1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiện trạng sử dụng, thải bỏ thủy ngân từ hoạt động y tế tại một số bệnh viện trên địa bàn hà nội và đề xuất giải pháp xử lý phù hợp

79 890 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiến tới mục tiêu chăm sóc sức khỏe không có thủy ngân tại Việt Nam và nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, nhân viên y tế, trong luận văn này thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng sử dụ

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Sử dụng thủy ngân và các sản phẩm chứa thủy ngân 3

1.1.1 Sử dụng thủy ngân và các sản phẩm chứa thủy ngân trong công nghiệp 3

1.1.2 Sử dụng thủy ngân và các sản phẩm chứa thủy ngân trong y tế 5

1.2 Thực trạng quản lý và thải bỏ thủy ngân và các sản phẩm chứa thủy ngân từ hoạt động y tế 8

1.2.1 Trên thế giới 8

1.2.2 Tại Việt Nam 12

1.3 Nguy cơ đối với môi trường và sức khỏe 17

1.3.1 Nguy cơ đối với môi trường 17

1.3.2 Nguy cơ đối với sức khỏe 17

CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1 Đối tượng, địa điểm nghiên cứu 19

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 19

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 19

2.2 Phương pháp nghiên cứu 19

2.2.1 Phương pháp tổng quan tài liệu 19

2.2.2 Phương pháp điều tra 19

2.2.3 Phương pháp đánh giá, phân tích so sánh 20

2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu, thống kê 20

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21

Trang 2

3.1 Thực trạng sử dụng và thải bỏ thủy ngân trong hoạt động y tế tại bệnh

viện khảo sát 21

3.1.1 Thực trạng sử dụng 24

3.1.2 Thực trạng thải bỏ chất thải chứa Thủy ngân 24

3.2 Thực trạng công tác quản lý và xử lý thủy ngân thải từ hoạt dộng y tế tại bệnh viện khảo sát 26

3.2.1 Thực trạng công tác quản lý 26

3.2.2 Thực trạng công tác xử lý 27

3.3 Đề xuất các giải pháp xử lý phù hợp 31

3.3.1 Xây dựng kế hoạch quản lý/kiểm soát thủy ngân trong ngành y tế theo định hướng loại bỏ sử dụng thủy ngân: 31

3.3.2 Thay thế thủy ngân và các thiết bị y tế chứa thủy ngân 32

3.3.3 Giải pháp kiểm soát quản lý thủy ngân quy mô bệnh viện 46

3.3.4 Đánh giá chi phí hiệu quả giải pháp đề xuất 59

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

PHỤ LỤC 65

Trang 3

POPs Persistant Organic Pollmant - Các hợp chất ô nhiễm hữu cơ bền

PTS Persistent toxic substances - Chất độc hại khó phân hủy

UNDP United Nations Development Programme - Chương trình Phát triển

Liên Hợp Quốc

UNEP United Nations Environment Programme - Chương trình Môi trường

Liên Hiệp Quốc

U-POPs Các khải khí nguy hại không chủ định

URENCO Urban Enviroment Company - Công ty môi trường đô thị

WHO World Health Organization - Tổ chức Y tế thế giới

TWA Giới hạn phơi nhiễm trung bình đo trong khoảng 8 giờ

STEL Giới hạn phơi nhiễm ngắn hạn trong 15 phút

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Hàm lượng thủy ngân trong một số thiết bị y tế 7

Bảng 1.2: Số liệu thống kê về sử dụng 2 loại dụng cụ chính chứa thủy ngân trong bệnh viện tuyến tỉnh và huyện 14

Bảng 1.3: Ước tính lượng thủy ngân thải từ nhiệt kế bị vỡ 15

Bảng 3.1: Thực trạng sử dụng các vật dụng chứa thủy ngân từ hoạt động y tế của Bệnh viện 198, Bệnh viện E trung ương 24

Bảng 3.2: Thực trạng thải bỏ các vật dụng chứa thủy ngân 25

Bảng 3.3: Tình hình quản lý thiết bị, vật dụng chứa thủy ngân 26

Bảng 3.4: Cách xử lý của các khoa khi có vỡ, đổ thiết bị, vật liệu có chứa thủy ngân28 Bảng 3.5: Phương pháp thu gom thủy ngân khi có sự cố 29

Bảng 3.6: Cách chứa đựng chất thải tại các khoa 30

Bảng 3.7: Kết quả điều tra về phương cách thải bỏ chất thải thủy ngân 30

Bảng 3.8: Những thiết bị vật liệu chuẩn bị thay thế của các khoa phòng 33

Bảng 3.9: Kết quả điều tra nguyên nhân thay thế nhiệt kế thủy 34

Bảng 3.10: Nguyên nhân không thay thế nhiệt kế thủy ngân 34

Bảng 3.11: Tổng hợp các thiết bị chứa thủy ngân có thể thay thế 37

Bảng 3.12: Kết quả điều tra nguyên nhân thay thế HA kế thủy ngân 39

Bảng 3.13: Kết quả điều tra nguyên nhân không thay thế HA thủy ngân 39

Bảng 3.14: So sánh đặc tính một số máy đo huyết áp hiện đang sử dụng 41

Bảng 3.15: Thống kê những lỗi chính của HA thủy ngân 42

Bảng 3.16: Kết quả điều tra nguyên nhân thay thế 43

Bảng 3.17: Kết quả điều tra nguyên nhân không thay thế Amalgam 43

Bảng 3.18: Chi phí mua các thiết bị chứa thủy ngân hàng năm 59

Bảng 3.19: Tổng hợp chi phí thay thế toàn bộ các thiết bị chứa thủy ngân 59

Trang 5

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Giọt thủy ngân 3 Hình 1.2: Một số hình ảnh về thủy ngân và sử dụng thủy ngân 6 Hình 1.3: Chu trình phát thải thủy ngân từ hoạt động y tế 8 Hình 1.4: Hiện trạng công tác quản lý/xử lý chất thải y tế nguy hại liên quan đến phát thải POPs 16 Hình 3.1: Sơ đồ dòng di chuyển của thủy ngân và sản phẩm chứa thủy ngân trong bệnh viện 23 Hình 3.2: Tỷ lệ thành phần chất thải 25 Hình 3.3: Tỷ lệ các khoa có hướng dẫn về sử dụng thiết bị, vật dụng chứa Thủy ngân 26 Hình 3.4: Phương pháp xử lý chất thải thủy ngân 28 Hình 3.5: Tỷ lệ khoa có kế hoạch thay thế thiết bị, vật liệu có chứa thủy ngân 33

Trang 6

MỞ ĐẦU Thủy ngân và các hợp chất của thủy ngân là những chất độc mạnh Tính độc của chúng đã được biết đến từ rất lâu nhưng chúng vẫn được sử dụng trong các loại thuốc chữa bệnh Đặc biệt vào thế kỷ thứ 16, thủy ngân trở nên quan trọng vì nó được sử dụng trong thuốc chữa bệnh giang mai Cách điều trị này chữa được một số bệnh xã hội nhưng cũng mang lại sự nhiễm độc không tránh khỏi Trong quá khứ, nhiễm độc nghề nghiệp đã được mô tả một cách sinh động qua những ghi nhận của Ramazzini cách đây 300 năm về những người thợ làm gương soi: “Ở Venice, trên một hòn đảo tên là Murano, nơi sản xuất rất nhiều gương soi, người ta có thể thấy những người thợ này nhìn vào ảnh của họ trong gương một cách lưỡng lự hay cau

có, giận dữ và họ nguyền rủa nghề nghiệp mà họ đang làm” Lịch sử cổ đại La Mã cũng cho biết những người khai thác mỏ thủy ngân (sunfua thủy ngân) đã bị nhiễm độc Trên thế giới, hiện tượng nhiễm độc thủy ngân khá phổ biến (sau chì và benzen) Bệnh Minamata (Nhật) đã đi vào lịch sử độc học như một điển hình cho ô nhiễm và gây độc của Hg

Thủy ngân đã sử dụng thủy ngân cách đây khoảng 3.500 năm Nước Ai Cập

cổ xưa đã biết cách pha trộn thủy ngân với Sn và Cu rất sớm, khoảng thế kỷ thứ 6 sau Công nguyên Cách sử dụng kim loại Hg và thần sa trong y khoa đã từng tồn tại

ở Trung Quốc và Ấn Độ ở cùng thời điểm Người Hy Lạp đã quen thuộc với kĩ thuật tách Hg từ các quặng kim loại dùng làm thuốc Người La Mã đã thừa kế hầu hết các kiến thức này và rất tập trung vào việc đánh giá tính chất thương mại của kim loại Hầu hết Hg đã bị người La Mã tiêu thụ và chế tạo chất màu đỏ của thần

sa, nhưng Hg cũng được sử dụng để điều trị nhiều thứ bệnh khác Sau sự sụp đổ của

đế quốc La Mã, tiêu dùng Hg chủ yếu được giới hạn để bào chế thuốc; cho đến khi những dụng cụ khoa học được phát minh, như là vào năm 1643, Torricelli phát minh ra dụng cụ đo nhiệt gọi là nhiệt kế sơ khởi Đến năm 1720 Fahrenheit giới thiệu nhiệt kế Hg và đưa vào nghiên cứu khoa học

Trang 7

Không có một loại chất nào, trừ sinh vật, được nghiên cứu nhiều như thủy ngân trong quan hệ tuần hoàn của nó với chuỗi thực phẩm Mỗi năm toàn thế giới sản xuất ra 9.000 tấn thủy ngân, trong đó 5.000 tấn rơi vào các đại dương Trong hồ Oasinton, trong 100 năm trở lại đây lượng thủy ngân trong bùn tăng lên gấp 100 lần Hàm lượng thủy ngân cao thường thấy ở các loại cá thờn bơn biển Atlantích; đôi khi hàm lượng thủy ngân còn cao hơn ở một số loài cá mập

Nhà văn R.Kipling đã viết: “Tôi thà chọn cái chết tồi tệ còn hơn phải làm việc trong mỏ thủy ngân, nơi mà răng bị mục dần trong miệng ” Cho đến nay trong các hầm lò quanh co, nơi mà xưa kia khai thác thủy ngân, có thể tìm thấy vô

số bộ xương người Người xưa đã phải trả một giá rất đắt, hàng ngàn sinh mạng để đổi lấy thứ đá đỏ dường như đã nhuốm máu tất cả những ai từng tham gia khai thác

Thuốc và các thiết bị chứa thủy ngân tiềm ẩn nhiều nguy hiểm, mặc dù chúng đã được sử dụng rộng rãi trong quá khứ Nhiệt kế và huyết áp kế chứa thủy ngân đã được phát minh trong thế kỷ 18 và 19, trong đầu thế kỷ 21, việc sử dụng chúng đã giảm và bị cấm ở một số quốc gia, khu vực và trường đại học [7] Tuy nhiên tại Việt Nam, việc sử dụng các loại thiết bị này vẫn còn là phổ biến

Tiến tới mục tiêu chăm sóc sức khỏe không có thủy ngân tại Việt Nam và nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, nhân viên y tế, trong luận văn này thực hiện

đề tài: “Đánh giá hiện trạng sử dụng và thải bỏ thủy ngân từ hoạt động y tế tại một

số bệnh viện trên địa bàn Thành phố Hà Nội và đề xuất giải pháp xử lý phù hợp” với mục tiêu nhằm góp phần từng bước giảm phát thại thủy ngân đến loại bỏ hoàn toàn thủy ngân để phù hợp với công ước quốc tế

Nội dung nghiên cứu bao gồm:

- Tổng quan về sử dụng thủy ngân trong y tế trên thế giới và Việt Nam

- Đánh giá hiện trạng sử dụng và thải bỏ thủy ngân liên quan đến hoạt động

y tế tại Bệnh viện E trung ương và Bệnh viện 198 Bộ Công An

- Đề xuất giải pháp phù hợp nhằm giảm thiểu sử dụng, quản lý và xử lý an toàn chất thải y tế chứa thủy ngân

Trang 8

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Sử dụng thủy ngân và các sản phẩm chứa thủy ngân

1.1.1 Sử dụng thủy ngân và các sản phẩm chứa thủy ngân trong công nghiệp

Thủy ngân nguyên tố (Hg) là một kim loại nặng, ánh bạc, nóng chảy ở

- 38,9oC và sôi ở 357oC Nó là kim loại duy nhất tồn tại dưới dạng lỏng ở nhiệt độ phòng Giọt thủy ngân rất di động và kết hợp với các kim loại khác như thiếc, đồng, vàng, và bạc tạo thành hợp kim (gọi là amalgam) Trọng lượng riêng của thủy ngân

‐ Thủy ngân hữu cơ: Trung bình 8 giờ (TWA) 0,01mg/m3

Từng lần tối đa (STEL) 0,03 mg/m3

- Thủy ngân và hợp chất thủy ngân vô cơ :

Trung bình 8 giờ (TWA) 0,02mg/m3

Từng lần tối đa (STEL) 0,04mg/m3

Trang 9

Thủy ngân không phân hủy và tồn tại trong môi trường Khi giải phóng vào không khí, nó tuần hoàn trong không khí, đất, và nước, và tạo thành các hợp chất hóa học phức tạp và biến đổi vật lý thành các dạng khác nhau của thủy ngân Thủy ngân nguyên tố là dạng phổ biến nhất của thủy ngân trong không khí Trong các hệ thống thuỷ sinh, thủy ngân được chuyển đổi thành dạng hữu cơ methyl thủy ngân độc hơn dạng vô cơ và tích lũy sinh học trong cá và động vật hoang dã rồi vào chuỗi thức ăn

Thủy ngân được sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp như hóa chất, phân bón, chất dẻo, kỹ thuật điện, điện tử, xi măng, sơn, tách vàng bạc trong các quặng sa khoáng, sản xuất các loại đèn huỳnh quang, pin, phong vũ kế, nhiệt kế, huyết áp kế,

mỹ phẩm

Thủy ngân đi vào môi trường như một chất gây ô nhiễm từ các ngành công nghiệp khác nhau:

- Từ các xí nghiệp sử dụng than làm nhiên liệu

- Các ngành công nghiệp sản xuất clo, thép, phốt phát &vàng

- Khai thác mỏ thủ công hàng năm thải ra môi trường khoảng 1.000 tấn thủy ngân, chiếm 30 - 40% lượng ô nhiễm trên trái đất

- Luyện kim

- Sản xuất xi măng, chế tạo biến thế điện, thuộc da

- Sản xuất và sửa chữa thiết bị điện tử

- Đốt và vùi lấp các chất thải đô thị

- Công nghiệp mỹ phẩm

- Các thí nghiệm trong phòng thí nghiệm liên quan đến thủy ngân

- Các sản phẩm có chứa thủy ngân như các bộ phận ô tô, pin, đèn huỳnh quang, máy điều nhiệt

Trang 10

Chương trình môi trường liên hiệp quốc (UNEP) nêu rõ, điều đáng lo ngại là ngày càng có nhiều thủy ngân lẫn trong sông hồ vốn luôn là nguồn nước sinh hoạt chính của con người

Theo số liệu của tổ chức này hiện có khoảng 260 tấn thủy ngân lẫn trong dòng nước của các sông hồ trên toàn thế giới, và cũng do hoạt động của con người, trong vòng 100 năm qua, lượng thủy ngân đã tăng gấp đôi trên bề mặt của các đại dương Còn ở đáy các đại dương, lượng thủy ngân cũng tăng 25%, cuối cùng chính con người là đối tượng đầu tiên chịu hậu quả từ thực trạng ô nhiễm trên, mà một trong những nguyên nhân đó là việc sử dụng nguồn thủy sản nhiễm thủy ngân

1.1.2 Sử dụng thủy ngân và các sản phẩm chứa thủy ngân trong y tế

Thủy ngân đã được sử dụng để chữa bệnh trong nhiều thế kỷ Thế kỷ 16, trước khi có các chất kháng sinh, thủy ngân được dùng để điều trị giang mai Thuốc

có chứa thủy ngân để điều trị các triệu chứng bệnh như táo bón, trầm cảm, đau răng, lợi tiểu, sát trùng Các hợp chất có chứa thủy ngân như Thimerosal được sử dụng trong một số sản phẩm nhãn khoa, dạng phun sương mũi họng, và vaccin; các sản phẩm tẩy trắng và một số hóa chất trong phòng thí nghiệm cũng chứa thủy ngân cũng như hỗn hợp Almagam trong nha khoa và pin Ngoài ra nhiệt kế và huyết áp

kế chứa thủy ngân được phát minh từ thế kỷ 18, 19 và được sử dụng cho đến ngày nay Tại một số cơ sở y tế còn sử dụng thiết bị tháo lồng ruột có cột thủy ngân để kiểm soát áp lực khí bơm vào ruột bệnh nhân

Các nguồn phát sinh thủy ngân chính trong y tế từ:

• Nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân chưa vỡ

• Nhiệt kế và huyết áp kế thủy ngân vỡ

• Máy tháo lồng ruột có cột thủy ngân

• Amalgam dùng trong nha khoa

• Các bóng đèn huỳnh quang chưa vỡ

Trang 11

• Các bóng đèn huỳnh quang vỡ (bóng đèn tuýp huỳnh quang, bóng đèn huỳnh quang compact, đèn sát khuẩn cực tím)

• Khí thải từ lò đốt chất thải y tế có chứa thủy ngân [9]

a, Lọ đựng thủy ngân nguyên tố

b, Lọ đựng chất hỗn hợp (alloy) để tạo

amalgam nha khoa

c, Hiệu chỉnh huyết áp kế thủy ngân d, Nhiệt kế thủy ngân vỡ

e, Máy tháo lồng ruột có cột thủy ngân Hình 1.2: Một số hình ảnh về thủy ngân và sử dụng thủy ngân

Trang 12

Nhân viên y tế có nguy cơ tiếp xúc với thủy ngân nguyên tố khi thủy ngân giải phóng từ các thiết bị có chứa thủy ngân bị vỡ hoặc khi chỉnh sửa, bảo dưỡng thiết bị có chứa thủy ngân

Bảng 1.1: Hàm lượng thủy ngân trong một số thiết bị y tế [11]

STT Loại thiết bị Hàm lượng thủy ngân

3 Bóng đèn huỳnh quang 10-50mg

4 1 nang Amalgam (1 liều=200mg) 100 mg

Hiện trạng sử dụng thủy ngân trong ngành y tế chủ yếu liên quan đến việc sử dụng nhiệt kế, huyết áp kế và một số giải pháp y tế khác Tại Mỹ, chất thải bệnh viện được ước tính đóng góp 1% thủy ngân trong dòng chất thải rắn của đất nước này [16]

Thủy ngân sử dụng trong bệnh viện thường được loại bỏ không đúng cách như chất thải y tế lây nhiễm hoặc chất thải thông thường Chẳng hạn như thủy ngân trong nhiệt kế dùng một lần cho bệnh nhân cách lý, nó được thải bỏ như chất thải y

tế lây nhiễm trong túi màu đỏ hoặc hộp đựng vật sắc nhọn Phương pháp chính để

xử lý chất thải y tế lây nhiễm thu được trong túi màu đỏ hoặc hộp đựng vật sắc nhọn là thiêu đốt, thủy ngân từ nguồn chất thải này sẽ vào khí quyển bắt đầu một chu trình và kết thúc là lắng đọng trong môi trường nước và methyl hóa[17]

Một nghiên cứu của EPA năm 1997 đã cho thấy, lò đốt chất thải y tế đóng góp 13% là nguồn lớn thứ tư phát thải thủy ngân ra môi trường do con người[18]

Các chất thải y tế chứa thủy ngân nếu không được kiểm soát đúng quy định

sẽ gây nguy cơ rủi ro nghiêm trọng cho con người và môi trường

Trang 13

Hình 1.3: Chu trình phát thải thủy ngân từ hoạt động y tế [10]

1.2 Thực trạng quản lý và thải bỏ thủy ngân và các sản phẩm chứa thủy ngân

từ hoạt động y tế

1.2.1 Trên thế giới

Thủy ngân đã được sử dụng để chữa bệnh trong hàng thế kỷ Clorua thủy ngân (I) và clorua thủy ngân (II) là những hợp chất phổ biến nhất Thủy ngân được đưa vào điều trị giang mai sớm nhất vào thế kỷ 16, trước khi có các chất kháng sinh "Blue mass", viên thuốc nhỏ chứa thủy ngân, đã được kê đơn trong suốt thế kỷ

19 đối với hàng loạt các triệu chứng bệnh như táo bón, trầm cảm, sinh đẻ và đau răng

Trong đầu thế kỷ 20, thủy ngân được cấp phát cho trẻ em hàng năm như là thuốc nhuận tràng và tẩy giun Nó là bột ngậm cho trẻ em và một số vacxin có chứa chất bảo quản Thimerosal (một phần là etyl thủy ngân) kể từ những năm 1930 Clorua thủy ngân (II) là chất tẩy trùng đối với các bác sĩ, bệnh nhân và thiết bị

Bệnh

viện

Thủy ngân

Chất thải y tế có chứa thủy ngân Lò đốt

Chôn lấp

Methuyl thủy ngân

Trang 14

Thuốc và các thiết bị chứa thủy ngân tiềm ẩn nhiều nguy hiểm, mặc dù chúng đã được sử dụng rộng rãi trong quá khứ Nhiệt kế và huyết áp kế chứa thủy ngân đã được phát minh trong thế kỷ 18 và 19, trong đầu thế kỷ 21, việc sử dụng chúng đã giảm và bị cấm ở một số quốc gia, khu vực và trường đại học

Năm 2002, Thượng viện Mỹ đã thông qua sắc luật cấm bán nhiệt kế thủy ngân không theo đơn thuốc Năm 2003, Washington và Maine trở thành các bang đầu tiên cấm các thiết bị đo huyết áp có chứa thủy ngân Năm 2005, các hợp chất thủy ngân được tìm thấy ở một số dược phẩm quá mức cho phép, ví dụ các chất tẩy trùng cục bộ, thuốc nhuận tràng, thuốc mỡ trên tã chống hăm, các thuốc nhỏ mắt hay xịt mũi

Năm 2008 Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã phối hợp với Tổ chức chăm sóc sức khỏe không gây hại (HCWH) triển khai “Khởi xướng toàn cầu về chăm sóc y tế không có thủy ngân”[12] Đặc biệt hiện nay, các nước trên thế giới đang cùng nhau xây dựng và hoàn thiện Công ước toàn cầu về thủy ngân - kim loại nặng có khả năng tích lũy sinh học, đang gây độc nguồn cung cấp cá, đe dọa sức khỏe cộng đồng và môi trường trên thế giới Một trong những giải pháp mà Công ước đưa ra là dừng sản xuất, nhập khẩu và xuất khẩu nhiệt kế và huyết áp kế có chứa thủy ngân vào năm 2020

Công ước Minamata về thủy ngân đã được các đại biểu của 140 quốc gia thông qua sau 4 năm đàm phán Đây là Công ước toàn cầu nhằm bảo vệ sức khỏe con người và môi trường do những ảnh hưởng có hại của thủy ngân Nội dung này được thực hiện bằng cách kết thúc việc sản xuất, nhập và xuất khẩu các thiết bị y tế

có thủy ngân vào năm 2020 Các nội dung chính của công ước:

- Các nhà máy đốt than, lò hơi và lò nấu chảy kim loại:

Công ước yêu cầu các quốc gia phải có những công nghệ kiểm soát phát thải tốt nhất ở các nhà máy năng lượng, lò hơi và lò nấu chảy kim loại mới Điều này không áp dụng đối với các nhà máy cũ nhưng các biện pháp kiểm soát khác cần phải được triển khai

Trang 15

- Bóng đèn:

Bóng đèn huỳnh quang compact dưới hoặc bằng 30 watts có nhiều hơn 5 mg thủy ngân sẽ bị cấm vào năm 2020 Bóng đèn huỳnh quang và halophosphate cũng

sẽ bị cấm vào năm 2020

- Khai thác mỏ thủy ngân:

Khai thác mỏ thủy ngân nguyên sinh sẽ bị cấm Các mỏ thủy ngân đang khai thác có thể tiếp tục được khai thác trong vòng 15 năm kể từ ngày ký Công ước và sau đó sẽ bị cấm

- Khai thác mỏ vàng:

Thủy ngân được phép sử dụng để tách vàng từ đá và trầm tích trong khai thác vàng thủ công và có phạm vi nhỏ Công ước khuyến khích các quốc gia giảm hoặc loại trừ việc sử dụng thủy ngân trong khai thác vàng nhưng không đưa ra thời gian cụ thể

- Hàn răng:

Hàn răng bằng amalgam chưa bị cấm vào năm 2020 Các nước thống nhất giảm sử dụng thủy ngân trong hàn rằng bằng cách tăng sử dụng các chất thay thế, xây dựng chương trình hàn răng giảm tối đa nhu cầu hàn răng bằng amalgam hoặc thực hiện các biện pháp khác

- Vắc xin:

Công ước chưa đề cập đến việc cấm sử dụng hợp chất thủy ngân (thimerosal) làm chất bảo quản trong vắc xin

- Pin:

Pin có chứa thủy ngân sẽ bị cấm vào năm 2020, ngoại trừ pin tiểu dạng cúc

áo sử dụng trong các thiết bị y tế có thể cấy dưới da

- Công tắc và Rơ le:

Công tắc và Rơ le có chứa thủy ngân sẽ bị cấm vào năm 2020

Trang 16

- Các hoạt động tôn giáo và truyền thống:

Thủy ngân sử dụng trong các nghi lễ tôn giáo hoặc truyền thống không nằm trong phạm vi của Công ước này

- Sản xuất:

Sử dụng thủy ngân trong sản xuất chlor-alkali sẽ bị cấm vào năm 2025 và trong sản xuất acetaldehyde sẽ bị cấm vào năm 2018 Công ước không cấm sử dụng thủy ngân trong sản xuất polyurethane, vinyl chloride monomer và sodium hoặc potassium methylate hoặc ethylate nhưng phải giảm thiểu phát thải thủy ngân

Theo Công ước Minamata về thủy ngân, các quốc gia được tiếp tục sử dụng thủy ngân trong các thiết bị y tế đến năm 2030 (trong một số trường hợp đặc biệt)

và được khuyến nghị cần cố gắng đáp ứng ngày đích chính vào năm 2020

Công ước có hiệu lực vào ngày thứ 90 sau khi các tài liệu phê chuẩn, chấp thuận, thông qua Công ước thứ 50 được ký kết

Riêng trong lĩnh vực y tế, Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) đã khuyến các các quốc gia thành viên tiến hành đánh giá việc sử dụng thủy ngân tại thời điểm

hiện tại và xây dựng Chương trình quản lý chất thải y tế trong sự hợp tác quốc tế

thông qua các bước chiến lược sau:

i/ Trong ngắn hạn - Thúc đẩy việc làm sạch và xử lý chất thải có chứa thủy ngân; xây dựng các qui định và thủ tục lưu giữ thủy ngân

Trang 17

ii/ Trong trung hạn - Tăng cường nỗ lực giảm sử dụng các thiết bị có chứa thủy ngân Các bệnh viện, cơ sở y tế cần kiểm kê việc sử dụng thủy ngân Trong kiểm kê cần phân ngay thành hai loại: có thể thay thế ngay và thay thế theo lộ trình

Các thiết bị có sử dụng thủy ngân thuộc diện thay thế theo lộ trình được đưa trở lại nhà sản xuất hoặc đưa trở lại với nhà cung cấp các thiết bị thay thế Dần dần hạn chế việc nhập khẩu, mua - bán thiết bị y tế có sử dụng thủy ngân và hạn chế sử dụng hạn chế thủy ngân là cấu thành trong thành phần sản phẩm thiết bị y tế

Xây dựng và áp dụng các chế tài đa quốc gia để đảm bảo rằng các thiết bị có chứa thủy ngân không được sản xuất, bị thu hồi không bị đẩy trở lại trong chuỗi cung ứng

iii/ Trong dài hại - Ủng hộ Lệnh cấm sử dụng các thiết bị có chứa thủy ngân

và thúc đẩy có hiệu quả sử dụng thiết bị thay thế không có thủy ngân

1.2.2 Tại Việt Nam

Trong hoạt động chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cộng đồng, các cơ sở y tế thường xuyên phát thải một lượng chất thải có nguy cơ gây nguy hại cho sức khoẻ

và môi trường nếu không được quản lý đúng qui định

Theo các số liệu thống kế của Bộ Y tế, tính đến năm 2012 cả nước có 13.640

cơ sở y tế và đang thải ra 450 tấn rác/ngày, trong đó có 47 tấn là chất thải rắn y tế nguy hại, đòi hỏi phải được xử lý bằng những biện pháp phù hợp Phương pháp xử

lý chất thải y tế nguy hại nói riêng và chất thải nguy hại nói chung liên quan đến phát thải các hợp chất POPs trong đó chủ yếu liên quan đến dioxin và furan

Theo ước tính của các chuyên gia môi trường, đến năm 2015, lượng chất thải rắn y tế thải ra môi trường là 600 tấn/ngày Lượng chất thải lỏng phát sinh tại các cơ

sở y tế có giường bệnh hiện nay khoảng trên 125.000m3/ngày đêm, ước tỉnh đến

2020 là 300.000m3/ngày đêm

Khoảng 75 - 90% khối lượng chất thải y tế là chất thải thông thường và không có nguy hại hơn so với chất thải rắn sinh hoạt trong cộng đồng Chất thải rắn

Trang 18

y tế nguy hại chỉ chiếm khoảng 10-25% tổng chất thải y tế theo trọng lượng gồm 4 nhóm: (i) Chất thải lây nhiễm bao gồm chất thải sắc nhọn, chất thải lây nhiễm không sắc nhọn, chất thải bệnh phẩm, chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao; (ii) Chất thải hóa học bao gồm các hóa chất thường dùng trong y tế, formaldehyde, hóa chất quang hình, kim loại nặng, chất thải dược phẩm và chất thải gây độc tế bào; (iii) Chất thải phóng xạ; (iv) Bình áp suất

Lượng chất thải rắn y tế nguy hại từ bệnh viện dao động trong khoảng từ 0,09 tới 0,3 kg/giường.ngày tùy theo cung ứng dịch vụ y tế và năng lực quản lý chất thải của bệnh viện Mỗi bệnh viện có thể thải ra khoảng 0,4 - 0,95 m3 nước thải trên một giường bệnh trong ngày, tùy thuộc vào khả năng cấp nước, dịch vụ bệnh viện

Bên cạnh việc phát sinh các chất thải y tế lây nhiễm, gây nguy cơ mắc các dịch bệnh truyền nhiễm, các cơ sở y tế cũng phát thải các chất thải nguy hại khác như dược phẩm quá hạn, chất thải phóng xạ, chất thải gây độc tế bào và các hóa chất độc hại khác (các hóa chất độc hại và tích lũy sinh học)…Trong đó có các chất độc hại khó phân hủy (POPs), thủy ngân và các chất độc hại liên quan khác (PTS) Hiện nay, việc sử dụng các thiết bị y tế có chứa thủy ngân trong chẩn đoán và điều trị tại các cơ sở y tế còn khá phổ biến và hàng năm phát sinh một lượng lớn chất thải có chứa thủy ngân

Hiện trạng sử dụng thủy ngân trong ngành y tế chủ yếu liên quan đến việc sử dụng nhiệt kế, áp kế và một số dụng cụ, thiết bị khác chứa thủy ngân Khi các thiết

bị, dụng cụ bị hỏng, vỡ nếu không được kiểm soát đúng quy định, thủy ngân có thể

bị thải bỏ cùng với chất thải thông thường và sẽ gây nguy rủi ro nghiêm trọng cho con người và môi trường do tính độc và khả năng bay hơi của thủy ngân

Bảng 1.2 dưới đây chỉ ra số liệu thống kê về sử dụng 2 loại dụng cụ chính chứa thủy ngân trong bệnh viện tuyến tỉnh và huyện

Trang 19

Bảng 1.2: Số liệu thống kê về sử dụng 2 loại dụng cụ chính chứa thủy ngân

trong bệnh viện tuyến tỉnh và huyện

Đơn vị Số cơ sở Số nhiệt

kế/cơ sở

Tổng số nhiệt kế

Số áp kế/cơ sở

Tổng số

áp kế Bệnh viện đa khoa tỉnh 65 369 21.385 150 12.350 Bệnh viện huyện 698 160 111.680 71 49.558

[Nguồn: UNDP, 2007]

Các kết quả điều tra của dự án do UNDP thực hiện cũng cho thấy: Đối với cơ

sở y tế không phải bệnh viện, sử dụng khoảng 20-30 nhiệt kế (thường sử dụng 20), trong đó số bị vỡ khoảng 2-4 chiếc/tháng

15-Theo qui định của Bộ Y tế mỗi bệnh nhân nội trú cần sử dụng 1 nhiệt kế tuy nhiên trên thực tế con số là ít hơn Nhiệt kế chủ yếu của Trung Quốc vì giá thành thấp Khi bệnh nhân làm vỡ phải mua bồi thường Qua điều tra nhanh của chương trình phát triển liên hiệp quốc (UNDP) năm 2007 tại 18 cơ sở y tế thì trung bình tỷ

lệ nhiệt kế vỡ là 18,8% và trung bình lượng thủy ngân thải ra do nhiệt kế vỡ là 1.7g/giường bệnh/năm và từ huyết áp kế là 1.1g/giường bệnh/năm Với số lượng giường bệnh trên cả nước là 196.311 giường bệnh (năm 2007), ước tính tổng số nhiệt kế bị vỡ hàng năm là 447.588 chiếc và tổng lượng thủy ngân thải ra từ nhiệt

kế và huyết áp kế vỡ là 550kg/năm [13]

Trang 20

Bảng 1.3: Ước tính lượng thủy ngân thải từ nhiệt kế bị vỡ

Theo bảng trên, tính trung bình mức độ thải thủy ngân liên quan đến nhiệt kế

vỡ là 2,8g/giường.năm Do vậy tính với tổng số giường bệnh của các cơ sở y tế trên

cả nước, lượng thủy ngân thải là khoảng 550 kg

Ngoài ra, tại các bệnh viện thường không có nhân viên chịu trách nhiệm về

xử lý chất thải, hoạt động xử lý chất thải gặp nhiều khó khăn (thiếu nhân lực, tài chính, phương tiện, kiến thức, kỹ năng)

Về các chất thải sắc nhọn, hầu hết các bệnh viện đã chú trọng đến phân loại

và cô lập vật sắc nhọn (loại A) sử dụng các thùng chứa, hộp đựng vật sắc nhọn Mặt khác, nhận thức của cán bộ, nhân viên y tế và cộng đồng về tác hại của chất thải y tế tới sức khoẻ, môi trường và khả năng thực hành quản lý chất thải y tế

an toàn còn hạn chế Sự phối hợp liên ngành giữa ngành Y tế với ngành Môi trường

ở một số tỉnh chưa đồng bộ và kịp thời Thực trạng trên làm cho việc quản lý, giảm thiểu chất thải bệnh viện nói chung và chất thải nguy hại nói riêng tại các cơ sở y tế chưa đạt hiệu quả

Trang 21

Trong khi tỷ lệ bệnh viện thực hiện phân loại chất thải rắn y tế chiếm 95,6%, chỉ có 50% các bệnh viện phân loại, thu gom chất thải rắn y tế đạt yêu cầu theo Quy chế quản lý chất thải y tế

Đối với các chất thải chứa thủy ngân chủ yếu là nhiệt kế và huyết áp kê thủy ngân, hầu hết các cơ sở chưa có trang thiết bị lưu chứa riêng chất thải chứa thủy ngân theo đúng quy định.Thủy ngân thường được thu gom và thải bỏ cùng với các chất thải y tế nguy hại hại và sau đó được đốt hoặc chôn lấp cùng với chất thải y tế

Do vậy nguy cơ gây ô nhiễm do hơi thủy ngân là rất cao

Hiện chất thải y tế ở Việt Nam được xử lý bằng hai phương án là đốt và chôn lấp trong đó vẫn còn 30,8% bệnh viện xử lý chất thải y tế bằng lò đốt 1 buồng, thiêu đốt thủ công hoặc tự chôn lấp trong khuôn viên của bệnh viện (xem hình 1.3) Tỷ lệ bệnh viện chưa có hệ thống xử lý nước thải y tế chiếm 45,6%

Hầu hết các cơ sở y tế có buồng đốt vẫn chưa được quan trắc, kiểm soát phát thải khí nguy hại không chủ định U-POPs

Ở tuyến tỉnh và huyện khoảng 73% bệnh viện tuyến tỉnh, huyện đã xử lý chất thải y tế nguy hại bằng lò đốt tại chỗ của bệnh viện Có khoảng 26,7% bệnh viện tuyến huyện sử dụng tạm thời biện pháp thiêu đốt chất thải y tế nguy hại ngoài trời hoặc chôn lấp chất thải trong khuôn viên bệnh viện, bãi thải chung của địa phương

Hình 1.4: Hiện trạng công tác quản lý/xử lý chất thải y tế nguy hại liên quan

Trang 22

Theo Cục trưởng Cục Quản lý môi trường y tế (Bộ Y tế), ở nước ta khoảng 95% rác thải y tế được thu gom chỉ có 70% được xử lý bằng phương pháp đốt trong các lò đốt với quy mô và trình độ công nghệ khác nhau Việc quản lý chất thải nguy hại trong các cơ sở y tế đã được quan tâm giải quyết nhưng đến nay, chưa có khảo sát, đánh giá trên phạm vi toàn quốc Công nghệ đốt đang được áp dụng phổ biến nhưng thường chỉ có các lò nhỏ, chưa có hệ thống xử lý khí thải nguy hại Điều này dẫn đến những rủi ro nguy cơ nghiêm trọng, đặc biệt liên quan đến các chất khó phân hủy (POPs), chất gây ung thư như dioxin, furan Ngoài ra, chi phí đốt rác thải hiện khá cao, khoảng 80.000 đồng/kg rác thải bệnh viện và thông thường rất ít bệnh viện có thể thải ra đủ công suất đốt của lò nên sau vài ngày mới thực hiện tiêu hủy một lần Mỗi lần như vậy lại phải tiến hành quy trình đốt từ đầu gây tiêu tốn năng lượng do đốt không liên tục làm gia tăng chi phí xử lý

1.3 Nguy cơ đối với môi trường và sức khỏe

1.3.1 Nguy cơ đối với môi trường

Thủy ngân là kim loại lỏng khó phân hủy trong môi trường và tích lũy sinh học trong chuỗi thức ăn Thủy ngân ít độc, nhưng hơi, các hợp chất và muối của nó rất độc, có thể gây tổn thương hệ thần kinh, tiêu hóa, hô hấp, hệ thống miễn dịch và thận Cho dù ít độc hơn so với các hợp chất của nó nhưng thủy ngân vẫn tạo ra sự ô nhiễm đáng kể đối với môi trường vì nó tạo ra các hợp chất hữu cơ trong cơ thể sinh vật

Thủy ngân giải phóng từ chất thải có chứa thủy ngân tồn tại trong môi trường (đất, nước, không khí, trầm tích, thực vật ) hoặc tích tụ trong chuỗi thức ăn

và vào cơ thể con người thông qua tiêu thụ cá và hải sản, hoặc hơi thủy ngân trực tiếp hoặc được hấp thụ trên tóc của con người Để giám sát mức độ thủy ngân trong môi trường do chất thải thủy ngân cần phân tích các mẫu khác nhau, như các mẫu sinh học (cá và tôm, cua, sò, hến), mẫu môi trường (nước, trầm tích, đất và không khí), mẫu thực vật và con người (tóc, máu và nước tiểu)

1.3.2 Nguy cơ đối với sức khỏe

Trang 23

Các ảnh hưởng độc hại của thủy ngân đã được biết khá rõ Hơi thủy ngân ảnh hưởng đến hệ thống thần kinh trung ương và ngoại biên, phổi, thận, da, và mắt

Nó cũng ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch và gây đột biến

Nhiễm độc cấp tính: Thường do tai nạn như vỡ bình chứa, hỏa hoạn, hơi thủy

ngân bốc lên với nồng độ cao ảnh hưởng nghiêm trọng đến hô hấp, gây viêm phế quản, viêm phổi kẽ lan tỏa Gây viêm thận, đạm huyết tăng nhanh ( 4-5g urê/l), giảm clo huyết, nhiễm a xit Gây viêm loét miệng, bỏng đường tiêu hóa, nôn ra máu, toàn thân suy sụp Nạn nhân khó thở, chuột rút, giật cơ, mê sảng, bệnh nhân thường tử vong trong vòng 24 đến 36 giờ

Nhiễm độc thủy ngân nghề nghiệp:

Tiếp xúc với nồng độ thấp kéo dài các triệu chứng chủ yếu trên hệ tiêu hóa

và hệ thống thần kinh Ngoài ra còn có ảnh hưởng đến hệ hô hấp, tiết niệu

- Các triệu chứng về tiêu hóa như viêm ruột, xuất huyết đường tiêu hóa, viêm lợi, kèm vị đắng khó chịu, viêm miệng, loét niêm mạc, có thể thấy đường viền thủy ngân màu xanh ở bờ răng lợi

- Các triệu chứng về thần kinh: Như run cố ý; bệnh Parkinson với biểu hiện run khi nghỉ và giảm chức năng vận động

- Tiếp xúc mãn tính với thủy ngân có thể gây ra run mí mắt và rối loạn thị giác, viêm màng tiếp hợp, thu hẹp thị trường

- Thủy ngân có thể gây ung thư, biến đổi gen và gây quái thai

Ngoài ra, có thể có cảm giác đau lan tỏa hay bong da bàn tay và bàn chân Điển hình là bệnh Minamata do ăn cá và sò nhiễm độc methyl thủy ngân tại vịnh Minamata tỉnh Kumamoto Nhật Bản làm nhiễm độc 17.000 người, chết 1.484 người

và 10.626 được bồi thường (tính đến 1997)

Từ năm 1976, nước ta đã công nhận bệnh nhiễm độc thủy ngân là bệnh nghề nghiệp được đền bù

Trang 24

CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thủy ngân, các trang thiết bị, vật dụng chứa thủy ngân sau khi sử dụng từ hoạt động y tế

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Bệnh viên 19-8 Bộ công an và Bệnh viên E Trung ương

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp tổng quan tài liệu

Tham khảo, tổng hợp các công trình kết quả nghiên cứu của đề tài các nhà khoa học, các chuyên gia về vấn đề liên quan đến luận văn

2.2.2 Phương pháp điều tra

Thu thập số liệu bằng bảng kiểm, bộ câu hỏi được thiết kế trước bao gồm các nhóm nội dung về thống kê các thiết bị có chứa thủy ngân tại cơ sở; Thiết bị không chứa thủy ngân có thể thay thế; Thực trạng sử dụng thiết bị, vật liệu có chứa thủy ngân, quản lý chất thải thủy ngân tại bệnh viện; Khả năng thay thế các thiết bị có chứa thủy ngân

Thu thập số liệu

Trực tiếp gặp gỡ phỏng vấn băng bộ phiếu điều tra được thiết kế sẵn ghi kết quả vào phiếu điều tra

Nội dung điều tra

- Thống kê về lượng thủy ngân sử dụng; chủng loại, số lượng các thiết bị có chứa thủy ngân và hàm lượng thủy ngân trong các thiết bị của toàn bệnh viện

- Điều tra về việc thải bỏ thủy ngân; thiết bị có chứa thủy ngân do hỏng và quản lý chất thải thủy ngân

- Nhận thức về nguy cơ tiếp xúc với thủy ngân tại cơ sở y tế:

Trang 25

- Sự chấp nhận sử dụng các thiết bị thay thế không chứa thủy ngân

- Xác định nguồn cung cấp và giá cả các thiết bị thay thế không chứa thủy ngân

Đối tượng điều tra:

- Đại diện lãnh đạo bệnh viện phụ trách vật tư thiết bị, hành chính quản trị, dược: 01 người

- Cán bộ quản lý vật tư thiết bị; cán bộ quản lý dược; cán bộ quản lý hành chính quản trị, cán bộ quản lý chất thải: 04 người

- Nhân viên y tế các khoa lâm sàng bao gồm: Đại diện lãnh đạo khoa, điều dưỡng/ y tá trưởng - cán bộ phụ trách trang thiết bị vật tư, bác sỹ điều trị, y tá điều trị: 172 người (mỗi khoa 4 người)

Để thu thập số liệu về sử dụng, thải bỏ, thay thế dụng cụ y tế chứa thủy ngân và thủy ngân trong bệnh viện

2.2.3 Phương pháp đánh giá, phân tích so sánh

Xem xét các giải pháp quản lý, xử lý chất thải chứa thủy ngân hiện có, đánh giá về tính hiệu quả, an toàn, so sánh với các nước trên thế giới và đề xuất giải pháp quản lý, xử lý phù hợp

2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu, thống kê

Dựa và kết quả điều tra, thống kê số liệu từ sổ sách báo cáo, số liệu được xử

lý trên máy tính.Nghiên cứu sử dụng phần mềm Epi-info 6.04 để nhập và quản lý số liệu, sử dụng phần mềm SPSS 15.0 để phân tích

Để hạn chế những sai sót khi nhập số liệu, tất cả phiếu đều được vào máy tính hai lần, sau đó sử dụng chương trình kiểm tra phát hiện và sửa những sai sót do nhập số liệu

Trang 26

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Giới thiệu đơn vị điều tra khảo sát

vụ khác do lãnh đạo Bộ Công An, Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật giao phó Bệnh viện có đội ngũ cán bộ chuyên môn giỏi, giàu kinh nghiệm; Bệnh viện đã có 05 Phó Giáo sư; hàng chục Tiến sỹ, chuyên khoa II; hàng trăm Thạc sỹ, Bác sỹ chuyên khoa I Bệnh viện được trang bị hiện đại như: máy chụp Cộng hưởng từ, CT cắt lớp

64 dãy, máy Siêu âm 4D thế hệ mới, máy Xét nghiệm Sinh hóa tự động đa chức năng, Laser điều trị, phòng mổ Áp lực âm siêu sạch đáp ứng được yêu cầu ghép tạng, mổ tim hở, ghép tế bào gốc, các thiết bị hiện đại phục vụ phẫu thuật nội soi cho các khoa Ngoại và Liên chuyên khoa

3.1.2 Bệnh viện E trung ương

Bệnh viện E là bệnh viện đa khoa Trung ương trực thuộc Bộ Y tế, thành lập

từ 10/1967 theo quyết định số 175/TTg do Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thanh Nghị với nhiệm vụ điều trị và chăm sóc sức khoẻ cho cán bộ từ chiến trường miền Nam ra Bắc chữa bệnh Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, bệnh viện chuyển sang phục vụ khám, chữa bệnh cho cán bộ các cơ quan Trung ương đóng tại Hà Nội

có mức lương từ 70 đồng đến 114 đồng Từ 1993, xoá bỏ chế độ bao cấp, bệnh viện nhận điều trị cho các đối tượng có thẻ BHYT và nhân dân trên địa bàn Hà Nội và các tỉnh Năm 2002, bệnh viện được Bộ Y tế nâng lên bệnh viện hạng I với 340 giường bệnh Đến nay, bệnh viện đã phát triển thành bệnh viện đa khoa tương đối

Trang 27

hoàn chỉnh với 390 giường bệnh và 36 khoa phòng với chức năng nhiệm vụ: khám chữa bệnh, nghiên cứu khoa học, đào tạo cán bộ, hợp tác quốc tế, chỉ đạo tuyến và quản lý kinh tế y tế

Bệnh viện có hai cơ sở khám chữa bệnh: cơ sở chính tại Nghĩa tân, Cầu giấy

và một phòng khám tại 13 Phan Huy Chú Bệnh viện E trung ương được giao 390 giường kế hoạch, tổ chức thành 22 khoa lâm sàng, 8 khoa cận lâm sàng, 6 phòng chức năng với các chuyên khoa sâu về nội, ngoại, sản, TMH, RHM, mắt , 01 Trung tâm xương khớp - chấn thương chỉnh hình - phục hồi chức năng Tổng số cán

bộ công chức: 430 trong đó có 1 Giáo sư, 2 Phó giáo sư, 8 Tiến sĩ, 34 bác sĩ CKII,

32 thạc sĩ

Cơ sở vật chất, kỹ thuật, trang thiết bị của bệnh viện:

+ Máy chụp XQ tăng sáng, chụp khớp có cản quang, chụp mạch máu, CT Scanner xoắn ốc, XQ can thiệp

+ Máy siêu âm Doppler mạch máu, siêu âm tim

+ Máy điện tim, điện não

+ Nội soi dạ dày, đại tràng, trực tràng, phế quản, soi ổ bụng

+ Máy xét nghiệm sinh hoá tự động 24 chỉ số, máy ELISA

+ Máy đo chức năng hô hấp, chuyển hoá cơ bản

+ 6 phòng mổ, giường hồi sức tích cực với hệ thống máy thở, máy tạo ôxy, máy sốc tim

+ Dụng cụ phẫu thuật nội soi ổ bụng, tiết niệu, phụ khoa, nội soi Tai Mũi Họng, sinh hiển vi phẫu thuật nhãn khoa

+ Hệ thống lọc màng bụng

+ Máy tán sỏi tiết niệu ngoài cơ thể

+ Máy kích sốc điều trị các bệnh xương khớp và hệ thống máy phục hồi chức năng

Trang 28

3.2 Thực trạng sử dụng và thải bỏ thủy ngân trong hoạt động y tế tại bệnh viện khảo sát

Cả hai bệnh viện, thủy ngân, các phương tiện dụng cụ chứa thủy ngân đều được mua sắm theo nhu cầu sử dụng bởi Khoa Dược, Phòng Vật tư kỹ thuật, Phòng hành chính quản trị, và được cấp phát cho các khoa lâm sàng, cận lâm sàng sử dụng

Phần lớn thủy ngân, dụng cụ chứa thủy ngân được thải bỏ sau sử dụng, do đổ

vỡ, hỏng không còn sử dụng được từ các khoa phòng này

Hình 3.1: Sơ đồ dòng di chuyển của thủy ngân và sản phẩm chứa thủy ngân

trong bệnh viện

Trang 29

3.2.1 Thực trạng sử dụng

Điều tra cho thấy, các vật dụng chứa thủy ngân tại bệnh 2 bệnh viện trên chủ yếu gồm: nhiệt kế thủy ngân, huyết áp kế thủy ngân, bóng đèn huỳnh quang, amalgam nha khoa với mức độ sử dụng như sau:

Bảng 3.1: Thực trạng sử dụng các vật dụng chứa thủy ngân từ hoạt động y tế

của Bệnh viện 19-8, Bệnh viện E trung ương

Thiết bị vật liệu Bệnh viện 19-8 Bệnh viện E

Như vậy, việc sử dụng các vật dụng chứa thủy ngân trong các bệnh viện vẫn

là phổ biến, 100% các khoa phòng đều sử dụng vật dụng chứa thủy ngân trong đó ngoài bóng đèn huỳnh quang thì nhiệt kế thủy ngân được dùng phổ biến nhất được

sử dụng tại 92% các khoa phòng

3.2.2 Thực trạng thải bỏ chất thải chứa Thủy ngân

Điều tra tại 2 bệnh viện cho thấy, hàng năm mỗi bệnh viện phát sinh khối lượng lớn chất thải các loại bao gồm chất thải thông thường, chất thải lây nhiễm và các loại chất thải nguy hại khác Khối lượng phát sinh chất thải của 2 bệnh viện lần lượt là: Bệnh viện 198: 257.2 tấn, Bệnh viện E:177 tấn

Với cơ cấu thành phần chất thải được biểu hiện tại biểu đồ sau:

Trang 30

Hình 3.2: Tỷ lệ thành phần chất thải

Từ kết quả trên cho thấy, chất thải chủ yếu phát sinh trong hoạt động y tế là chất thải thông thường do hoạt động sinh hoạt của người bệnh, người nhà người bệnh, khác đến thăm, nhân viên y tế và từ các hoạt động hành chính của bệnh viện Chất thải nguy hại nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ từ 13,5 đến 17 %, còn lại là chất thải nguy hại không lây nhiễm khác như các chất thải hóa học nguy hại, chất thải phóng

xạ, chất thải chứa kim loại nặng chiếm từ 2,8 đến 3,96%

Bảng 3.2: Thực trạng thải bỏ các vật dụng chứa thủy ngân

Stt Tên vật dụng Đơn vị tính Số lượng

Bệnh viện 19-8 Bệnh viện E

1 Nhiệt kế thủy ngân Chiếc/năm 146 150

2 Huyết áp kế thủy ngân Chiếc/năm 07 0

4 Amalgam nha khoa Liều 200mg/ năm 4 5

Qua điều tra tại 2 bệnh viện, hàng năm 2 bệnh viện này tiêu hủy 146 và 150 nhiệt kế thủy ngân, một số lượng lớn bóng đèn huỳnh quang vỡ hỏng Nếu không được thu gom, quản lý, xử lý đúng quy trình thì hàng năm sẽ phát thải ra môi trường một lượng lớn thủy ngân

83.7

Bệnh viện 19-8

Chất thải thông thường Chất thải lây nhiễm Chât thải nguy hại không lây nhiễm

79.04 17

3.96

Bệnh viện E

Chất thải thông thường Chất thải lây nhiễm Chât thải nguy hại không lây nhiễm

Trang 31

3.3 Thực trạng công tác quản lý v

3.3.1 Thực trạng công tác quản lý

Điều tra tại các khoa lâm sàng t

bị chứa thủy ngân với các n

Bảng 3.3: Tình hình qu

Thiết bị vậThực hiện việc thống kê s

bị y tế có chứa thủy ngân đang s

Thống kê số lượng các thi

số lượng thiết bị thay thế

Thực hiện đúng hướng dẫ

bảo dưỡng các thiết bị y t

Khác

Như vậy, tại Bệnh vi

dưỡng thiết bị y tế là 79 và 67% các khoa th

tế chứa thủy ngân đang s

i các khoa lâm sàng tại 2 bệnh viện về tình hình qu

i các nội dung quản lý, được kết quả như sau:

: Tình hình quản lý thiết bị, vật dụng chứa thủy ngân

nh viện 198 tỷ lệ các khoa thực hiện đúng về

và 67% các khoa thực hiện thống kê số lượng các thingân đang sử dụng, trong khi đó tại Bệnh viện E tỷ lệ này

các khoa có hướng dẫn về sử dụng thiết bị, vật d

t dụng chứa Không có hướng dẫn

Có hướng dẫn

Trang 32

Qua biểu đồ trên cho thấy, tại Bệnh viện 19-8, tỷ lệ các khoa được hướng dẫn về sử dụng các thiết bị, vật dụng chứa thủy ngân là 50%, tỷ lệ này ở Bệnh viện

E là 68% Đây là vấn đề trong công tác tuyên truyền sử dụng thiết bị vật liệu có chứa thủy ngân, để sử dụng an toàn tránh vỡ, đổ cần 100% các khoa phòng có hướng dẫn sử dụng và thông báo tập huấn cho nhân viên cách sử dụng các thiết bị vật liệu chứa thủy ngân an toàn

3.3.2 Thực trạng công tác xử lý

Điều tra tại 2 bênh viện trên cho thấy, chất thải y tế được phân loại tại nguồn, sau đó được thu gom vận chuyển về khu tập trung chất thải của bệnh viện Cả 2 bệnh viện đều nằm tại khu vực trung tâm tập trung đông dân cư, xung quanh nhiều nhà cao tầng nên đều không trang bị lò đốt chất thải y tế tại chỗ Sau khi chất thải được thu gom về nơi tập trung chất thải của bệnh viện, chất thải lây nhiễm được xử

lý tiệt khuẩn bằng thiết bị tiệt khuẩn hơi nước bão hòa kết hợp với sóng viba và được xử lý tiêu hủy cùng chất thải thông thường Các loại chất thải nguy hại khác bao gồm chất thải hóa học, chất thải phóng xạ, chất thải độc tế bào, chất thải chứa kim loại nặng được đựng trong các túi nilon màu đen, cho vào thùng có nắp đậy kín Hàng ngày, chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường được bàn giao cho công ty môi trường đô thị URENCO 10 vận chuyển đưa di xử lý tiêu hủy tập trung

Về phương pháp xử lý đối với chất thải thủy ngân:

Điều tra tại 2 bệnh viện cho thấy, nhân viên y tế cho rằng cách xử lý chất thải thủy ngân tốt nhất là đốt chiếm 49%, trong khi đó 42% nhân viên y tế không biết cách xử lý chất thải thủy ngân như thế nào

Trang 33

Hình 3.4

Cách xử lý của các khoa khi có s

Qua điều tra tại 2 b

hợp đổ vỡ thiết bị y tê ch

tinh vỡ chiếm 83% tại Bệ

như ít được các khoa chú ý, đ

nhiễm đối với thủy ngân ít đư

thiếu những quy định chung, c

chứa thủy ngân

Bảng 3.4: Cách xử lý c

Cách xửKhu trú phạm vi đổ thủy ngân, h

Thu gom giọt thủy ngân và th

Thải bỏ hoặc khử nhiễm các d

Hình 3.4: Phương pháp xử lý chất thải thủy ngân

a các khoa khi có sự cố đổ vỡ thiết bị chứa th

i 2 bệnh viện cho thấy, cách xử lý của các khoa đ

y tê chứa thủy ngân chủ yếu là thu gom giọt thủệnh viện 19-8 và 89% tại Bệnh viện E Các x

c các khoa chú ý, đặt biệt là việc báo cáo tai nạn đối với các nguy cơ phơi

y ngân ít được quan tâm Điều này cho thấy, tại 2 b

nh chung, cụ thể về hướng dẫn xử lý đối với đổ

lý của các khoa khi có vỡ, đổ thiết bị, vật li

a thủy ngân:

a các khoa đối với trường

ủy ngân và thủy

Trang 34

Phương pháp thu gom thủy ngân khi có sự cố:

Bảng 3.5: Phương pháp thu gom thủy ngân khi có sự cố

Cách thu thủy ngân khi có đổ vỡ N = 180 Tỷ lệ % Thu dọn với chổi và hót rác thông thường 69 38 Thu hút thủy ngân bằng dụng cụ chuyên dụng 43 24

Khi thao tác bằng tay làm rơi vãi thủy ngân, nó sẽ phân tán thành nhiều giọt, các giọt đó bám vào bụi lại phân tán nhỏ hơn nữa làm cho diện tích tiếp xúc của Hg với không khí tăng lên vô tận, tạo điều kiện cho nó bốc hơi và xâm nhập vào cơ thể, rất nguy hiểm Da cũng có khả năng hấp thụ Hg và hợp chất Hg tuy không mạnh bằng đường hô hấp Mặt khác, chất độc Hg bám trên da có thể vào cơ thể qua miệng Ví dụ, dùng tay trần chụm lại để giữ Hg, sau khi Hg chảy đi nó còn để lại oxit thủy ngân rất nhỏ mịn, mắt thường không trông thấy, từ đó chất độc có thể vào

cơ thể qua miệng, tích lũy trong cơ thể để gây độc Với việc con người ăn nhiều cá như hiện nay thì ngay cả khi nồng độ metyl thủy ngân tương đối thấp (ở cá chình là 0,8mg/kg và ở cá măng là 1,6mg/kg) thì cũng để lại lượng thủy ngân trong tóc là 50mg/kg Với hàm lượng thủy ngân trong tóc như vậy (cũng có thể ăn ít cá hơn nếu nồng độ thủy ngân trong cá măng lên tới 2mg/kg), thì con người đã bắt đầu có những dấu hiệu rõ rệt của bệnh tật Nếu trong tóc có tới 300mg/kg thì cuộc sống của con người sẽ bị đe doạ

Trang 35

Cách lưu giữ, thải bỏ thủy ngân tại các khoa:

Bảng 3.6: Cách chứa đựng chất thải tại các khoa

Cách chứa đựng chất thải Bệnh viện 19-8 Bệnh viện E

N= 24 Tỷ lệ % N=19 Tỷ lệ% Đựng trong thùng chứa riêng biệt có nắp

Túi ni lon rác thải nguy hiểm 1 4 1 5

Qua kiểm tra tại các khoa cho thấy, chứa đựng chất thải có chứa thủy ngân của các khoa phòng chủ yếu là đựng chung với các rác thải y tế lây nhiễm chiếm 63% tại Bệnh viện 198, tỷ lệ này là 58% tại Bệnh viện E, còn đựng trong thùng chứa riêng biệt có nắp đậy kín chiếm tỷ lệ rất ít chỉ có 26% tại bệnh viện E, tỷ lệ này tại Bệnh viện 198 là 17% các khoa thực hiện

Bảng 3.7: Kết quả điều tra về phương cách thải bỏ chất thải thủy ngân

Cách thải bỏ N = 180 Tỷ lệ %

Đổ vào thùng rác thải y tế lây nhiễm 103 57

Trang 36

nhọn Ngoài ra 6% bỏ chung vào thùng rác thải sinh hoạt và 3% thải xuống cống, số cán bộ không biết lên tới 11%

Sự không hiểu biết cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm nguồn nước Khi thủy ngân xâm nhập vào nước, bị các vi sinh vật metyl hóa

và tạo thành methyl thủy ngân, hợp chất này tan trong chất béo và gây độc mạnh tại đây Vì thế, nó là một trong những dạng hợp chất thủy ngân nguy hiểm nhất Hiện tượng cá bị nhiễm độc Hg đã thấy từ lâu Sự ô nhiễm Hg ở cá ngừ hiện nay so với

07 loại mẫu cá ngừ thu được từ 1878 và 1903 (G.E.Miller và nnk.,1972) hay ở các loài chim biển bắt được trước 1930 và sau 1980 ở bắc Đại Tây Dương (Thomson và nnk., 1992) là như nhau Trong cùng một loài cá thì các con có kích thước lớn hay

là sống lâu năm hơn sẽ có xu hướng tích tụ Hg tương đối nhiều hơn các con khác Thủy ngân có thể xâm nhập vào nguồn nước dưới nhiều hình thức và từ nhiều nguồn khác nhau Về mặt số lượng, chiếm vị trí hàng đầu là nguồn nước thải

Hàm lượng thủy ngân tự nhiên trong cá là 0,1 đến 0,2 mg/kg Tổ chức WHO đưa ra đề nghị nồng độ thủy ngân giới hạn cho phép là 1 mg/kg, hàm lượng này là quá cao Vì vậy, ở Phần Lan, người ta khuyên chỉ nên ăn cá từ một đến hai lần trong một tuần, phụ nữ mang thai thì nói chung là không nên ăn cá Các chuyên gia về vi sinh thực phẩm ở Thụy Điển yêu cầu giảm hàm lượng thủy ngân trong cá ở biển Ban Tích xuống 0,5 thậm chí xuống 0,2 mg/kg bởi vì giới hạn 1mg/kg chỉ là cho con người không bị triệu chứng ngộ độc cấp tính chứ không bảo đảm là con người

sẽ không chịu hậu quả khác do thủy ngân gây ra như các tế bào bị chết hay tổn

thương do di truyền

3.4 Đề xuất các giải pháp xử lý phù hợp

3.4.1 Xây dựng kế hoạch quản lý/kiểm soát thủy ngân trong ngành y tế theo định hướng loại bỏ sử dụng thủy ngân:

Các thách thức liên quan đến vấn đề quản lý, xử lý thủy ngân trong ngành y

tế hiện nay tại Việt Nam chính là: Thiếu thông tin về nguồn, thải bỏ thủy ngân;

Trang 37

Thiếu các văn bản pháp lý liên quan và cơ sở hạ tầng quản lý thủy ngân; Thiếu thông tin về các thiết bị thay thế sử dụng và chi phí/giá thành thường cao

Chính vì vậy, giải pháp cần thiết và phù hợp để quản lý, xử lý thủy ngân trong ngành y tế trước tiên là xây dựng kế hoạch quản lý, kiểm soát thủy ngân trong ngành y tế theo định hướng loại bỏ sử dụng thủy ngân

Bao gồm các nội dung:

- Đánh giá xác định nguồn thải

- Xác định và đánh giá các thiết bị, dụng cụ thay thế

- Xây dựng các hướng dẫn kỹ thuật về thải bỏ/xử lý an toàn thủy ngân

- Nâng cao nhận thức của các cán bộ, nhà quản lý, người dân về sử dụng và thải bỏ an toàn thủy ngân tiến đến không sử dụng các thiết bị y tế chứa thủy ngân

- Nỗ lực giảm sử dụng các thiết bị chứa thủy ngân trong ngành y tế

- Xây dựng mô hình thí điểm quản lý thủy ngân qui mô bệnh viện

- Xây dựng hệ thống chính sách pháp lý một cách tổng thể và có hệ thống nhằm quản lý giảm thiểu phát thải thủy ngân trong ngành y tế, thay thế thiết bị chứa thủy ngân

- Hỗ trợ việc thay thế các thiết bị chứa thủy ngân trong ngành y tế để hướng tới không thủy ngân (phối hợp và thực hiện hiệu quả với các dự án, tổ chức chính phủ, phi chính phủ liên quan)

- Xây dựng các chính sách, qui định góp phần cải thiện quản lý chất thải y

tế bằng cách kết hợp hài hòa giữa quản lý chất thải y tế và kiểm soát ô nhiễm

3.4.2 Thay thế thủy ngân và các thiết bị y tế chứa thủy ngân

Điều tra về kế hoạch thay thế các thiết bị y tế chứa thủy ngân tại 2 bệnh viện khảo sát cho thấy, chỉ có 25 và 37% các khoa tại 2 bệnh viện này có kế hoạch thay thế thủy ngân và các thiết bị y tế chứa thủy ngân

Trang 38

Nhiệt kế thủy ngân

Huyết áp kế thủy ngân

Amalgam

Bóng đèn

Thay thế nhiệ

Điều tra cho thấy, lý do chính đ

không có nguy cơ độc hạ

nguyên nhân được đưa ra khi không đ

thành cao 75 và 63% sau đó là không chính xác

25%

khoa có kế hoạch thay thế thiết bị, vật liệu có chứa th

Trong các khoa phòng có kế hoạch thay thế thì thiết bị thay th

thủy ngân 100% tại cả 2 bệnh viện, sau đó đếệnh viện

ng thiết bị vật liệu chuẩn bị thay thế của các khoa phòng

ế hoạch thay thế Bệnh viện 19-8

Trang 39

Bảng 3.9: Kết quả điều tra nguyên nhân thay thế nhiệt kế thủy

Nguyên nhân Bệnh viện 19-8 Bệnh viện E

Nhiệt kế thủy ngân được dùng để đo nhiệt độ cơ thể trong dải nhiệt từ 35 đến

420C Người ta ước tính rằng trung bình một chiếc nhiệt kế thủy ngân có thể chứa 0,5-3,0g thủy ngân Lý do chính gây vỡ nhiệt kế thủy ngân chính là việc để chiếc nhiệt kế tuột khỏi tay khi vẩy hoặc làm rơi khi đang kẹp ở nách, khi vỡ chiếc nhiệt

kế này sẽ phát sinh thủy ngân gây độc cho môi trường

Đề xuất thay thế nhiệt kế thủy ngân với giá cả tốt bao gồm nhiệt kế điện trở

kỹ thuật số, nhiệt kế chứa galinstan trong ống thủy tinh, nhiệt kế nhuộm cồn, nhiệt

kế đo màng nhĩ hồng ngoại, nhiệt kế đo động mạnh thái dương hồng ngoại, nhiệt kế với cặp gốc nhiệt điện, nhiệt kế chuyển pha và nhiệt kế tinh thể lỏng (cholesteric)

Kế hoạch này chủ yếu tập trung vào nhiệt kế kỹ thuật số, nhiệt kế chuyển pha, nhiệt

kế đo màng nhĩ hồng ngoại và nhiệt kế đo động mạch thái dương hồng ngoại (một

số kỹ thuật ở đây có thể được sử dụng cho các loại thiết bị không thủy ngân khác)

Ngày đăng: 06/06/2015, 08:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bệnh viện Việt Đức (2012), Kế hoạch quản lý chất thải y tế có chứa thủy ngân, Dự án trình diễn và thúc đẩy những kỹ thuật và phương thức tốt nhất giảm chất thải y tế nhằm tránh phát thải những chất có chứa thủy ngân hay Dioxin ra môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch quản lý chất thải y tế có chứa thủy ngân
Tác giả: Bệnh viện Việt Đức
Nhà XB: Dự án trình diễn và thúc đẩy những kỹ thuật và phương thức tốt nhất giảm chất thải y tế nhằm tránh phát thải những chất có chứa thủy ngân hay Dioxin ra môi trường
Năm: 2012
2. Bộ Y tế (2007), Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007 của Bộ Y tế ban hành quy chế quản lý chất thải y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007 của Bộ Y tế ban hành quy chế quản lý chất thải y tế
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2007
3. Bộ Y tế (2002), Quyết định số 3733/2002/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế ngày 10 tháng 10 năm 2002 Về việc ban hành 21 tiêu chuẩn vệ sinh lao động, 05 nguyên tắc và 07 thông số vệ sinh lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 3733/2002/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế ngày 10 tháng 10 năm 2002 Về việc ban hành 21 tiêu chuẩn vệ sinh lao động, 05 nguyên tắc và 07 thông số vệ sinh lao động
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2002
4. Bộ Y tế, Bộ Lao động Thương binh Xã hội (2011), Thông tư 01/2011/TTLT- BLĐTBXH-BYT ngày 10/01/2011 Hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác An toàn-Vệ sinh lao động trong cơ sở lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 01/2011/TTLT- BLĐTBXH-BYT ngày 10/01/2011 Hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác An toàn-Vệ sinh lao động trong cơ sở lao động
Tác giả: Bộ Y tế, Bộ Lao động Thương binh Xã hội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2011
5. Bộ Y tế, Bộ Lao động Thương binh Xã hội (1976), Thông tư 08-TTLB BYT- BLĐTBXH-TLĐLĐVN ngày 19/5/1976 Quy định một số bệnh nghề nghiệp và chế độ đãi ngộ công nhân viên chức nhà nước mắc bệnh nghề nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 08-TTLB BYT-BLĐTBXH-TLĐLĐVN ngày 19/5/1976 Quy định một số bệnh nghề nghiệp và chế độ đãi ngộ công nhân viên chức nhà nước mắc bệnh nghề nghiệp
Tác giả: Bộ Y tế, Bộ Lao động Thương binh Xã hội
Năm: 1976
6. Lê Trung (2002), Bệnh nhiễm độc nghề nghiệp, Nhà xuất bản Y học Hà Nội, Hà Nội, Trang 225-256.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh nhiễm độc nghề nghiệp
Tác giả: Lê Trung
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học Hà Nội
Năm: 2002
7. WHO (2011), “Replacement of mercury thermometers and sphygmomanometers in health care”, Technical guidance Sách, tạp chí
Tiêu đề: Replacement of mercury thermometers and sphygmomanometers in health care
Tác giả: WHO
Nhà XB: Technical guidance
Năm: 2011
10. WHO-HCWH (2013), Press release: World’s Governments Agree to Mercury- Free Healthcare in 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Press release: World’s Governments Agree to Mercury- Free Healthcare in 2020
Tác giả: WHO-HCWH
Năm: 2013
12. HCWH (2007), The global movement for mercury-free health care Sách, tạp chí
Tiêu đề: The global movement for mercury-free health care
Tác giả: HCWH
Năm: 2007
13. UNDP (2007), Demonstrating and Promoting Best Techniques and Practices for Reducing Health-Care Waste to Avoid Environmental Releases of Dioxins and Mercury Sách, tạp chí
Tiêu đề: Demonstrating and Promoting Best Techniques and Practices for Reducing Health-Care Waste to Avoid Environmental Releases of Dioxins and Mercury
Tác giả: UNDP
Năm: 2007
14. WHO-HCWH (2008), TOWARD THE TIPPING POINT Global Initiative to Substitute Mercury-Based Medical Devices in Health Care Sách, tạp chí
Tiêu đề: TOWARD THE TIPPING POINT Global Initiative to Substitute Mercury-Based Medical Devices in Health Care
Tác giả: WHO-HCWH
Năm: 2008
15. N.K. Markandu, F. Whitcher; A. Arnold and C. Carney. “The Mercury Sphygmomanometer Should Be abandoned Before it is Proscribed.” Journal of Human Hypertension, Volume 14, pages 31 through 36. 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Mercury Sphygmomanometer Should Be abandoned Before it is Proscribed.” "Journal of Human Hypertension
16. Joanne Mitchell (1999), “Rochester Committee for Scientific Information”, Medical Waste Disposal Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rochester Committee for Scientific Information
Tác giả: Joanne Mitchell
Nhà XB: Medical Waste Disposal
Năm: 1999
17. Laurie J. Tenace (1999), FLORIDA CENTER FOR SOLID AND HAZARDOUS WASTE MANAGEMENT, Best Management Practices for Reducing and Managing Mercury in Florida Medical Facilities: Field Testing, January - July, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Best Management Practices for Reducing and Managing Mercury in Florida Medical Facilities: Field Testing
Tác giả: Laurie J. Tenace
Nhà XB: FLORIDA CENTER FOR SOLID AND HAZARDOUS WASTE MANAGEMENT
Năm: 1999
9. US Environment Protection Agency (2002), Eliminating Mercury in Hospitals JCAHO Environment of Care Standards 1.3, 2.3, 4.0 Khác
11. HCWH (2007), Guide for Eliminating Mercury from Health Care Establishments Khác
18. EPA (1997), Mercury Study Report to Congress, Volume II: An Inventory of Anthropogenic Mercury Emissions in the United States Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Giọt thủy ngân - Đánh giá hiện trạng sử dụng, thải bỏ thủy ngân từ hoạt động y tế tại một số bệnh viện trên địa bàn hà nội và đề xuất giải pháp xử lý phù hợp
Hình 1.1 Giọt thủy ngân (Trang 8)
Bảng 1.1: Hàm lượng thủy ngân trong một số thiết bị y tế [11] - Đánh giá hiện trạng sử dụng, thải bỏ thủy ngân từ hoạt động y tế tại một số bệnh viện trên địa bàn hà nội và đề xuất giải pháp xử lý phù hợp
Bảng 1.1 Hàm lượng thủy ngân trong một số thiết bị y tế [11] (Trang 12)
Hình 1.3: Chu trình phát thải thủy ngân từ hoạt động y tế [10] - Đánh giá hiện trạng sử dụng, thải bỏ thủy ngân từ hoạt động y tế tại một số bệnh viện trên địa bàn hà nội và đề xuất giải pháp xử lý phù hợp
Hình 1.3 Chu trình phát thải thủy ngân từ hoạt động y tế [10] (Trang 13)
Bảng 1.2: Số liệu thống kê về sử dụng 2 loại dụng cụ chính chứa thủy ngân - Đánh giá hiện trạng sử dụng, thải bỏ thủy ngân từ hoạt động y tế tại một số bệnh viện trên địa bàn hà nội và đề xuất giải pháp xử lý phù hợp
Bảng 1.2 Số liệu thống kê về sử dụng 2 loại dụng cụ chính chứa thủy ngân (Trang 19)
Hình 1.4: Hiện trạng công tác quản lý/xử lý chất thải y tế nguy hại liên quan - Đánh giá hiện trạng sử dụng, thải bỏ thủy ngân từ hoạt động y tế tại một số bệnh viện trên địa bàn hà nội và đề xuất giải pháp xử lý phù hợp
Hình 1.4 Hiện trạng công tác quản lý/xử lý chất thải y tế nguy hại liên quan (Trang 21)
Hình 3.1: Sơ đồ dòng di chuyển của thủy ngân và sản phẩm chứa thủy ngân - Đánh giá hiện trạng sử dụng, thải bỏ thủy ngân từ hoạt động y tế tại một số bệnh viện trên địa bàn hà nội và đề xuất giải pháp xử lý phù hợp
Hình 3.1 Sơ đồ dòng di chuyển của thủy ngân và sản phẩm chứa thủy ngân (Trang 28)
Bảng 3.1: Thực trạng sử dụng các vật dụng chứa thủy ngân từ hoạt động y tế - Đánh giá hiện trạng sử dụng, thải bỏ thủy ngân từ hoạt động y tế tại một số bệnh viện trên địa bàn hà nội và đề xuất giải pháp xử lý phù hợp
Bảng 3.1 Thực trạng sử dụng các vật dụng chứa thủy ngân từ hoạt động y tế (Trang 29)
Hình 3.2: Tỷ lệ thành phần chất thải - Đánh giá hiện trạng sử dụng, thải bỏ thủy ngân từ hoạt động y tế tại một số bệnh viện trên địa bàn hà nội và đề xuất giải pháp xử lý phù hợp
Hình 3.2 Tỷ lệ thành phần chất thải (Trang 30)
Bảng 3.6: Cách chứa đựng chất thải tại các khoa - Đánh giá hiện trạng sử dụng, thải bỏ thủy ngân từ hoạt động y tế tại một số bệnh viện trên địa bàn hà nội và đề xuất giải pháp xử lý phù hợp
Bảng 3.6 Cách chứa đựng chất thải tại các khoa (Trang 35)
Hình 3.5: Tỷ lệ khoa có k - Đánh giá hiện trạng sử dụng, thải bỏ thủy ngân từ hoạt động y tế tại một số bệnh viện trên địa bàn hà nội và đề xuất giải pháp xử lý phù hợp
Hình 3.5 Tỷ lệ khoa có k (Trang 38)
Bảng 3.14: So sánh đặc tính một số máy đo huyết áp hiện đang sử dụng - Đánh giá hiện trạng sử dụng, thải bỏ thủy ngân từ hoạt động y tế tại một số bệnh viện trên địa bàn hà nội và đề xuất giải pháp xử lý phù hợp
Bảng 3.14 So sánh đặc tính một số máy đo huyết áp hiện đang sử dụng (Trang 46)
Bảng 3.16: Kết quả điều tra nguyên nhân thay thế - Đánh giá hiện trạng sử dụng, thải bỏ thủy ngân từ hoạt động y tế tại một số bệnh viện trên địa bàn hà nội và đề xuất giải pháp xử lý phù hợp
Bảng 3.16 Kết quả điều tra nguyên nhân thay thế (Trang 48)
Bảng 3.17: Kết quả điều tra nguyên nhân không thay thế Amalgam - Đánh giá hiện trạng sử dụng, thải bỏ thủy ngân từ hoạt động y tế tại một số bệnh viện trên địa bàn hà nội và đề xuất giải pháp xử lý phù hợp
Bảng 3.17 Kết quả điều tra nguyên nhân không thay thế Amalgam (Trang 48)
Bảng 3.18: Chi phí mua các thiết bị chứa thủy ngân hàng năm - Đánh giá hiện trạng sử dụng, thải bỏ thủy ngân từ hoạt động y tế tại một số bệnh viện trên địa bàn hà nội và đề xuất giải pháp xử lý phù hợp
Bảng 3.18 Chi phí mua các thiết bị chứa thủy ngân hàng năm (Trang 64)
Bảng 3.19: Tổng hợp chi phí thay thế toàn bộ các thiết bị chứa thủy ngân - Đánh giá hiện trạng sử dụng, thải bỏ thủy ngân từ hoạt động y tế tại một số bệnh viện trên địa bàn hà nội và đề xuất giải pháp xử lý phù hợp
Bảng 3.19 Tổng hợp chi phí thay thế toàn bộ các thiết bị chứa thủy ngân (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w