Trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong những năm gần đây đã xảy ra nhiều sự cố ô nhiễm môi trường do chăn nuôi gia súc tập trung như: Trang trại chăn nuôi lợn siêu nạc Thái Dương, Trại lợn Thàn
Trang 1MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH Err or! Bookmark not defined MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Tình hình chăn nuôi gia súc tại Việt Nam 3
1.2 Tổng quan về thành phần chất thải của ngành chăn nuôi gia súc 4
1.3 Đặc nh nước thải chăn nuôi 7
1.4 Ảnh hưởng của nước thải trong chăn nuôi gia súc đến môi trường và sức khỏe con người 9
1.5 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội và định hướng phát triển chăn nuôi gia súc ở Nghệ An 11
1.6 Hiện trạng ngành chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Nghệ An 14
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.2 Phương pháp nghiên cứu 21
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25
3.1 Tình hình chăn nuôi gia súc tập trung trên địa bàn tỉnh Nghệ An 25
3.2 Đánh giá chung về môi trường trong chăn nuôi gia súc tập trung 29
3.3 Đánh giá hiện trạng môi trường nước thải trong chăn nuôi gia súc tập trung trên địa bàn tỉnh Nghệ An 37
3.4 Thực trạng công tác quản lý về bảo vệ môi trường trong chăn nuôi gia súc tập trung trên địa bàn tỉnh Nghệ An 54
3.5 Đề xuất giải pháp quản lý trong thời gian tới 59
Trang 2KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68 TÀI LIỆU THAM KHẢO 71 PHỤ LỤC 74
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Lượng phân gia súc thải ra hàng ngày tính 5
trên phần trăm tỉ trọng cơ thể 5
Bảng 1.2 Thành phần hóa học của nước tiểu gia súc 7
Bảng 1.3 Thành phần các chất có trong nước rửa chuồng, tắm rửa gia súc 9
Bảng 1.4 Các bệnh điển hình liên quan đến chất thải chăn nuôi 11
Bảng 1.5 Tỷ trọng sản xuất nông nghiệp Nghệ An từ năm 2010 -2013 (%) 14
Bảng 1.6: Số lượng gia súc tỉnh Nghệ An từ năm 2010 - 2013 (con) 14
Bảng 1.7 Số trang trại và trang trại chăn nuôi năm 2012, 2013 15
Bảng 1.8: Số lượng gia súc phân theo huyện năm 2013 (con) 16
Bảng 1.9 Sản lượng thịt trâu, bò, lợn hơi xuất chuồng phân theo huyện, thành phố, thị xã tỉnh Nghệ An năm 2013 (tấn) 17
Bảng 2.1 Các trang trại chăn nuôi gia súc được cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh Nghệ An 20
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1: Trang trại chăn nuôi lợn thịt tại một số trang trại trên địa bàn tỉnh Nghệ
An 25
Hình 3.2: Trang trại chăn nuôi bò thịt trên địa bàn tỉnh Nghệ An 27
Hình 3.3: Trang trại chăn nuôi bò sữa 28
Hình 3.4 Bể điều hòa, điều chỉnh pH 34
Hình 3.5 Xử lý nước thải bằng biogas tại các trang trại chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Nghệ An 34
Hình 3.6 Nước thải qua bể lắng 35
Hình 3.7 Nước thải qua hồ sinh học có sục khí 35
Hình 3.8 Một số hồ sinh học tại các trang trại chăn nuôi gia súc tập trung trên địa bàn tỉnh 36
Hình 3.9 Khí thải từ hệ thống biogas được đốt liên tục 36
Hình 3.10 Biểu đồ biểu diễn thông số pH trong nước thải chăn nuôi lợn 45
Hình 3.11 Biểu đồ so sánh đầu ra BOD trong nước thải chăn nuôi 47
Hình 3.12 biểu đồ so sánh COD trong nước thải chăn nuôi 48
Hình 3.13: Biểu đồ so sánh N tổng trong nước thải chăn nuôi 50
Hình 3.14 Biểu đồ so sánh TSS trong nước thải tại các trang trại chăn nuôi 51
Hình 3.15: Biểu đồ so sánh Pt trong nước thải chăn nuôi 52
Hình 3.16 Biểu đồ so sánh Coliform trong nước thải chăn nuôi 53
Trang 6MỞ ĐẦU
Để đáp ứng nhu cầu thực phẩm của con người, ngành chăn nuôi trên thế giới
đã phát triển rất nhanh chóng và đạt được nhiều kết quả quan trọng Chăn nuôi đóng góp khoảng 40% tổng GDP nông nghiệp toàn cầu Chăn nuôi cùng với trồng trọt là những lĩnh vực quan trọng nhất của sản xuất nông nghiệp Việt Nam Trong những năm qua, ngành chăn nuôi ở nước ta đã khởi sắc và có sự tăng trưởng khá cao Tính đến tháng 04 năm 2014 đàn trâu có 2,58 triệu con; đàn bò có 5,18 triệu con, riêng
bò sữa phát triển mạnh, tổng đàn bò sữa năm 2014 của cả nước đạt 200,4 nghìn con, tăng 14% so với năm 2013; đàn lợn có 26,39 triệu con… giá trị sản xuất ngành chăn nuôi Việt Nam đạt 30% tổng GDP trong nông nghiệp [3]
Cùng với sự lớn mạnh của ngành chăn nuôi cả nước, ngành chăn nuôi Nghệ
An cũng thu được những thành tựu to lớn Hiện nay Nghệ An là tỉnh có tổng đàn trâu, bò lớn nhất cả nước, tổng đàn lợn đứng thứ 3 toàn quốc [17], tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp ngày càng cao, thu nhập ngành chăn nuôi hiện chiếm 43,81% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp [10]
Quy mô chăn nuôi gia súc đang chuyển dịch từ việc chăn thả, nuôi theo quy
mô hộ gia đình sang hình thức chăn nuôi tập trung hoặc bán tập trung Sự chuyển dịch quy mô chăn nuôi đã và đang giảm dần các mặt hạn chế của mô hình chăn nuôi đơn lẻ, hộ gia đình, như: Chăn nuôi nhỏ, thiếu bền vững, manh mún, hầu hết được nuôi ở quy mô hộ gia đình tận dụng thức ăn thừa nên khó kiểm soát bệnh dịch, các
hộ gia đình không quan tâm đến công tác tiêm phòng hay phòng chống dịch bệnh theo quy trình của cơ quan thú y [17] Tuy nhiên, sự chăn nuôi tập trung đã kéo theo những hệ lụy về mặt môi trường nếu không kiểm soát chặt chẽ và đồng bộ Nguồn chất thải đang từ dạng phân tán trên diện rộng trở thành nguồn thải tập trung, thải lượng ô nhiễm cao vượt quá sức tự làm sạch của môi trường xung quanh gây ra những biểu hiện ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Chất thải chăn nuôi bao gồm: phân, chất lót chuồng, lông, nước tiểu, nước rửa chuồng, tắm rửa gia súc và các khí thải Ở nhiều nơi không được xử lý mà thải đổ trực tiếp ra môi trường bên ngoài đã
Trang 7làm ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng tới sức khỏe của người dân, tác động ngược lại đến sản xuất và gia tăng rủi ro cho ngành chăn nuôi Quy mô trang trại chăn nuôi càng lớn thì nguy cơ gây ô nhiễm môi trường càng cao
Trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong những năm gần đây đã xảy ra nhiều sự cố ô nhiễm môi trường do chăn nuôi gia súc tập trung như: Trang trại chăn nuôi lợn siêu nạc Thái Dương, Trại lợn Thành Đô, trại lợn Bình Minh gây ô nhiễm môi trường… Nguyên nhân chủ yếu là: các chủ trang trại không xây dựng hệ thống xử lý nước thải, hoặc xử lý nước thải nhưng không triệt để; cơ chế chính sách chưa đầy đủ và chưa đồng bộ; nhận thức và ý thức của tổ chức và cá nhân về bảo vệ môi trường trong chăn nuôi còn hạn chế v.v…
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, đề tài “Đánh giá hiện trạng môi trường
nước của hoạt động chăn nuôi gia súc tập trung trên địa bàn tỉnh Nghệ An” với
các mục tiêu chính: (i) Đánh giá tổng quan về phát triển trang trại chăn nuôi và hiện trạng môi trường trong hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Nghệ An, (ii) đánh giá thực trạng xử lý thải nước thải trong chăn nuôi tại một số cơ sở chăn nuôi gia súc tập trung điển hình trên địa bàn tỉnh Nghệ An, (iii) đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường tại các cơ sở chăn nuôi gia súc tập trung trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Trang 8CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Tình hình chăn nuôi gia súc tại Việt Nam
Gia súc là tên dùng để chỉ một hoặc nhiều loài động vật có vú được thuần hóa và nuôi vì mục đích để sản xuất hàng hóa như lấy thực phẩm, chất xơ hoặc lao động Việc chăn nuôi gia súc là một bộ phận quan trọng trong nền nông nghiệp Sản phẩm từ chăn nuôi nhằm cung cấp lợi nhuận và phục vụ cho đời sống sinh hoạt của con người
Theo đánh giá của Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO) [8]: Châu Á sẽ trở thành khu vực sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm chăn nuôi lớn nhất Chăn nuôi Việt Nam, giống như các nước trong khu vực phải duy trì mức tăng trưởng cao nhằm đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước và từng bước hướng tới xuất khẩu
Tình hình chăn nuôi cả nước trong năm 2014 không có biến động nhiều, dịch bệnh lớn không xảy ra Chăn nuôi lợn gặp nhiều thuận lợi do giá lợn ổn định ở mức cao, dịch lợn tai xanh không xảy ra Ước tính tổng đàn lợn cả nước tăng 1,5 – 2,0%
so cùng kỳ 2013 [8] Đàn bò thịt không có nhiều biến động Đàn bò sữa tăng khá, tập trung tăng nhiều ở một số địa phương: Hà Nội, Nghệ An, Sơn La, Lâm Đồng, thành phố Hồ Chí Minh và Long An, cụ thể như sau:
Chăn nuôi trâu, bò:
Theo kết quả điều tra sơ bộ của Tổng cục Thống kê, năm 2014 cả nước có 2,58 triệu con trâu, tương đương cùng kỳ năm trước; 5,18 triệu con bò, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm trước Nhìn chung số lượng trâu giảm chủ yếu do hiệu quả chăn nuôi thấp và diện tích chăn thả bị thu hẹp; riêng đàn bò sữa tiếp tục tăng, đạt 200,4 nghìn con, tăng 26 nghìn con (+14%) so cùng kỳ Sản lượng thịt trâu, bò 6 tháng đầu năm đạt xấp xỉ cùng kỳ Sản lượng sữa bò đạt 265,4 nghìn tấn, tăng 19,2% so cùng kỳ năm trước [3]
Trang 9Theo Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA), năm 2014 nhu cầu tiêu thụ thịt bò của Việt Nam vào khoảng 408 nghìn tấn, tăng 2 nghìn tấn so với năm 2013 [3] Sản lượng thịt bò của Việt Nam năm 2014 dự kiến ở mức 393 nghìn tấn và để đáp ứng
đủ nhu cầu cần phải nhập khẩu ít nhất 15 nghìn tấn [3]
Chăn nuôi lợn:
Theo kết quả điều tra sơ bộ của Tổng cục Thống kê, năm 2014 cả nước có 26,39 triệu con lợn, tăng nhẹ (0,3%) so với cùng kỳ Hiện tại chăn nuôi lợn khá thuận lợi do giá lợn hơi tăng và dịch lợn tai xanh không xảy ra đã kích thích người chăn nuôi đầu tư tái đàn Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm 2014 đạt 1963,3 nghìn tấn, tăng 1,65% so với cùng kỳ năm trước [3]
Nhu cầu tiêu thụ thịt lợn của Việt Nam năm 2014 vào khoảng 2,245 triệu tấn, tăng 1,8% so với năm 2013 Sản lượng thịt lợn của Việt Nam năm 2014 dự kiến ở mức 2,26 triệu USD, đảm bảo cho Việt Nam xuất khẩu khoảng 15 nghìn [3] tấn thịt lợn
Ở Nghệ An, theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn đến tháng 10/2014 [20], thực trạng về chăn nuôi gia súc trên địa bàn tỉnh như sau:
Tổng đàn trâu đạt 295.200 con, tăng 1,8% so với cùng kỳ năm 2013, đạt 107% kế hoạch đặt ra; Tổng đàn bò đạt 384.300 con, tăng 3,56% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó, đàn bỏ sữa ước đạt 34.500 con; Tổng đàn lợn đạt 974.300 con, giảm so với năm 2013 nguyên nhân là do giá cả thấp, các hộ nuôi nhỏ lẻ không có lãi nên nhiều hộ đã tạm ngừng nuôi
Sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 210.000 tấn/năm, tăng 6,85% so với cùng
kỳ năm 2013 Sản lượng sữa bò tươi ước đạt 160.000 tấn [21]
1.2 Tổng quan về thành phần chất thải của ngành chăn nuôi gia súc
1.2.1 Chất thải rắn
Chất thải rắn từ hoạt động chăn nuôi bao gồm: Phân, chất độn, lông, thức ăn
dư thừa, bao gói đựng thức ăn, xác gia súc chết, Tỷ lệ các chất hữu cơ, vô cơ, vi sinh vật trong chất thải phụ thuộc vào khẩu phần ăn, giống, loài gia súc và cách dọn
Trang 10vệ sinh Theo nguyên cứu của Trương Thanh Cảnh thì lượng phân gia súc thải ra hàng ngày được biết ở bảng sau:
Bảng 1.1 Lượng phân gia súc thải ra hàng ngày tính
trên phần trăm tỉ trọng cơ thể
1.2.2 Nước thải
Nước thải phát sinh từ các trang trại chăn nuôi do làm vệ sinh chuồng trại, vệ sinh dụng cụ chăn nuôi, vệ sinh máng ăn, máng uống, nước tắm rửa cho gia súc hàng ngày, nước tiểu của gia súc,
Thành phần nước thải từ các trại chăn nuôi gia súc như sau:
- Chất hữu cơ: 70-80% gồm cellulose, protit, axít amin, chất béo, hiđrat cacbon và các dẫn xuất của chúng… Hầu hết là các chất hữu cơ dễ phân hủy
- Vi sinh vật gây bệnh: Nước thải chăn nuôi chứa nhiều loại vi trùng, virút và
ký sinh trùng như trứng giun sán, vi khuẩn Sallmonella, E coli
- Chất vô cơ chiếm 20-30% gồm cát, đất, ure, amoni, muối Cl-, SO42-
Thành phần nước thải chăn nuôi biến động rất lớn phụ thuộc vào quy mô chăn nuôi, phương pháp vệ sinh, kiểu chuồng trại và chất lượng nước vệ sinh chuồng trại Trong nước thải, nước chiếm 75-95%, phần còn lại là các chất hữu cơ,
vô cơ và các vi sinh vật
Trang 11CH4 là khí phát sinh từ quá trình xử lý yếm khí chất thải chăn nuôi, đặc biệt
là quá trình ủ phân, xử lý nước thải bằng phương pháp biogas
- Khí NH3
NH3 là một chất khí không màu, có mùi khó chịu, ngưỡng giới hạn tiếp nhận mùi là 37 mg/m3, tỉ trọng so với không khí là 0,59 Nó có mùi rất cay và có thể phát hiện ở nồng độ 5 ppm Hàm lượng amoniắc trong nước thải tại các trang trại chăn nuôi phụ thuộc vào số lượng chất thải, chất hữu cơ tích tụ lại trong các lớp độn chuồng, tức là phụ thuộc vào mật độ nuôi gia súc, gia cầm, độ ẩm, nhiệt độ của không khí và của lớp độn chuồng, nguyên liệu và độ xốp của lớp độn chuồng
- Khí H2S
H2S là loại khí độc tiềm tàng trong các chuồng chăn nuôi gia súc Nó được sinh ra do vi sinh vật yếm khí phân huỷ protein và các vật chất hữu cơ có chứa Sunfua khác Khí thải H2S sinh ra được giữ lại trong chất lỏng của nơi lưu giữ phân Khí H2S có mùi rất khó chịu và gây độc thậm chí ở nồng độ thấp
- Khí CO2
CO2 là loại khí không màu, khồng mùi vị, nặng hơn không khí (1,98 g/l) Nó được sinh ra trong quá trình thở và các quá trình phân huỷ của vi sinh vật Nồng độ cao sẽ ảnh hưởng xấu đến sự trao đổi chất, trạng thái chung của cơ thể cũng như khả năng sản xuất và sức chống đỡ bệnh tật do làm giảm lượng oxy tồn tại
Trang 12Nồng độ CO2 sẽ tăng lên do kết quả phân giải phân động vật và do quá trình
hô hấp bình thường của động vật trong một không gian kín
1.3 Đặc tính nước thải chăn nuôi
Như đã nêu ở trên, nước thải chăn nuôi bao gồm từ nhiều loại khác nhau như: Nước tiểu, nước tắm rửa cho gia súc, nước vệ sinh chuồng trại, sữa hỏng (đối với gia súc lấy sữa),…
1.3.1 Nước tiểu
Nước tiểu gia súc có thành phần chủ yếu là nước, chiếm trên 90% tổng khối lượng nước tiểu Ngoài ra, còn có một lượng lớn Nitơ và Phốtpho, Kali và các chất khác Khi nước tiểu được động vật bài tiết ra ngoài, trong điều kiện có ôxy ở môi trường, chúng dễ dàng phân hủy tạo thành Ammoniắc gây mùi khó chịu Thành phần nước tiểu thay đổi tùy thuộc vào loại gia súc, tuổi, chế độ dinh dưỡng của gia súc
Bảng 1.2 Thành phần hóa học của nước tiểu gia súc
1.3.2 Nước rửa chuồng và tắm gia súc
Nước rửa chuồng và tắm gia súc có nguồn gốc tư việc tắm rửa cho gia súc và
vệ sinh chuồng trại, máng ăn,… Nước này thường kéo theo các chất thải rắn như có trong phân chuồng, chất độn chuồng, nước tiểu, thức ăn thừa… nên hàm lượng các chất có trong nước này thường rất cao Nước thải chăn nuôi gia súc thường chủ yếu phát sinh là nguồn này
Các chất hữu cơ dễ bị phân huỷ sinh học
Gồm các chất như: Cacbonhydrat, protein, chất béo Chất hữu cơ tiêu thụ ôxy rất mạnh, gây hiện tượng giảm ôxy trong nguồn tiếp nhận dẫn đến suy thoái và
Trang 13giảm chất lượng nguồn nước
Phần lớn N trong phân ở dạng ion ammonium (NH4+) và hợp chất nitơ hữu
cơ Nếu không được xử lý thì một lượng lớn ammonium sẽ đi vào không khí ở dạng ammonia (NH3) Nitrat và vi sinh vật theo nước thải ra ngoài môi trường có thể nhiễm vào nguồn nước ngầm và làm đất bị ô nhiễm Trong nước thải chăn nuôi chứa hàm lượng N và P rất cao
Các chất hữu cơ bền vững
Bao gồm các hợp chất hydrocacbon, vòng thơm, hợp chất đa vòng, hợp chất
có chứa Clo hữu cơ trong các loại hoá chẩt tiêu độc khử trùng như indan Các chất hoá học này có khả năng tồn lưu trong tự nhiên lâu dài và tích lũy trong cơ thể các loại sinh vật
Các yếu tố vi sinh vật
Trong nước thải chứa nhiều vi sinh vật có lợi và có hại, trong đó có nhiều loại
trứng ký sinh trùng, vi trùng và virút gây bệnh như: E.coli, Salmonella, Shigella,
Proteus, Arizona Bình thường, các vi sinh vật này sống cộng sinh với nhau trong đường tiêu hoá nên có sự cân bằng sinh thái Khi xuất hiện tình trạng bệnh lý thì sự cân bằng đó bị phá vỡ, chẳng hạn như gia súc bị ỉa chảy thì số lượng vi khuẩn gây bệnh sẽ nhiều hơn và lấn áp tập đoàn vi khuẩn có lợi Trong những trường hợp vật
Trang 14nuôi mắc các bệnh truyền nhiễm khác thì sự đào thải vi trùng gây bệnh trong chất thải trở nên nguy hiểm cho môi trường và cho các vật nuôi khác [24]
Bảng 1.3 Thành phần các chất có trong nước rửa chuồng, tắm rửa gia súc
Với những tính chất đã mô tả như trên, nước tiểu và nước thải vệ sinh chuồng trại, tắm rửa cho gia súc có kéo theo chất thải rắn nếu không được xử lý trước khi thải ra môi trường sẽ gây hậu quả nghiêm trọng, nhất là trong trường hợp chăn nuôi
ở quy mô lớn
- Gây ô nhiễm môi trường đất, nước do nước thải chăn nuôi có chứa nhiều
Trang 15chất hữu cơ, các vi sinh vật gây bệnh, các chất khác có hàm lượng cao trong nước thải Trong thức ăn, một số chất chưa được đồng hóa và hấp thụ nên bài tiết ra ngoài theo phân và nước tiểu Nước thải chăn nuôi gia súc không xử lý đạt quy chuẩn trước khi thải ra môi trường sẽ ảnh hưởng đến môi trường đất, nước xung quanh, gây mùi hôi, thối Sự phân hủy các chất có trong nước thải còn làm thay đổi pH của nước, tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển [1]
- Phú dưỡng:
Đây là hiện tượng mà các thủy vực tiếp nhận nước thải chăn nuôi thường xảy
ra Do nước thải từ chăn nuôi có chứa nhiều N, P, chất hữu cơ dễ phân hủy và các chất dinh dưỡng khác Dẫn đến sự phát triển bùng nổ của tảo ở các hệ sinh thái nước ngọt gây được gọi là hiện tượng nở hoa trong nước
Theo dự báo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, với tốc độ phát triển mạnh của ngành Chăn nuôi như hiện nay dự tính đến năm 2020, lượng chất thải rắn trong chăn nuôi phát sinh khoảng gần 1.212.000 tấn/năm, tăng 14,05% so với năm 2010 [1]
- Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đến năng suất chăn nuôi
Tình hình dịch bệnh bùng phát trên quy mô rộng ngày càng tăng, dịch bệnh có nhiều nguyên nhân và từ nhiều nguồn khác nhau: do vius, vi khuẩn, ký sinh trùng
Vì vậy để hạn chế các nguyên nhân gây bệnh trên, ô nhiễm môi trường chuồng nuôi
là vấn đề cấp bách cần giải quyết hiện nay [23]
Bệnh và các loại vi khuẩn gây bệnh trên lợn: bệnh tiêu hóa do vi khuẩn E.coli
gây ra ỉa chảy ở lợn con, bệnh do ký sinh trùng gây ra làm lợn chậm lớn, còi cọc bên cạnh đó chất lượng không khí trong chuồng nuôi cũng rất quan trọng, gia súc hít vào phổi những chất độc hại gây viêm nhiễm đường hô hấp làm ảnh hưởng đến
sự tăng trưởng Phân và nước thải không được thu gom xử lý sẽ phân hủy gây ô nhiễm môi trường không khí ảnh hưởng đến năng suất chăn nuôi, môi trường chăn nuôi bao gồm các yếu tố: khí amoniac, hyđro sunfua, nhiệt độ, độ ẩm, bụi và các khí gây mùi hôi thối khác
Trang 16Bảng 1.4 Các bệnh điển hình liên quan đến chất thải chăn nuôi
nhiễm
Gây bệnh
1.5 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội và định hướng phát triển chăn nuôi gia súc ở Nghệ An
1.5.1 Đặc điểm tự nhiê
Tỉnh Nghệ An nằm ở trung tâm khu vực Bắc Trung Bộ, với diện tích hơn 16.490 km2, lớn nhất cả nước, có tọa độ địa lý: 18°33′ đến 20°01′ vĩ độ Bắc, 103°52′ đến 105°48′ kinh độ Đông Phía bắc giáp tỉnh Thanh Hóa, phía nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía đông giáp biển Đông, phía tây giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân
dân Lào
Trang 17Nằm ở Đông Bắc dãy Trường Sơn, Nghệ An có địa hình đa dạng, phức tạp,
bị chia cắt mạnh bởi các dãy đồi núi và hệ thống sông, suối Về tổng thể, địa hình nghiêng theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, với ba vùng sinh thái rõ rệt: miền núi, trung du và đồng bằng ven biển Nơi cao nhất là đỉnh Pulaileng ở huyện Kỳ Sơn, thấp nhất là vùng đồng bằng các huyện Diễn – Yên – Quỳnh và Nam – Hưng – Nghi, với bờ biển thoải chạy dài không liên tục và bị chia cắt thành nhiều đoạn độc lập do có 6 cửa sông và 2 dãy núi nhô ra sát biển
Khí hậu Nghệ An nói chung và vùng ven biển hải đảo nói riêng mang tính chất khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa Song, do là nơi chuyển tiếp từ miền Bắc đến miền Trung, nên khí hậu trong vùng mang đặc điểm khí hậu Bắc Trung Bộ vừa chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa Đông Bắc, Đông Nam vừa chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam (gió Lào) khô nóng
Nhiệt độ không khí trung bình năm biến đổi trong phạm vi từ dưới 220C ở vùng núi cao đến 24,00C ở vùng đồng bằng ven biển Nhiệt độ không khí trung bình tháng dưới 200C (17 - 190C) trong các tháng XII, I, II, tăng lên 19 - 250C trong các tháng III, IV, X, XI và trên 250C trong các tháng V - IX, cao nhất vào hai tháng VI – VII
Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối đã xuất hiện vào khoảng 40 - 42,70C (42,70C tại Tương Dương vào ngày 12 -/V/1966) và thường xảy ra vào các tháng V - VII, là thời kỳ thường xuất hiện gió mùa tây nam mạnh - "gió Lào", do tác dụng "phơn" của dãy Trường Sơn Bắc
Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối thường xuất hiện vào tháng XII hay tháng I với giá trị 5 - 70C ở đồng bằng Như vậy, biên độ nhiệt độ lớn nhất có thể tới 30 - 400C
Trên phần lưu vực sông Cả thuộc nước ta, giá trị lượng mưa năm trung bình nhiều năm X0 biến đổi trong phạm vi từ dưới 1400 mm đến trên 2000 mm
Điều này cho thấy việc phát triển chăn nuôi tập trung trên địa bàn tỉnh Nghệ
An có nhiều thuận lợi, đặc biệt là khu vực thị xã Thái Hòa, huyện Nghĩa Đàn phù hợp với việc chăn nuôi trâu, bò, do vùng đất này phù hợp với việc phát triển nguyên
Trang 18liệu Các xã thuộc vùng đồng bằng phù hợp với việc chăn nuôi lợn tập trung hơn như các huyện: Nam Đàn, Diễn Châu, Yên Thành
1.5.2 Điều kiện kinh tế xã hội
+ Dân số: Theo niên giám thống kê thì tính đến năm 2013, dân số của tỉnh Nghệ An là 2.978.705 người trong đó thành thị 445.155 người, nông thôn 2.533.550 người, trong đó tỷ lệ dân thành thị chiếm gần 14,94%, với mật độ dân số trung bình
179 người/km2, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1.22% [10]
+ Cơ cấu kinh tế
Nền kinh tế những năm gần đây có chuyển biến tích cực, cơ cấu kinh tế dịch chuyển đúng hướng Tỷ trọng nông - lâm - thuỷ sản chiếm 24,63%, công nghiệp- xây dựng chiếm 46,49%, dịch vụ 28,88% Năm 2013, tổng giá trị sản xuất (theo giá hiện hành) đạt 143.914.137 triệu đồng Nông - Lâm nghiệp - Thuỷ sản là 34.592.554 triệu chiếm 24,04% trên tổng số; Công nghiệp chế tạo đạt 32.963.825 triệu đồng, chiếm 22,91%; Xây dựng đạt 25.564.730 triệu đồng, đạt 20,97%; ngoài
ra các hoạt động vận tải, dịch vụ, thông tin truyền thông… và các hoạt động khác cũng góp phần trong việc tăng trưởng kinh tế của tỉnh Nghệ An [10]
Năm 2013, diện tích cây lương thực có hạt 243.958 ha, trong đó 185.996 ha
là lúa, còn lại là các loại cây lương thực khác; Sản lượng lương thực có hạt 1.171.677 tấn, trong đó sản lượng của lúa là 959.977 tấn
Sản xuất chăn nuôi cũng được phát triển, toàn tỉnh có tổng số đàn gia súc, gia cầm như sau: trâu 291.957con, bò 382.398 con, lợn 1.014.930 con, gia cầm 15.821 nghìn con Sản lượng thủy sản nuôi trồng, khai thác là: 105.814 tấn; nuôi trồng: 39.281 tấn, khai thác 66.533 tấn, trong đó: sản lượng cá: 47.138 tấn, tôm: 7.682 tấn, sản lượng thủy, hải sản khác: 50.994 tấn
+ Về giáo dục, đào tạo: Toàn tỉnh năm học 2012-2013 có 515 trường mầm
non, 539 trường tiểu học, 388 trung học cơ sở, 92 trung học phổ thông, 24 trường phổ thông cơ sở
+ Về cơ sở y tế: Năm 2013 toàn tỉnh có 848 cơ sở y tế, trong đó 38 bệnh viện,
43 phòng khám đa khoa khu vực, 480 trạm y tế phường, xã, 287 cơ sở khác [10]
Trang 191.6 Hiện trạng ngành chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Nghệ An
1.6.1 Tình hình phát triển của ngành chăn nuôi gia súc tập trung tỉnh Nghệ An
Chăn nuôi cùng với trồng trọt là những lĩnh vực quan trọng nhất của sản xuất nông nghiệp tỉnh Nghệ An Trong những năm qua, ngành chăn nuôi của tỉnh đã khởi sắc Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi chiếm tỷ trọng khá cao trong sản xuất nông nghiệp; tốc độ tang trưởng về tỷ trọng của ngành chăn nuôi có xu thế tăng mạnh qua các năm từ 2010 – 2013
Bảng 1.5 Tỷ trọng sản xuất nông nghiệp Nghệ An từ năm 2010 -2013 (%)
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Nghệ An năm 2013 [10]
Số lượng đàn gia súc của Nghệ An ngày càng giảm, chủ yếu là từ các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, do lợi nhuận không cao Tuy nhiên, số lượng đàn gia súc chăn nuôi tập trung tại các trạng trại càng ngày càng tăng Theo Niên giám thống kê số trang trại (bao gồm các loại trang trại) năm 2011 có 159 trang trại, tăng lên 230 trong năm 2012 và 239 trong năm 2013 [10]
Bảng 1.6: Số lượng gia súc tỉnh Nghệ An từ năm 2010 - 2013 (con)
Trang 20Chăn nuôi Nghệ An trong những năm gần đây, số lượng gia súc giảm dần ở các hộ dân, nhưng các trang trại chăn nuôi đã được hình thành và phát triển Số lượng gia súc của các huyện, thị xã, thành phố tăng nhanh
Bảng 1.7 Số trang trại và trang trại chăn nuôi năm 2012, 2013
TT Đơn vị
Tổng số trang trại
Trang trại chăn nuôi
Tổng số trang trại
Trang trại chăn nuôi
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Nghệ An năm 2012, 2013 [10]
Trang 21Bảng 1.8: Số lượng gia súc phân theo huyện năm 2013 (con)
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Nghệ An năm 2013 [10]
Trang 22Bảng 1.9 Sản lượng thịt trâu, bò, lợn hơi xuất chuồng phân theo huyện,
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Nghệ An năm 2013 [10]
Những năm gần đây, nhờ thực hiện các chương trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, trên địa bàn tỉnh có những trang trại chăn nuôi bò, lợn ở Nghĩa Đàn, Nam Đàn, thị xã Thái Hòa, Quỳnh Lưu, Đô Lương,… có quy mô tập trung, đầu tư
Trang 23chuồng trại, thức ăn theo tiêu chuẩn Bước đầu đã tạo dựng được các mô hình chăn nuôi theo hướng công nghiệp, quy mô vừa và lớn theo hướng sản xuất hàng hóa Thông qua các mô hình trang trại này các tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi đã được chuyển giao và áp dụng: chuồng trại xây dựng cách xa khu dân cư, theo quy trình công nghiệp như chuồng lồng, sàn, van uống tự động đảm bảo vệ sinh thú y, có xử
lý chất thải
1.6.2 Định hướng phát triển chăn nuôi tỉnh Nghệ An đến năm 2020
Quy hoạch chăn nuôi trâu bò nhằm quy định vùng chăn nuôi có tiềm năng và lợi thế phù hợp ở đồng bằng, núi thấp và miền núi cao, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi thú y, quy trình công nghệ chăn nuôi tiên tiến nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi trâu bò Khuyến khích phát triển chăn nuôi trang trại kết hợp quy mô vừa
và lớn, kết hợp chăn nuôi gia trại có đầu tư tiến bộ kỹ thuật tạo hàng hóa có chất lượng tốt, hiệu quả kinh tế cao, qua đó tạo việc làm cho người lao động, tăng thu nhập, góp phần tham gia chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp [25]
Phương thức chăn nuôi nuôi đầu tư thâm canh và bán thâm canh là chủ yếu có kết hợp chăn nuôi truyền thống được áp dụng khoa học công nghệ Hình thức chăn nuôi phát triển chăn nuôi trang trại quy mô vừa và lớn kết hợp hình thức nông hộ
Quy hoạch phát triển đàn lợn trên địa bàn tỉnh Nghệ An đến 2020: Chuyển dần phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ, tận dụng sang chăn nuôi tập trung quy mô vừa
và lớn theo phương thức công nghiệp; đảm bảo vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường; tạo năng suất chất lượng và hiệu quả kinh tế, đủ sức cạnh trạnh trên thị trường trong nước và khu vực Kết hợp chăn nuôi nông hộ, nhưng phải đầu
tư kỹ thuật về giống, thức ăn, có bể biogas để xử lý chất thải, đảm bảo vệ sinh môi trường, kiểm soát được dịch bệnh trong chăn nuôi nông hộ, nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo ở nông thôn [25]
Theo Nghị quyết số 123/2014/NQ-UBND ngày 16/7/2014 của Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An về điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Nghệ An đến năm 2020 [13]
Trang 24Phát triển chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa: Phát huy hết công suất của Nhà máy sữa Vinamilk tại Cửa Lò và Nhà máy sữa TH tại Nghĩa Đàn Đến năm 2020 sản lượng sữa chế biến đạt khoảng 450 - 500 triệu lít
- Về phát triển chăn nuôi trâu, bò: Đến năm 2020, tổng đàn trâu, bò đạt khoảng 780 ngàn con, trong đó đàn bò khoảng 450 ngàn con, trâu khoảng 330 ngàn con Phát triển chăn nuôi bò sữa quy mô công nghiệp, đến năm 2020 đạt 60.000 con
bò cho sữa, sản lượng sữa khoảng 450 - 500 triệu lít
- Về phát triển chăn nuôi lợn: Đến năm 2020 đàn lợn đạt 1,8 triệu con [13]
Trang 25CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này về thực trạng môi trường nước thải tại các trang tại chăn nuôi gia súc tập trung trên địa bàn tỉnh Nghệ An Trong nghiên cứu này, các trang trại được lựa chọn bao gồm các trang trại được cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại theo Thông tư số 27/2011/TT-BNN- PTNT ngày 13 tháng 4 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại Trên địa bàn tỉnh có 22 trang trại chăn nuôi gia súc đã được cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại, trong đó có 19 trang trại nuôi lợn, 03 trang trại nuôi bò phân bố ở các huyện: Nam Đàn, Nghĩa Đàn, Thái Hòa, Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc, cụ thể như sau:
Bảng 2.1 Các trang trại chăn nuôi gia súc được cấp giấy chứng nhận kinh tế
trang trại trên địa bàn tỉnh Nghệ An
4
Trang 26TT Địa điểm Chủ trang trại Loại gia
13 Thị xã Thái Hòa Ông Nguyễn Quang Thành Lợn 100
19 Huyện Nghi Lộc Công ty CP Phát triển Nông
Trang 27Nghiên cứu, tổng hợp các tài liệu, tư liệu, thông tin phù hợp hiện có trong tỉnh; Các chương trình, dự án của các tổ chức trong nước và quốc tế đã và đang triển khai liên quan đến vấn đề môi trường trong chăn nuôi nói chung và nước thải chăn nuôi gia súc tập trung nói riêng Các tài liệu kế thừa liên quan đến các thông tin sau: Thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội; các thông tin liên quan hoạt động chăn nuôi gia súc ở Việt Nam, ở tỉnh Nghệ An; các thông tin liên quan đến ảnh hưởng của nước thải chăn nuôi đến môi trường và sức khỏe; các thông tin về các biện pháp xử lý nước thải chăn nuôi; hoạt động chăn nuôi gia súc và công tác bảo vệ môi trường tại các trang trại chăn nuôi gia súc tập trung; Các thông tin về các vấn đề môi trường bức xúc liên quan đến trang trại chăn nuôi gia súc trên địa bàn tỉnh Nghệ An…
2.2.2 Phương pháp điều tra và khảo sát thực địa
Điều tra, khảo sát thực tế nhằm thu thập số liệu về tình hình phát triển và hiện trạng môi trường trong hoạt động chăn nuôi nói chung và môi trường nước trong chăn nuôi gia súc tập trung trên địa bàn tỉnh
Trên cơ sở các trang trại đã được cấp giấy chứng nhận về kinh tế trang trại, lựa chọn các trang trại có tính đặc thù về chăn nuôi gia súc tập trung để điều tra, đánh giá Thiết kế và gửi phiếu điều tra đến các trang trại được lựa chọn phù hợp với nội dung luận văn sau đó tiến hành điều tra thực địa tại các trang trại và thu phiếu điều tra
Số phiếu điều tra được phát ra 22 phiếu/22 trang trại đã được cấp giấy chứng nhận Giấy chứng nhận kinh tế trang trại này do Ủy ban nhân dân các huyện cấp
Do đó, để có số liệu về các trang trại, phải tiến hành thu thập thông tin từ cấp huyện, thông qua phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện
Việc điều tra tại các trang trại được tiến hành một lần, chụp ảnh, lấy mẫu nước, đánh giá lại các thông tin trong phiếu điều tra Riêng các trang trại nằm trong danh sách các cơ sở gây ô nhiễm môi trường, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đã
Trang 28được Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An đưa vào danh mục thì được tiến hành khảo sát nhiều đợt, kết hợp với nội dung kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước
2.2.3 Phương pháp lấy mẫu và phân tích
Quy cách lấy mẫu nước và bảo quản mẫu theo quy chuẩn quy định hiện hành Tùy loại mẫu, chỉ tiêu phân tích đặc trưng mà có phương pháp bảo quản mẫu hợp lý nhằm tránh sai số trong phân tích Phương pháp phân tích xác định các thông
số chỉ tiêu trong mẫu nước tuân theo hướng dẫn của các quy chuẩn, tiêu chuẩn quốc gia hiện hành Việc lấy mẫu được tiến hành khi điều tra các trang trại theo TCVN 4556-88 Mẫu được lấy rồi gửi đến cơ quan phân tích Các thông số phân tích được
áp dụng theo Thông tư 04/2012/TT-BTNMT ngày 08 tháng 5 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, gồm có:
- Các trang trại chăn nuôi lợn, do một số trang trại tận dụng chất thải để phục
vụ cho nuôi trồng thủy sản, một số trang trại xả nước thải ra môi trường… Do đó, tại các trang trại chăn nuôi lợn tiến hành phân tích các chỉ tiêu: pH, TSS, BOD, COD, tổng N, tổng P, Coliform Quy chuẩn để áp dụng là quy chuẩn QCVN 40:2011/BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp;
- Các trang trại chăn nuôi bò, do các trang trại này sử dụng chất thải phục vụ cho tưới cỏ của các trang trại nên tại các trang trại chăn nuôi bò được tiến hành lấy các chỉ tiêu sau: pH, DO, TDS, Cl-, SO4
, Hg, Cu, Zn Quy chuẩn áp dụng là quy chuẩn QCVN 39:2011/BTNMT về quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước dùng cho tưới tiêu
2 Nước cấp cho chăn nuôi được phân tích theo As, CN-, Pb, Hg, Coliform theo QCVN 01-14: 2010/BNNPTNT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia điều kiện trại chăn nuôi lợn an toàn sinh học
2.2.4 Phương pháp thống kê và xử lý số liệu
Sử dụng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ cùng với việc phân tích và tổng
Trang 29nhiễm môi trường, sử dụng mô hình PSR: Presure (áp lực; nguyên nhân) - State (trạng thái; hiện trạng) - Respond (đáp ứng; giải pháp)
Trang 30CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Tình hình chăn nuôi gia súc tập trung trên địa bàn tỉnh Nghệ An
3.1.1 Tình hình chăn nuôi lợn ở quy mô trang trại
Quy trình nuôi lợn của các trang trại tương đối giống nhau Một số trang trại trên địa bàn tỉnh Nghệ An đều nhập từ Công ty cổ phần Chăn nuôi C.P Việt Nam Trọng lượng mỗi con lợn hậu bị nhập về khoảng từ 20- 25kg/con Khi về trang trại
sẽ được chăm sóc để tăng trọng lượng của lợn lên 90-100kg/con để xuất bán trên thị trường trong thời gian khoảng 03- 04 tháng/lứa
Một số các trang trại khác tự nhân giống lợn thịt từ các con lợn nái của trang trại Với những trang trại này thì việc xuất chuồng lợn thịt liên tục, nhưng số lượng lợn xuất chuồng/lần ít hơn so với các trang trại nhập lợn giống Thời gian chăm sóc lợn khoảng 06 tháng/lứa Thức ăn cho lợn tại các trang trại này chủ yếu là thức ăn tinh, ước tính khoảng 2,4 kg/con/ngày
Nước sử dụng cho chăn nuôi lợn khoảng 25 lít/con/ngày [6], bao gồm nước uống cho lợn được bố trí bằng vòi tự động và nước vệ sinh chuồng trại Nước thải
từ chăn nuôi lợn ươc tính khoảng 1-2 lít nước tiểu/ngày đêm, ngoài ra còn có nước rửa chuồng trại
Hình 3.1: Trang trại chăn nuôi lợn thịt tại một số trang trại
trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Trang 31Hầu hết các trang trại đều vệ sinh và tắm cho lợn 01 lần/ngày Các trang trại đều bố trí công nhân dọn vệ sinh chuồng trại Trên thực tế điều tra, cho thấy với quy
mô nhỏ hơn 500 con, các trang trại thường kết hợp với nuôi cá, tận dụng chất thải của chăn nuôi để làm thức ăn cho cá Các trang trại quy mô lớn hơn thì có xử lý chất thải, trong đó một số trang trại có tách phân lợn trước khi xử lý nước thải, nhưng có một số trang trại cho phân lợn vào xử lý cùng nước thải
3.1.2 Tình hình chăn nuôi trâu bò ở quy mô trang trại
Trâu, bò là các loài vật nuôi ăn cỏ, có thể lợi dụng tốt đồng cỏ và các phụ phẩm nông - công nghiệp để tạo thành thịt, sữa, sức kéo Đàn trâu, bò phân bố ở nhiều vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau nhưng tập trung ở miền núi và trung
du Đàn trâu, bò phần lớn nuôi trong nông hộ (2-3 con/hộ) theo phương thức quảng canh, bán thâm canh Đàn bò sữa và thịt đã được quan tâm phát triển mạnh trong những năm gần đây Hiện nay trên địa bàn tỉnh đã hình thành những trang trại bò sữa, bò thịt Một số vùng trâu, bò được dùng để cày, kéo nhưng nhu cầu cung cấp sức kéo (đặc biệt ở trâu) ngày càng giảm
3.1.2.1 Chăn nuôi bò thịt
Trong các trang trại được điều tra, có 01 trang trại chăn nuôi bò thịt tại xóm
4, xã Nghi Lâm, huyện Nghi Lộc Giống bò được nhập từ Úc Số lượng bò mỗi đợt nhập khoảng 3.000- 3.500 con về Việt Nam qua Cảng Cửa Lò về trang trại có trọng lượng từ 300- 350kg/con khi về trang trại sẽ được chăm sóc, vỗ béo để tăng trọng lượng của bò lên 450-500kg/con để xuất dần cho các lò mỗ trong thời gian khoảng
2 tháng Thức ăn để vỗ béo bò là thức ăn tinh khoảng 2,5kg/con/ngày và thức ăn thô xanh có bổ sung rỉ mật (Cỏ, ngô, răm tươi hay khô được xử lý mềm hóa và tăng độ đạm) với lượng khoảng 30/kg/con/ngày
Nước uống cho bò trung bình 50 lít/con/ngày Đối với bò thịt thì hầu như không sử dụng nước phục vụ vệ sinh chuồng trại Nước tiểu của bò ngấm vào phân
và được thu dọn khi thu gom phân bằng cách sử dụng máy cào phân, sau đó dùng vôi bột để khử trùng
Trang 32Hình 3.2: Trang trại chăn nuôi bò thịt trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Nước thải của trang trại chăn nuôi bò thịt khác hoàn toàn về khối lượng cũng như chất lượng của nước thải các trang trại chăn nuôi bò sữa Đối với bò thịt, thường không tắm rửa vệ sinh cho bò, việc vệ sinh chuồng nuôi chủ yếu dùng máy cào phân, không sử dụng nước để vệ sinh chuồng nuôi Do đó, lượng nước thải ra là rất ít Nước tiểu của bò thường được ngấm vào phân, chỉ một lượng rất nhỏ chảy theo sàn về các mương thu gom
3.1.2.2 Chăn nuôi bò sữa
Giống bò sữa được nhập khẩu từ Úc và New Zealand về Việt Nam và các
bò cái sau khi cho sữa ở các trang trại Trọng lượng bò sữa lúc trưởng thành đạt khoảng 400 ÷ 700kg/con Bò sữa nếu chỉ ăn khẩu phần là thức ăn thô xanh thì chỉ tạo ra được 5 lít sữa/ngày, muốn có lít sữa thứ 6 trở đi đòi hỏi cần cung cấp cho bò lượng thức ăn tinh 0,5 kg/lít Thức ăn tinh này đòi hỏi phải có sự cân đối về thành phần các loại thức ăn tham gia cấu tạo nên nó
- Nhu cầu về nước uống: Nước rất cần thiết cho bò sữa, bò vắt sữa có thể tiêu thụ 3 ÷ 4 kg lít cho mỗi lít sữa Khi bò uống đủ nước thì hoạt động của tuyến nước bọt sẽ tốt, điều này tạo cho bò sữa thèm ăn hơn Cách tốt nhất là để cho bò sữa uống nước tự do Trung bình nước uống của bò sữa khoảng 15-20lit/100kg cân nặng
Trang 33Hình 3.3: Trang trại chăn nuôi bò sữa
- Tắm chải cho bò: Bò được tắm chải thường xuyên, vào mùa hè trước khi vắt sữa được tắm sạch sẽ Mùa đông do thời tiết giá rét nên bò thường được tắm chải khô, dùng bàn chải cạo hết phân bám trên cơ thể bò Tắm cho bò có tác dụng kích thích các hệ thống vi mao quản hoạt động tốt hơn, giảm thiểu được khả năng gây stress cho bò, tạo cho bò cảm giác thoải mái Ngoài ra, Trước khi vắt sữa bò được vệ sinh bầu vú sạch sẽ, nếu phần thân sau bẩn tắm cho sạch Dùng nước ấm 37
÷ 40oC để lau bầu vú, khăn lau dùng riêng mỗi con một khăn
- Vệ sinh dụng cụ: Các loại dụng cụ sau khi sử dụng đều vệ sinh sạch sẽ bằng các hóa chất chuyên dùng không ảnh hưởng đến chất lượng sữa, nước dùng để rửa dụng cụ này là nước sạch
- Vệ sinh người vắt: Người vắt sữa phải nhẹ nhàng, có hiểu biết và quý mến
bò Người vắt sữa không được mắc các bệnh truyền nhiễm, móng tay được cắt ngắn, sử dụng quần áo bảo hộ lao động luôn luôn sạch sẽ, trước khi vắt sữa tay rửa bằng xà phòng và lau khô
Tổng lượng nước cung cấp cho bò là khoảng 140 lit/con/ngày
Theo định mức thì nước thải từ bò sữa khoảng 100 lit/con/ngày [7]
Trang 343.2 Đánh giá chung về môi trường trong chăn nuôi gia súc tập trung
3.2.1 Hiện trạng sử dụng chuồng trại trong chăn nuôi gia súc tập trung
Hiện nay, các trang trại chăn nuôi gia súc tập trung trên địa bàn tỉnh Nghệ An đang sử dụng các kiểu chuồng trại: Chuồng nuôi cải tiến, chuồng nuôi công nghiệp
Chuồng nuôi cải tiến: khác với kiểu chuồng nuôi truyền thống, chuồng nuôi
cải tiến đã có sự đầu tư về kinh phí của chủ hộ chăn nuôi Chuồng nuôi đã tách rời
hố chứa phân, chất thải, nước rửa chuồng được chảy dồn ra bên ngoài vào hố chứa phân Chuồng nuôi cải tiến hàng ngày được dọn vệ sinh một hoặc hai lần tuỳ vào độ bẩn hay sạch của chuồng Trong chuồng đã có những chỗ quy định riêng để cho ăn,
cho uống hợp lý…
Chuồng nuôi công nghiệp: gia súc được nuôi theo từng ô phù hợp với sinh
lý từng lứa tuổi Kiểu chuồng nuôi này thường được xây dựng theo mẫu thiết kế chung, có hệ thống thông gió, hệ thống làm mát khi thời tiết nóng; có hệ thống bạt che khi thời tiết lạnh Kiểu chuồng nuôi công nghiệp thường được áp dụng tại các mô hình chăn nuôi trang trại, có hệ thống máng ăn, vòi nước uống tự động riêng biệt,
Từ kết quả điều tra cho thấy:
- Kiểu chuồng chăn nuôi cải tiến là chiếm tỷ lệ 36%
- Kiểu chuồng chăn nuôi theo quy mô công nghiệp chiếm tỷ lệ 64%
Kiểu chuồng nuôi cải tiến hiện nay đang phổ biến, phù hợp với quy mô chăn nuôi gia trại và điều kiện kinh tế của từng gia đình Các hộ xây dựng chuồng trại chăn nuôi theo kiểu cải tiến đã góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, vệ sinh chuồng trại được thuận tiện và dễ dàng hơn kiểu chuồng nuôi truyền thống
3.2.2 Vị trí chuồng trại chăn nuôi
Các trang trại chăn nuôi không đảm bảo về khoảng cách đối với khu dân cư
và các công trình như nhà ở, bệnh viện, trường học ngoài việc gây ô nhiễm về không khí, ô nhiễm mặt đất, ô nhiễm nguồn nước ngầm, ô nhiễm nguồn nước bề mặt, ô nhiễm về tiếng ồn… mà còn gây ra dịch bệnh cho gia súc và cả con người
Trang 35Theo tiêu chuẩn quy hoạch xây dựng nông thôn do Bộ Xây dựng ban hành theo Thông tư số 31/2009/TT-BXD ngày 10 tháng 9 năm 2009, khoảng cách ly vệ sinh giữa trại chăn nuôi tập trung với khu dân cư tối thiểu phải lớn hơn 200 m
Theo kết điều tra cho thấy: Hầu hết các trang trại đều nằm cách xa khu dân
cư, một số trang trại nằm gần khu dân cư nhưng vẫn tận dụng được không gian rộng, phù hợp với cho việc phát triển trang trại kết hợp chăn nuôi và thủy sản, cụ thể như sau:
- 02/22 trang trại có khoảng cách đến khu dân cư nhỏ hơn 200m (chưa đúng với tiêu chuẩn quy hoạch xây dựng);
- 10/22 trang trại có khoảng cách đến khu dân cư gần nhất từ 200-1000m;
- 10/22 trang trại có khoảng cách đến khu dân cư gần nhất lớn hơn 1000m Đây là các trang trại được bố trí giữa các cánh đồng, thuận tiện cho việc tiêu thoát nước
Các trang trại chăn nuôi gia súc tập trung nằm gần khu vực dân cư chiếm 10% số trang trại điều tra Mặc dù việc quy hoạch tổng thể cho phát triển chăn nuôi gia súc tập trung trên địa bàn tỉnh Nghệ An chưa có nhưng đối với mỗi trang trại trước khi lựa chọn để xây dựng đã có sự kiểm soát của các cơ quan chức năng, trong đó yếu tố bảo vệ môi trường cũng được coi trọng, đặc biệt là các trang trại với quy mô lớn
3.2.3 Hiện trạng sử dụng thức ăn trong chăn nuôi
Việc sử dụng thức ăn trong chăn nuôi có ý nghĩa lớn đối với các hộ chăn nuôi trong việc tăng trọng của gia súc để đạt hiệu quả cao trong chăn nuôi Ngoài ra, việc sử dụng thức ăn trong chăn nuôi liên quan rất lớn đến nguy cơ gây ô nhiễm môi trường
Các loại thức ăn thường được sử dụng trong chăn nuôi gia súc tập trung thức
ăn tự phối chế và thức ăn công nghiệp Thức ăn tự phối chế do chất lượng dinh dưỡng kém, không cân bằng hàm lượng các chất trong khẩu phần, con vật phải sử dụng lượng thức ăn lớn dẫn tới chất thải trong chăn nuôi nhiều Thức ăn công
Trang 36nghiệp do chất lượng và hàm lượng dinh dưỡng cao nên lượng chất thải cũng ít hơn
so với sử dụng thức ăn tự phối chế
Việc sử dụng thức ăn trong chăn nuôi liên quan rất lớn đến thải lượng và thành phần chất thải phát sinh Thức ăn tận dụng do chất lượng dinh dưỡng kém, không cân bằng hàm lượng các chất trong khẩu phần, con vật phải sử dụng lượng thức ăn lớn (4-4,5 kg thức ăn/kg tăng trọng), dẫn tới chất thải trong chăn nuôi nhiều (3-3,5 kg phân/lợn/ngày) Thức ăn công nghiệp do chất lượng và hàm lượng dinh dưỡng cao, chi phí thức ăn thấp (2,2-2,4 kg/kg tăng trọng) nên lượng chất thải cũng
ít hơn so với sử dụng thức ăn tận dụng Việc sử dụng thức ăn tận dụng, thức ăn đậm đặc trộn với cám, ngô có sẵn tại gia đình ngoài việc làm tăng chi phí trong chăn nuôi còn góp phần làm tăng lượng chất thải, tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường
Kết quả điều tra cho thấy: Số trang trại sử dụng thức ăn công nghiệp chiếm: 87-100% Một số lớn trang trại chăn nuôi thường sử dụng cả hai loại thức ăn tự phối chế và thức ăn công nghiệp (13%) Các trang trại chăn nuôi lợn sử dụng hoàn toàn bằng thức ăn công nghiệp Chăn nuôi trâu, bò ngoài thức ăn tự phối chế chủ trang trại cho ăn bổ sung thức ăn công nghiệp khi cần vỗ béo hoặc đảm bảo chất lượng sữa nếu là bò sữa
3.2.4 Hiện trạng sử dụng nước cấp tại các trang trại chăn nuôi gia súc tập trung trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Trong chăn nuôi nước có vai trò rất quan trọng Nước được dùng vào các mục đích: cho gia súc uống, tắm cho gia súc và dùng để vệ sinh chuồng trại Hầu hết các trang trại chăn nuôi gia súc tập trung trên địa bàn tỉnh đều sử dụng nguồn nước ngầm hoặc nước giếng khơi và nước tái sử dụng lại để cấp cho chăn nuôi
Hiện nay, nguồn nước chính cung cấp nước gia súc uống là nước giếng khoan và giếng đào Đa số các giếng này được đào tương đối gần với chuồng nuôi
và hố thải
Theo thực tế điều tra cho thấy: Các trang trại chăn nuôi sử dụng nguồn nước ngầm làm nước cấp cho gia súc là chủ yếu Đối với các trang trại chăn nuôi, nước được lấy trực tiếp từ giếng khoan, qua bể lắng cấp trực tiếp qua vòi nước uống tự
Trang 37động Về lượng nước sử dụng cho chăn nuôi, khi điều tra các chủ trang trại đa phần không nắm cụ thể được lượng nước sử dụng cho trang trại của mình do không có số liệu đo kiểm Tuy nhiên, theo đánh giá sơ bộ từ khâu lập dự án thì ước tính lượng nước sử dụng cho nuôi lợn khoảng 25 lít/con/ngày [6], bao gồm nước uống cho lợn được bố trí bằng vòi tự động và nước vệ sinh chuồng trại, nước cung cấp cho bò sữa khoảng khoảng 140 lít/con/ngày [8], đối với bò thịt thì lượng nước cung cấp ít hơn qua hệ thống vòi tự động, không sử dụng nước để vệ sinh cho bò.
Hầu hết các trang trại chăn nuôi lớn xin cấp phép khai thác sử dụng nước Có 04/22 trang trại đã được cấp giấy phép khai thác sử dụng nước, số còn lại chưa làm thủ tục xin khai thác và sử dụng nước Do không ý thức được việc sử dụng nước phải được sự đồng ý của cơ quan chức năng nên các chủ trang trại chưa có ý thức tiết kiệm nước trong quá trình sử dụng
Phần lớn các trang trại chăn nuôi chưa có sự kiểm tra chất lượng nước cấp cho chăn nuôi theo tiêu chuẩn thú y đưa ra Hiện nay chỉ có các trang trại chăn nuôi lớn khi xây dựng trại có kiểm tra chất lượng nước cấp cho chăn nuôi, định kỳ sau đó
có kiểm tra Các trang trại khác hầu như không có kiểm tra chất lượng nước trước khi xây dựng và định kỳ Nguồn nước cấp cho chăn nuôi thường được sử dụng theo kinh nghiệm, một số trang trại sử dụng trực tiếp nguồn nước mặt không qua xử lý cho gia súc uống
Đối với nước cấp sử dụng cho mục đích vệ sinh chuồng trại, các chủ trang trại thường tái sử dụng nước thải Một số trang trại với quy mô nhỏ thì sử dụng nước cấp cho gia súc uống và nước vệ sinh chuồng trại cùng một nguồn
Theo kết quả phân tích chất lượng nước cấp 100% các mẫu nước cấp có chỉ tiêu kim loại nặng As, CN-, Pb, Hg đều dưới mức cho phép của QCVN01-14/2010 BNNPTNT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia điều kiện trại chăn nuôi lợn
an toàn sinh học
Coliform tổng số: có 07/22 mẫu đạt chuẩn theo quy định của 14/2010 BNNPTNT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia điều kiện trại chăn nuôi lợn an toàn sinh học Có 15/22 mẫu vượt chuẩn
Trang 38QCVN01-3.2.5 Về hệ thống xử lý nước thải
Nước thải chăn nuôi có các thành phần chất hữu cơ, chất vô cơ, các vi sinh vật…; chứa thông số BOD5, Nitơ tổng số, Phốtpho tổng số rất lớn Đây là một nguồn thải có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao nếu không được kiểm soát và xử lý
Nước thải chăn nuôi nước ta hiện nay phân lớn chỉ mới được thu gom tại hố chứa phân hoặc xử lý bằng biogas Hiện trạng thu gom và xử lý nước thải tại các trang trại chăn nuôi gia súc tập trung trên địa bàn tỉnh Nghệ An cũng như tình trạng chung cả nước[TLTK]
Đối với các trang trại chăn nuôi gia súc trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã được cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại đều xây dựng hệ thống thu gom chất thải Một số trang trại tận dụng chất thải để làm thức ăn cho nuôi trồng thủy sản, số còn lại xử lý nước thải bằng phương pháp biogas Hệ thống xử lý nước thải chăn nuôi gia súc ở các trang trại đang ở mức đơn giản Ở các trang trại này, chủ yếu tận dụng diện tích trang trại lớn để làm các hồ sinh học lưu giữ và xử lý nước thải sau biogas
Đó cũng chính là lý do mà hầu hết các trang trại được xây dựng xa khu dân cư, có diện tích rộng, một số trang trại nằm trong thung lũng của các dãy núi để thuận tiện trong quá trình xử lý chất thải
Nước thải chăn nuôi được thu gom xử lý chiếm 68% trang trại điều tra Nước thải chăn nuôi các trang trại còn lại được thải thẳng xuống ao cá, ngay bên cạnh chuồng nuôi, các ao trong khu vực nuôi, mương tưới tiêu của khu vực dân cư xung quanh
Các trang trại chăn nuôi gia súc tập trung sử dụng các công trình xử lý nước thải: bể lắng, hầm biogas Nước thải sau bể lắng một số trang trại chăn nuôi dùng để tưới cho cây trồng trong đó có hoa màu Nước sau biogas xả ra ao nuôi cá, mương thoát nước của khu dân cư Về cơ bản, các trang trại đầu tư hệ thống xử lý nước thải như sau:
Nước thải
chăn nuôi
Xử lý bằng biogas
Xử lý bằng phương pháp sinh Nguồn tiếp nhận
Trang 39Sau đây là một số hình ảnh của xử lý nước thải tại một số trang trại trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Hình 3.4 Bể điều hòa, điều chỉnh pH
Hình 3.5 Xử lý nước thải bằng biogas tại các trang trại chăn nuôi trên địa bàn
tỉnh Nghệ An
Trang 40Hình 3.6 Nước thải qua bể lắng
Hình 3.7 Nước thải qua hồ sinh học có sục khí