Bên cạnh những mặt tích cực hiện nay, các làng nghề của Việt Nam đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như trình độ sản xuất, chất lượng sản phẩm, các mâu thuẫn về mặt xã hội...như
Trang 1MỤC LỤC
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 7
1.1 Tổng quan về làng nghề ở Việt Nam 7
1.2 Tổng quan về chất thải rắn nói chung và chất thải rắn làng nghề nói riêng 12
1.3 Tình hình quản lý chất thải rắn tại các làng nghề ở Việt Nam 15
1.4 Một số kinh nghiệm quản lý, xử lý chất thải rắn tại các làng nghề 19
1.5 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Thái Yên 23
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 31
2.2 Phương pháp nghiên cứu 31
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 Hiện trạng môi trường làng nghề Thái Yên 33
3.2 Đánh giá hiện trạng phát sinh chất thải rắn tại làng nghề Thái Yên 37
3.3 Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn ở xã Thái Yên 48
3.4 Đánh giá hiệu quả quản lý, xử lý chất thải rắn tại làng nghề Thái Yên 52
3.5 Dự báo xu thế phát sinh CTR ở địa phương đến năm 2020 54
3.6 Đề xuất biện pháp giảm thiểu chất thải rắn 56
3.6.1 Đối với chất thải rắn thải rắn sinh hoạt 56
3.6.2 Đối với chất thải rắn thải trong hoạt động sản xuất 60
3.6.3 Đối chất thải rắn thải nông nghiệp 67
3.6.4 Đối với chất thải rắn thải y tế 70
KẾT LUÂN VÀ KIẾN NGHỊ 71
Trang 2DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Trình độ kỹ thuật ở các làng nghề 18
Bảng 1.2 Cơ cấu sử dụng đất năm 2013, xã Thái Yên, huyện Đức Thọ 24
Bảng 1.3 Cơ cấu kinh tế của xã Thái Yên giai đoạn 2009 – 2013 28
Bảng 1.4 Quy mô đàn gia súc gia cầm của xã trong năm 2013 28
Bảng 1.5 Chất lượng nước mặt tại khu vực xã Thái Yên 33
Bảng 3.1 Hiện trạng môi trường nước thải tại làng nghề Thái Yên 35
Bảng 3.2 Hiện trạng môi trường không khí tại làng nghề Thái Yên 36
Bảng 3.3 Số lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt 38
Bảng 3.4 Ước lượng chất thải rắn thải sinh hoạt phát sinh hàng năm ở xã Thái Yên 39
Bảng 3.5 Phân loại chất thải rắn thải sinh hoạt ở xã Thái Yên 39
Bảng 3.6 Tổng hợp số hộ tham gia sản xuất kinh doanh mộc 42
Bảng 3.7 Cơ cấu hộ sản xuất kinh doanh mộc và ước lượng mức tiêu thụ gỗ nguyên liệu tại xã Thái Yên 43
Bảng 3.8 Định mức tiêu thụ nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất 44
Bảng 3.9 Tổng phát sinh chất thải rắn phát sinh trong hoạt động sản xuất 44
Bảng 3.10 Ước lượng tổng phát sinh rơm rạ sau thu hoạch 45
Bảng 3.11 Lượng hóa chất thuốc BVTV sử dụng trong NN ở xã Thái Yên 46
Bảng 3.12 Lượng HCBVTV sử dụng trong nông nghiệp của xã (2013) 47
Bảng 3.13 Bình quân phát sinh chất thải rắn trong hoạt động chăn nuôi 47
Bảng 3.14 Dự báo tổng lượng chất thải rắn phát sinh và tổng lượng chất thải rắn thu gom, xử lý ở làng nghề Thái Yên, giai đoạn 2014 – 2020 55
Bảng 3.15: Giá trị so sánh giữa than cám và than củi ép 61
Bảng 3.16 Bảng tổng hợp cơ hội sản xuất sạch hơn đối với làng nghề mộc 63
Bảng 3.17 Bảng phân tích nguyên nhân của dòng thải tại làng nghề 65
Trang 3DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1: Sơ đồ vị trí giao thông xã Thái Yên, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh 23
Hình 2: Diễn biến một số yếu tố khí tượng xã Thái Yên, Đức Thọ 25
Hình 3: Quy trình sản xuất sản phẩm mộc Thái Yên 40
Hình 4: Sơ đồ hệ thống tổ chức quản lý HTX môi trường Thái Yên 48
Hình 5: Củi ép từ nguyên liệu mùn cưa và dăm bào 60
Hình 6: Sơ đồ công nghệ xử lý rơm rạ làm phân bón vi sinh 68
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT BOD : Nhu cầu oxy sinh hóa
BVMT : Bảo vệ môi trường COD : Nhu cầu oxy hóa học CTR : Chất thải rắn
CTRSH : Chất thải rắn sinh hoạt CTRSX : Chất thải rắn sản xuất CTTB : Cải tiến thay đổi thiết bị HTX MT : Hợp tác xã môi trường QCVN : Quy chuẩn Việt Nam QLNV : Quản lý nội vi
SXSH : Sản xuất sạch hơn TTCN : Tiểu thủ công nghiệp THSD : Thu hồi tái sử dụng UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 5MỞ ĐẦU Trong những năm gần đây, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và định hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của Đảng và Nhà nước đã tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển các làng nghề Nhiều làng nghề truyền thống được khôi phục trở lại và nhiều làng nghề mới ra đời, góp phần quan trọng làm thay đổi bộ mặt của nông thôn Việt Nam Hoạt động của các làng nghề mang lại nhiều lợi ích về kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống, giải quyết nguồn lao động dôi dư, tăng thu nhập cho người lao động và góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân
Do tính chất linh hoạt trong sản xuất, quy mô sản xuất nhỏ, nguồn vốn không cần lớn, sản phẩm đa dạng và luôn thay đổi theo nhu cầu thị trường nên các làng nghề đang là bộ phận quan trọng cấu thành nền kinh tế và luôn được chú trọng trong các định hướng phát triển
Bên cạnh những mặt tích cực hiện nay, các làng nghề của Việt Nam đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như trình độ sản xuất, chất lượng sản phẩm, các mâu thuẫn về mặt xã hội nhưng quan trọng nhất là các tác động tiêu cực đến chất lượng môi trường sống và sức khỏe do hoạt động sản xuất làng nghề gây ra Đa phần các làng nghề Việt Nam được hình thành một cách tự phát với công nghệ sản xuất lạc hậu, thiết bị đơn giản, thủ công, hiệu quả sử dụng nguyên liệu thấp, mặt bằng sản xuất hạn chế, việc đầu tư xây dựng các hệ thống bảo vệ môi trường rất ít được quan tâm, ý thức tự bảo vệ môi trường sinh thái và sức khỏe chính gia đình mình của người lao động còn hạn chế Vì vậy, vấn đề ô nhiễm môi trường làng nghề
đã và đang là vấn đề bức xúc cần được quan tâm giải quyết
Hiện nay trên địa bàn tĩnh Hà Tĩnh có 30 làng nghề hoạt động sản xuất kinh doanh trong nhiều lĩnh vực khác nhau như thủ công mỹ nghệ (đồ mộc), kim khí, chế biến thủy sản, chăn ga gối nệm, mây tre đan,… đã góp phần nâng cao thu nhập cho người lao động và thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của các vùng nông thôn Tuy nhiên hoạt động sản xuất kinh doanh còn nhỏ lẻ, công nghệ lạc hậu, các biện pháp bảo vệ môi trường còn hạn chế vì vậy nguy cơ gây ô nhiễm môi trường trong
Trang 6quá trình sản xuất là rất cao Để có cơ sở nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với làng nghề cần phải có điều tra khảo sát một cách cụ thể, chi tiết về hiện trạng môi trường của các làng nghề
Thái Yên là một xã không chỉ phát triển nghề thủ công mỹ nghệ thuộc huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh với sản xuất làng nghề mộc có truyền thống gần 400 năm
mà các nghành nghề khác cũng khá phát triển Tốc độ phát triển kinh tế luôn ở vị trí cao so với toàn tỉnh Song bên cạnh sự phát triển đó vấn đề ô nhiễm chất thải rắn thải bởi hoạt động sản xuất, dịch vụ, sinh hoạt cũng ngày càng gia tăng đang làm suy giảm chất lượng môi trường ở đây Nhận thấy thực trạng ô nhiễm đó Chính quyền địa phương đã có những chính sách quan tâm đầu tư cho việc quản lý, thu gom chất thải rắn ở địa phương mình Tuy nhiên do đặc thù riêng về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của nông thôn nói chung và của xã Thái Yên nói riêng, địa phương đã và đang gặp không ít khó khăn trong công tác quản lý và thu gom nên kết quả hiện nay đạt được vẫn chưa cao
Để góp phần vào sự phát triển một cách toàn diện, bền vững, đáp ứng yêu cầu về phát triển và bảo vệ môi trường, việc điều tra, đánh giá hiện trạng thu gom, xử lý chất thải rắn thải rắn và xây dựng các mô hình tái sử dụng, thu gom, xử lý chất thải rắn thải góp phần cải thiện môi trường tại làng nghề mộc Thái Yên Xuất phát từ thực tế đó, việc thực hiện đề án: “Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn tại làng nghề Thái Yên, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà
Tĩnh” là rất cần thiết và cấp bách
Trang 7CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về làng nghề ở Việt Nam
1.1.1 Khái niệm và tiêu chí làng nghề
Theo quy định tại Điều 3, Thông tư 46/2011/TT-BTNMT ngày 26/12/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về bảo vệ môi trường làng nghề thì làng nghề được định nghĩa là một (01) hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, phường, thị trấn có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất tiểu thủ công nghiệp sản xuất
ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau
Xét về mặt định tính: làng nghề ở nông thôn nước ta được hình thành và phát triển do yêu cầu của phân công lao động và chuyên môn hóa sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển và chịu sự chi phối của nông nghiệp và nông thôn Làng nghề gắn liền với những đặc trưng của nền văn hóa lúa nước và nền kinh tế hiện vật, sản xuất nhỏ tự cung tự cấp
Xét về mặt định lượng: làng nghề là những làng mà ở đó có số người chuyên làm nghề thủ công và sống chủ yếu bằng nguồn thu nhập từ nghề đó chiếm một tỷ
lệ lớn trong tổng dân số của làng
Tiêu chí để xem xét một cách cụ thể đối với một làng nghề điển hình là: Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh ngành nghề Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận Chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước và các quy định của địa phương trong hoạt động sản xuất kinh doanh của làng nghề [3]
1.1.2 Đặc điểm chung của làng nghề
Tại mỗi làng nghề tuy bao giờ cũng có sự khác nhau về quy mô sản xuất, quy trình công nghệ, tính chất sản phẩm nhưng đều có chung một số đặc điểm sau [1]
- Lực lượng lao động trong làng nghề đa số là người dân sống trong làng Các ngành nghề phi nông nghiệp trong làng sẽ tạo ra sản phẩm giúp cho người dân tăng thu nhập trong lúc nông nhàn
Trang 8- Hộ gia đình là đơn vị cơ bản của sản xuất với nguồn nhân lực từ thành viên trong gia đình và cơ sở hạ tầng tự có Nhờ vào nhân lực gia đình đã tạo cho các hộ gia đình khả năng thu nhập không phân biệt lứa tuổi và giới tính vì nó đáp ứng nhu cầu chung của các thành viên trong gia đình Do đó, nó có thể huy động mọi người trong gia đình tham gia tích cực vào việc tăng sản phẩm sản xuất của gia đình
- Cơ sở sản xuất dịch vụ tại làng xã là nơi có nhiểu hộ gia đình cùng tham gia Điều này tạo nên tính chất riêng biệt của làng nghề, dẫn đến xu thế độc quyền những nghề nghiệp, sản phẩm
- Tính chuyên môn hóa và sự phụ thuộc lẫn nhau trong các làng nghề rất rõ rệt Một số trường hợp, sự phân chia lao động trong làng nghề phụ thuộc vào từng khâu trong quy trình sản xuất Nghề càng phức tạp, càng có nhiều công đoạn sản xuất thì tính chuyên môn hóa càng cao Sự phân chia này không chỉ trong một làng
mà còn có thể mở rộng trong nhiều làng
- Phần lớn kỹ thuật - công nghệ của làng nghề còn lạc hậu, chủ yếu vẫn sử dụng các thiết bị thủ công, bán cơ khí hoặc đã đã được cải tiến một phần, đa số mua lại từ các cơ sở công nghiệp quốc doanh, các thiết bị này đã cũ, không đồng bộ, không đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật và điều kiện làm việc cho người lao động Công nghệ sản xuất đơn giản (đôi khi còn lạc hậu), cần nhiều sức lao động (với kỹ thuật
cũ mang lại lợi nhuận thấp so với sức lao động đã bỏ ra)
- Biết tận dụng nguyên vật liệu và nhân lực thông qua kỹ năng lao động và sự khéo léo để tạo thu nhập trong điều kiện thiếu vốn
1.1.3 Một số làng nghề chính ở Việt Nam [8]
- Làng nghề chế biến lương thực phẩm: đi kèm với chăn nuôi có số lượng làng nghề lớn (chiếm 20% số lượng làng nghề) phân bố đều trên cả nước, phần nhiều sử dụng lao động nông nghiệp, không yêu cầu trình độ cao, hình thức sản xuất thủ công, ít có thay đổi về quy trình sản xuất Nước ta có nhiều làng nghề thủ công truyền thống như nấu rượu, làm bánh đa nem, đậu phụ , với các nguyên liệu chính là gạo, ngô, khoai, sắn, đậu , các nghề này thường gắn với hoạt động chăn nuôi ở quy mô gia đình
Trang 9- Làng nghề thêu, dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da: Là loại hình làng nghề đã có
từ lâu đời, nhiều sản phẩm đã gắn liền với truyền thống lịch sử, văn hoá đậm nét địa phương Những sản phẩm như lụa, tơ tằm, thổ cẩm, thêu ren, dệt may , không chỉ
là những sản phẩm hàng hoá có giá trị mà còn là những tác phẩm nghệ thuật được đánh giá cao Tại các làng nghề nhóm này, lao động nghề thường là lao động chính (chiếm tỷ lệ cao hơn lao động nông nghiệp)
- Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá có từ lâu đời: tập trung ở các vùng có sẵn nguyên liệu xây dựng Lao động loại làng nghề này chủ yếu
là thủ công, quy trình công nghệ thô sơ, tỷ lệ cơ khí hoá thấp Khi nhu cầu về xây dựng nhà cửa, công trình tăng, hoạt động sản xuất vật liệu xây dựng phát triển mạnh đặc biệt là các vùng núi đá vôi
- Làng nghề tái chế phế liệu: chủ yếu mới hình thành, nên số lượng ít nhưng lại được phát triển nhanh về loại hình tái chế (chất thải kim loại, giấy nhựa, vải đã qua sử dụng) Ngoài ra, các làng nghề cơ khí, chế tạo và đúc kim loại phế liệu sắt vụn, cũng là loại hình làng nghề
- Làng nghề thủ công mỹ nghệ: bao gồm các làng nghề gốm, sành sứ, thuỷ tinh mỹ nghệ, chạm khắc đá, chạm mạ vàng bạc, sản xuất mây tre đan, đồ gỗ mỹ nghệ, sơn mài, làm nón, dệt chiếu, thêu ren Đây là nhóm làng nghề chiếm tỷ lệ lớn
về số lượng (khoảng 40% tổng số làng nghề) có truyền thống lâu đời, sản phẩm có giá trị cao, đậm nét văn hoá dân tộc, có tính địa phương cao Quy trình sản xuất của các làng nghề này gần như không thay đổi, lao động thủ công nhưng đòi hỏi tay nghề cao, đòi hỏi chuyên môn hoá và có tính chuẩn trong sáng tạo
- Các nhóm ngành khác: bao gồm các làng nghề chế tạo công cụ thô sơ như cầy bừa, quốc xẻng, liềm hái, đóng thuyền, làm quạt giấy, đan vó đan lưới, làm lưỡi câu ., những làng nghề nhóm này có từ lâu đời, sản phẩm phục vụ trực tiếp cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của địa phương Lao động chủ yếu thủ công, thu hút nhiều lao động, sản phẩm ít có cải tiến thay đổi
Trang 10Biểu đồ 1.1 Phân loại làng nghề Việt Nam theo nghành nghề sản xuất[1]
1.1.4 Vai trò của làng nghề trong sự phát triển kinh tế - xã hội
* Làng nghề với sự phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật nông thôn
Điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một yếu tố cực kỳ quan trọng hỗ trợ phát triển các làng nghề Khả năng tiếp cận thông tin, điện, nước sạch, giao thông và các yếu
tố khác về cơ sở vật chất là rất cần thiết cho sự phát triển của các làng nghề Phát triển
cơ sở hạ tầng kỹ thuật tốt sẽ góp phần mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo ở nước ta thông qua việc phát triển các ngành nghề tại các làng nghề Ngược lại, sự phát triển kinh tế của các làng nghề cũng góp phần đổi mới bộ mặt nông thôn, cải thiện và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Hạ tầng cơ sở ở những nơi tập trung nhiều làng nghề như khu vực đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung bộ và Đông Nam Bộ nhìn chung phát triển khá tốt do các làng nghề phần lớn được hình thành, phát triển ở những nơi tiếp cận thuận lợi mạng lưới đường quốc lộ, tỉnh lộ, cùng sự hỗ trợ của các chính sách từ chính quyền địa phương nhằm thúc đẩy mạnh mẽ phát triển làng nghề Khu vực miền núi, cũng có một số làng nghề phát triển, tuy nhiên điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật vẫn không được chú trọng đầu tư do phần lớn làng nghề ở đây không nhằm mục tiêu phục vụ
Trang 11thị trường mà chủ yếu sản phẩm chỉ phục vụ đời sống nhân dân khu vực lân cận
* Làng nghề và xoá đói giảm nghèo ở nông thôn
Tại các làng nghề, đại bộ phận dân cư làm nghề thủ công nhưng vẫn tham gia sản xuất nông nghiệp ở một mức độ nhất định Tại nhiều làng nghề, trong cơ cấu kinh tế địa phương, tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ đạt 60 - 80% và ngành nông nghiệp chỉ đạt 20 - 40% Trong những năm gần đây, số hộ và cơ sở ngành nghề ở nông thôn đang ngày một tăng lên với tốc độ bình quân từ 8,8 - 9,8%/năm, kim ngạch xuất khẩu từ các sản phẩm làng nghề không ngừng gia tăng Chính vì vậy, có thể thấy, làng nghề đóng vai trò rất quan trọng, trực tiếp giải quyết việc làm cho người lao động trong lúc nông nhàn, góp phần tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động ở khu vực nông thôn Bên cạnh việc tạo việc làm, tăng thu nhập cho lao động ở khu vực nông thôn còn tạo thêm việc làm cho lao động phụ như người già, trẻ em, người khuyết tật, [5]
Mức thu nhập của người lao động ngành nghề cao gấp 3 đến 4 lần so với thu nhập của người lao động thuần nông Điều này cũng khiến số hộ gia đình chuyển từ sản xuất thuần nông sang sản xuất thủ công nghiệp và chuyên làm nghề ngày càng tăng nhanh
* Làng nghề truyền thống và hoạt động phát triển du lịch
Lợi ích của việc phát triển làng nghề không chỉ là ở kinh tế, giải quyết việc làm cho lao động địa phương mà còn góp phần bảo tồn được giá trị văn hoá lâu dài Với những lợi thế như cảnh quan thiên nhiên, vị trí địa lý, nét văn hoá đặc sắc, các làng nghề còn có sức hút đặc biệt bởi mỗi làng lại gắn với một vùng văn hoá hay một hệ thống di tích lịch sử Đây là điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các điểm hoặc tuyến du lịch lữ hành về các làng nghề, nông thôn Bên cạnh đó, khách tham quan còn được tận mắt theo dõi quá trình sản xuất ra các sản phẩm thậm chí là tham gia thực hành vào một khâu sản xuất nào đó, chính điều này tạo nên sức hấp dẫn của du lịch làng nghề
Nhận thức được tiềm năng phát triển du lịch tại làng nghề sẽ góp phần gia tăng
tỷ trọng của nhóm ngành công nghiệp hoặc dịch vụ ở địa phương, đồng thời tăng thêm
Trang 12cơ hội cho các cơ sở sản xuất thông qua các hoạt động giới thiệu và bán sản phẩm truyền thống, nâng cao đời sống của người dân thông qua các dịch vụ phụ trợ , điển hình như các tỉnh Hà Tây (trước đây), Hoà Bình, Bắc Ninh, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng , đã và đang phát triển mạnh mẽ loại hình du lịch làng nghề đây là điểm đến của nhiều tuyến du lịch lữ hành của khách tham quan trong nước đồng thời thu hút nhiều khách du lịch [4]
1.2 Tổng quan về chất thải rắn nói chung và chất thải rắn làng nghề nói riêng
Chất thải rắn còn được gọi là chất thải rắn, là các chất thải rắn bị loại ra trong quá trình sống, sinh hoạt, hoạt động sản xuất của con người và động vật Bao gồm các loại chất thải phát sinh từ các hộ gia đình, khu công nghiệp, làng nghề, khu thương mại, chợ, các công trình xây dựng, hoạt động nông nghiệp, chăn nuôi hay chính từ khu xử lý chất thải Tùy theo dạng vật chất, nguồn phát sinh, mức độ nguy hại, thành phần, tính chất của chất thải mà có nhiều cách phân loại khác nhau, bao gồm chất thải hữu cơ, chất thải vô cơ, chất thải nguy hại hay không nguy hại, chất thải công nghiệp, chất thải bệnh viện, chất thải sinh hoạt
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cùng với nhiều chính sách phát triển kinh tế đã làm cho tốc độ phát triển kinh tế của nước ta phát triển nhanh chóng trong các năm qua Quá trình tăng trưởng cao về kinh tế đã tạo thêm nhiều việc làm cho người dân, tăng thu nhập, nâng cao mức sống kéo theo các nhu cầu nhằm đáp ứng cho cuộc sống người dân như nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, sử dụng các dịch vụ, giao thông vận tải, không ngừng tăng cao Cùng với tốc độ gia tăng dân số nhanh như hiện nay, thì lượng chất thải rắn hằng ngày phát sinh cũng tăng theo tốc độ phát triển đó đã làm nảy sinh các nguy cơ tiềm ẩn cũng như gây sức ép lớn đến môi trường
Đối với các làng nghề ở Việt Nam chiếm một phần đáng kể trong nguồn phát sinh chất chất thải rắn nông thôn Sự phát triển mạnh mẽ các làng nghề mang lại lợi ích to lớn về kinh tế - xã hội cho các địa phương Tuy nhiên, sự phát triển đó cũng tạo ra sức ép lớn đối với môi trường khi tạo ra lượng chất thải rắn lớn
Trang 13Hiện nay, cả nước có 1.324 làng nghề được công nhận và 3.221 làng có nghề Hoạt động sản xuất nghề nông thôn đã tạo ra việc làm cho hơn 11 triệu lao động, thu hút khoảng 30% lực lượng lao động nông thôn Làng nghề phân bố không đồng đều giữa các vùng, miền Miền Bắc có khoảng 60%, miền Trung 30% và miền Nam 10% Trong đó các làng nghề có quy mô nhỏ, trình độ sản xuất thấp, thiết bị cũ và công nghệ lạc hậu chiếm phần lớn vì vậy đã và đang làm nảy sinh nhiều vấn đề môi trường tại các làng nghề [1]
Chất thải rắn làng nghề gồm nhiều chủng loại khác nhau, mang tính đặc thù của từng loại hình sản xuất Có thể thấy chất thải làng nghề bao gồm các thành phần chính như phế phụ phẩm nông nghiệp, lương thực, chai lọ thủy tinh, nhựa, nilon, vỏ bao bì, gỗ, gốm sứ, kim loại
* Làng nghề chế biến lương thực, thực phầm: Chủ yếu việc chế biến nông sản sau khi thu hoạch bị loại bỏ sau quá trình chế biến, phế phụ phẩm bị ôi thiu, vỏ sắn, xơ sắn, bã dong, đao, bã đậu, xĩ than, phân gia súc trong chăn nuôi Chất thải trong nghề chế biến lương thực thực phẩm rất đa dạng Nhìn chung chất thải trong nghề chế biến lương thực thực phẩm là những chất hữu cơ dễ bị phân hủy Trong khu vực các làng nghề này thường có thêm ngành nghề chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi thuỷ sản để tận thu các nguồn nguyên liệu còn thừa ra Chất thải của ngành nghề chăn nuôi gia súc, gia cầm chất thải chủ yếu là chất hữu cơ, định mức chất thải rắn đối với gia súc, gia cầm (lợn thải ra 1,5 kg/con/ngày, gà, vịt, ngan thải ra 0,1 kg/con/ngày, trâu, bò thải ra 3 kg /con/ngày) Chất thải ngành chăn nuôi là những chất hữu cơ dễ bị phân hủy, gây ô nhiễm môi trường, tạo mùi khó chịu, nếu không được xử lý tốt sẽ gây ô nhiễm cả 3 môi trường: đất, nước và không khí
.* Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng: Tại các làng sản xuất vật liệu xây dựng ở nước ta hiện nay, công nghệ sản xuất còn thô sơ, tỷ lệ cơ khí hoá thấp, lao động giản đơn là chủ yếu, sản xuất vật liệu tiêu thụ một lượng rất lớn nhiên liệu là than và củi Trong quá trình khai thác nguyên liệu cho sản xuất gạch ngói thiếu quy hoạch, tỷ lệ sử dụng nguyên liệu thấp đã để lại lượng chất thải rắn thải xây dựng tương đối lớn, thường tạo ra các chất thải rắn (xỉ than, gạch vỡ, gạch phồng, đất đá thải do khai thác khoáng sản
Trang 14* Làng nghề tái chế phế thải: Làng nghề tái chế phế thải gồm: tái chế giấy, tái chế kim loại, tái chế nhựa , là một ngành mới được hình thành tuy nhiên trong những năm qua đã phát triển khá nhanh Tại các làng nghề tái chế phế thải, lượng chất thải rắn tương đối lớn do đặc điểm sử dụng nguyên liệu tái chế cùng từng cơ
sở Các chất thải phát sinh trong quá trình tái chế như sau:
- Từ ngành tái chế giấy: tro xỉ, bột giấy, đinh ghim, nilon, giấy phế liệu
- Từ các nghề tái chế nhựa: Nhựa phế liệu (nhựa không đủ phẩm chất tái chế) các tạp chất lẫn trong nhựa, tro, xỉ than
- Từ các làng nghề tái chế kim loại: các tạp chất phi kim loại (nilon, nhựa, cao su ) bị loại bỏ, kim loại không đủ tiêu chuẩn tái chế, tro xỉ than từ quá trình nấu kim loại
* Làng nghề dệt nhuộm: Trong cơ cấu làng nghề dệt nhuộm nói chung, nghề nhuộm chiếm một vị trí quan trọng Hoạt động của các làng nhuộm không chỉ tạo ra những giá trị về mặt kinh tế xã hội, mà còn tạo ra những giá trị văn hóa tinh thần sâu sắc Tuy nhiên vấn đề nổi cộm là nước thải, chất thải rắn chưa trở nên bức xúc Chất thải rắn gồm xỉ than từ các lò hơi, vỏ chai lọ, thùng đựng hóa chất, hóa chất nhuộm, các loại xơ vải, vải vụn
* Làng nghề ươm tơ: theo tính toán để sản xuất 1kg kén tơ cần sử dụng 1,5
kg than, 0, 08 kg củi, 01 tạ kén sử dụng 1m3 nước, chất thải phát sinh từ sản xuất tơ tằm, nước thải có chứa các chất hữu cơ, nitơ, tơ sợi vì thế nước thải dễ phân huỷ và gây mùi khó chịu tại khu vực làng nghề này Ô nhiễm không khí từ các lò hơi, các
lò than sinh ra bụi và các khí độc
* Làng nghề thủ công mỹ nghệ: Các làng nghề này hiện tượng ô nhiễm môi trường nước diễn ra ít nghiêm trọng như các làng nghề chế biến nuôi trồng thủy sản
và các làng nghề tái chế Tuy nhiên, sản xuất tại các làng nghề này lại thường xuyên gây ra bụi và tiếng ồn lớn, hoặc gây ra khí độc khi tẩm sấy các đồ mây, tre đan Các loại chất thải rắn phát sinh như gỗ vụn, gỗ mảnh, mùn cưa, dăm bào, vỏ trai, giấy giáp thải, hôp đựng các dung môi (hộp sơn, hộp vecni) Tuy nhiên lượng thải thường không lớn, khoảng 20-30kg/cơ sở/ tháng và thường có khả năng tái chế
Trang 151.3 Tình hình quản lý chất thải rắn tại các làng nghề ở Việt Nam
1.3.1 Ban hành và thực thi văn bản pháp lý
Ô nhiễm môi trường làng nghề ở nước ta hiện nay vẫn đang là vấn đề nổi cộm Trong những năm qua do sự phát triển mang tính tự phát lại thiếu quy hoạch, không có các giải pháp kỹ thuật về môi trường nên tình trạng ô nhiễm môi trường ở các làng nghề rất phổ biến
Về mặt quản lý, Nhà nước đã ban hành các văn bản để bảo vệ môi trường các làng nghề như:
- Nghị quyết 41-NQ/TW ngày 15/1/2004 của Bộ chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước;
- Quyết định số 34/2005/QĐ-TTg ngày 22/2/2005 của Thủ tướng Chính Phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 41-NQ/TW của Bộ chính trị;
- Luật Bảo vệ môi trường số 52/2005/QH11 được Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005;
- Nghị định số 80/2006//NĐ- CP ngày 09/8/2006 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Bảo vệ môi trường;
- Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28/02/2008 của Chính phủ về sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường;
- Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18/04/2011 quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường
- Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;
- Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/4/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn;
- Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ về phí bảo
vệ môi trường đối với chất thải rắn thải;
Trang 16- Nghị định số 04/2009/NĐ-CP ngày 14/01/2009 của Chính phủ về ưu đãi, hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường;
- Nghị quyết 35/NQ-CP ngày 18/03/2013 của Chính phủ Về một số vấn đề cấp bách trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;
- Chỉ thị 29-CT/TW ngày 21/1/2009 của Ban Bí thư về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị Quyết 41-NQ/TW của Bộ Chính trị;
- Thông tư số 13/2007/TT-BXD ngày 31/12/2007 Hướng dẫn một số điều của Nghị định 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn;
- Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/4/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại;
- Thông tư số 46/2011/TT-BTNTM ngày 26/12/2011 quy định về bảo vệ môi trường làng nghề;
Chính phủ có quy hoạch và định hướng phát triển các cơ sở ngành nghề nông thôn đảm phát triển bền vững, giữ gìn tốt vệ sinh môi trường nông thôn, khuyến khích việc tiêu thụ và sử dụng các sản phẩm từ nguồn nguyên liệu tự nhiên trong nước nhằm hạn chế một phần tác hại đến môi trường của các sản phẩm chất thải hoá chất nhựa công nghiệp UBND tỉnh thành phố trực thuộc trung ương có tchất thải rắnh nhiệm quy hoạch chi tiết phát triển làng nghề chỉ đạo huyện xây dựng các cụm tiểu thủ công nghiệp quy mô nhỏ để tạo mặt bằng cho các cơ sở ngành nghề nông thôn phát triển đảm bảo vệ sinh môi trường
1.3.2 Hiện trạng quản lý chất thải rắn làng nghề
Hiện nay tình hình thực thi pháp luật bảo vệ môi trường tại các làng nghề
ở Việt Nam còn rất nhiều bất cập, yếu kém - Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc khó kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các làng nghề ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Thực tiễn cho thấy hầu hết các làng nghề sản xuất, kinh doanh chỉ quan tâm nhiều đến lợi nhuận kinh tế mà lờ đi yếu tố bảo vệ môi trường, giữ gìn môi trường trong lành cho cộng đồng Điều này đang trở thành tình trạng phổ biến hiện nay Tình hình ô nhiễm làng nghề tại các tỉnh thành đang rất nghiêm trọng, nhất là khu vực các tỉnh phía Bắc, Bắc Trung Bộ như: Hà Nội, Bắc
Trang 17Ninh, Quảng Nam, Đồng Nam…[10]
Theo thống kê, tỷ lệ thu gom chất thải rắn ở nông thôn và làng nghề thì có khoảng 60% số thôn hoặc xã tổ chức thu dọn định kỳ, trên 40% thôn, xã đã hình thành các tổ thu gom chất thải rắn thải tự quản Tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt tại khu vực nông thôn mới đạt khoảng 40 - 55% [2]
1.3.3 Những tồn tại khó khăn trong công tác quản lý môi trường làng nghề
Bên cạnh mặt tích cực, sự phát triển hoạt động sản xuất tại làng nghề, những tác động xấu đến môi trường nhiều năm qua đã làm cho chất lượng môi trường nhiều làng nghề ngày càng suy giảm, ảnh hưởng không chỉ tới sự phát triển bền vững ở làng nghề, mà còn ảnh hưởng đến cả tính bền vững của nhiều ngành kinh tế khác Tuy đã có nhiều văn bản quy định về quản lý môi trường làng nghề, song đến nay còn bộc lộ nhiều khó khăn như sau:
- Quy mô sản xuất tại nhiều làng nghề là quy mô nhỏ, mặt bằng sản xuất chật hẹp và thường xen kẽ với khu vực sinh hoạt Sản xuất càng phát triển thì nguy cơ lấn chiếm khu vực sinh hoạt, phát thải ô nhiễm tới khu dân cư càng lớn, dẫn đến chất lượng môi trường càng xấu đi
- Nếp sống tiểu nông của người chủ sản xuất nhỏ xuất thân từ nông dân đã ảnh hưởng mạnh tới sản xuất làng nghề, làm tăng mức độ ô nhiễm môi trường
- Người sản xuất không nhận thức được tác hại lâu dài của ô nhiễm, chỉ quan tâm đến lợi nhuận trước mắt, các cơ sở sản xuất tại làng nghề thường lựa chọn quy trình sản xuất thô sơ tận dụng nhiều sức lao động trình độ thấp Hơn thế nhằm hạ giá thành sản phẩm, tăng tính cạnh tranh, nhiều cơ sở sản xuất còn sử dụng các nhiên liệu rẻ tiền, hóa chất độc hại (kể cả đã cấm sử dụng) không đầu tư phương tiện, dụng cụ bảo hộ lao động không đảm bảo điều kiện lao động nên đã làm tăng mức độ ô nhiễm môi trường
- Quan hệ sản xuất mang đặc thù của quan hệ gia đình, dòng tộc, làng xã Nhiều làng nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống, sử dụng lao động có tính gia đình, sản xuất theo kiểu "bí truyền", giữ bí mật cho dòng họ, tuân theo
Trang 18"hương ước" không cải tiến áp dụng những khoa học kỹ thuật, nên đã cản trở việc áp dụng giải pháp khoa học kỹ thuật mới, không khuyến khích sáng kiến mang hiệu quả BVMT của người lao động
- Công nghệ sản xuất và thiết bị phần lớn ở trình độ lạc hậu chắp vá, kiến thức tay nghề không toàn diện dẫn tới quá trình sản xuất tiêu tốn nhiều nhiên, nguyên liệu làm tăng phát thải nhiều chất ô nhiễm môi trường nước, đất, khí ảnh hưởng tới gia thành sản phẩm và chất lượng môi trường Kỹ thuật lao động sản xuất ở các làng nghề chủ yếu là thủ công, bán cơ khí, chưa có làng nghề nào áp dụng tự động hóa được thể hiện qua bảng 1.1:
Bảng 1.1 Trình độ kỹ thuật ở các làng nghề
Đơn vị tính: %
Trình độ kỹ thuật
Chế biến nông, lâm, thủy sản
Thủ công mỹ nghệ và VL xây dựng
Các ngành dịch vụ
Các ngành khác
(Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2008)
Vốn đầu tư của các cơ sở sản xuất tại các làng nghề còn thấp, khó có điều kiện phát triển hoặc đổi mới công nghệ theo hướng thân thiện với môi trường
Sản xuất mang tính tự phát, không có kế hoạch lâu dài, nên khó huy động tài chính và vốn đầu tư lớn từ các nguồn khác (quỹ tín dụng, ngân hàng) Do đó, khó chủ động trong đổi mới kỹ thuật và công nghệ, lại càng không thể đầu tư cho xử lý môi trường
Trình độ người lao động, chủ yếu là lao động thủ công, đang học nghề, văn hóa thấp, nên hạn chế nhận thức đối với công tác BVMT Chất lượng lao động và trình độ chuyên môn kỹ thuật ở các làng nghề nhìn chung còn thấp chủ yếu là lao động phổ thông Mặt khác đa số người lao động xuất thân từ nông dân nên chưa có
ý thức về môi trường lao động, chỉ cần việc làm có thu nhập cao hơn thu nhập từ nông nghiệp hoặc bổ sung thu nhập trong lúc nông nhàn, nên ngại học hỏi, không quan tâm tới BVMT
Trang 19Nhiều làng nghề chưa quan tâm tới xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho BVMT Cạnh tranh trong 1 số loại hình sản xuất đã thúc đẩy một số làng nghề đầu tư đổi mới công nghệ, kỹ thuật sản xuất Tuy nhiên đây không phải là đầu tư cho kỹ thuật bảo vệ môi trường Vì vậy hầu hết các cơ sở sản xuất trong làng nghề đều không có các
hệ thống xử lý chất thải trước khi thải ra môi trường
Hầu hết các làng nghề không có đủ cơ sở hạ tầng kỹ thuật để thu gom và xử
lý chất thải đạt tiêu chuẩn môi trường, như không có hệ thống thu gom và xử lý nước thải, không có bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh, không chú ý đầu tư phương tiện thu gom quản lý chất thải nguy hại Đây là một thách thức lớn vì để khắc phục điều này đòi hỏi nhiều kinh phí và thời gian
Việc quản lý vẫn còn gặp nhiều khó khăn và hiệu quả thu gom còn gặp nhiều hạn chế, tỷ lệ thu gom chất thải rắn vẫn còn thấp, các hộ gia đình không tham gia dịch vụ thu gom họ thường đem đổ ra sông ngòi, ao hồ, ven đường hay đốt trong vườn Biện pháp xử lý hiện nay chủ yếu là chôn lấp, nhưng phần lớn các bãi chôn lấp chưa đạt tiêu chuẩn kỹ thuật về bãi chôn lấp hợp vệ sinh Các bãi chất thải rắn thường được sử dụng là các bãi chất thải rắn lộ thiên, chưa được bố trí thích hợp và chưa được xử lý một cách triệt để
1.4 Một số kinh nghiệm quản lý, xử lý chất thải rắn tại các làng nghề
Ô nhiễm môi trường làng nghề ở Việt Nam hiện nay là một trong những vấn đề cần quan tâm, tuy các làng nghề quy mô nhỏ nhưng số lượng làng nghề lại nhiều, nên tác động của làng nghề đến môi trường là vô cùng lớn
Một số biện pháp kỹ thuật xử lý chất thải rắn thường được áp tại các làng nghề ở nước ta như sau:
- Phương pháp chôn lấp chất thải hợp vệ sinh: Phương pháp này chi phí rẻ nhất và thường được sử dụng nhất hiện nay ở nước ta
- Phương pháp chế biến chất thải rắn có nguồn gốc hữu cơ thành phân ủ hữu
cơ (compost): Thành phẩm thu được dùng để phục vụ cho nông nghiệp, vừa có tác dụng cải tạo đất vừa thu được sản phẩm không bị nhiễm hoá chất dư tồn trong quá trình sinh trưởng
Trang 20- Phương pháp thiêu đốt: Phương pháp này chi phí cao, thông thường từ
20-30 USD/tấn nhưng chu trình xử lý ngắn, chỉ từ 2-3 ngày, diện tích sử dụng chỉ bằng 1/6 diện tích làm phân hữu cơ có cùng công suất
- Các kỹ thuật khác: Ép ở áp lực cao các thành phần vô cơ, chất dẻo để tạo
ra các sản phẩm như tấm tường, trần nhà, tủ, bàn ghế, chất đốt,
* Mô hình xử lý chất thải bằng phương pháp ủ kín làm phân compost tại làng nghề giết mổ trâu bò thôn Bái Đô, xã Tri Thủy, huyện Phú Xuyên [12]
Thôn Bái Đô hiện có khoảng 40 hộ trục tiếp giết mổ trâu bò, với trung bình
từ 5 - 15 con/ngày/hộ, vào các ngày lễ, tết số lượng có thể tăng lên gấp đôi Hoạt động này đã mang lại thu nhập đáng kể cho nguôi dân, tuy nhiên, nước thải, CTR, mùi hôi, tiếng ồn đã gây ô nhiễm môi trường xung quanh, tác động xấu đến điều kiện sông của nhân dân Trong các loại CTR phát sinh từ quá trình giết mổ, chất thải từ dạ cỏ (trong dạ dày) của trâu, bò là một trong những loại chất thải khó phân hủy, được lun giữ tại các bể chứa tạm thòi trong khuôn viên hộ giết mổ Do đặc thù của địa phương, mặt bằng chật hẹp và mật độ dân cư cao, phương pháp xử lý bằng công nghệ ủ kín được lụa chọn nhằm hạn chế phát sinh mùi Phương pháp ủ kín làm phân compost dựa trên nguyên tắc sử dụng các hệ vi sinh vật có sẵn trong chất thải hoặc bổ sung từ bên ngoài đã mang lại hiệu quả đáng kể cho môi trường tại đây
* Mô hình xử lý mùn cưa tại làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ thôn Thiết Bình, xã Vân Hà, huyện Đông Anh [12]
Theo số liệu thống kê, lượng mùn cưa thải bỏ tủa cả xã Vân Hà là 4.000 kg/ngày Trước đây, các hộ, sản xuất thường thu gom, đổ ra đường làng hoặc ao, hồ xung quanh làm giảm diện tích đất canh tác, gây ô nhiễm môi trường nước Từ đầu năm 2012, đã có đơn vị đến thu mua mùn cưa từ các hộ sản xuất với giá là 3.000 đồng/bao 20 kg nhưng không thường xuyên, nên vẫn còn hiện tượng đổ mùn cưa ra khu vực công cộng
Để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường, một số đơn vị đã tiến hành thử nghiệm biện pháp dùng mùn cưa làm nhiên liệu cho bếp hồng ngoại (bếp gas sinh học) theo nguyên lý yếm khí
Trang 21Mùn cưa hoặc phoi bào, rơm rạ băm nhỏ, củi khô chặt vụn được cho vào bình chứa, chèn tương đối chặt, dưới đáy lò dùng quạt thổi nhẹ để đốt cháy yếm khí, khi
đó chúng sẽ phân giải ở nhiệt độ cao, gây phản ứng ôxy hóa sinh ra một loại hỗn họp khí cháy bao gồm: CH4,CH2 (khí mê-tal) do thực vật sinh ra, các khí này dưới tác dụng của hơi nước lại tiếp tục lên men quay trở lại gây phản ứng dây chuyền thấm sâu vào từng tế bào xenlulo kích thích sự phân giải mãnh liệt hơn, tạo ra càng nhiều khí gas theo đường ống đi ra bếp hồng ngoại Trong quá trình đi ra bếp hồng ngoại, hỗn họp khí xảy ra quá trình tự động phân ly Phần khí gas sạch và nhẹ hơn
đi lên trên và đuợc pha trộn với một phần không khí trích ra từ quạt gió đi ra bếp, với một tỷ lệ thích họp gây ra sự cháy tôi un tạo tia hồng ngoại sinh nhiệt để đun nâu Mặt bếp được bọc một lóp lưới tụ nhiệt gây phản ứng cháy trở lại đối vói các phân tử khí còn chưa cháy hết
Theo tính toán, bếp hồng ngoại này có giá khoảng 2,5 triệu đồng, với ưu điểm: An toàn, chiếm diện tích nhỏ khoảng 2-4 m2; dễ sử dụng, hiệu suất cháy cao không tạo lại hơi, khói bụi; tận dụng được chất thải -mùn cưa hoặc rơm rạ khi ngày mùa, đồng thời không phải phơi, sấy trước khi sử dụng như một số loại "bếp gas" đang bán trên thị trường
* Tổng kết chung, để xử lý chất thải rắn thải tại các làng nghề đã có nhiều phương pháp, chính sách được đưa ra trên các cơ sở sau:
a Biện pháp quản lý:
Là tổng hợp các biện pháp nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng địa phương thông qua việc giáo dục, tuyên truyền ý thức bảo vệ môi trường Lồng ghép việc bảo vệ môi trường vào hương ước của địa phương đó
Tăng cường công tác quản lý nhà nước về môi trường làng nghề, trong đó quy định rõ tchất thải rắnh nhiệm của địa phương, các nghành, lĩnh vực hoạt động Tăng cường hoạt động giám sát khí thải, nước thải và chất thải rắn tại các làng nghề
Có các chính sách ưu đãi về vốn cho việc áp dụng công nghệ và thiết bị tiên tiến ít chất thải
Trang 22Lập ra các hợp tác xã bảo vệ môi trường làng nghề nhằm thực hiện thu gom,
xử lý chất thải rắn phát sinh
b Giải pháp kỹ thuật:
- Áp dụng các biện pháp sản xuất sạch hơn
Theo định nghĩa: Sản xuất sạch hơn là sự áo dụng liên tục một chiến lược phòng ngừa môi trường tổng hợp đối với các quá trình sản xuất, các sản phẩm và các dịch vụ nhằm làm giảm thiểu tác động xấu đến con người và môi trường [14] + Sản xuất sạch hơn đối với một quá trình sản xuất bao gồm việc sử dụng hiệu quả nguyên liệu và năng lượng, không sử dụng các nguyên liệu độc hại trong quy trình sản xuất, giảm lượng cũng như tính độc hại của tất cả các chất thải ngay tại nguồn thải
+ Ngoài ra cần làm thay đổi thái độ ứng xử tới môi trường, ý thức tchất thải rắnh nhiệm của người lao động cũng như người quản lý trong việc hoàn thiện công nghệ và sản phẩm sao cho quá trình sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao nhất
- Giải pháp công nghệ xử lý chất thải
Chất thải rắn của các làng nghề hiện nay đối với Việt Nam chưa có biện pháp hữu hiệu để xử lý Đối với một số loại chất thải rắn có thể tái chế thì thu gom và tái chế, còn lại vẫn sử dụng các phương pháp xử lý đơn giản như biện pháp đốt hoặc thu gom để chôn lấp tập trung
Trang 231.5 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Thái Yên
1.5.1 Vị trí địa lý
Xã Thái Yên nằm về phía Đông của huyện Đức Thọ - Tỉnh Hà Tĩnh, cách thị trấn Đức Thọ khoảng 12 km và có toạ độ địa lý như sau:
Từ 105038'58'' - 105 040' 26 '' kinh độ Đông và 18030'24'' - 18031''53'' vĩ độ Bắc Ranh giới hành chính của xã như sau:
- Phía Bắc giáp xã Đức Thịnh;
- Phía Nam giáp xã Đức Thanh;
- Phía Đông giáp xã Đức Thịnh và thị xã Hồng Lĩnh;
- Phía Tây giáp xã Đức Thuỷ
Hình 1 Sơ đồ vị trí giao thông xã Thái Yên, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh
Khu vực nghiên cứu
Trang 241.5.2 Địa hình, địa mạo, đất đai [20]
Địa hình của xã Thái Yên tương đối bằng phẳng, có độ cao trung bình so với mặt nước biển khoảng từ 1,5 - 2 m Xã Thái Yên có diện tích đất tự nhiên là 418,16
ha Trong đó 28,97 ha đất ở và 300,11 ha đất sản xuất nông nghiệp, còn lại là đất sử dụng cho mục đích công cộng, đất chưa sử dụng và đất khác Trên cơ sở khảo sát thực địa và phân tích mẫu, đất của xã Thái Yên được chia thành 2 loại (Diện tích điều tra thổ nhưỡng đất của xã không tính các loại đất: Đất chuyên dùng; Đất ở; Mặt nước và sông , suối) như sau:
- Đất phù sa Glây (Pg): Có 244,88 ha, chiếm 59,37% diện tích tự nhiên của
xã Đất có thành phần cơ giới thịt nặng, độ dày tầng đất mịn > 100 cm được phân bố trên địa hình Vàn Đất này thích hợp với thâm canh cây lúa và cho năng suất cao Toàn bộ diện tích đất này được gieo trồng 2 vụ lúa
- Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng (Pf): Có 61,22 ha, chiếm 14,84% diện tích tự nhiên Đất này phân bố tập trung ở phía Đông Nam của xã Độ dày tầng đất mịn > 100 cm, thành phần cơ giới thịt trung bình, phân bố ở địa hình cao hơn so với đất phù sa glây, phù hợp với gieo trồng 2 vụ lúa ổn định và có thể kết hợp thêm 1
vụ màu
Bảng 1.2 Cơ cấu sử dụng đất năm 2013, xã Thái Yên, huyện Đức Thọ
2.5 Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng SMN 11,38 2.72
Nguồn: Tổng hợp báo cáo thống kê UBND xã - năm 2013 [21]
Trang 251.5.3 Khí hậu – Thủy văn
Huyện Đức Thọ nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa có khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, mang tính chất chuyển tiếp giữa khí hậu miền Bắc và khí hậu miền Nam Với đặc trưng khí hậu nhiệt đới điển hình của miền Nam và á nhiệt đới có một mùa đông lạnh của miền Bắc, khí hậu huyện Đức Thọ có 2 mùa khá rõ rệt: mùa
hè từ tháng IV đến tháng X thường nóng và khô hạn kéo dài kèm theo nhiều đợt gió tây (gió lào) khô nóng, nhiệt độ có thể lên đến trên 400C, bốc thoát hơi nước tiềm năng (Potential Evapo-Transpiration - PET) đạt từ 184,0 đến 228,8 mm/tháng Từ cuối tháng IX đến tháng XI thường có nhiều đợt bão kèm theo mưa lớn gây ngập úng, lượng mưa lớn nhất đạt tới 500 mm/ngày đêm Mùa đông từ tháng XI đến tháng III năm sau, thường có gió mùa đông bắc lạnh kèm theo mưa phùn, nhiệt độ
có thể xuống dưới 7oC Nhiệt độ trung bình năm 23,80C, tổng lượng mưa năm là 2642,3 mm, số giờ nắng năm là 1.662,6 giờ
0 50 100 150 200 250
Hình 2 Diễn biến một số yếu tố khí tượng xã Thái Yên, Đức Thọ Nằm trong khu vực miền trung nên Đức Thọ thường chịu ảnh hưởng nhiều của bão lụt, hàng năm có từ 1 - 1,6 cơn bão đi qua Thời kỳ xuất hiện bão lụt thường
từ tháng IX đến tháng XI
Trang 26Trên địa bàn xã Thái Yên không có các sông lớn, chế độ thuỷ văn phụ thuộc chủ yếu vào hói Nhà Lê (Tổng chiều dài các hói chảy trên địa bàn xã khoảng 5,0 km) Trữ lượng nước trên các hói này phụ thuộc chủ yếu vào trữ lượng nước của kênh 19/5 và lượng mưa hàng năm
a Nguồn nước mặt: Được phân bố chủ yếu ở các ao hồ trong khu dân cư, hệ
thống kênh mương thuỷ lợi Trữ lượng nguồn nước mặt phụ thuộc hoàn toàn vào trữ lượng nước của hệ thống thuỷ lợi Linh Cảm và nước mưa Đây là nguồn nước chủ yếu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp của xã
b Nguồn nước ngầm: Có trữ lượng tương đối dồi dào vì địa chất ở đây chủ
yếu là đất thịt nặng nên khả năng giữ nước và trữ nước tốt Độ sâu tầng nước ngầm từ
4 - 6 m Đây là nguồn nước chính phục vụ cho sinh hoạt của người dân trong xã (đến nay đã có >90% số hộ trong toàn xã sử dụng nguồn nước ngầm làm nước sinh hoạt)
1.5.4 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập
- Dân số: Theo số liệu thống kê của UBND xã Thái Yên đến tháng 12/2013 dân số của toàn xã có 6.350 người với 1.717 hộ gia đình, quy mô hộ là 3,69 người/
hộ Xã Thái Yên có mật độ dân số cao đứng hàng thứ 2 trong huyện (chỉ sau thị trấn Đức Thọ) với 1.530 người/km2
- Cơ cấu dân số của xã như sau:
+ Nữ: 3.191 người, chiếm 50,25%
+ Nam: 3.159 người, chiếm 49,75%
- Lao động, việc làm và thu nhập:
Toàn xã có 1.051 hộ tham gia sản xuất làm nghề, chiếm 61,21% tổng số hộ, với 3.150 lao động sản xuất tiểu thủ công nghiệp Có 85 hộ có thu nhập từ lĩnh vực thương mại, dịch vụ và 1.621 hộ có thu nhập từ lĩnh vực nông nghiệp
Do có nghề truyền thống từ lâu đời và hiện nay đang trên đà phát triển mạnh, nên Thái Yên là xã có tỷ lệ lao động phi nông nghiệp cao nhất huyện Đức Thọ Trong những năm qua ngành sản xuất đồ mộc của xã có những bước phát triển tích cực giúp giải quyết nhiều việc làm và mang lại thu nhập cao cho người
Trang 27dân Trình độ tay nghề của người lao động ngày càng được nâng cao do được đào tạo thường xuyên đã góp phần làm cho sản phẩm đồ gỗ của xã được lưu thông rộng rãi trên thị trường
Thu nhập bình quân đầu người của xã năm 2013 ước tính đạt 22,3 triệu đồng/người/năm
1.5.5 Giáo dục – y tế
Hệ thống các cơ sở giáo dục - đào tạo của xã hiện có:
- 02 điểm trường Mầm non xã (tại thôn Bình Hà và thôn Bình Định) có diện tích khuôn viên 0,57 ha, có 11 lớp học, tổng số 340 học sinh
- 01 điểm trường Tiểu học (tại thôn Bình Hà) có diện tích rộng 0,58 ha, trường có 19 lớp học, tổng số 530 học sinh
- 01 điểm trường Trung học cơ sở (tại thôn Bình Hà) có diện tích khuôn viên 1,10 ha, trường có 18 lớp học, tổng số 565 học sinh
Toàn xã đã phổ cập vững chắc bậc Tiểu học và Trung học cơ sở Cơ sở vật chất trường học (sân chơi, bãi tập, trang thiết bị dạy và học) ngày càng được tăng cường Các Trường THCS, Tiểu học và Mầm non đều đã được công nhận là trường chuẩn Quốc gia
Trong 5 năm gần đây xã có số lượng các em thi đậu vào các trường đại học, cao đẳng luôn đứng vị trí thứ nhất, nhì toàn huyện Các truyền thống văn hoá mang đậm bản sắc dân tộc luôn được người dân trong xã gìn giữ và phát huy Chất lượng Giáo dục - Đào tạo của con em trong xã ngày càng được nâng cao và khuyến khích phát triển Đặc biệt nghề mộc truyền thống nổi tiếng của người dân trong xã đã được tiêu thụ rộng rãi cả ở trong và ngoài tỉnh
Cơ sở y tế xã Thái Yên bao gồm 1 trạm y tế của xã hiện tại thôn Bình Tiến B,
vị trí ở khu vực trung tâm xã, thuận tiện cho việc đến khám và chữa bệnh của người dân Trạm có diện tích khuôn viên 0,15 ha (đảm bảo tiêu chuẩn về diện tích) Nhà điều trị được xây dựng cao tầng với tổng diện tích 345 m2 Và 5 phòng khám, quầy thuốc tư nhân Trang thiết bị cơ sở y tế đang dần được nâng cao Công tác y tế,
Trang 28chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân được nâng lên rõ rệt về chất lượng Trạm y tế xã đủ tiêu chuẩn được công nhận chuẩn Quốc gia giai đoạn 1
1.5.6 Tình hình phát triển kinh tế
Trong những năm qua nền kinh tế của xã đã có những bước phát triển tích cực trên mọi lĩnh vực Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống ngày càng được nâng cao, an ninh chính trị được giữ vững, đời sống của nhân dân từng bước được nâng lên
Bảng 1.3 Cơ cấu kinh tế của xã Thái Yên giai đoạn 2009 – 2013
3 DV-thương mại % 13,64 12,46 13,73 13,08 13,55 Tổng số % 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00
Nguồn: Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch nhà nước năm 2013, định hướng mục
tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2014 1.5.6.1 Sản xuất nông nghiệp:
Là một xã có diện tích đất sản xuất nông nghiệp trên đầu người nhỏ, số lao động tham gia sản xuất nông nghiệp ít Sản xuất nông nghiệp mang tính chất độc canh cây lúa Một năm xã Thái Yên chỉ có 2 vụ sản xuất lúa là vụ Đông - Xuân và
Trang 29Tổng sản lượng lương thực quy thóc năm 2013 đạt 2.022,4 tấn Bình quân lương thực đầu người năm 2013 đạt 349,5 kg/người/năm Về chăn nuôi năm 2013
xã đạt được: Tổng đàn lợn đạt 618 con, tổng đàn trâu, bò có 111 con, tổng đàn gia cầm 7.245 con Mô hình nuôi cá ruộng lúa có sự phát triển tốt sau chuyển đổi ruộng đất, đạt hiệu quả kinh tế cao gấp từ 3 - 4 lần so với chuyên trồng lúa Đến nay xã đã
có 9,5 ha đất ruộng lúa kết hợp với nuôi thả cá và có 2,5 ha diện tích mặt nước phục
vụ nuôi trồng thủy sản
1.5.6.2 Tiểu thủ công nghiệp:
Xã Thái Yên với loại hình sản xuất nghề mộc truyền thống với quy mô sản xuất trên 61% số hộ toàn xã tham gia Đã giúp giải quyết việc làm cho cộng đồng dân cư trong xã và một số ở địa phương khác, nâng cao thu nhập và hằng năm đưa lại nguồn thu đáng kể cho địa phương
Trong năm 2013, trên địa bàn toàn xã gặp không ít khó khăn Do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế nên việc tiêu thụ hàng hóa gặp khó khăn trong tiêu thụ, hàng hóa giá thấp Nhóm gỗ tốt ngày càng giảm nên giá tăng cao Sự cạnh tranh thị trường với các sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ của các làng nghề khác như Đồng Kỵ - Bắc Ninh…làm cho việc sản xuất của làng nghề mộc Thái Yên gặp không ít kho khăn Được sự quan tâm của Đảng, nhà nước như tạo điều kiện cho vay vốn sản xuất với lãi suất thấp Để đáp ứng nhu cầu thị trường và thị hiếu người tiêu dùng các cơ sở sản xuất đã đầu tư về máy móc phục vụ cho sản xuất tiểu thủ công nghiệp, cải tiến mẫu mã và chất lượng sản phẩm, vì vậy năm 2013 thu nhập từ TTCN cũng đã đạt được mức tăng trưởng cao so với khu vực toàn huyện Cụ thể như sau:
Thu nhập từ TTCN: 19,2 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng kinh tế: 12%
1.5.6.3 Khu vực dịch vụ;
Khu vực kinh tế dịch vụ - thương mại không ngừng được mở rộng đảm bảo phục vụ tốt hơn cho sản xuất và tiêu dùng của người dân trong xã Tổng giá trị sản xuất của ngành kinh tế dịch vụ - thương mại năm 2013 đạt 3,6 tỷ đồng, tăng gấp 1,2 lần so với năm 2010 Tốc độ tăng trưởng bình quân cả giai đoạn đạt 12%
Trang 301.5.7 Những nét đặc trưng của làng nghề mộc Thái Yên
Nghề mộc bắt đầu du nhập vào xã Thái Yên từ thế kỷ XVI, khi bắt đầu có thêm nghề mộc, ở địa phương chỉ có các lán trại sơ sài của các cá nhân thuê người cưa, xẻ và kho gỗ ván Dần do nhu cầu thực tế tạo thuận lợi cho phát triển công ăn việc làm đã hình thành nên một xóm thợ nhỏ và phát triển mạnh trên toàn bộ địa bàn toàn xã như hôm nay Nghề mộc truyền thống Thái Yên có bề dày lịch sử gần
400 năm, có các bước phát triển thăng trầm qua các giai đoạn sau:
Giai đoạn trước năm 1945: Làng nghề Thái Yên đã từng bước phát triển, khoảng những năm 1875 – 1895 làng nghề Thái Yên đã sản xuất đồ gỗ xuất khẩu gọi là hàng mỹ nghệ, đáp ứng nhu cầu của các đối tượng khách hàng người Pháp,
Hà Lan, Hoa Kiều và một ít khách Ấn Độ buôn bán ở Vinh – Nghệ An Thợ Thái Yên đã đặt đấu ấn bằng việc tham gia xây dựng một số hạng mục ở Thành Đại Nội Huế qua hai triều vua Duy Tân và Khải Định (1907 – 1925), nhà thờ công giáo lớn
ở xã Đoài (Nghi Lộc) và cầu Rầm (Vinh – Nghệ An) Qua đó khẳng định vị thế của một làng nghề, khẳng định tài năng của những bàn tay kiến tạo ra nó
- Giai đoạn từ cách mạng tháng 8 năm 1945 đến hết thế kỷ XX: Do chiến tranh, nhiều thợ Thái Yên tham gia chiến đấu nên hoạt động làng nghề có bước thoái trào Tuy nhiên vẫn có những nhân tố đã trở thành những nhân vật nòng cốt, những hạt nhân chuyên môn kỹ thuật của các xí nghiệp, nhà máy chế biến gỗ, sản xuất mộc nổi tiếng như : Bến Thủy, Diễn Châu… Từ năm 1960 xuất hiện hợp tác xã làm nghề đầu tiên đánh dấu bước phát triển mới của làng nghề Thái Yên Một số công trình kiến trúc có sự tham gia của những người thợ Thái Yên bao gồm khu di tích lịch sử ở Cao Lãnh – Đồng Tháp, Nam Liên – Nam Đàn, phần cửa chính trong Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
- Giai đoạn hiện nay: Đến nay nghề mộc xã Thái Yên đã đứng vững trên thị trường, hàng hóa sản xuất có uy tín trên thị trường rộng khắp cả nước Sản xuất đồ mộc là thế mạnh của nhân dân xã Thái Yên, là ngành kinh tế mũi nhọn và chiếm tỷ trọng lớn (65%) trong cơ cấu kinh tế địa phương với giá trị mỗi năm từ 50-55 tỷ đồng
Trang 31CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các loại chất thải rắn: Sinh hoạt, sản xuất làng nghề, y tế, nông nghiệp của
xã Thái Yên (về nguồn thải, thành phần, khối lượng)
- Các biện pháp quản lý, thu gom và vận chuyển chất thải rắn tại làng nghề Thái Yên
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Toàn bộ xã Thái Yên,
- Phạm vi thời gian: Năm 2013, 2014 và có tính dự báo đến năm 2020
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Số liệu về xã hội như: tổng dân số, số hộ, tổng số lao động tham gia làng nghề, tổng sản phẩm, tổng giá trị, lượng chất thải rắn thải được thu thập từ ban thống kê của xã Thái Yên
Ngoài ra các tài liệu, số liệu còn được thu thập tại các phòng ban của xã, huyện và tỉnh có liên quan như: Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Tĩnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Tĩnh, Sở Công Thương Hà Tĩnh, Cục thống kê tỉnh Hà Tĩnh, phòng thống kê huyện Đức Thọ, phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đức Thọ, Ủy ban nhân dân xã Thái Yên
2.2.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn
- Xây dựng mẫu phiếu điều tra cho các hộ gia đình, cơ quan quản lý nhà nước cấp xã, cán bộ công nhân viên hoạt động thu gom, vận chuyển chất thải rắn thải;
Trang 32+ Đối với phiếu điều tra các hộ gia đình phân chia làm 2 nhóm đối tượng :
Hộ sản hộ sản xuất nghề mộc và hộ không sản xuất nghề mộc
Số lượng phiếu điều tra xác định theo công thức của Yamane (1967 – 1986):
2
N n
Như vậy : n = 325 phiếu Số hộ cần điều tra tương đương 357 hộ
+ Điều tra phỏng vấn chính quyền địa phương và cán bộ công nhân viên HTX MT Thái Yên
- Phương pháp phỏng vấn: Chuẩn bị sẵn câu hỏi, trao đổi trực tiếp với người dân trên địa bàn về vấn đề liên quan đến hiện trạng phát sinh, công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn thải sinh hoạt, chất thải rắn thải làng nghề Những tâm
tư, nguyện vọng và các ý kiến đóng góp để cải thiện chất lượng môi trường làng nghề
2.3.3 Phương pháp chuyên gia
Tham khảo các ý kiến của cán bộ địa chính – môi trường cấp xã, cán bộ phòng Tài nguyên và Môi trường huyện, các chủ hộ sản xuất và ý kiến của giáo viên hướng dẫn đề tài
2.3.4 Phương pháp phân tích xử lý số liệu
Số liệu được thu thập tại các cơ sở sản xuất thủ mộc tại làng nghề và được xử
lý bằng chương trình phần mềm Micosoft Excel
2.3.5 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
Các số liệu sau khi được thu thập, xử lý được tổng hợp và hoàn thiện báo cáo
đề tài
Trang 33CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Hiện trạng môi trường làng nghề Thái Yên
3.1.1 Hiện trạng môi trường nước
a, Nước sinh hoạt
Nguồn nước phục vụ cho mục đích nước sinh hoạt tại Làng nghề Thái Yên hiện nay chủ yếu từ 3 nguồn gồm: nước giếng, nước từ nhà máy cấp nước và một phần từ nước mưa dự trữ Nước giếng chủ yếu được sử dụng vào mục đích tắm giặt,
ít được sử dụng để đun nấu làm nước uống Nước máy, theo thống kê của UBND xã đến 6/2014 cả xã có 1.046/1.717 hộ (chiếm 60,9%), lượng nước sử dụng bình quân 11-13 m3/hộ/tháng Nguồn nước được cung cấp từ nhà máy cấp nước thị xã Hồng Lĩnh (cách làng nghề 7km), chất lượng nguồn nước đảm bảo đáp ứng yêu cầu ăn uống và phục vụ một phần cho sản xuất
b, Nước mặt
Nguồn nước mặt trong làng chủ yếu là các ao, hồ Hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như sinh hoạt của nhân dân đã ảnh hưởng nhiều đến chất lượng môi trường nước mặt tại làng nghề Thái Yên Các ao trong làng đều là những ao tù, là nơi chứa nước thải từ hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm, sinh hoạt của nhân dân
và sản xuất tiểu thủ công nghiệp Bên cạnh đó một số ao tù còn bốc mùi hôi thối do
sự phân huỷ yếm khí của các chất hữu cơ
Kết quả phân tích chất lượng nước mặt được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1.5 Chất lượng nước mặt tại khu vực xã Thái Yên
Trang 34Ghi chú:
M1: Hồ Bình Hà, thôn Bình Hà, xã Thái Yên
M2: Hồ trước cổng Trạm y tế Thái Yên, thôn Bình Tiến B
M3: Sông Con, đoạn chảy qua thôn Bình Tân
Kết quả phân tích nước ao trong làng cho thấy đều không đạt tiêu chuẩn loại B1 theo QCVN 08:2008/BTNMT, không đủ tiêu chuẩn để cấp nước cho sinh hoạt cũng như nuôi trồng thuỷ sản Các hồ trong làng nghề Thái Yên có dấu hiệu phú dưỡng: sự xuất hiện với nồng độ cao của nitơ và phốt pho làm cho các loại tảo phát triển mạnh gây nên hiện tượng nước nở hoa Ở nhiễm các chất dinh dưỡng trong các
ao hồ là do chất thải sinh hoạt, chăn nuôi
b, Nước thải và thoát nước
Nước thải của làng nghề gồm có nước thải sản xuất và nước thải sinh hoạt Nước thải được tiêu thoát qua cùng một hệ thống thoát chung Do nước thải sử dụng cho sản xuất không đáng kể nên nước thải của làng nghề chủ yếu là nước thải sinh hoạt Nếu theo cách tính tại Nghị định số 80/2014/NĐ-CP ngày 6/8/2014 của Chính phủ về thoát nước và xử lý nước thải thì lượng nước thải bằng 100% lượng nước cấp Như vậy ước tính khối lượng nước thải sinh hoạt của làng nghề Thái Yên khoảng 730 – 744m3/ngày
Hệ thống thoát nước của làng nghề tương đối lớn, hầu hết các tuyến thoát nước thải chính đều được xây dựng kiên cố dạng mương kín hoặc mương hở Nước thải phát sinh tại các hộ được thải vào hệ thống mương thoát nước thải chung của làng nghề, các mương thải được đổ trực tiếp ra kênh nhà Lê Do đặc trưng làng nghề mộc nên nước trong hệ thống kênh mương thường có chứa nhiều chất rắn như các loại mùn cưa, mảnh vụn gỗ do không có các song chắn chất thải rắn, bên cạnh
đó mương thoát nước ít được nạo vét nên các chất rắn theo nước thải vào mương dẫn đến tình trạng mương thoát nước bị tắc, tù đọng gây mùi hôi thối, nguy cơ chứa nhiều mầm bệnh
Chất lượng nước thải tại làng nghề Thái Yên hàng năm được quan trắc định
kỳ thông qua mạng lưới quan trắc môi trường tỉnh Hà Tĩnh Sau đây là kết quả quan
Trang 35trắc tại điểm quan trắc kênh thoát nước nhà Lê, nơi tiếp nhận chủ yếu các nguồn nước thải tại xã Thái Yên
Bảng 3.1 Hiện trạng môi trường nước thải tại làng nghề Thái Yên [13]
TT Thông số đo Đơn
vị đo
14:2008/BTNMT
Quý I/2013
Quý II/2013
Quý III/2013
Quý IV/2013
Nguồn: Trung tâm Quan trắc và Kỹ thuật Môi trường Hà Tĩnh
Địa điểm quan trắc: Tại mương thoát thải chung của làng nghề Thái Yên, đoạn xả vào kênh nhà Lê
Qua kết quả quan trắc ta thấy các thông số BOD5, COD, Chất rắn lơ lững, Coliform trong môi trường nước vượt quá Quy chuẩn cho phép từ 1,4 đến 2,04 lần Nguyên nhân do các hộ sản xuất mới chỉ có thu gom mà chưa có biện pháp xử lý, trong khi đó hệ thống thoát thải của làng nghề chưa đảm bảo, chỉ thu gom và xử trực tiếp ra kênh nhà Lê Qua kết quả phân tích mạng lưới năm 2013 cho thấy, các thông số có biến động tăng giảm theo từng quý, trong đó các thông số vượt so với Quy chuẩn lớn vào Quý I và Quý IV bởi vì đây là thời gian mà làng nghề hoạt động sản xuất cao nhất trong năm để phục vụ cho thị trường vào dịp cuối năm và Tết nguyên đán Nước thải từ quá trình sản xuất ảnh hưởng đến đời sống của khu vực dân cư xung quanh khu làng nghề Làm tắc nghẽn hệ thống cống rãnh thoát nước của khu vực, gây ra mùi hôi thối và ảnh hưởng đến các nguồn tiếp nhận
3.1.2 Môi trường không khí
Bụi phát sinh hầu hết trong tất cả các quá trình sản xuất mộc từ các công đoạn cắt xẻ, gia công sản xuất (bào, khoan) cho tới công đoạn đánh bóng gia công
bề mặt (máy chà, máy đánh nền, máy đánh giấy ráp)… Bụi từ các máy cưa, xẻ thường có kích thước lớn nên dễ lắng dưới tác dụng của trọng lực, phạm vi ảnh hưởng không lớn Bụi từ các máy chà, máy đánh giấy ráp, máy phun làm sạch sản
Trang 36phẩm thường có kích thước nhỏ hơn và dễ phân tán nên là nguồn gây ô nhiễm bụi đáng quan tâm nhất
- Quy trình sản xuất đồ gỗ trong làng gây ô nhiễm không khí ở nhiều công đoạn, trong đó điển hình là công đoạn phun sơn Trong quá trình phun sơn một lượng lớn sơn bị thất thoát ra ngoài, đây là một dạn hóa chất độc có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của người dân, gây tác động nguy hại tới môi trường không khí tại làng nghề Qua khảo sát cho thấy diện tích bình quân của các hộ sản xuất là 150-250m2/hộ Việc nơi sản xuất chật chội, nơi sản xuất gắn liền với khu vực nhà ở, sinh hoạt làm cho lượng bụi thải ra không thể phát tán theo nguồn gió mà quẩn lại nơi sản xuất và nơi ở của hộ sản xuất Đặc biệt nguy hại đối với con người và môi trường là ô nhiễm mùi do các hoá chất từ sơn rất nghiêm trọng Các loại sơn này thường có mùi khó chịu, gây ảnh hưởng đến đường hô hấp, tạo cảm giác khó thở, khô mũi… Việc không có các biện pháp giảm thiểu và xử lý các chất thải ra trong quá trình sản xuất ngày càng làm cho tình hình môi trường nơi đây hết sức nghiêm trọng
Theo kết quả quan trắc chất lượng môi trường không khí định kỳ thuộc mạng lưới quan trắc môi trường tỉnh Hà Tĩnh, điểm quan trắc tại xã Thái Yên được Trung tâm quan trắc môi trường thực hiện hàng năm có kết quả như sau:
Bảng 3.2 Hiện trạng môi trường không khí, tiếng ồn tại làng nghề Thái Yên[13]
Quý II/2013
Quý III/2013
Quý IV/2013
Như vậy, qua kết quả quan trắc chất lượng môi trường không khí cho thấy các chỉ số bụi vượt Quy chuẩn cho phép từ 1,1 đến 1,5 lần, các chỉ số phân tích còn
Trang 37lại đều nằm trong giới hạn cho phép Điều này cho thấy vấn đề ô nhiễm bụi trong quá trình sản xuất tại làng nghề là đáng báo động, các biện pháp khắc phục bụi phát sinh trong quá trình cưa tạo hình sản phẩm hiện đang áp dụng không hiệu quả, cần phải có biện pháp khắc phục
3.1.3 Môi trường tiếng ồn
Tiếng ồn là đặc thù của làng nghề sản xuất mộc Mọi công đoạn đều phát sinh tiếng ồn tương đối lớn như cưa, xẻ, bào, tiện,…Mức độ ồn phụ thuộc chủ yếu vào thời gian hoạt động của các xưởng sản xuất, thường lớn vào giai đoạn cuối năm khi làng tập trung sản xuất hàng tết với mức âm từ 72,7 đến 81,8 dBA
Kết quả quan trắc chất lượng môi trường tiếng ồn định thể hiện ở bảng 3.2 3.1.4 Môi trường đất
Cùng với sự phát triển của làng nghề là sự phát sinh một lượng lớn chất thải rắn Một phần chất thải được đổ trực tiếp ra các khu vực đất canh tác, đất dự phòng…Điều này làm thay đổi thành phần hóa lý của đất, ảnh hưởng đến mùa màng của nông dân tại làng nghề và các vùng lân cận Đồng thời tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường đất ở các vùng bị đổ thải trực tiếp và vùng phụ cận
3.2 Đánh giá hiện trạng phát sinh chất thải rắn tại làng nghề Thái Yên
- Chất thải sinh hoạt phát sinh từ hoạt động sinh hoạt hàng ngày của các hộ gia đình có thành phần chủ yếu là các chất hữu cơ thực phẩm, các loại nylon, chai
lọ, nhựa và có lẫn một số chất thải sản xuất như mùn cưa, gỗ, chai lọ đựng sơn, vecni…
- Chất thải rắn sản xuất phát sinh từ các công đoạn xẻ gỗ, cắt hình dáng sản phẩm, bào, đánh bóng và hoàn thiện sản phẩm Thành phần chất thải gồm có mùn cưa, gỗ vụn nhỏ, các giẻ lau, chai đựng sơn, vecni các loại từ khâu hoàn thiện sản phẩm,… Từ thực tế điều tra tại một số hộ sản xuất cho thấy các chất thải rắn phát sinh trong sản xuất chủ yếu được người dân thu mua sử dụng nguyên liệu, năng lượng đốt Tuy nhiên mức thu gom không triệt để, phần còn lại thường được các hộ gia đình tập kết thành đống và xử lý bằng phương pháp đốt
Xã Thái Yên là địa phương có tốc độ phát triển kinh tế và mức thu nhập của
Trang 38người dân tương đối cao so với các địa phương lân cận Hoạt động sản xuất, kinh doanh ngày càng được mở rộng đã thúc đẩy tốc độ tăng trưởng về kinh tế và nâng cao mức sống người dân Bên cạnh với sự phát triển đó thì khối lượng chất thải rắn thải phát sinh cũng tăng lên từ nhiều nguồn khác nhau Thành phần chất thải rắn thải cũng phức tạp hơn đã và đang gây ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng dân cư 3.2.1 Chất thải rắn thải sinh hoạt:
3.2.1.1 Khối lượng phát sinh
Chất thải rắn thải sinh hoạt phát sinh từ hoạt động sống của người dân Theo thống kê tổng dân số xã Thái Yên năm 2013 là 6.350 người, sinh sống trên địa bàn gồm 5 xóm Mật độ dân cư cao, sống tập trung và có mức sống tương đối cao và sự phát sinh chất thải lớn
Lượng chất thải rắn phát sinh hằng ngày để kiểm kê được chính xác là việc hết sức khó khăn Nhưng việc tính toán và ước lượng chất thải rắn thải sinh ra ở địa phương là hết sức quan trọng, đây là cơ sở để tính toán biện pháp xử lý, thực hiện
kế hoạch quản lý Khối lượng chất thải rắn được tính thông qua sự ước lượng lượng chất thải bình quân trên một người và dân số của xã sau đó ước tính lượng thải trung bình của cả xã Công việc tính toán được ước lượng với số hộ là 10 hộ với 42 nhân khẩu
Bảng 3.3 Số lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt
hộ
Số người
Lượng CTR phát sinh (kg)
TB phát sinh (kg/người/ngày)
Nguồn: tổng hợp từ điều tra số liệu
Như vậy, theo kết quả điều tra, lượng chất thải rắn thải sinh hoạt phát sinh bình quân ở xã Thái Yên là 0,57 kg/người/ngày Trong đó, lượng chất thải rắn thải ở thôn Bình Định có bình quân phát sinh cao nhất 0,65kg/người/ngày Thôn Bình Tân
có bình quân phát sinh thấp nhất 0.46 kg/người/ngày
Trang 39+ Đối với chất thải rắn thải phát sinh từ chợ: Trên địa bàn xã Thái Yên có 02 địa điểm chợ là chợ Hôm và chợ Đường Quan Chợ Hôm họp 1 buổi trên/ngày, chợ Đường Quan họp 2 buổi trong ngày nhưng không liên tục Hoạt động của chợ chủ yếu phục vụ mua bán, trao đổi hàng hóa nông sản, thực phẩm và một số sản phẩm
gia dụng cho người dân trên phạm vi xã Thái Yên (không phải chợ đầu mối của vùng) Hàng ngày phát sinh một lượng lớn các chất thải rắn như: bao bì, túi nilon
các loại rau, củ quả thối hỏng… gây mất mỹ quan và mất vệ sinh môi trường
+ Bên cạnh đó chất thải rắn thải phát sinh từ các trường học trên địa bàn xã Thái Yên tương đối lớn Tổng lượng chất thải rắn thải phát sinh được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 3.4 Ước lượng CTR thải sinh hoạt phát sinh hàng năm ở xã Thái Yên
Bình quân phát thải (kg/ngày)
Tổng khối lượng phát sinh (tấn/năm)
Bảng 3.5 Phân loại chất thải rắn thải sinh hoạt ở xã Thái Yên Tiêu chí phân loại Thành phần chất thải rắn Tỉ lệ (% ) CTR không đốt được
Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra
Trang 403.2.2 Chất thải rắn thải sản xuất làng nghề
Gỗ là nguyờn liệu cơ bản trong quỏ trỡnh sản xuất, gỗ nguyờn liệu được sử dụng bao gồm cỏc loại gỗ quý cú giỏ trị cao thuộc nhúm I như: Trắc, Mun, Lỏt hoa, Cẩm lai, Gừ… ; gỗ nhúm II như: Đinh, Lim, Nghiến, Tỏu, Sến, dỗi…hoặc cỏc loại
gỗ cú ớt giỏ trị hơn như de, trỏm, thụng…
Bờn cạnh đú, quỏ trỡnh sản xuất cũn sử dụng nhiều nguyờn vật liệu và húa chất khỏc như keo, giấy rỏp, dầu phun búng, cỏc loại vật liệu được sử dụng
Mùn cưa, gỗ vụn (tập trung tại xưởng SX)
Mùn cưa, gỗ củi, dăm bào, hộp đựng keo, đinh sắt hỏng