ phù hợp Như vậy đối với các bệnh viện trung ương, bệnh viện đa khoa tại các khu
đô thị dân cư đông đúc phải lựa chọn công nghệ khác hơn, yêu cầu cao hơn so với các bệnh viện huyện, cơ sở y tế tuyến huyện, xã
Công nghệ phù hợp vẫn phải bảo đảm xử lý được CTRYTNH nhưng đáp ứng thực tiễn đời sống xã hội, kinh tế, môi trường… Công nghệ phù hợp thỏa mãn:
- Phù hợp về điều kiện kỹ thuật thiết bị
Trang 17- Phù hợp với trình độ vận hành và bảo dưỡng
- Phù hợp về khả năng kinh tế
- Phù hợp với phong tục tập quán, điều kiện tự nhiên của địa phương
1.2.2.3 Các mô hình xử lý chất thải rắn y tế hiện nay ở Việt nam
Tại một số tỉnh/ thành phố lớn khác như Thái Nguyên, Quảng Nam, Đà Nẵng, Phú Yên, Đồng Nai cũng áp dụng mô hình xử lý tập trung nhưng với quy mô nhỏ Các bệnh viện này hợp đồng với công ty môi trường đô thị trên địa bàn về việc thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn y tế [13][10]
Tuy nhiên, với số lượng phát sinh chất thải nói chung và chất thải rắn y tế nói riêng ngày càng gia tăng, công suất của các lò đốt tập trung này có đáp ứng đủ yêu cầu không là vấn đề còn được xem xét
Ở mô hình này, vai trò của các bên liên quan như sau:
- Các BV, cơ sở y tế là khách hàng, và nhà cung cấp dịch vụ là Công ty môi trường đô thị Ví dụ, tại Hà Nội, Các BV, cơ sở y tế có trách nhiệm thu gom phân loại, và vận chuyển về nơi tập trung trung gian của bệnh viện Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên URENCO là doanh nghiệp nhà nước trực thuộc UBND thành phố Hà Nội chịu trách nhiệm thu gom, vận chuyển từ nơi tập trung trung gian, sau đó đưa về lò đốt chất thải y tế URENCO thường xuyên cử người đi kiểm tra, giám sát việc thu gom rác thải tại các bệnh viện Các bệnh viện cũng có một kho tập kết rác thải nguy hại trước khi bàn giao cho Công ty, quy trình thu gom rác hoàn toàn do phía bệnh viện đảm nhiệm
Trang 18b Mô hình xử lý theo cụm
Tại thành phố Nam Định, dịch vụ vệ sinh môi trường do công ty môi trường đô thị thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải sinh hoạt Từ tháng 2 năm 2002 khi lò đốt chất thải bệnh viện nguy hại được bàn giao đưa vào sử dụng tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định, Sở Y tế đã giao cho Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định thành lập đội thu gom và vận chuyển chất thải nguy hại y tế cho các bệnh viện trên địa bàn thành phố Nam Định và chịu trách nhiệm vận hành lò đốt chất thải y tế nguy hại Chất thải rắn bệnh viện được phân loại ngay từ nguồn do nhân viên bệnh viện thực hiện và quản lý Theo tính chất của từng loại chất thải, chúng được chứa trong các túi nhựa có màu sắc khác nhau, hoặc trong các vỏ hộp các tông, hộp nhựa Sau
đó được đựng trong các thùng chứa chuyên dùng, để ở khu vực tập kết của bệnh viện Còn các bệnh viện khác trong khu vực chịu trách nhiệm phân loại thu gom và vận chuyển chất thải rắn y tế nguy hại tới lò đốt và trả chi phí tiêu hủy chất thải rắn
Trang 19Năm 2007 Bệnh viện Lao và bệnh Phổi được lắp đặt lò đốt hiệu VHI - 18B
do viện Khoa học Công nghệ và Môi trường sản xuất, công suất 20kg/giờ Lò đốt hoạt động từ năm 2008 đến nay thiết bị đã xuống cấp, hư hỏng nặng do phải đốt thêm phần rác thải cho một số bệnh viện khác trong tỉnh khi Lò đốt HoVal tại Bệnh viện HNĐK tỉnh hư hỏng bảo dưỡng Tình trạng mùi khét, khói đen thải ra từ lò đốt gây ô nhiễm môi trường xung quanh Qua kết quả quan trắc khí thải lò đốt ngày 30/7/2012 của công ty TNHH 1 TV kỹ thuật TN&MT không đạt tiêu chuẩn quy định
- Mô hình xử lý theo cụm:
Có 1 cơ sở áp dụng mô hình xử lý chất thải rắn y tế theo cụm là BVĐK tỉnh Nghệ An
Công trình xử lý CTRYT của BVĐK tỉnh Nghệ An xử lý CTRYT cho các cơ
sở y tế ở khu vực thành phố Vinh gồm: Bệnh viện Hữu nghị ĐK tỉnh, Bệnh viện Y học cổ truyền, Bệnh viện Ung bướu, Bệnh viện Sản Nhi, Bệnh viện Tâm thần, Bệnh viện Nội Tiết, Bệnh viện Mắt, Bệnh viện Cửa Đông, Bệnh viện Đông Âu, Bệnh viện 115, Bệnh viện Thái An, Bệnh viện Thành An, Bệnh viện Mắt Sài Gòn, Trung tâm YTDP tỉnh, Trung tâm CSSKSS, Bệnh viện Giao thông Đây là lò đốt 2 buồng HoVal - Áo, được lắp đặt năm 2001 và đưa vào sử dụng từ năm 2002 Công suất của lò là 450 - 500 kg/24giờ Do phải hoạt động quá tải và thời gian sử dụng đã 10 năm đến nay lò đốt đã xuống cấp, các thiết bị đã bị han gỉ, hỏng thường xuyên phải sửa chữa Nhiệt độ của buồng đốt chỉ đạt 500 – 600oC Trong quá trình đốt thải ra khói đen, làm ảnh hưởng đến nhân viên, bệnh nhân và dân cư xung quanh Một số chỉ tiêu trong khí thải của lò đốt vượt quá tiêu chuẩn cho phép như SO2 vượt 3,4 lần, NOx vượt 1,48 lần, CO vượt 7,14 lần so với QCVN 02:2008 Lò đốt tiêu thụ nhiều dầu, chi phí xử lý chất thải rất tốn kém
Nhờ có phối hợp cả 2 mô hình xử lý, CTRNH của tất cả bệnh viện đều được
xử lý Các loại CTRYT được thiêu đốt bao gồm các loại chất thải lây nhiễm (sắc nhọn, chất thải dính máu và dịch cơ thể, mô cơ quan) và một lượng nhỏ hóa chất Tuy nhiên, trách nhiệm tiêu hủy cuối cùng lại không được các bên quan tâm Mặc
Trang 20dù tro của lò đốt được coi như CTNH nhưng việc tiêu hủy sau cùng loại chất thải này chưa được kiểm soát Các bệnh viện chôn lấp tro trong khuôn viên bệnh viện theo phương thức không an toàn
Các chất thải được phép tái chế như nhựa không lây nhiễm hay nhựa được khử trùng cho hết lây nhiễm thường được các cơ sở y tế bán cho cơ sở thu mua tái chế Tuy nhiên, trên địa bàn tỉnh Nghệ An chưa có cơ sở thu mua tái chế có tư cách pháp nhân như quy định
Vai trò quản lí và trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước:
- Sở Tài nguyên và Môi trường: có trách nhiệm tổ chức thẩm định các báo
cáo đánh giá tác động môi trường của những dự án đầu tư có phát sinh CTYT nguy hại; cấp, điều chỉnh Sổ đăng ký chủ nguồn thải CTYT nguy hại cho các bệnh viện; cấp, gia hạn, điều chỉnh và thu hồi Giấy phép quản lý CTNH đối với chủ vận chuyển và chủ xử lý, tiêu huỷ CTYT nguy hại; tổ chức kiểm tra, tranh tra công tác bảo vệ môi trường và quản lý CTYT nguy hại của các cơ sở y tế; phát hiện và xử lý các tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định về quản lý CTYT; hàng năm tiến hành thống kê tổng lượng CTYT nguy hại bởi các cơ sở y tế đã đăng ký chủ nguồn thải
và đánh giá tình hình quản lý CTYT nguy hại để báo cáo UBND tỉnh và Bộ Tài nguyên và môi trường
- Sở Y tế: Có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra, đánh giá hoạt động của các cơ
sở y tế trong tỉnh Tuy nhiên, chế độ báo cáo định kỳ về quản lý chất thải nguy hại chưa hình thành trong ngành y tế Số liệu về thực trạng quản lý chất thải y tế chỉ được cập nhật thông qua hoạt động kiểm tra bệnh viện hàng năm hay một số đợt thanh tra cơ sở y tế đột xuất
- Sở Xây dựng: quy hoạch, thiết kế, xây dựng bãi chôn lấp chất thải hợp vệ
sinh; quy hoạch, thiết kế, xây dựng, vận hành và quản lý các hệ thống cấp, thoát nước, xử lý nước thải đô thị; thẩm định thiết kế và cấp phép xây dựng các công trình y tế phải đáp ứng yêu cầu xử lý chất thải y tế
- Sở Tài chính: chịu trách nhiệm bảo đảm ngân sách đã được duyệt cho công
tác quản lý chất thải y tế
Trang 21- Sở Kế hoạch và Đầu tư chịu trách nhiệm xem xét các kế hoạch, dự án về
quản lý chất thải y tế, đảm bảo kế hoạch đầu tư cho các công trình, dự án đã được xét duyệt
- Sở Khoa học Công nghệ tham gia tư vấn khoa học công nghệ trong lĩnh
vực quản lý chất thải y tế
- Cảnh sát môi trường: phát hiện các sai phạm và xử phạt các vi phạm hành
chính hoặc điều tra khởi tố nếu có dấu hiệu tội phạm về môi trường
Quản lý chất thải y tế liên quan đến nhiều Sở nhưng hiện tại chưa có cơ chế phối kết hợp giữa các Sở/ngành trong tỉnh trong hoạt động quản lý chất thải y tế Chưa có hội đồng/tổ công tác liên ngành được thành lập để tháo gỡ những khó khăn trong quản lý chất thải y tế như việc phối hợp tiêu hủy chất thải hóa học và bùn
thải[15]
- Hình thức khác:
Hiện nay, tại một số cơ sở y tế vẫn sử dụng tạm thời biện pháp thiêu đốt chất thải y tế nguy hại ngoài trời hoặc chôn lấp chất thải y tế nguy hại ở bãi chôn lấp chất thải chung của địa phương như bệnh viện Phong – da liễu ở Quỳnh Lập
1.2.2.4 Các văn bản pháp lý có liên quan đến QLCTYT
a Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế về việc ban hành Quy chế quản lý chất thải y tế
b Quyết định số 1067/QĐ-BYT ngày 12/5/2009 của Bộ Y tế về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 29-CT/TW của Ban Bí thư về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị “Về bảo vệ môi trường trong thời
kì đầy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước” của ngành Y tế
c Quyết định số 1873/QĐ-BYT ngày 28/5/2009 của Bộ Y tế về việc ban hành Kế hoạch bảo vệ môi trường ngành y tế giai đoạn 2009-2015
d Quyết định số 2038/QĐ-TTg ngày 15/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt đề án tổng thể xử lý CTR y tế nguy hại giai đoạn 2011 đến 2015
và định hướng đến năm 2020
Trang 22CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trong phạm vi địa bàn hành chính của thành phố Bắc Giang - tỉnh Bắc Giang, trong đó tập trung vào các cơ sở y tế công lập và ngoài công lập
Thành phố Bắc Giang là trung tâm kinh tế - văn hóa - chính trị của tỉnh Bắc Giang, nằm ở tọa độ 21009’ - 21015’ vĩ độ bắc và 106007’ - 106020’ kinh độ đông; phía Bắc giáp huyện Tân Yên; phía Đông giáp huyện Lạng Giang; phía Nam giáp huyện Yên Dũng; phía Tây giáp huyện Việt Yên; diện tích tự nhiên 66,64 km2, gồm
16 đơn vị hành chính (10 phường, 6 xã); dân số 148.172 nhân khẩu, trong đó khu
vực thành thị 70.019, khu vực nông thôn 78.153 (số liệu Tổng điều tra Dân số và
nhà ở năm 2011) và nhiều các cơ quan Trung ương, quân đội, các cơ quan của tỉnh,
doanh nghiệp đóng trên địa bàn
Đặc trưng khí hậu chịu ảnh hưởng của gió mùa, một năm có hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 4 - 10, mùa khô từ tháng 11- 3 Nhiệt độ trung bình năm dao động từ 23,20C - 23,80C Độ ẩm trung bình từ 83 - 84% Tổng lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.400 - 1.730mm Nhìn chung, các điều kiện tự nhiên của thành phố Bắc Giang thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội trước mắt cũng như lâu dài
Với vị trí rất thuận lợi về giao thông, cách thủ đô Hà Nội 50 km về phía Bắc,
ở vị trí trung lộ trên tuyến giao thông huyết mạch (đường bộ, đường sắt liên vận quốc tế) nối Thủ đô Hà Nội với thành phố Lạng Sơn và cửa khẩu quốc tế Đồng Đăng; ở vào vị trí đầu mối giao thông cấp liên vùng quan trọng: nằm cận kề vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có hệ thống đường bộ gồm các quốc lộ 1A cũ và mới,
31, 37, tỉnh lộ 398; các tuyến đường sắt: Hà Nội - Lạng Sơn, Hà Nội - Kép - Hạ
Trang 23Long, Hà Nội - Kép - Thái Nguyên chạy qua; có tuyến đường sông nối thành phố với các trung tâm công nghiệp, thương mại, du lịch lớn như Phả Lại, Côn Sơn - Kiếp Bạc, Yên Tử, Hải Phòng; tiếp cận thuận lợi với cảng hàng không quốc tế Nội Bài, cảng nội địa Gia Lâm, cảng nước sâu Cái Lân, cảng Hải Phòng và các cửa khẩu quốc tế trên biên giới Lạng Sơn
Thành phố Bắc Giang trước kia và nay được biết đến với vai trò là một trong những trung tâm lớn của vùng về công nghiệp đạm - hoá chất, công nghiệp may mặc, đồng thời là trung tâm phân phối, trung chuyển hàng hóa từ Trung Quốc cho miền Bắc, cũng như là nơi tập kết các sản phẩm nội địa xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc Thành phố có 02 làng nghề truyền thống, một số cụm công nghiệp vừa
và nhỏ gắn với hệ thống các khu, cụm công nghiệp lớn của tỉnh liền kề thành phố như: Quang Châu, Đình Trám, Vân Trung, Song Khê - Nội Hoàng đó những thuận lợi cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội và đô thị
Mạng lưới y tế ngày được mở rộng với hệ thống các Bệnh viện, trạm chuyên khoa tuyến tỉnh và hàng trăm cơ sở khám chữa bệnh hành nghề y dược tư nhân, 845 giường bệnh, hơn 1.000 y, bác sỹ; hệ thống y tế cơ sở được chuẩn hóa, 10/11 phường, xã đạt “chuẩn Quốc gia về y tế xã” đáp ứng tốt nhu cầu chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân [19]
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
- Chất thải rắn y tế tại các cơ sở khám chữa bệnh trên địa bàn thành phố Bắc Giang
- Trang thiết bị, phương tiện thu gom, vận chuyển, lưu trữ và các giải pháp
xử lí chất thải rắn y tế
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập và phân tích tổng quan tài liệu
Phương pháp thu thập và phân tích tổng quan tài liệu nhằm tìm ra các vấn đề
cơ bản về chất thải rắn y tế
2.2.2 Phương pháp khảo sát thực địa kết hợp phỏng vấn
Trang 24Nghiên cứu được tiến hành bằng biện pháp khảo sát thực địa: quan sát và phỏng vấn trực tiếp những người làm công tác vệ sinh, xử lý và tiêu hủy chất thải;
từ đó đánh giá hiện trạng công tác phân loại, thu gom, lưu giữ và xử lý chất thải ở từng cơ sở y tế trên địa bàn
Các phiếu điều tra được phát cho các cơ sở y tế trên địa bàn thành phố Bắc Giang để thu thập các dữ liệu cơ bản ban đầu, sau đó tiến hành khảo sát chi tiết và
cụ thể tại từng cơ sở Nội dung các câu hỏi trong phiếu điều tra phục vụ cho việc thu thập thông tin cho nhóm thông tin sau:
- Nhóm thông tin liên quan đến tổ chức của cơ sở y tế và số liệu khám chữa bệnh của từng cơ sở y tế: Đó là thông tin về số giường bệnh, số bác sỹ, y tá, điều dưỡng viên, kỹ thuật viên; số người làm công tác vệ sinh môi trường, số bệnh nhân nội trú, ngoại trú
- Nhóm thông tin về khối lượng từng nhóm chất thải theo phân loại
- Nhóm thông tin về việc thực hiện Quy chế quản lý chất thải y tế ngày 30 tháng 11 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế; nhóm thông tin này tâp trung vào công tác phân loại, thu gom, lưu giữ và phương pháp xử lý chất thải y tế
– Tiêu chí đưa vào: các nhân viên y tế bao gồm cả nhân viên hành chính, hộ
lý và lao công, nhân viên vệ sinh tại các cơ sở y tế tư nhân
– Tiêu chí loại trừ: bảo vệ, nhân viên căng tin, những nhân viên vắng mặt tại buổi khảo sát, người từ chối phỏng vấn và người ngừng cuộc phỏng vấn giữa chừng
b Thu thập số liệu
– Ngày thu thập: Từ ngày 15 – 28/07/2014
– Phương pháp thu thập: Phỏng vấn trực tiếp thông qua bảng câu hỏi
Trang 25– Công cụ: Bộ câu hỏi đã được soạn sẵn
– Quản lí dữ liệu: Đánh số thứ tự các phiếu điều tra ngay sau khi thu thập
Sau đó kiểm tra số lượng các phiếu đạt yêu cầu phù hợp với số lượng nhân viên y tế
mà trước đó các trưởng khoa phòng đã báo cáo để kiểm soát số lượng của các phiếu
đã được thu thập
2.2.3 Phương pháp đánh giá nhanh môi trường
Phương pháp đánh giá nhanh môi trường là phương pháp thu thập thông tin
về hiện trạng môi trường dựa trên cơ sở quan sát, phỏng vấn, tính toán, định lượng trong trường hợp cần thiết
Một số kỹ thuật đánh giá nhanh đã được sử dụng trong luận văn này:
- Tổng kết số liệu thứ cấp: Những số liệu này được thu thập ở các ban ngành địa phương…
- Quan sát thực địa: khảo sát thực tế, những người làm công tác vệ sinh, xử
lý và tiêu hủy chất thải; từ đó đánh giá hiện trạng…
WYTNH = WYTNH x N
Trong đó:
WYTNH: Khối lượng CTR y tế nguy hại phát sinh (kg/ngày)
WYTNH: Chỉ tiêu phát sinh CTR y tế nguy hại (kg/giường bệnh/ngày)
N - Quy mô giường bệnh thời điểm dự báo (giường)
Trang 26CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đặc điểm các cơ sở y tế và tình hình phát sinh chất thải rắn y tế
3.1.1 Đặc điểm các cơ sở y tế
Theo kết quả điều tra, trên địa bàn thành phố Bắc Giang có 18 bệnh viện và
cơ sở y tế lớn Số cơ sở y tế tư nhân tập trung chủ yếu ở gần các bệnh viện lớn như Bệnh viện đa khoa tỉnh, Bệnh viện sản nhi…
Số lượng, đặc điểm của các bệnh viện và cơ sở y tế lớn trên địa bàn thành phố Bắc Giang được mô tả trong bảng 3.1
Bảng 3.1 Đặc điểm các cơ sở y tế trên thành phố Bắc Giang
QUY MÔ
ĐỊA ĐIỂM
Số giường
Số lượng CBCNV
Diện tích (m2)
3 Bệnh viện Lao 220 177 22900 Xã Song Mai, TP Bắc Giang
4 Bệnh viện tâm thần 150 114 20000 Xã Song Mai, TP Bắc Giang
5 Bệnh viện sản nhi 402 297 26980 Phường Dĩnh Kế, TP Bắc Giang
8 Trung tâm Sốt rét – nội tiết - 45 1120 Phường Ngô Quyền, TP Bắc Giang
10 Trung tâm kiểm nghiệm - 33 960 Phường Ngô Quyền, TP Bắc Giang
Trang 2715 Trung tâm y tế thành phố - 31 77 Hoàng Văn Thụ, TP Bắc Giang
16 Bệnh viện đa khoa thành
Đường Cô Giang, Phường Trần Nguyên Hãn, TP Bắc Giang
17 Bệnh xá BCHQS tỉnh 10 9 1000 Ngõ 291 Lê Lợi, Phường Hoàng
Văn Thụ
18 Bệnh xá Công an tỉnh 10 14 1000 Số 2 Nguyễn Doãn Địch, phường
Trần Nguyên Hãn
Bảng 3.2 Đặc điểm vị trí khu vực xung quanh các bệnh viện
TT Tên cơ sở y tế Địa hình
Khu vực xung quanh BV
Phía Đông Phía Tây Phía Nam Phía Bắc
1 BVĐK tỉnh
Bắc Giang Bằng phẳng Khu dân cư Khu dân cư Khu dân cư Khu dân cư
2 BV Sản Nhi Bằng phẳng Giáp dân cư Giáp dân cư Giáp dân cư Giáp dân cư
3 BV Tâm Thần Bằng phẳng Dân cư
thưa thớt
4 BV Y học cổ truyền Bằng phẳng Giáp dân cư Giáp dân cư Giáp dân cư Giáp dân cư
5 BV Lao và bệnh phổi Đồi dốc Núi Khu dân cư Núi Núi
6 BVĐK thành phố
Bắc Giang Bằng phẳng Giáp dân cư Giáp dân cư Giáp dân cư Giáp dân cư
Trên thành phố Bắc Giang có 18 cơ sở y tế lớn, trong đó có 6 Bệnh viện, trừ Bệnh viện Lao phổi và Bệnh viện Tâm thần thì hầu hết các bệnh viện còn lại đều nằm trong khu vực đông dân cư hoặc giáp dân cư
Trang 28Hình 3.1 Đặc điểm phân bố các cơ sở y tế trên thành phố Bắc Giang
Trang 29Bảng 3.3 Khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh tại các bệnh viện trên địa bàn thành phố Bắc Giang năm 2013 và ước tính đến năm 2020
TT Tên cơ sở y tế
năm 2020
Số giường
kế hoạch
Số giường thực kê
Khối lượng CTNH (kg/ngày)
Số giường
kế hoạch
Khối lượng CTNH (kg/ngày)
Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang là bệnh viện đa khoa tập trung số lượng bệnh nhân đến khám và điều trị lớn nhất, bệnh viện luôn trong tình trạng quá tải bệnh nhân, công suất giường bệnh chiếm 131,12% do vậy khối lượng chất thải phát sinh nhiều với tỉ lệ phát sinh CTRYTNH trung bình là 0,174kg/giường/ngày Tỉ lệ phát sinh CTRYTNH trung bình ở bệnh viện Sản nhi là 0,225kg/ giường/ngày Theo dự thảo báo cáo quản lý các nguy cơ môi trường của dự án hỗ trợ xử lý chất thải bệnh viện năm 2010 của Bộ y tế thì mức độ phát sinh CTRYTNH tại các bệnh
Trang 30viện đa khoa tuyến tỉnh là 0,225 kg/giường/ngày, BVCK tuyến tỉnh là 0,2kg/giường/ngày Như vậy, tỉ lệ phát sinh CTRYTNH trung bình tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang thấp hơn so với mức bình quân, ngược lại tỉ lệ này lại cao hơn
so với mức bình quân đối với bệnh viện Sản nhi Nguyên nhân do đây là bệnh viện đặc thù chuyên khoa sản lớn nhất toàn tỉnh, số lượng bệnh nhân đến khám và điều trị cao, nên khối lượng phát sinh chất thải rắn y tế nguy hại lớn
Bệnh viện Lao, bệnh viện y học cổ truyền, bệnh viện tâm thần và bệnh viện
đa khoa thành phố có khối lượng chất thải y tế ít hơn so với bệnh viện đa khoa
Bảng 3.4 Danh sách các cơ sở y tế đăng kí chủ nguồn thải chất thải nguy hại
phát sinh
1 Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang 2795,8 kg/tháng
Mặc dù trên thành phố Bắc Giang có 18 cơ sở y tế lớn và 112 phòng khám tư nhân, nhưng hiện tại chỉ có 6 đơn vị đăng kí chủ nguồn thải chất thải nguy hại với
cơ quan chức năng Như vậy khối lượng phát sinh thực tế của Bệnh viện Đa khoa và Bệnh viện Sản Nhi đều tăng so với khối lượng đã đăng kí Nguyên nhân do việc tăng số lượng giường bệnh thực tế do tăng nhu cầu về khám chữa bệnh đồng nghĩa với việc tăng khối lượng chất thải y tế
Trang 31Bảng 3.5 Khối lượng chất thải rắn y tế của hệ thống y tế dự phòng và cơ sở đào tạo y dược
Tên/ Loại CTR
Tổng lượng phát sinh (kg)
Khối lượng CTNH (kg/ngày)
CT sắc nhọn
CT lây nhiễm không sắc nhọn
và CT nguy cơ lây nhiễm cao
CT giải phẫu
Tổng lượng CT hóa học nguy hại
CT sinh hoạt
CT tái chế
Trang 32Như vậy, tổng khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh trên một ngày của hệ y tế dự phòng và các cơ sở đào tạo y dược khoảng 3.924kg/ngày Trong đó:
Tại các Trạm y tế: Trạm y tế phường, xã không có bệnh nhân điều trị nội trú,
vì vậy số giường bệnh không nhiều, chủ yếu nằm theo dõi sau tiêm, một số trạm y
tế không có giường bệnh Những trạm y tế nằm gần khu vực trung tâm thành phố như trạm y tế phường Trần Phú, phường Hoàng Văn Thụ, Lê Lợi… phần lớn làm công tác dự phòng là chính Chất thải phát sinh chủ yếu ở các trạm y tế phường xã
là chất thải sinh hoạt Chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh từ các trạm y tế chủ yếu
do hoạt động tiêm phòng Tổng khối lượng CTR y tế nguy hại phát sinh của 16 trạm
y tế phường xã là 33kg/năm, tính trung bình 0,171 kg/tháng Hiện nay chỉ có 03 trạm y tế: xã Tân Tiến, xã Xương Giang và xã Tân Tiến có lò đốt chất thải y tế theo đúng Quy chuẩn của Bộ y tế Còn lại, chất thải y tế nguy hại của các phường xã không có lò đốt được đựng trong hộp an toàn đựng bơm kim tiêm đã qua sử dụng, sau đó thải lẫn chung và đem đi chôn lấp cùng với chất thải sinh hoạt
Tại các cơ sở y tế hệ dự phòng, trường đào tạo y dược: Chất thải rắn y tế
nguy hại phát sinh ở trung tâm phòng chống HIV/AIDS và trung tâm y tế dự phòng tỉnh là cao nhất
Chất thải rắn y tế nguy hại tại các cơ sở y tế dự phòng như Trung tâm HIV, Trung tâm sốt rét – nội tiết, Trung tâm chăm sóc SKSS, Trung tâm giám định y khoa… CTRYT nguy hại chủ yếu là bơm kim tiêm do thực hiện chương trình phòng chống HIV/ AIDS, lấy máu sàng lọc HIV cho đối tượng sử dụng ma túy, gái mại dâm… Hiện nay trên địa bàn thành phố chỉ có 01 trường trung cấp y tế Bắc Giang đào tạo về y dược, phát sinh chất thải rắn y tế nguy hại do hoạt động trong quá trình dạy học, tuy nhiên số lượng phát thải không đáng kể
Trên địa bàn thành phố Bắc Giang hiện nay có 112 phòng khám tư nhân, phân bố rải rác trên địa bàn thành phố, tuy nhiên tập trung chủ yếu ở phường Hoàng Văn Thụ và phường Trần Phú, nơi có bệnh viên đa khoa tỉnh Bắc Giang Những phòng khám này mở ra đã góp phần làm giảm tình trạng quá tải cho bệnh viện công, giúp cho người dân khám chữa bệnh được thuận lợi hơn
Trang 33Theo quy định, tất cả các phòng khám tư nhân khi đăng kí hoạt động bắt buộc phải có hợp đồng thu gom xử lý với các đơn vị có đủ chức năng, nhưng hầu hết các phòng khám tư nhân đều thải chung rác thải y tế với rác thải sinh hoạt
Tiến hành khảo sát khối lượng chất thải rắn của các phòng khám tư nhân, chọn ra mỗi loại hình khám chữa bệnh 5 cơ sở, sau đó tính khối lượng trung bình của chất thải rắn y tế và được kết quả như sau:
Bảng 3.6 Khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại tại phòng khám tư nhân theo loại hình khám chữa bệnh tại thành phố Bắc Giang
TT Loại hình khám chữa bệnh Số phòng
khám
Khối lượng (kg/ngày/phòng khám)
Khối lượng (kg/tháng)
Phòng khám răng hàm mặt, thành phần chất thải chủ yếu là bông băng, kim tiêm
Trang 343.1.2 Phân loại chất thải
Theo kết quả khảo sát cho thấy chất thải rắn tại các cơ sở y tế trên địa bàn nghiên cứu chủ yếu là: bông gạc, băng, quần áo cũ, khăn lau, chai lọ đựng thuốc, ống tiêm, ống nghiệm, hộp đựng dụng cụ, giấy vệ sinh, bơm tiêm, lưỡi dao, dây truyền máu, túi đựng hàng hóa, dao mổ, máu dính ở băng gạc, lá cây, đất đá, thức
ăn thừa, chỉ khâu, các vật thải từ phòng xét nghiệm…
Về thành phần hóa học bao gồm một số nguyên tố chính sau: C, H, O, N, Cl
và một phần tro
Trong quá trình thực hiện, chúng tôi đã tiến hành phân loại chất thải ngay tại thời điểm phát sinh của bệnh viện có lượng chất thải lớn là bệnh viện đa khoa tỉnh Quá trình tiến hành tại bệnh viện đa khoa tỉnh, chất thải rắn phát sinh được phân loại thành 6 loại sau theo quy chế của Bộ y tế như sau:
- Chất thải sinh hoạt
- Chất thải lây nhiễm
Bảng 3.7 Kết quả phân loại chất thải rắn tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang
(%)
Trang 35TT Loại chất thải Số lượng (kg/ngày) Phần trăm
đã đựng các loại chất thải khác) Đối với chất thải sắc nhọn như bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ… được đựng vào hộp an toàn theo đúng quy định của Bộ y tế: thành dày cứng không bị xuyên thủng, có khả năng chống thấm,
có dòng chữ “HỘP AN TOÀN ĐỰNG BƠM KIM TIÊM ĐÃ QUA SỬ DỤNG”
Tuy nhiên, ở bệnh viện đa khoa tỉnh, do khối lượng chất thải phát sinh nhiều, túi và thùng đựng chất thải còn thiếu so với nhu cầu, nên có tình trạng để chất thải nguy hại không đúng mã màu sắc theo đúng quy định Các dụng cụ chứa vật sắc nhọn, bệnh viện tận dụng các chai nhựa Lavi hoặc can nhựa nhỏ để chứa đựng, không có chữ cảnh báo Các chất thải rắn có yếu tố lây nhiễm cao như tiêu chảy cấp, cúm A… được thực hiện một cách nghiêm ngặt, được gói trong nhiều lớp nilon
và khử khuẩn bên ngoài túi
Các cơ sở y tế không có hoặc có rất ít giường bệnh (Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh và thành phố, Trung tâm kiểm nghiệm, Trung tâm giám định pháp y…) các túi đựng chất thải được đặt một nơi, thường được đặt ở nguồn phát sinh chất thải như: buồng thủ thuật, buồng bệnh, buồng tiêm; các cơ sở y tế khác có số lượng giường bệnh nhiều và lượng chất thải phát sinh lớn như bệnh viện đa khoa tỉnh, các
Trang 36túi và thùng đựng chất thải được đặt ở nơi gần với nguồn phát sinh chất thải như: buồng thủ thuật, buồng thay băng, buồng tiêm, buồng đỡ đẻ, buồng bệnh, buồng xét nghiệm, hành lang, trên các xe tiêm và làm thủ thuật có các hộp đựng vật sắc nhọn, túi đựng bông băng riêng để thuận tiện cho việc phân loại
Chất thải y tế của các trạm y tế phường, xã chủ yếu là bơm kim tiêm, bông thấm máu phát sinh trong quá trình tiêm phòng được đựng trong hộp an toàn, để gần khu vực bàn tiêm
Các túi đựng chất thải sinh hoạt được để trong xô nhựa hoặc thùng rác có nắp đậy; được đặt trong khuôn viên của bệnh viện, hoặc các phòng bệnh, hàng ngày
hộ lý và người làm vệ sinh môi trường hoặc công nhân viên phụ trách vệ sinh đến thu gom, buộc chặt miệng túi và vận chuyển chất thải về nơi tập trung của bệnh viện cho xe của công ty quản lý công trình đô thị Bắc Giang đến thu gom, vận chuyển và xử lý Chất thải y tế nguy hại được chuyển về nhà lưu trữ tạm thời chất thải nguy hại chờ cơ quan có chức năng đến để vận chuyển và xử lý hoặc nơi tập trung để đốt
Tuy nhiên, hầu hết tại các trạm y tế phường, xã chất thải sau khi thu gom được đổ lẫn chung cùng với rác thải sinh hoạt của trạm mà không có hợp đồng vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại với đơn vị đủ chức năng vận chuyển và xử lý
Đối với các cơ sở y tế tư nhân, các phòng khám, việc phân loại chất thải được tiến hành một cách qua loa Một số phòng khám tư nhân có thùng đựng rác với các túi màu khác nhau theo đúng quy định của Bộ y tế nhằm đối phó với cơ quan chức năng, nhưng thực tế sau đó chất thải y tế lại được để lẫn với chất thải sinh hoạt sau đó được đem đi xử lý cùng với chất thải sinh hoạt
3.1.3 Thu gom, vận chuyển và lưu giữ chất thải
a Thu gom chất thải
Hơn 90% chất thải rắn tại các bệnh viện trên địa bàn thành phố Bắc Giang là chất thải sinh hoạt, được phát sinh từ các hoạt động hàng ngày của bệnh nhân, người nhà bệnh nhân đến thăm nuôi và của các cán bộ, y bác sĩ của bệnh viện Đây
là loại rác thải ít độc hại và dễ xử lý Tuy nhiên, tại các phòng khám tư nhân không
Trang 37có bệnh nhân điều trị nội trú, không có giường bệnh thì chủ yếu là chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh từ hoạt động khám chữa bệnh
Quá trình thu gom chất thải rắn y tế của các cơ sở y tế được tiến hành từ 01 đến 02 lần/ngày tùy thuộc vào các đặc điểm của từng bệnh viện, thời điểm thu gom được tiến hành vào lúc đầu buổi sáng hoặc cuối buổi chiều Các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân hầu hết đều đổ chung rác thải y tế và rác thải sinh hoạt rồi được các công nhân môi trường thu gom
b Vận chuyển chất thải
* Vận chuyển chất thải trong các cơ sở y tế:
Hầu hết các cơ sở y tế trên địa bàn chưa có phương tiện chuyên dụng phục
vụ công tác vận chuyển chất thải từ các túi, thùng đã được thu gom ở các phòng, khoa về nơi xử lý và tiêu hủy Chất thải y tế nguy hại đều được vận chuyển ra lò đốt, nơi tiêu hủy hoặc các nhà lưu giữ bằng biện pháp thủ công xách tay (trung tâm sốt rét – nội tiết, trung tâm y tế dự phòng tỉnh… Riêng bệnh viện đa khoa tỉnh, bệnh viện sản nhi có các xe kéo tay chuyên dụng để vận chuyển rác thải trong bệnh viện
* Lưu giữ chất thải:
Hầu hết nhà lưu rác của các cơ sở y tế trên địa bàn thành phố Bắc Giang được tận dụng từ những công trình cũ hỏng, không có điều hòa, không sử dụng nên
vệ sinh không đảm bảo, có nhiều nguy cơ gây rủi ro do chất thải rơi vãi
Hiện tại, bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang chưa có kho lưu giữ tạm thời chất thải nguy hại, chất thải rắn y tế nguy hại được lưu giữ tại khu lò đốt hoặc được đưa thẳng vào lò đốt Kho lưu giữ tạm thời chất thải nguy hại của BV Sản nhi có cửa khóa, có mái che và tường bao quanh, có diện tích khoảng 15m2, đảm bảo chất thải không bị rơi vãi ra ngoài Tuy nhiên không có điều hòa theo đúng quy định của
Bộ Y tế
Một số các trung tâm y tế như trung tâm sốt rét nội tiết không có kho lưu giữ tạm thời chất thải nguy hại theo tiêu chuẩn quy định do điều kiện trụ sở làm việc chật hẹp Mặt khác, các trung tâm y tế có khối lượng phát sinh chất thải y tế nguy
Trang 38hại ít, không có hệ thống xử lý tại trung tâm, thời gian thu gom và lưu giữ chất thải
y tế nguy hại không đảm bảo 48h theo đúng quy định của Bộ y tế
Kho lưu giữ tạm thời chất thải nguy hại của các phòng khám tư nhân được thiết kế bằng những thùng tôn nhỏ, hoặc thùng nhựa đảm bảo tránh rơi vãi và phát tán ra môi trường xung quanh
* Vận chuyển chất thải ra ngoài cơ sở y tế:
Đối với các cơ sở y tế mà chất thải y tế nguy hại và chất thải sinh hoạt được phân loại và thu gom riêng, chất thải sinh hoạt được vận chuyển ra bãi chôn lấp của thành phố thông qua hợp đồng với Công ty quản lý công trình đô thị Bắc Giang Đối với chất thải tái chế đã được phân loại, bệnh viện đa khoa tỉnh và Bệnh viện sản nhi có hợp đồng với Công ty Bảo Ngọc – Bắc Ninh vận chuyển và xử lý định kì theo hợp đồng
Với các cơ sở y tế không có lò đốt, chất thải rắn y tế nguy hại được vận chuyển bằng nhiều hình thức, phương tiện như xe máy, xe lam… đến các cơ sở y tế
đã hợp đồng thuê đốt CTRYTNH Ví dụ như trung tâm sốt rét nội tiết có hợp đồng
xử lý với Bệnh viện lao thành phố, sau khi thu gom, phân loại và lưu giữ, cán bộ của trung tâm tự vận chuyển chất thải y tế nguy hại đến bệnh viện lao để xử lý Hoặc phòng khám tai mũi họng Nguyễn Đăng Ninh – đường Lê Lợi tự vận chuyển CTRYTNH bằng xe máy đến Bệnh viện quân y 110 đã được hợp đồng để xử lý
Bất cập hiện nay là các cơ sở y tế chưa có xe chuyên dụng, xe đông lạnh để vận chuyển chất thải theo đúng quy định Chất thải sau khi được vận chuyển đến cơ
sở để xử lý, sẽ được lưu giữ cùng với chất thải phát sinh của chính cơ sở y tế đó để chờ xử lý
c Xử lý chất thải y tế
* Xử lý ban đầu:
Hẩu hết các cơ sở y tế trên địa bàn không thực hiện xử lý ban đầu đối với chất thải rắn y tế nguy hại, chất thải được phân loại và thải trực tiếp vào các dụng
cụ, sau đó được vận chuyển về nơi lưu giữ hoặc xử lý tiêu hủy
*Xử lý và tiêu hủy chất thải rắn:
Trang 39Hiện nay tỉnh Bắc Giang đang áp dụng mô hình xử lý tại chỗ Các công trình
xử lý chất thải y tế tại chỗ đều được đặt trong khuôn viên của các bệnh viện Đối với các đơn vị chưa có lò đốt chất thải thì các chất thải y tế được xử lý theo phương pháp chôn lấp hoặc thuê bệnh viện khác xử lý hoặc thuê Công ty quản lý công trình
đô thị vận chuyển, đem đi xử lý
Năm 2002, Bệnh viện đa khoa tỉnh được trang bị lò đốt rác công nghệ 2 buồng với công suất 200kg/mẻ/ngày, dầu diezen là nhiên liệu được sử dụng trong quá trình đốt Chất thải rắn y tế nguy hại sau khi được thu gom sẽ tiến hành đốt, phần tro sau khi đốt được chuyển tới bãi rác của thành phố để chôn lấp Tuy nhiên,
do lò đốt không có hệ thống xử lí khí, nên lượng khói bụi phát sinh tại lò đốt gây ô nhiễm môi trường không khí Hơn nữa, lò đốt nằm trong khuôn viên bệnh viện, đặt gần khu dân cư nên gặp phải sự phản đối của người dân xung quanh Đối với BV Sản nhi, lò đốt được trang bị và đi vào hoạt động từ năm 2010, có hệ thống xử lí khí Chất thải rắn y tế nguy hại sau khi được phân loại và thu gom từ các khoa, phòng được vận chuyển về kho lưu giữ tạm thời chất thải nguy hại, tiếp tục được phân loại thành rác ướt, rác ẩm và rác khô, sau đó được đem vào lò đốt Phần tro sau khi đốt được chôn lấp ở phần đất phía sau gần lò đốt, nơi có ít người qua lại
Các trạm y tế xã phường chỉ xử lý đốt thủ công, chôn lấp thiếu an toàn hoặc thải lẫn chung cùng với chất thải sinh hoạt Tuy nhiên, các lò đốt thủ công gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường do nhiệt độ cháy không đảm bảo, thải trực tiếp khí độc hại ra môi trường
Trang 40Bảng 3.8 Biện pháp xử lý chất thải rắn y tế tại các bệnh viện trên địa bàn thành phố Bắc Giang
TT Tên cơ sở y tế
Số giường bệnh
kế hoạch
Xử lý chất thải rắn
Khối lượng phát sinh (kg/ngày)
Biện pháp
xử lý
Khối lượng phát sinh (kg/ngày)
2002
(50kg/giờ)
Đang hoạt động từ năm
2010
BV Lao phổi
4 BV Y học cổ truyền 100 120 Cty CT Ðô thị 24 Thuê đốt tại BV tỉnh
Đang hoạt động từ năm
2008
6 BVĐK thành phố 100 115.5 Cty CT Ðô thị 23.1 Cty CT Ðô thị