Do đó quyền sống của con người bị ảnh hưởng trực tiếp hàng ngày bởi sự xuống cấp của chất lượng môi trường, như: ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất đai, rác thải sinh hoạ
Trang 1iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
DANH MỤC CÁC ẢNH viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Khái quát về Quyền trong bảo vệ môi trường 3
1.1.1 Mối quan hệ giữa môi trường với quyền con người 3
1.1.2 Nội dung nguyên tắc và các quyền con người về môi trường 6
1.2 Tiếp cận Quyền trong bảo vệ môi trường cấp cơ sở trên thế giới và tại Việt Nam 10
1.2.1 Kinh nghiệm trên thế giới 10
1.2.2 Kinh nghiệm của Việt Nam 15
1.3 Khái quát về phường Khương Trung, Thanh Xuân, Hà Nội 19
Chương 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.2 Nội dung nghiên cứu 23
2.3 Phương pháp nghiên cứu 24
2.3.1 Thu thập và phân tích tài liệu thứ cấp 24
2.3.2 Phương pháp tham vấn ý kiến cộng đồng 24
2.3.3 Phương pháp tham kiến chuyên gia 25
2.3.4 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 25
Chương 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
3.1 Đánh giá thực trạng môi trường ở phường Khương Trung 26
3.2 Xác định các vấn đề môi trường ưu tiên ở phường Khương Trung 35
Trang 2iv
3.3 Vai trò của các tổ chức quần chúng - xã hội và cộng đồng dân cư trong bảo
vệ môi trường tại phường Khương Trung 37
3.4 Khả năng áp dụng tiếp cận Quyền trong bảo vệ môi trường ở phường Khương Trung 43
3.5 Đề xuất giải pháp phát huy Quyền trong bảo vệ môi trường tại phường Khương Trung 51
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 55
Kết luận 55
Khuyến nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
Tiếng Việt 56
Tiếng Anh 57
PHỤ LỤC 58
Trang 3v
BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 BVMT: Bảo vệ môi trường
2 ĐTM: Đánh giá tác động môi trường
3 ĐMC: Đánh giá môi trường chiến lược
4 LHQ: Liên hiệp quốc
5 NGO: Tổ chức phi chính phủ
6 NQ/ TW: Nghị quyết/ Trung ương
7 OECD: Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
8 QCN: Quyền con người
9 UNEP: Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc
10 WHO: Tổ chức Y tế thế giới
Trang 4vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Nguồn phát sinh chất thải rắn trên địa bàn phường Khương Trung 27
Bảng 3.2: Phân loại rác thải từ các nguồn thải khác nhau 29
Bảng 3.3: Tổng lượng rác thải phát sinh tại phường Khương Trung 29
Bảng 3.4: Ý kiến đánh giá môi trường sống ở phường Khương Trung 32
Bảng 3.5: Ý kiến đánh giá vấn đề ô nhiễm môi trường ởphường Khương Trung 33
Bảng 3.6: Ý kiến đánh giá tình trạng ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe người dân 34
Bảng 3.7: Ý kiến của người dân về vấn đề môi trường cần quan tâm ở phường Khương Trung 36
Trang 5vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang Hình 3.1: Biểu đồ Khối lượng rác thải rắn theo các nguồn thải 28Hình 3.2: Biểu đồ đánh giá tình hình vệ sinh môi trườngphường Khương Trung 31Hình 3.3: Biểu đồ Ý kiến đánh giá môi trường sống ở phường Khương Trung 32
Trang 6viii
DANH MỤC ẢNH
Trang
Ảnh 1: Phố Khương Trung dọc theo dòng sông Tô Lịch 71
Ảnh 2: Điểm tập kết xe rác gần sông Tô Lịch 71
Ảnh 3: Điểm tập kết xe rác dọc cổng Trường Tiểu học Nguyễn Trãi 72
Ảnh 4: Điểm tập kết xe rác 72
Ảnh 5: Nhân viên Xí nghiệp Môi trường đô thị số 4 thu gom rác 73
Ảnh 6: Tác giả phỏng vấn trực tiếp dân cư phường Khương Trung 73
Trang 71
MỞ ĐẦU
Do có sự khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, trình độ phát triển kinh tế, xã hội, chế độ chính trị, giá trị truyền thống, văn hóa dân tộc, nên cách tiếp cận quyền con người (Right-based Approach) có sự khác nhau giữa các quốc gia, dân tộc Nhưng quyền con người (QCN) có thể hiểu một cách đơn giản nhất, đó là những đặc quyền
tự nhiên mà mỗi người khi sinh ra đều có, không phân biệt về độ tuổi, trình độ, nghề nghiệp, địa vị xã hội, ngôn ngữ, chính kiến, dân tộc, sắc tộc, giới tính Các quyền và tự do của con người được ghi nhận và đảm bảo bằng hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế
Tuy nhiên, trong thực tế các hoạt động của con người đã làm suy kiệt tài nguyên và môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng ở các cấp độ Điều này đã tác động mạnh và trực tiếp tới sức khỏe và đời sống của con người trên phạm vi toàn cầu và
ở các quốc gia Do đó quyền sống của con người bị ảnh hưởng trực tiếp hàng ngày bởi sự xuống cấp của chất lượng môi trường, như: ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất đai, rác thải sinh hoạt, các làng nghề và khu công nghiệp,… Môi trường không được đảm bảo, các quyền con người không thể thực hiện tốt, vì môi trường có liên quan và tác động trực tiếp tới quyền hưởng thụ của mỗi cá nhân và cộng đồng Vì vậy, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường của con người là yêu cầu thiết yếu để bảo vệ cuộc sống của chính họ, điều kiện tiên quyết bảo đảm nhân phẩm ở góc độ đạo đức môi trường và giá trị của con người, phát triển và hoàn thiện nhân cách con người trong cách ứng xử với môi trường
Như vậy, môi trường có mối quan hệ chặt chẽ với sức khỏe và quyền con người, ít nhất là quyền được sống trong môi trường lành mạnh và quyền thực hiện nghĩa vụ của họ trong bảo vệ môi trường Đó là cơ sở, nền tảng thiết yếu để hiện thực hóa quyền con người trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, đặc biệt ở cấp cơ sở Chính vì thế, Tiếp cận Quyền (Right-based Approach) trong bảo vệ môi trường đã được các tổ chức quốc tế đề xuất và áp dụng trong những năm gần đây Nhận thức
rõ điều đó ở nước ta, Nhà nước đã ban hành Quy chế dân chủ ở cơ sở để thực hiện
Trang 82
các nguyên tắc “Dân biết, Dân bàn, Dân làm và Dân kiểm tra” Đặc biệt, từ năm
2012 Việt Nam đã bắt đầu xem xét và triển khai cách Tiếp cận Quyền trong bảo vệ môi trường ở cấp cơ sở nhằm phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng - xã hội
và cư dân địa phương tham gia tích cực trong công tác bảo vệ môi trường
Phường Khương Trung thuộc quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội là một phường có cư dân thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau và nằm ven sông Tô Lịch Trong phường này nhiều vấn đề môi trường nảy sinh như chất thải sinh hoạt, chất thải rắn, chất thải làng nghề, ô nhiễm bụi, xả thải ra sông Tô Lịch,… Mặc dù
đã có những nỗ lực bước đầu trong quản lý các vấn đề môi trường nói trên, nhưng chưa lôi cuốn được sự tham gia tích cực và chủ động của các đoàn thể quần chúng -
xã hội, của cộng đồng dân cư Để cải thiện tình hình, phát huy hơn nữa vai trò của các đoàn thể quần chúng - xã hội, và cộng đồng địa phương trong bảo vệ môi trường ở phường này rất cần cách tiếp cận mới Chính vì thế, tôi đã mạnh dạn chọn
đề tài “Nghiên cứu áp dụng tiếp cận quyền trong bảo vệ môi trường tại phường Khương Trung, Thanh Xuân, Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ khoa
học môi trường
Trang 93
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái quát về Quyền trong bảo vệ môi trường
Môi trường có mối quan hệ mật thiết với sức khỏe và quyền con người Vì vậy, bên cạnh việc áp dụng các biện pháp khoa học, kỹ thuật, hành chính, pháp luật… trong bảo vệ môi trường Hướng tiếp cận quyền con người trong bảo vệ môi trường hiện đang được xem là có hiệu quả, đã được nhiều nước áp dụng, nhất là những nước phát triển Tuy nhiên, ở nước ta, hướng tiếp cận này khá mới mẻ, vì vậy, việc tìm hiểu mối quan hệ giữa môi trường với quyền con người và kinh nghiệm quốc tế trong vận dụng cách tiếp cận quyền trong bảo vệ môi trường rất có
ý nghĩa đối với Việt Nam hiện nay
1.1.1 Mối quan hệ giữa môi trường với quyền con người
Từ phương diện lý luận và thực tiễn bảo vệ môi trường và quyền con người, các học giả, các nhà hoạt động thực tiễn trên lĩnh vực môi trường và quyền con người ở nhiều nước trên thế giới đã chỉ ra sự tương tác qua lại giữa môi trường với sức khỏe và quyền con người Có thể khái quát mối quan hệ này, trên ba khía cạnh chính sau:
Thứ nhất, môi trường là vấn đề của quyền con người
Hiến chương Liên hiệp quốc (LHQ) năm 1945 thiết lập những nguyên tắc cơ bản về tôn trọng nhân phẩm, giá trị vốn có, bảo vệ quyền và các tự do cơ bản của con người Tiếp sau đó, Đại hội đồng LHQ đã ban hành một loạt các tuyên bố và công ước quốc tế về quyền con người, chính thức đặt nền móng cho sự hình thành
và phát triển ngành luật quốc tế về quyền con người Tuyên bố Stockholm năm
1972 được xác định là cột mốc đầu tiên cho sự gắn kết hai vấn đề tưởng chừng là hai lĩnh vực riêng biệt trong hoạch định chính sách công, nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau [18]
Trang 104
Trong Tuyên bố Stockholm [17], Nguyên tắc 1 đã thiết lập nền tảng mối quan hệ giữa quyền con người với bảo vệ môi trường, rằng: “Con người có các quyền cơ bản về tự do, bình đẳng và điều kiện sống tối thiểu trong môi trường trong lành, bình đẳng cho phép con người có cuộc sống trong nhân phẩm và hạnh phúc” Tiếp đó, Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về Môi trường và Phát triển bền vững năm
1992 được tổ chức tại thành phố Rio de Janeiro, Brazil đã đưa ra công thức liên kết giữa quyền con người và bảo vệ môi trường trong một số thuật ngữ có tính thủ tục Nguyên tắc 10 tuyên bố: “Vấn đề môi trường phải được giải quyết một cách tốt nhất với sự tham gia của tất cả các cá nhân liên quan, ở cấp độ thích hợp Cấp độ quốc gia, mỗi cá nhân sẽ được tiếp cận thông tin thích hợp liên quan đến môi trường, do các cơ quan công quyền lưu giữ, bao gồm cả thông tin về các chất và hoạt động nguy hiểm trong cộng đồng của họ, và có cơ hội được tham gia trong quá trình ban hành các quyết định Các quốc gia sẽ phải tạo điều kiện, tăng cường nhận thức và kêu gọi sự tham gia của cộng đồng trong việc phổ biến thông tin rộng rãi Cơ hội tiếp cận một cách hiệu quả với tư pháp và các thủ tục hành chính, bao gồm cả việc bồi thường và đền bù thiệt hại phải được bảo đảm” [19]
Sự gắn kết giữa môi trường và quyền con người được thể hiện khá rõ đối với việc bảo đảm thực hiện các quyền như: quyền được sống; sự toàn vẹn thân thể của mỗi cá nhân, của đời sống mỗi gia đình; quyền đối với sức khỏe, thịnh vượng và phát triển của mỗi cá nhân, cũng như nhóm và cộng đồng xã hội… Tất cả các quyền này đều phụ thuộc vào môi trường sống, môi trường tự nhiên xung quanh con người Và đây được xác định là cơ sở quan trọng cho cuộc sống của tất cả mọi cá nhân và cộng đồng xã hội
Hiện nay, sức khỏe của con người đang bị ảnh hưởng ngày càng lớn và hệ quả ngày càng trầm trọng do sự xuống cấp nghiêm trọng của môi trường và hệ sinh thái Và chính sự ô nhiễm môi trường, sự hủy hoại môi trường tự nhiên đều trực tiếp tác động đến việc hưởng thụ quyền con người của tất cả mọi người Vì thế, nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của con người là phải nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo
Trang 115
đảm quyền được sống trong môi trường trong lành, bảo đảm sức khỏe môi trường
Do vậy, cộng đồng thế giới thừa nhận môi trường chính là vấn đề của quyền con người
Thứ hai, bảo vệ môi trường là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa quyền con người
Một sự thật hiển nhiên là, các quyền con người không thể thực hiện được nếu môi trường không được bảo đảm, vì môi trường có liên quan và tác động trực tiếp tới hưởng thụ nhân quyền của mỗi cá nhân và cộng đồng Vì vậy, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường của con người là nhu cầu thiết yếu để bảo vệ cuộc sống con người, điều kiện tiên quyết bảo đảm nhân phẩm và giá trị của con người, phát triển và hoàn thiện nhân cách con người và tạo ra đặc tính thúc đẩy phúc lợi cho mỗi cá nhân, tập thể và cả cộng đồng xã hội
Các hoạt động của con người đã làm cho môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu và chính sự ô nhiễm này đã gây hại cho sức khỏe con người Do vậy quyền sống của con người đang bị ảnh hưởng trực tiếp hàng ngày do
sự ô nhiễm về không khí, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm nguồn đất,…
Theo pháp luật về môi trường và luật nhân quyền quốc tế, trách nhiệm bảo vệ môi trường và quyền con người trước hết thuộc về Nhà nước Nhà nước
có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ và thực hiện các quyền con người về môi trường
Thứ ba, bảo vệ và thực hiện tốt quyền con người là điều kiện thiết yếu để có chính sách tốt về môi trường
Để có chính sách tốt về bảo vệ môi trường, đòi hỏi các quyền con người phải được bảo đảm thực hiện Nhiều nhà nghiên cứu, nhà hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực môi trường cho rằng, để có được chính sách tốt về môi trường chỉ có thể thông qua việc bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin, sự tham gia của dân chúng trong việc ban hành các quyết định về môi trường và tiếp cận tư pháp liên quan tới môi trường Các quyền này được gọi là các quyền có tính chất thủ tục (procedural rights)
Trang 126
Thực tiễn cho thấy, quyền tiếp cận thông tin, sự tham gia của công chúng và
tiếp cận tư pháp có tác động rất lớn đến việc hiện thực hóa các quyền về môi trường [14] Các quyền này nhằm giúp cho công dân đóng vai trò tích cực, chủ
động hơn đối với các quyết định, chính sách của Nhà nước có liên quan tới môi trường; thực hiện dân chủ hóa đối với các quyết định, chính sách về môi trường, thông qua việc đưa cá nhân, các nhóm tư nhân và những người thường xuyên hứng chịu sự tác động và ảnh hưởng bởi sự ô nhiễm môi trường tham gia vào hoạch định chính sách có liên quan tới môi trường Chính sự tham gia này, sẽ hạn chế quyền lực “quan liêu” của những người ban hành chính sách, bảo đảm sự cân bằng giữa lợi ích bảo vệ môi trường - phát triển bền vững với nhu cầu tăng trưởng kinh tế Và vì vậy, việc thực hiện các quyền có tính chất thủ tục này là rất quan trọng để có được chính sách tốt về môi trường và qua đó sẽ tạo ra một môi trường bảo đảm cho sức khỏe, bảo vệ lợi ích số đông, lợi ích cộng đồng, bảo vệ những người dễ bị tổn thương trong xã hội, như trẻ em, phụ nữ, người nghèo, dân tộc thiểu số,…
1.1.2 Nội dung nguyên tắc và các quyền con người về môi trường
Do tính chất và tầm quan trọng trong bảo vệ quyền con người về môi trường, một bản dự thảo Tuyên ngôn về nguyên tắc và các quyền con người đã chính thức được một nhóm chuyên gia về nhân quyền và luật môi trường quốc tế trình lên các
cơ quan của LHQ để lấy ý kiến Trong bản dự thảo Tuyên ngôn, đã tuyên bố một cách toàn diện về các thành phần thiết yếu của quyền con người đối với môi trường Tuyên ngôn được thông qua là văn kiện pháp lý quan trọng nhất để thiết lập các chuẩn mực quốc tế về quyền con người với môi trường và phản ánh sự phát triển hướng tới sự công nhận và bảo đảm quốc tế đối với các quyền về môi trường
Dự thảo Tuyên ngôn gồm 27 điểm, 5 phần Lời nói đầu nhấn mạnh quyền tự quyết và quyền phát triển, và sự gắn kết giữa môi trường và quyền con người Đó là
“Sự vi phạm quyền con người dẫn tới sự xuống cấp của môi trường và sự xuống cấp của môi trường dẫn tới sự vi phạm quyền con người” [12]
Trang 137
a) Các nguyên tắc quyền con người về môi trường
Phần I của bản Dự thảo Tuyên ngôn đưa ra những khái niệm chung về các nguyên tắc [20]:
- Nguyên tắc 1: Khẳng định các quyền con người, môi trường sinh thái, phát
triển bền vững và hòa bình là phụ thuộc lẫn nhau và không thể chia cắt
- Nguyên tắc 2: Khẳng định mọi người có quyền đối với môi trường an toàn,
sức khỏe và môi trường sinh thái
- Nguyên tắc 3: Khẳng định quyền không phân biệt đối xử liên quan tới các
hành động và quyết định có tác động tới môi trường
- Nguyên tắc 4: Thiết lập nguyên tắc về tính công bằng đáp ứng nhu cầu của
các thế hệ hiện nay và mai sau
b) Nội dung các quyền con người đối với môi trường
Các quyền thiết yếu (substantive rights)
- Quyền của mọi người được sống trong môi trường không bị ô nhiễm, coi là một phần thiết yếu của quyền sống, sức khỏe, kế sinh nhai, sự thịnh vượng, hay phát triển bền vững dọc biên giới hoặc ngoài biên giới quốc gia
- Quyền được bảo vệ và bảo tồn không khí, đất trồng, nước, biển, thực vật, động vật, các quy trình thiết yếu và bảo vệ những khu vực cần thiết để duy trì sự đa dạng sinh học và hệ sinh thái
- Quyền có tiêu chuẩn cao nhất về sức khỏe môi trường, không bị ảnh hưởng bởi các thảm họa môi trường
- Quyền hưởng thụ thực phẩm, nước sạch vệ sinh, an toàn đối với sức khỏe
từ môi trường
- Quyền có môi trường lao động bảo đảm sức khỏe và an toàn
- Quyền nhà ở tối thiểu, đất đai, điều kiện sống an toàn, sức khỏe và môi trường sinh thái tốt
Trang 148
- Quyền không bị trục xuất khỏi nhà ở, đất đai vì mục đích hay là kết quả của những quyết định hay hành động ảnh hưởng tới môi trường, ngoại trừ trong trường hợp khẩn cấp hoặc vì lợi ích của toàn xã hội
- Quyền được tham gia một cách hiệu quả trong việc ban hành các quyết định liên quan tới việc trục xuất, di dời hay tái định cư; có đủ thời gian bảo đảm việc khôi phục, đền bù một cách hiệu quả hay thích hợp và có đủ chỗ ở hay đất đai
- Quyền được trợ giúp liên quan tới thảm họa tự nhiên hay thảm họa do con người gây ra
- Quyền được hưởng lợi một cách công bằng từ việc bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên
- Quyền của các dân tộc bản địa được kiểm soát đất đai, lãnh thổ và các nguồn tài nguyên thiên nhiên và duy trì bản sắc lối sống của họ Gồm cả quyền an ninh trong việc hưởng thụ các phương tiện sinh tồn
Các quyền thủ tục (procedural rights)
- Quyền tiếp cận thông tin liên quan tới môi trường
- Quyền giữ, bày tỏ quan điểm và tuyên truyền những ý tưởng và thông tin liên quan tới môi trường
- Quyền được giáo dục nhân quyền và môi trường
- Quyền được tham gia một cách tích cực, tự do và có ý nghĩa trong lập kế hoạch, ban hành quyết định, có tác động đến môi trường và phát triển Quyền này bao gồm quyền đánh giá tác động trước về môi trường, phát triển và hậu quả tác động của quyền con người đối với các đề xuất hành động
- Quyền tham gia hội họp một cách tự do và hòa bình với người khác với mục đích bảo vệ môi trường
- Quyền được bồi thường và đền bù thiệt hại một cách hiệu quả liên quan tới môi trường
Trang 159
c) Trách nhiệm và nghĩa vụ
- Tất cả mọi người, cá nhân và tập thể có nghĩa vụ bảo vệ và bảo tồn môi trường
- Nhà nước có trách nhiệm tôn trọng và bảo vệ quyền sống trong môi trường
an toàn, sức khỏe và bảo đảm phương kế sinh nhai
- Những biện pháp này nhằm mục đích ngăn ngừa tác hại của môi trường, bảo đảm đền bù tối thiểu, sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên và sẽ có nhiệm
vụ về:
+ Thu thập và phổ biến thông tin liên quan tới môi trường;
+ Đánh giá trước, kiểm soát, cấp giấy phép, ban hành quy định hay ngăn cấm các hoạt động và những nguồn gây hại tới môi trường;
+ Sự tham gia của công chúng vào việc ban hành các quyết định có liên quan; + Khôi phục và đền bù thiệt hại theo thủ tục tư pháp và hành chính đối với những thiệt hại do môi trường gây ra và những đe dọa;
+ Giám sát, quản lý và chia sẻ một cách công bằng nguồn tài nguyên thiên nhiên; + Có biện pháp kiểm soát chất thải gây hại;
+ Trong khi thực hiện nghĩa vụ về bảo vệ môi trường, phát triển bền vững và tôn trọng nhân quyền, có biện pháp bảo đảm hợp tác xuyên quốc gia;
+ Bảo đảm các tổ chức quốc gia và các cơ quan giám sát các quyền và nghĩa
vụ trong Tuyên ngôn này
d) Về những lưu ý đặc biệt
- Lưu ý quan tâm tới những người và những nhóm dễ bị tổn thương, bao gồm phụ nữ, trẻ em, người bản địa, người nhập cư và người nghèo
- Các quyền nêu trong bản Tuyên ngôn này, chỉ có thể bị hạn chế theo luật và
là cần thiết để bảo vệ trật tự công cộng, sức khỏe và các quyền tự do cơ bản của những người khác
Trang 16Sự phát triển bền vững của đất nước, chất lượng cuộc sống, sức khỏe của dân
cư và an ninh quốc gia chỉ có thể được bảo đảm trong điều kiện bảo tồn và gìn giữ được tình trạng môi trường trong sạch Sống trong môi trường trong lành được coi
là một quyền con người cơ bản [8] Ô nhiễm, suy thoái, phá hủy môi trường không chỉ gây tổn thất cho phát triển kinh tế, có thể phá hủy thành tựu tăng trưởng kinh tế, dẫn tới sự gia tăng nghèo đói, sự phân hóa và bất bình đẳng xã hội, mà còn gây ra nhiều bệnh tật nguy hiểm, làm tổn hại sức khỏe, đe dọa sinh mệnh của nhiều triệu con nguời, ảnh hưởng xấu đến an ninh con người và xã hội
1.2.1 Kinh nghiệm trên thế giới
Quyền con người, sức khỏe và bảo vệ môi trường là mối quan tâm lớn trên thế giới và có chiều hướng mở rộng trong vài thập kỷ qua Hiện nay, cộng đồng quốc tế đã tạo ra một loạt các văn kiện quy phạm pháp luật quốc tế, các cơ quan chuyên ngành và các cơ quan ở cấp toàn cầu Dường như mối quan hệ giữa quyền con người, sức khỏe và bảo vệ môi trường là những lĩnh vực để đối phó với các vấn
đề khác nhau và phát triển một cách độc lập
Trong nghị quyết 45/94 ngày 14/12/1990 về nhu cầu bảo đảm môi trường lành mạnh cho hạnh phúc của các cá nhân [17], Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đặt lại kết luận của tuyên bố Stockholm, nói rằng tất cả cá nhân có quyền được sống trong một môi trường đầy đủ cho sức khỏe và hạnh phúc của họ Nghị quyết đã nỗ
Trang 17vệ môi trường là một công cụ thiết yếu trong các nỗ lực để bảo đảm tận dụng phổ biến hiệu lực của quyền con người Ông Klaus Toepfer, Giám đốc điều hành của Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc, phản ánh các tiếp cận này trong tuyên
bố của ông trong kỳ họp từ 57 của Ủy ban Nhân quyền năm 2001: Quyền con người không thể được bảo đảm trong một môi trường bị suy thoái hoặc bị ô nhiễm Các quyền cơ bản cho cuộc sống của con người đang bị đe dọa bởi suy thoái đất, phá rừng và tiếp xúc với chất độc hại, chất thải nguy hại và nước uống bị ô nhiễm Điều kiện môi trường rõ ràng đã giúp để xác định mức độ mà mọi người thưởng thức các quyền cơ bản của họ và cuộc sống, sức khỏe, thực phẩm, nhà ở, sinh kế truyền thống và văn hóa Điều đó đã nhận ra rằng những người gây ô nhiễm, hủy hoại môi trường tự nhiên không chỉ phạm một tội ác chống lại thiên nhiên, nhưng cũng đang
vi phạm nhân quyền Đại hội tương tự cũng kêu gọi bảo tồn thiên nhiên là một điều kiện tiên quyết cho cuộc sống bình thường của con người
Trên thế giới có hơn hai triệu người chết hàng năm và hàng tỷ trường hợp bệnh được cho là do ô nhiễm môi trường Tất cả các nơi trên thế giới, con người đang trải nghiệm những tác động tiêu cực của hệ sinh thái, suy thoái môi trường, trong đó có tình trạng thiếu nước, cạn kiệt thủy sản, thảm họa thiên nhiên do nạn phá rừng và quản lý an toàn, xử lý chất thải và các sản phẩm độc hại và nguy hiểm Người dân bản địa đang bị ảnh hưởng trực tiếp từ những hiệu ứng tiêu cực của suy thoái môi trường đối với sức khỏe con người, hạnh phúc của con người và cũng đang gây ra những cái mới bao gồm cả sự gia tăng trong các sự kiện thời tiết khắc
Trang 1812
nghiệt và gia tăng lây lan của bệnh sốt rét Những sự thật này cho thấy rõ mối liên
hệ chặt chẽ giữa môi trường và các quyền con người, cũng như biện minh cho một cách tiếp cận tích hợp với môi trường và nhân quyền
Tiếp cận quyền trong bảo vệ môi trường (BVMT) cho phép nâng cao chất lượng sống của tất cả mọi người và con người trở thành trung tâm trong việc ban hành các chính sách, pháp luật Nhiều nước đã giải thích lại các quyền hiện có tính đến cả các mối quan tâm về môi trường Ví dụ, tòa án ở Ấn Độ đã mở rộng nội hàm khái niệm quyền sống, bao hàm cả các quy tắc liên quan đến BVMT Đó là quyền sống của con người không chỉ là sự tồn tại, mà bao hàm cả quyền được sống trong môi trường trong lành không bị ô nhiễm, cân bằng về hệ sinh thái và được Nhà nước bảo vệ
Ở châu Phi, châu Âu và châu Mỹ, các công ước nhân quyền khu vực đều cung cấp các bảo đảm cụ thể để bảo vệ quyền sức khỏe môi trường, công nhận tầm quan trọng của sự tham gia của cộng đồng liên quan tới các quyết định về môi trường Hiện có khoảng 60 nước trên thế giới đã công nhận trong Hiến pháp về quyền sức khỏe môi trường Ví dụ, Hiến pháp Nam Phi quy định mọi người có quyền có môi trường không gây hại tới sức khỏe và sự thịnh vượng của con người; Quyền có môi trường được bảo vệ vì lợi ích của các thế hệ hôm nay và mai sau [6]
Nhiều nước khác công nhận quyền tiếp cận thông tin và tìm kiếm các bồi thường thiệt hại do môi trường gây ra Ví dụ, Hiến pháp Liên bang Nga thừa nhận, quyền môi trường tối thiểu bao gồm tiếp cận thông tin chính xác và đền bù do gây hại tới sức khỏe con người hay tài sản do vi phạm môi trường [7] Bảo vệ bằng Hiến pháp đối với các quyền môi trường là cơ hội để người dân tác động lên Chính phủ đối với việc ban hành các quyết định có thể gây ảnh hưởng xấu đến cuộc sống và môi trường tự nhiên
Hiến chương châu Phi năm 1981 [5] công nhận quyền của tất cả mọi người có môi trường tối thiểu, nhằm thỏa mãn đối với sự phát triển và thịnh vượng chung của cộng đồng, xã hội Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) cũng quy định
Trang 1913
"Môi trường tối thiểu" nên được thừa nhận là quyền con người cơ bản Ủy ban Kinh
tế của Liên hiệp quốc về châu Âu (UNEEC) đã dự thảo Hiến chương về các quyền
và nghĩa vụ về môi trường, nhằm khẳng định mọi người đều có quyền môi trường tối thiểu [10]
Việc công nhận và thực hiện quyền môi trường trong bối cảnh phát triển bền vững đã chỉ ra mối quan hệ rõ ràng giữa bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền với việc bảo tồn, bảo vệ và khôi phục môi trường Điều này đòi hỏi cộng đồng quốc tế phải cùng nhau hợp tác và xây dựng các chuẩn mực chung để đối phó với thách thức ngày càng gia tăng đối với môi trường và phát triển
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau bàn về cách tiếp cận quyền trong việc bảo vệ môi trường Tiếp cận quyền trong bảo vệ môi trường cho phép nâng cao chất lượng sống của tất cả mọi người và con người trở thành trung tâm trong việc ban hành các chính sách, pháp luật Michael Anderson, tác giả nổi tiếng cuốn sách
“Tiếp cận quyền con người trong bảo vệ môi trường” [16] đã gợi ý ba cách tiếp cận:
Thứ nhất, huy động và sử dụng các quyền đang tồn tại để đạt được mục đích môi
trường; thứ hai, giải thích lại các quyền hiện có, tính đến cả các mối quan tâm về môi trường và thứ ba là tạo ra các quyền mới bao hàm đủ các đặc tính của môi
trường
- Thứ nhất, huy động và sử dụng các quyền đang tồn tại được quy định trong
Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm
1966
Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị cung cấp khuôn khổ pháp lý
và đạo đức bảo đảm quyền sống, quyền bình đẳng, quyền tham gia vào công việc nhà nước, xã hội; quyền bồi thường và đền bù thiệt hại…Sự bảo đảm này là điều kiện tiên quyết để huy động sự tham gia của mọi người trong bảo vệ môi trường Quy định và xác lập trách nhiệm của Nhà nước trong việc tôn trọng, bảo vệ và thực hiện các quyền và tự do cơ bản của cá nhân
Trang 20Quyền tập thể, như quyền tự quyết được quy định tại Điều 1 chung của hai công ước năm 1966 quy định: “Vì lợi ích của mình, các dân tộc có quyền tự do định đoạt các nguồn tài nguyên thiên nhiên và của cải của mình miễn là không làm phương hại đến các nghĩa vụ phát sinh từ hợp tác kinh tế, quốc tế, mà dựa trên nguyên tắc các bên cùng có lợi và các nguyên tắc của luật pháp quốc tế Trong bất
kỳ hoàn cảnh nào cũng không được phép tước đi những phương tiện sinh tồn của một dân tộc” [1]
- Thứ hai: Giải thích lại các quyền hiện có Nhiều nhà hoạt động môi trường
và quyền con người hiện nay cho rằng, huy động và sử dụng các quyền hiện có là chưa đủ để bảo vệ môi trường, do vậy các quyền hiện có nhất định phải được giải thích lại trong bối cảnh có sự liên quan của các vấn đề môi trường
Trên thế giới, nhiều nước đã giải thích lại các quyền hiện có như Tòa án ở
Ấn Độ đã giải thích lại các quyền hiện có trong Hiến pháp, mở rộng nội hàm khái niệm quyền sống, bao hàm cả các quy tắc liên quan đến bảo vệ môi trường Nhiều nước khác công nhận quyền tiếp cận thông tin và tìm kiếm các bồi thường thiệt hại
do môi trường gây ra Bảo vệ bằng Hiến pháp đối với các quyền môi trường là cơ hội để mọi người dân tác động lên Chính phủ đối với việc ban hành các quyết định
để có được cuộc sống cộng đồng dân cư và môi trường tự nhiên xung quanh lành mạnh
- Thứ ba, tạo ra các quyền mới: Tiếp cận này liên quan tới việc công nhận và
thực hiện quyền môi trường trong bối cảnh phát triển bền vững đã chỉ ra mối quan
Trang 211.2.2 Kinh nghiệm của Việt Nam
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết và không ngừng hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật nhằm kịp thời điều chỉnh các quan hệ xã hội có liên quan tới bảo vệ môi trường và hệ sinh thái Một loạt các văn bản pháp luật, như Luật Bảo vệ môi trường, Luật Tài nguyên nước, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Đa dạng sinh học,… và nhiều văn bản dưới luật đã được ban hành, tạo khuôn khổ pháp lý cho việc bảo vệ môi trường, hệ sinh thái ở nước ta Tuy nhiên, từ kinh nghiệm quốc tế và thực trạng thi hành pháp luật
về bảo vệ môi trường ở nước ta trong thời gian qua, cho thấy môi trường, hệ sinh thái ở nước ta không những chưa thực sự được cải thiện mà vẫn đang bị suy thoái
và xuống cấp nghiêm trọng
Nghiên cứu hệ thống các văn bản pháp luật hiện hành cho thấy, hầu hết các quy phạm pháp luật mới chỉ dừng lại nguyên tắc chung, có tính định khung; chưa chú trọng việc lồng ghép cách tiếp cận quyền trong bảo vệ môi trường Các quy định của pháp luật chưa làm rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan tới bảo vệ môi trường; chưa làm rõ việc bảo vệ môi trường không chỉ thuộc trách nhiệm của Nhà nước mà còn là quyền và trách nhiệm của toàn xã hội, của mọi cá nhân và công dân, cộng đồng dân cư Pháp luật chưa quy định cụ thể, rõ ràng cả về quy trình, thủ tục để mọi cá nhân, công dân có thể tham gia vào việc giám sát bảo
vệ môi trường; tham gia vào việc ban hành các quyết định và tiếp cận tư pháp trong lĩnh vực môi trường Vì thế, hệ thống pháp luật có liên quan tới bảo vệ môi trường ở
Trang 2216
nước ta hiện nay chưa thực sự thu hút, lôi kéo được quần chúng nhân dân, các tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp tham gia giám sát bảo vệ môi trường
Trước thực trạng đó, dựa trên cách tiếp cận quyền trong bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay, cần rà soát, đánh giá lại pháp luật hiện hành, bổ sung, hoàn thiện theo hướng lồng ghép cách tiếp cận quyền vào việc hoạch định chính sách và pháp luật có liên quan tới bảo vệ môi trường Bên cạnh việc hoàn thiện hơn các quy định
về xử lý hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự, cần nghiên cứu bổ sung quy định trong Hiến pháp về công dân có quyền được sống và bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành và an toàn; quyền và trách nhiệm của cá nhân, công dân được tham gia giám sát bảo vệ môi trường Nghiên cứu bổ sung và quy định chi tiết trong các văn bản luật và dưới luật về quyền của công dân, các tổ chức xã hội, tổ chức chính trị xã hội, đoàn thể quần chúng như thanh niên, phụ nữ, nông dân được tham gia vào việc ban hành các quyết định, chính sách có liên quan tới môi trường và giám sát bảo vệ môi trường; quy định cụ thể hơn cả về trình tự, thủ tục liên quan tới quyền của cá nhân, công dân được tiếp cận thông tin về môi trường và trách nhiệm của Nhà nước, doanh nghiệp cung cấp và công khai thông tin, tác hại ảnh hướng đến môi trường; quy định cụ thể về trình tự, thủ tục khởi kiện, trình tự khiếu nại đối với các quyết định, chính sách có tác động đến môi trường; quyền được đền bù thiệt hại, đánh giá tác động, thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường, tác động/ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đến sức khỏe, quyền lợi về vật chất, tinh thần của cá nhân, công dân và của cộng đồng dân cư
Bên cạnh đó, để tăng cường thực thi pháp luật về môi trường, Nhà nước sớm nghiên cứu đào tạo chuyên sâu và phát triển đội ngũ cán bộ thực thi pháp luật, trước hết là cán bộ điều tra, luật sư, công tố viên và thẩm phán về môi trường Đồng thời
có chính sách hỗ trợ các văn phòng luật sư, văn phòng tư vấn pháp luật nhằm tư vấn, hỗ trợ về mặt pháp lý cho người dân, cộng đồng dân cư, và giúp người dân giám sát việc thi hành pháp luật, khởi kiện đối với các hành vi vi phạm pháp luật về
Trang 23Một thời gian dài, vì ưu tiên cho phát triển kinh tế nên việc bảo vệ môi trường (BVMT) đã có lúc bị xem nhẹ, là mục tiêu thứ yếu của các nhà lập pháp cũng như hành pháp Điều đó thể hiện qua việc đạo Luật Mẹ - Hiến pháp 1992[19], chỉ có 3 lần nhắc đến vấn đề môi trường; Luật BVMT của Việt Nam ban hành năm
1993 và 2005 cũng chưa phát huy được tác dụng như mong muốn
Bên cạnh việc hoàn thiện hơn các quy định về xử lý hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự, cần nghiên cứu, bổ sung quy định trong Hiến pháp về công dân có quyền được sống và bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành và an toàn; Quyền và trách nhiệm được tham gia giám sát bảo vệ môi trường; Quy định chi tiết trong các văn bản luật và dưới luật về quyền của công dân, các tổ chức, đoàn thể được tham gia vào quá trình ban hành các quyết định, chính sách có liên quan tới môi trường và giám sát bảo vệ môi trường;…
Trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, vấn đề BVMT có sự chuyển đổi và quan tâm đến môi trường khi có đến 10 lần đề cập về môi trường Trong đó, bổ sung hai điều mới riêng về môi trường (Điều 46 và Điều 68), nhấn mạnh đến quyền được sống trong môi trường trong lành và nghĩa vụ của Nhà nước, tổ chức, cá nhân trong việc BVMT Dự thảo Luật BVMT (sửa đổi 2005, 2014) cũng đưa ra nguyên tắc đầu tiên là BVMT là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi tổ chức, cá nhân, đảm bảo quyền được sống và quyền yêu cầu được sống trong môi trường trong lành [3]
Trang 2418
Cơ sở pháp lý của quyền được sống trong môi trường trong lành đã có trong nhiều văn kiện, công ước, hiệp ước quốc tế: Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hiệp quốc năm 1962: “Sự phát triển kinh tế và bảo vệ thiên nhiên”, Tuyên bố Stockholm
về các vấn đề môi trường năm 1972, Tuyên bố Johannesburg năm 2002 về phát triển bền vững,…Tư tưởng cốt lõi của phát triển bền vững là sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn định, thực hiện tốt công bằng và tiến bộ xã hội, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ, nâng cao chất lượng môi trường sống
Quan điểm về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đã được Đảng và Nhà nước ta khẳng định và đề cập sớm trong Kế hoạch quốc gia về Môi trường và Phát triển (1991 - 2000), trong Luật Bảo vệ Môi trường (1993) được sửa đổi, bổ sung năm 2005 và 2014, Nghị định 26/VP, Chỉ thị 36 ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 41 của Bộ chính trị (15/11/2004), Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (2006), Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến
2010 và định hướng đến năm 2020,… Phát triển bền vững từ lâu đã trở thành đường lối, quan điểm nhất quán của Đảng và chính sách của Nhà nước ta
Coi phát triển bền vững là nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu, Đảng và Nhà nước Việt Nam nhấn mạnh một số quan điểm quan trọng nhất trong vấn đề bảo vệ môi trường sau đây [4]:
- Bảo vệ môi trường là vấn đề sống còn của nhân loại, là nhân tố bảo đảm sức khỏe và chất lượng cuộc sống của nhân dân, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc phòng và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế
- Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một trong những nội dụng cơ bản của phát triển bền vững Khắc phục tư tưởng chỉ coi trọng phát triển kinh tế - xã hội, coi nhẹ môi trường
Trang 25Thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị, Luật bảo vệ môi trường năm 2005, nhận thức của cán bộ và nhân dân về bảo vệ môi trường đã được nâng cao hơn Tuy nhiên, trên thực tế, các giải pháp đề ra chưa đạt được hiệu quả mong đợi, khiến quyền được sống trong môi trường trong lành của nhân dân bị xâm hại ở nhiều nơi, nhiều lúc, có nơi ở mức độ nghiêm trọng, tác động tiêu cực đến đời sống của một bộ phận nhân dân và gây tác hại lâu dài đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Nguyên nhân của tình trạng nói trên là: (i) Chưa nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường, còn quan điểm chỉ chú trọng phát triển kinh
tế, coi nhẹ môi trường; (ii) Công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường còn yếu kém, pháp luật về bảo vệ môi trường chưa hoàn thiện; (iii) Nguồn lực đầu tư bảo vệ môi trường còn nhỏ bé, dàn trải, chưa hợp lý; (iv) Thực thi pháp luật bảo vệ môi trường chưa nghiêm, chế tài chưa phù hợp,…
Để khắc phục những yếu kém nói trên, bên cạnh tăng cường công tác giáo dục và nâng cao nhận thức có hệ thống về pháp luật bảo vệ môi trường, và tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường trong toàn xã hội, cần sớm áp dụng tiếp cận quyền trong bảo vệ môi trường, đặc biệt ở cấp cơ sở
1.3 Khái quát về phường Khương Trung, Thanh Xuân, Hà Nội
Hà Nội là thủ đô của Việt Nam, nằm giữa đồng bằng sông Hồng trù phú, nơi
đã trở thành một trung tâm chính trị, văn hóa và kinh tế ngay từ những buổi đầu tiên của lịch sử đất nước Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008,
Hà Nội hiện nay có 12 quận, 1 thị xã và 17 huyện ngoại thành
Trang 2620
Sông Hồng là con sông chính chảy qua Hà Nội trên đoạn dài 163 km, chiếm khoảng một phần ba chiều dài của con sông này trên lãnh thổ Việt Nam Sông Đà là ranh giới giữa Hà Nội và Phú Thọ, hợp lưu với sông Hồng ở phía Bắc thành phố tại huyện Ba Vì Ngoài ra, trên địa phận Hà Nội còn nhiều sông khác như sông Đáy, sông Đuống, sông Cầu, sông Cà Lồ,…Các sông nhỏ chảy trong khu vực nội thành như sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu,…đóng vai trò “đường tiêu thoát nước thải” của
Dân số Hà Nội tăng nhanh trong nửa thế kỷ gần đây: năm 1954 Hà Nội chỉ
có 53.000 dân, trên diện tích 152 km², đến năm 1961 thành phố được mở rộng lên tới 584 km², dân số 91.000 người và đạt con số 2.672.122 người vào năm 1999 Sau đợt mở rộng địa giới vào tháng 8 năm 2008, thành phố Hà Nội có 6.233.000 dân và thuộc nhóm 17 thủ đô có diện tích lớn nhất thế giới Theo kết quả điều tra dân số ngày 1 tháng 4 năm 2009, dân số Hà Nội là 6.451.909 người, trong đó dân số thành thị là 2.632.087 (chiếm 41,1%) và 3.816.750 cư dân nông thôn (chiếm 58,1%) Mật
độ dân số trung bình của Hà Nội là 1.979 người/km², cao nhất ở quận Đống Đa lên tới 35.341 người/km², trong khi ở những huyện ngoại thành mật độ dưới 1.000 người/km²
Trang 2721
Quận Thanh Xuân là một trong 12 quận của Hà Nội, có diện tích tự nhiên 913,2 ha và 117.863 nhân khẩu, gồm 11 đơn vị hành chính, trong đó phường Khương Trung được thành lập theo Nghị định số 74/CP ngày 22 tháng 11 năm
1996 Phường Khương Trung nằm ở phía tây thành phố, phía Đông giáp phường Khương Đình, phía Tây giáp phường Thượng Đình, phía Nam giáp phường Ngã Tư
Sở và phía Bắc giáp phường Khương Mai
Tương tự Hà Nội, quận Thanh Xuân có chế độ khí hậu cận nhiệt đới ẩm, mùa
hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa về đầu mùa và có mưa phùn về nửa cuối mùa Trên địa bàn quận quanh năm tiếp nhận lượng bức xạ mặt trời dồi dào và
có nhiệt độ cao; độ ẩm và lượng mưa khá lớn, trung bình 114 ngày mưa một năm Mùa nóng kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9, kèm theo mưa nhiều, nhiệt độ trung bình 28,10C Từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau là mùa đông với nhiệt độ trung bình 18,60C Trong khoảng thời gian này số ngày nắng của thành phố xuống rất thấp, tháng 2 trung bình mỗi ngày chỉ có 1,8 giờ mặt trời chiếu sáng Cùng với hai thời kỳ chuyển tiếp vào tháng 4 (mùa xuân) và tháng 10 (mùa thu), nên có đủ bốn mùa xuân, hạ, thu và đông
Phường Khương Trung cách trung tâm thành phố 8 km về hường tây Hiện nay, tổng diện tích đất tư nhiên của phường Khương Trung là 70,06 ha: trong đó không có đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp là 70,06 ha; đất ở đô thị là 30,15 ha; đất chưa sử dụng là 20 ha Dân số toàn phường là 30.400 người Bao gồm 35 cụm dân cư, 94 tổ dân phố Trong đó dân nhập cư chiếm 2% Tỷ lệ tăng dân số là 1,3% Ngoài số dân thường trú, còn có những người đăng ký tạm trú tại phường và Chính quyền địa phương chỉ quản được 70% dân số trong vùng Người dân thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau nhưng đa số là người buôn bán và công chức[13] Đảng bộ phường có 2.053 đảng viên, 22 Chi bộ khu dân cư và 05 Chi bộ cơ quan, trường học Phường có các tổ chức đoàn thể như: Ủy ban Mặt trận tổ quốc, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội cựu chiến binh, Hội chữ thập đỏ,…
Trang 2822
Ba năm liên từ 2005 - 2007 phường được Thành phố tặng Bằng khen vì đã hoàn thành tốt nhiệm vụ; Đảng bộ phường được công nhận trong sạch, vững mạnh
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc phường được thành phố tặng bằng khen đơn vị xuất sắc
và được Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tặng Bằng ghi công vì đã hoàn thành xây dựng “Nhà đại đoàn kết”, xóa xong nhà dột nát cho hộ nghèo Hội Cựu chiến binh phường được Thành phố tặng bằng khen đơn vị xuất sắc Năm
2008, cán bộ và nhân dân phường được thành phố Hà Nội tặng Cờ thi đua,…
Quận Thanh Xuân và thành phố đã đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp đường,
hệ thống thoát nước các tuyến đường phố chính, các ngõ, xây dựng và nâng cấp sân chơi, xây dựng nhà hội họp, câu lạc bộ, trạm y tế, các trường trên địa bàn phường,
bê tông hóa 100% các đường, ngõ ngách trong phường,… Những năm gần đây, hệ thống cơ sở hạ tầng của phường đã từng bước được xây dựng mới, nâng cấp và cải tạo Trên địa bàn có 6 đường phố là: đường phố Khương Trung với chiều dài 1,58 km; đường phố Nguyễn Trãi với chiều dài 2,15 km; đường phố Trường Chinh với chiều dài là 2,58 km; đường phố Hoàng Văn Thái với chiều dài là 1,98 km; đường phố Tô Vĩnh Diện với chiều dài là 1,84 km; đường phố Vương Thừa Vũ với chiều dài là 2,02 km Tổng chiều dài ngõ xóm toàn phường là 12,15 km Diện tích đường phố là 30,375 m2 Hệ thống giao thông trên địa bàn đã được đầu tư bê tông hóa 90%
Phường Khương Trung nằm ven sông Tô Lịch - là đường thoát nước thải chính của khu vực này và cũng là khu vực nảy sinh nhiều vấn đề môi trường, như: chất thải sinh hoạt, chất thải rắn, chất thải làng nghề, ô nhiễm bụi, xả thải ra sông
Tô Lịch,… Như nói trên, dân số phường Khương Trung khá đông với nhiều thành phần xã hội, dân tỉnh lẻ đến nhập cư, tạm trú tạm vắng và dân bản địa, nên tình hình quản lý dân cư của phường gặp rất nhiều khó khăn Ngoài phải sống chung với bụi bẩn trong không khí, người dân ở đây còn sống chung với ô nhiễm (mùi hôi thối) nghiêm trọng của dòng sông Tô Lịch
Trang 2923
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Để làm rõ vấn đề tiếp cận Quyền trong bảo vệ môi trường tại phường Khương Trung, cần hiểu rõ được quyền môi trường là gì; Việt Nam đã làm gì để phát triển quyền trong bảo vệ môi trường nói chung và ở phường Khương Trung nói riêng Tiếp cận quyền trong bảo vệ môi trường tại phường Khương Trung đang diễn
ra đến đâu, người dân của phường đã có trách nhiệm gì trong việc bảo vệ môi trường,… Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp để tăng cường tiếp cận quyền trong bảo vệ môi trường ở phường Khương Trung và khuyến nghị đối với chính sách quốc gia Cụ thể:
- Đối tượng nghiên cứu: Tiếp cận Quyền trong bảo vệ môi trường và áp dụng thử ở cấp cơ sở
- Phạm vi nghiên cứu: phường Khương Trung, Thanh Xuân, Hà Nội
2.2 Nội dung nghiên cứu
Để đáp ứng mục tiêu đề tài nghiên cứu, học viên đã tiến hành nghiên cứu các nội dung sau:
- Nghiên cứu tổng quan về vấn đề Quyền và tiếp cận Quyền trong bảo vệ môi trường ở cấp cơ sở trên Thế giới và tại Việt Nam
- Nghiên cứu các đặc trưng cơ bản của các tổ chức quần chúng - xã hội, các cộng đồng dân cư ở phường Khương Trung, Thanh Xuân, Hà Nội và vai trò của họ trong bảo vệ môi trường tại địa phương
- Nghiên cứu, xác định các vấn đề môi trường ưu tiên bảo vệ ở phường Khương Trung, Thanh Xuân, Hà Nội
- Phân tích khả năng áp dụng tiếp cận Quyền trong bảo vệ môi trường ở phường Khương Trung, Thanh Xuân, Hà Nội (quyền tiếp cận thông tin, quyền đề
Trang 302.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thu thập và phân tích tài liệu thứ cấp
- Để đánh giá tổng quan tiếp cận quyền trong bảo vệ môi trường trên thế giới
và ở Việt Nam, tác giả đã tiến hành thu thập các nguồn tài liệu thứ cấp thông qua các sách tham khảo, tài liệu công bố chính thức trên các tạp chí, công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, bao gồm cả tài liệu và thông tin trên báo và mạng internet, Danh mục các tài liệu thu thập được và đã tham khảo được giới thiệu ở phần cuối luận văn này
- Tác giả cũng đã thu thập các tài liệu về điều kiện tự nhiên và tình hình phát triển kinh tế, xã hội, cũng như sơ bộ về các vấn đề môi trường của địa phương (thành phố Hà Nội, quận Thanh Xuân và phường Khương Trung) Nguồn chính từ các tài liệu đã công bố, xuất bản và báo cáo lưu trữ tại các cơ quan liên quan thuộc thành phố Hà Nội, UBND quận Thanh Xuân và phường Khương Trung
- Cùng với các văn bản pháp quy và quy ước cộng đồng về bảo vệ môi trường ở Việt Nam và trên địa bàn thành phố Hà Nội, tác giả đã tiến hành tổng hợp
và phân tích để rút ra những nét đặc trưng nhất theo các nhóm thông tin liên quan
đến nhiệm vụ nghiên cứu
2.3.2 Phương pháp tham vấn ý kiến cộng đồng
Trên cơ sở phân tích các dữ liệu/ thông tin hiện có, tác giả đã phát hiện các
“lỗ hổng” thông tin cần phải điều tra bổ sung ngoài hiện trường tại phường Khương Trung
Quá trình điều tra tác giả đã sử dụng bảng hỏi (phiếu khảo sát) đã chuẩn bị sẵn nội dung và in sẵn Bảng hỏi có hai loại với nội dung khác nhau để phỏng vấn
Trang 3125
hai nhóm đối tượng: người dân và cán bộ quản lý, lãnh đạo của phường Nội dung
cụ thể của bảng hỏi được giới thiệu trong phụ lục kèm theo phía sau luận văn
Kết quả tác giả đã sử dụng bảng hỏi để điều tra trực tiếp, thu thập thông tin tại 100 hộ dân của phường Khương Trung, và sử dụng bảng hỏi riêng để phỏng vấn toàn bộ cán bộ quản lý và lãnh đạo phường (chi tiết xem trong Chương 3)
Ngoài bảng hỏi, tác giả còn phỏng vấn trực tiếp người dân được chọn lọc ngẫu nhiên để bổ sung thông tin cho kết quả bảng hỏi
2.3.3 Phương pháp tham kiến chuyên gia
Đây là phương pháp đơn giản, dễ áp dụng và thường cho thông tin hỗ trợ tốt
từ các chuyên gia - những người am hiểu lý thuyết và thực tiễn về các nội dung nghiên cứu liên quan
Phương pháp này đã được sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu với mục đích tham khảo ý kiến của các chuyên gia môi trường, các cán bộ làm công tác môi trường tại cơ sở, các thầy cô, cán bộ nghiên cứu về chính sách môi trường
2.3.4 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
Số liệu của đề tài được tổng hợp từ phương pháp trả lời phỏng vấn qua bảng hỏi phỏng vấn người dân sống trong phường Khương Trung Phương pháp phỏng vấn thường tốn thời gian và số liệu thu được thường mang tính cảm quan và cảm tính Phương pháp này sẽ dễ bị sai số khi người được phỏng vấn trả lời câu hỏi họ muốn làm hài lòng hoặc gây ấn tượng, hoặc muốn trả lời nhanh, suôn sẻ
Số liệu thu thập từ các tài liệu thứ cấp, phiếu khảo sát người dân và kết quả phỏng vấn chuyên gia được phân tích, tính toán bằng phần mềm Ms.exel, chuyển đổi các dữ liệu, số liệu sang dạng biểu đồ Trên cơ sở đó hiểu được xu thế và so sánh các vấn
đề liên quan với nhau để đánh giá các nội dung nghiên cứu theo các mục tiêu đặt ra
Trang 3226
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đánh giá thực trạng môi trường ở phường Khương Trung
Hoạt động kinh tế diễn ra trong phường khá đa dạng Trên các trục đường đa
số là các cửa hàng kinh doanh Tổng số có khoảng 500 cửa hàng kinh doanh đóng trên địa bàn phường Phường được đô thị hóa từ một khu vực vốn làm nông nghiệp, nhưng đến nay không có hoạt động nông nghiệp trong phường Người dân chủ yếu sống bằng nghề kinh doanh buôn bán và làm trong các cơ quan xí nghiệp trên địa bàn phường Tổng số có 15 cơ quan, xí nghiệp đóng trên địa bàn phường Những năm gần đây, một số gia đình đã xây dựng nhà cho sinh viên và người dân ngoại tỉnh thuê và lấy nguồn thu chủ yếu từ hoạt động này
Phường Khương Trung đang trong quá trình đô thị hóa, nếp sống có nhiều thay đổi nhưng vẫn chưa mang “tính chất thành thị” hoàn toàn Trong phường còn
có một số lượng dân cư lớn từ nơi khác đến tạm trú Do đó, việc quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn phường là một vấn đề bức xúc mà các ngành quản lý quan tâm Ngoài ra, trên địa bàn phường Khương Trung có 3 chợ nhỏ, lớn nhất là chợ Tạm 892 và 2 chợ cóc Lượng rác thải ở các chợ này có thể quy về cùng lượng rác đường phố Từ đặc điểm cư dân trên địa bàn phường đa dạng và phong phú nên có nhiều loại nguồn thải rắn khác nhau Phân loại các nguồn thải phát sinh và thành phần chủ yếu của chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn phường Khương Trung được giới thiệu ở bảng 3.1
Trang 3327
Bảng 3.1: Nguồn phát sinh chất thải rắn trên địa bàn phường Khương Trung
Nguồn phát sinh chất thải rắn Số lượng Thành phần
Hộ gia đình 4.849 hộ Cành lá rau củ quả, hoa tươi, nilon,
thức ăn thừa, vỏ chai, đồ hộp, giấy
Cơ sở kinh doanh, cơ quan,
công sở
15 cơ sở Nilon, thủy tinh, giấy, bìa cacton
Cửa hàng giải khát 200 cửa hàng Bã chè, hoa quả, vỏ đồ hộp, ống hút,
giấy ăn, nilon,…
Cửa hàng ăn 300 cửa hàng Cành lá rau củ quả, thức ăn thừa,
giấy ăn, nilon,…
(Nguồn: Báo cáo thống kê của phường Khương Trung, năm 2011)
Tác giả đã tiến hành điều tra xác định khối lượng chất thải rắn trên địa bàn phường bằng cách phỏng vấn 100 hộ gia đình và 20 cán bộ quản lý ở phường Khương Trung trong 10 ngày, lấy mẫu chất thải rắn tại 22 hộ gia đình được chọn ngẫu nhiên trong 100 hộ gia đình trong thời gian 20 ngày liên tiếp Trong 100 hộ gia đình phỏng vấn đa số là lấy câu trả lời từ các hộ dân cư, trong đó có 10 hộ làm kinh doanh, 10 hộ làm cửa hàng ăn, 10 cửa hàng giải khát và 20 hộ có xây dựng nhà trọ cho thuê, còn lại lấy bảng hỏi từ các hộ dân trong tổ dân phố Số lượng 22 hộ dân lấy mẫu chất thải rắn được chọn ngẫu nhiên với những đối tượng khác nhau: 8
hộ gia đình, 5 cơ sở kinh doanh và văn phòng, 4 cửa hàng ăn, 5 cửa hàng giải khát
Thời gian lấy mẫu chất thải rắn tại 22 hộ gia đình là từ 17h30 đến 20h hàng ngày (thời gian đổ rác) Mẫu sau khi lấy được cân theo từng hộ gia đình Đối với những hộ gia đình có lượng rác ít việc cân rác tiến hành 2 ngày/lần Trên cơ sở kết quả cân mẫu rác từ các hộ gia đình đã tiến hành tính toán lượng rác trung bình theo các loại nguồn
Trang 3428
Thời gian lấy thông tin theo bảng hỏi tại 100 hộ gia đình và 20 cán bộ quản
lý ở phường Khương Trung là từ 10h đến 20h hàng ngày Rác thải rắn trung bình hàng ngày ở các cửa hàng ăn là cao nhất vào khoảng 5,2 kg/người/ngày, tiếp đến là cửa hàng giải khát vào khoảng 2,5 kg/người/ngày, các cơ sở kinh doanh khác thải tầm 1 kg/người/ngày, và hộ gia đình phi nông nghiệp thải ra ít nhất khoảng 0,6 kg/người/ngày Mẫu sau khi được lấy từ các bảng hỏi sẽ được tổng kết và tính toán lượng rác thải trung bình của các hộ gia đình Lượng rác trung bình của các hộ dân được cân đối giữa lượng rác điều tra thực tế của tác giả và thông tin lấy từ các hộ gia đình theo bảng hỏi, và lượng rác trung bình của các hộ gia đình được trình bày trong hình 3.1
Hình 3.1: Biểu đồ Khối lượng rác thải rắn theo các nguồn thải
Biểu đồ lượng rác thải của Phường Khương Trung
5,2 kg/người/ngày
0,6 kg/người/ngày
2,5 kg/người/ngày
1 kg/người/ngày
Hộ gia đình phi nông nghiệp
Cơ sở kinh doanh, văn phòng Cửa hàng giải khát
Cửa hàng ăn
(Tổng hợp kết quả điều tra thực tế tại phường Khương Trung của tác giả)
Trên cơ sở tổng hợp lượng rác thải của các hộ gia đình tác giả đã phân loại rác thải từ các nguồn thải khác nhau (Bảng 3.2)
Trang 3529
Bảng 3.2: Phân loại rác thải từ các nguồn thải khác nhau
Loại nguồn Rác hữu cơ Rác vô cơ
Hộ gia đình phi
nông nghiệp
Thức ăn thừa lượng 0,45 kg/người/ngày
Giấy vụn, rác thải trong hộ gia đình lượng 0,15 kg/người/ngày
Cơ sở kinh doanh,
văn phòng
Thức ăn thừa lượng 0,6 kg/người/ngày
Giấy vụn, vỏ đồ hộp,… lượng 0,4 kg/người/ngày
Cửa hàng giải khát Thức ăn thừa lượng
1,9 kg/người/ngày
Vỏ đồ hộp,…lượng 0,6 kg/người/ngày
Cửa hàng ăn Thức ăn thừa lượng
4,5 kg/người/ngày
Vỏ đồ hộp,…lượng 0,7 kg/người/ngày
(Tổng hợp kết quả điều tra thực tế tại phường Khương Trung của tác giả)
Lượng rác phát sinh ở phường Khương Trung được tính là tổng lượng rác từ các nguồn trên và được giới thiệu trong bảng 3.3
Bảng 3.3: Tổng lượng rác thải phát sinh tại phường Khương Trung
Loại nguồn Số lượng Khối lượng trung bình Tổng (kg)
Hộ gia đình phi nông nghiệp 26.000 người 0,6 kg/người/ngày 15.6000
Cơ sở kinh doanh, văn phòng 15 cơ sở 1,0 kg/người/ngày 15
Cửa hàng giải khát 200 cửa hàng 2,5 kg/người/ngày 500
Cửa hàng ăn 300 cửa hàng 5,2 kg/người/ngày 1.560
(Tổng hợp kết quả điều tra thực tế tại phường Khương Trung của tác giả)
Trang 3630
Điều tra tại các hộ gia đình cho thấy đa số các hộ gia đình khi thu gom rác thải đều không có tiến hành phân loại rác thải từ nguồn Rác thải được người dân thu gom vào thùng rác và Xí nghiệp môi trường đô thị sẽ đi thu gom theo giờ quy định: từ 5h sáng đến 13h và từ 13h30 đến 21h
Hiện nay, công tác thu gom chất thải rắn sinh hoạt ở phường Khương Trung
do Xí nghiệp môi trường đô thị số 4 thực hiện Theo định mức của Công ty môi trường đô thị Hà Nội, số công nhân làm vệ sinh môi trường là 18 người, số xe thu gom rác là 20 chiếc Như vậy, số xe thu gom và số công nhân làm vệ sinh là xấp xỉ bằng nhau Trong trường hợp số xe thu gom được huy động sử dụng tối đa (1 công nhân/1 xe gom), thì công nhân phải chờ đưa rác lên xe ô tô mới tiếp tục lượt thu gom khác Do đó, công nhân mất thời gian chờ đợi, kéo dài thời gian, giảm hiệu quả lao động và đây cũng là nguyên nhân khiến cho rác còn tồn đọng đến ngày hôm sau
Khối lượng rác thu gom và vận chuyển trung bình 01 ngày là 13 tấn Thời gian này ảnh hưởng rất lớn đến công việc và giao thông đi lại vì thời gian tập kết rác là lúc người dân đi làm về gây ùn tắc giao thông
Nhân viên của Xí nghiệp Môi trường đô thị số 4 chịu trách nhiệm thu phí trong toàn bộ địa bàn phường Mức thu phí vệ sinh đóng góp của các hộ dân hàng tháng theo quy định là 2.000 đồng/người/tháng Đối với các cơ sở kinh doanh nhỏ trên địa bàn phường vẫn được thu theo mức thu của hộ gia đình Riêng các của hàng
ăn uống và giải khát được thu ở mức riêng theo quy định là 120.000 đồng/m3 Tỷ lệ thu phí vệ sinh ở hộ dân mới chỉ đạt 58%, ở các cơ sở kinh doanh đạt 30% Mức thu này là thấp, không đủ để bù cho các chi phí của công tác vệ sinh môi trường Do công ty Môi trường đô thị là một doanh nghiệp nhà nước, nguồn chi từ ngân sách Nhà nước nên không phải chịu áp lực nhiều về kinh tế Tuy nhiên, về lâu dài cần phải tăng tỷ lệ thu phí để đảm bảo hiệu quả kinh tế cũng như nâng cao chất lượng dịch vụ vệ sinh môi trường
Tác giả đã tiến hành điều tra thực tế tại địa phương để đánh giá tình hình vệ sinh môi trường và hiệu quả thu gom rác thông qua phỏng vấn trực tiếp Số người
Trang 3731
được hỏi là 100 người và kết quả điều tra được trình bày trong Hình 3.2 Kết quả cho thấy: 23% số người đánh giá là tốt, trung bình là 41%, chưa tốt là 36%, ý kiến khác là 0% Tỷ lệ chưa hài lòng với chất lượng vệ sinh môi trường ở phường Khương Trung chủ yếu là do nguyên nhân rác còn tồn đọng sang ngày hôm sau, đặc biệt trong các ngõ và con hẻm nhỏ,…Ngoài ra, một số ngõ xóm theo quy định được quét gom (ngõ rộng trên 2m) nhưng hiện nay vẫn không có công nhân quét rác hàng ngày
Hình 3.2: Biểu đồ đánh giá tình hình vệ sinh môi trường
phường Khương Trung
(Tổng hợp kết quả điều tra thực tế tại phường Khương Trung của tác giả)
Điều tra thực tế của tác giả cũng chỉ ra rằng môi trường sống của người dân phường Khương Trung đang có rất nhiều vấn đề liên quan đến ô nhiễm không khí, nhất là bụi và mùi hôi thối bốc lên từ dòng sông Tô Lịch; môi trường đất và môi trường nước đều ở tình trạng không tốt Kết quả tổng kết bảng hỏi thông qua phỏng
Trang 3832
vấn 100 người dân sống trong khu vực và 20 cán bộ quản lý phường Khương Trung cho thấy môi trường sống của người dân trong phường đang phải đối mặt với tình trạng suy thoái và không còn trong lành Khoảng 59,2% số người dân được hỏi ý kiến cho rằng môi trường sống bị ô nhiễm nghiêm trọng, 38,3% số người cho rằng môi trường sống bị ô nhiễm, 2,5% còn lại cho rằng môi trường sống tốt (Bảng 3.4)
Bảng 3.4: Ý kiến đánh giá môi trường sống ở phường Khương Trung
Xếp loại Số người được hỏi Số người trả lời Tỷ lệ
(Tổng hợp kết quả điều tra thực tế tại phường Khương Trung của tác giả)
Hình 3.3: Biểu đồ ý kiến đánh giá môi trường sống ở
phường Khương Trung
Các thành phần môi trường cũng được đánh giá là chưa tốt Tổng hợp ý kiến của 100 người dân và 20 cán bộ quản lý sống trong phường Khương Trung thì 74%
Trang 3933
số người cho rằng môi trường nhiều bụi; 90% số người cho rằng có nhiều mùi khó chịu; 90% số người cho rằng không khí sống chưa tốt; 91% số người cho rằng môi trường nước chưa tốt và 73% số người cho rằng môi trường đất chưa tốt Khoảng 25% số người dân cho ý kiến là môi trường có bụi; 10% số người dân cho ý kiến trong môi trường có ít mùi khó chịu, 9,5% số người cho ý kiến môi trường không khí ở mức trung bình; 7% số người cho rằng môi trường nước vẫn bình thường và 20% số người cho ý kiến môi trường đất bình thường Rất ít người dân cho rằng các thành phần môi trường tốt: 1% người cho rằng môi trường ít bụi; không có người nào cho rằng môi trường không có mùi; 0,5% số người cho rằng môi trường không khí tốt; 2% số người cho rằng môi trường nước trong lành và 7% số người dân cho rằng môi trường đất còn tốt Kết quả điều tra ý kiến đánh giá vấn đề ô nhiễm của các thành phần môi trường được tổng hợp ở bảng 3.5
Bảng 3.5: Ý kiến đánh giá vấn đề ô nhiễm môi trường ở
(Tổng hợp kết quả điều tra thực tế tại phường Khương Trung của tác giả)
Thông tin tìm hiểu từ người dân và ban quản lý sống trong phường Khương Trung cho thấy hiện giờ trong phường không có bệnh gì liên quan đến môi trường sống xảy ra Kết quả điều tra 120 người đều có cùng câu trả lời là môi trường chỉ là một phần tác động đến cuộc sống sức khỏe của người dân trong phường Kết quả khảo sát được tổng hợp trong bảng 3.6