Về giá trị, nguyên vật liệu là một bộ phận của vốn kinh doanh, khi tham gia sản xuất giá trị của nó được chuyển dịch một lần vào giá trị sản phẩm mới tạo ra mà đối với doanh nghiệp xây l
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế thị trường hoạt động theo các quy luật kinh tế khách quan
đã tạo ra một thị trường cạnh tranh khốc liệt mà ở đó để tồn tại và không ngừng lớn mạnh,các doanh nghiệp luôn phải theo đuổi mục tiêu kinh tế cao nhất là lợi nhuận.Thực tế cho thấy các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thì mới có thể tồn tại và phát triển Một câu hỏi đặt ra cho các doanh nghiệp là phải làm gì để đạt lợi nhuận tối đa trong giới hạn năng lực sản xuất của mình
Để giải quyết vấn đề này, các doanh nghiệp phải tìm ra giải pháp tổ chức kinh doanh tối ưu nhất để có thể hoạt động kinh doanh một cách có hiệu quả Doanh nghiệp phải quan tâm đến tất cả các vấn đề, thực hiện hàng loạt các giải pháp kinh tế để tối đa hoá lợi nhuận, cực tiểu hoá chi phí Một trong các giải pháp luôn được các doanh nghiệp chú trọng là giải pháp phát huy nội lực Để thực hiện được các giải pháp phát huy nội lực thì công tác kế toán đóng vai trò quan trọng, trong đó kế toán chi phí nguyên vật liệu được coi là công cụ sắc bén hiệu quả nhất
Trong doanh nghiệp xây dựng, nguyên vật liệu thường chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm, sử dụng hợp lý, tiết kiệm nguyên vật liệu sẽ làm giảm chi phí, tăng lợi nhuận đáng kể cho doanh nghiệp, điều này phụ thuộc vào phần lớn công tác kế toán nguyên vật liệu Vì vậy việc hiểu, vận dụng đúng và sáng tạo trong công tác kế toán nguyên vật liệu là vấn đề hàng đầu của doanh nghiệp Là một Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, Công ty Cổ phần Xây Dựng Công Trình Văn Hoá Thể Thao Và Du Lịch đang trên đà phát triển trong môi trường kinh tế nhiều biến động mạnh
mẽ như hiện nay cũng không nằm ngoài quy luật đó Sử dụng hình thức kế
toán tập trung nhưng do đặc điểm sản xuất của công ty là các công trình nằm
Trang 2rải rác ngoài trời nên việc quản lý, giám sát nguyên vật liệu của công ty đang
phải đối đầu với nhiều khó khăn Trong quá trình hạch toán nguyên vật liệu công ty luôn tiến hành mọi biện pháp cải tiến cho phù hợp với tình hình thực
tế, tuy nhiên vẫn không tránh khỏi những tồn tại vướng mắc đòi hỏi phải tìm
ra phương hướng hoàn thiện
Trong thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Xây Dựng Công Trình Văn Hoá Thể Thao Và Du Lịch em thấy rõ tầm quan trọng của kế toán vật liệu cũng như những vấn đề chưa hoàn thiện trong kế toán vật liệu, cùng những kiến thức thu nhận được trong thời gian học tập tại trường, với sự hướng dẫn tận tình của cô giáo Đỗ Thị Minh Thoa, anh chị trong phòng Kế
toán,em đã đi sâu nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện công tác kế toán nguyên
vật liệu ở Công ty Cổ phần Xây Dựng Công Trình Văn Hoá Thể Thao Và
Du Lịch” Nội dung của chuyên đề ngoài lời mở đầu và kết luận, được chia
làm 3 chương sau :
Chương 1: Lý luận chung về kế toán nguyên vật liệu trong DN xây lắp
Chương 2: Thực trạng công tác kế toán nguyên vật liệu ở công ty Cổ phần Xây Dựng Công Trình Văn Hoá Thể Thao Và Du Lịch
Chương 3 : Một số biện pháp hoàn thiện tổ chức kế toán nguyên vật liệu tại công ty Cổ phần Xây Dựng Công Trình Văn Hoá Thể Thao Và Du Lịch Với thời gian có hạn và khả năng không cho phép nên bài viết của
em chắc chắn còn nhiều thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các anh chị trong phòng Kế toán của Công ty để bài chuyên đề của em hoàn thiện hơn nữa
Hà nôi,ngày tháng 4 năm 2010 Sinh viên: Nguyễn Văn Phú
Trang 3CHƯƠNG 1
LÍ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU
TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
1.1 Sự cần thiết của kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp xây lắp 1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của kế toán nguyên liệu, vật liệu trong doanh nghiệp xây lắp.
1.1.1.1 Khái niệm :
Nguyên vật liệu là đối tượng lao động ,một trong ba yếu tố cơ bản trong quá trình sản xuất, là cơ sở vật chất cấu thành nên thực thể sản phẩm Trong quá trình tham gia vào chu kỳ sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp, vật liệu bị tiêu hao toàn bộ và chuyển toàn bộ giá trị một lần vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ
1.1.1.2 Đặc điểm :
Nguyên vật liệu là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất, NVL khi tham gia vào quá trình sản xuất thường cấu thành nên thực thể của sản phẩm Do đó NVL là điều kiện thiết yếu để tiến hành quá trình sản xuất kinh doanh
+ Khác với tư liệu lao động, NVL chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất nhất định và khi tham gia vào quá trình sản xuất dưới tác động của lao động chúng bị tiêu hao toàn bộ, hoặc hình thái vật chất ban đầu thay đổi hoàn toàn để tạo ra sản phẩm
+ Giá trị NVL được chuyển dịch một lần vào giá trị sản phẩm mới làm ra
+ Chi phí về NVL thường chiếm tỉ trọng lớn trong toàn bộ chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Trang 4Trong doanh nghiệp xây lắp, nguyên vật liệu rất đa dạng, phong phú về chủng loại, phức tạp về kỹ thuật Khi tham gia vào quá trính sản xuất kinh doanh, nó không giữ nguyên được hình thái vật chất ban đầu Nó chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh Về giá trị, nguyên vật liệu là một bộ phận của vốn kinh doanh, khi tham gia sản xuất giá trị của nó được chuyển dịch một lần vào giá trị sản phẩm mới tạo ra mà đối với doanh nghiệp xây lắp đó là các công trình cầu đường, nhà ở
1.1.1.3 Vai trò của kế toán nguyên liệu, vật liệu trong doanh nghiệp
xây lắp.
Mỗi quá trình thi công xây lắp là sự kết hợp của ba yếu tố: Đối tượng lao động, sức lao động và tư liệu lao động Nếu thiếu một trong ba yếu tố này thì không thể tiến hành thi công xây lắp được Vì vậy nguyên vật liệu chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình thi công Mặt khác trong ngành xây lắp, NVL thường chiếm một tỷ trọng khá lớn, từ 70% đến 80% giá trị công trình Như vậy mỗi một sự thay đổi về chi phí NVL dù lớn hay nhỏ cũng ảnh hưởng lớn giá thành sản phẩm Do số lượng và chất lượng công trình phần lớn bị ảnh hưởng bởi số lượng và chất lượng vật liệu tạo ra
nó, nên vật liệu có chất lượng cao, đúng quy cách, chủng loại phù hợp với công trình thì mới tạo ra những công trình có chất lượng cao Mà chất lượng công trình lại là một yếu tố quyết định giúp doanh nghiệp trong ngành xây lắp có thể chiến thắng trong cạnh tranh, giúp doanh nghiệp nâng cao uy tín của mình trong bối cảnh nền kinh tế thị trường Như vậy có thể khẳng định nguyên vật liệu đóng vai trò quan trọng và không thể thiếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Kế toán là công cụ phục vụ cho quản lý kinh tế tài chính của các doanh nghiệp, trong đó kế toán nguyên vật liệu đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý và sử dụng nguyên vật liệu Kế toán vật liệu là việc
Trang 5ghi chép, phản ánh tổng hợp số liệu về tình hình mua, vận chuyển, bảo quản
và tình hình nhập, xuất, tồn kho vật liệu
Để đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời, đúng chủng loại vật liệu cho quá trình thi công, xây lắp, doanh nghiệp cần dựa vào kế toán nguyên vật liệu, thông qua kế toán nguyên vật liệu mà nắm bắt thông tin về nguyên vật liệu trên các mặt số lượng, chủng loại, giá cả, thời hạn từ đó đề ra biện pháp quản lý thích hợp Do đó, tăng cường công tác kế toán nguyên vật liệu đảm bảo việc sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguyên vật liệu mà vẫn đảm bảo chất lượng công trình, hạ thấp chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm vừa là yêu cầu cấp thiết vừa là một biện pháp gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp kế toán nguyên vật liệu phải đảm bảo những yêu cầu và nhiệm vụ đã được quy định
1.1.2 Yêu cầu quản lý của kế toán nguyên liệu, vật liệu trong doanh
nghiệp xây lắp.
Nguyên, vật liệu là yếu tố quan trọng không thể thiếu trong quá trình sản xuất, nó chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí Vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với các doanh nghiệp là cần phải quản lý NVL từ khâu thu mua,bảo quản dự trữ cho tới khâu sử dụng
- Khâu thu mua: Để có được nguyên vật liệu phục vụ cho quá trình thi
công thì nguồn chủ yếu là thu mua Do đó ở khâu này đòi hỏi phải quản lý chặt chẽ về số lượng, chất lượng, quy cách, chủng loại, giá mua, chi phí thu mua và cả tiến độ về thời gian phù hợp với kế hoạch thi công công trình Đồng thời tiến hành đánh giá kế hoạch mua vật liệu nhằm lựa chọn nguồn mua với giá trị mua thấp nhất mà vẫn đảm bảo yêu cầu về số lượng và chất lượng vật liệu
Trang 6- Khâu bảo quản : Nguyên, vật liệu sau khi được thu mua cần tổ chức
bảo quản sao cho chất lượng của chúng không giảm trong quá trình sản xuất Điều đó đồng nghĩa với việc tổ chức tốt kho tàng, bến bãi, trang bị đầy đủ các phương tiện kiểm tra, thực hiện đúng chế độ bảo quản với từng loại vật liệu, tránh hư hỏng, hao hụt, mất mát, bảo đảm chất lượng của nguyên vật liệu
- Khâu dư Trữ: Thúc đẩy nhanh quá trình chuyển hoá của vật liệu, hạn
chế vật liệu bị ứ đọng, tăng khả năng luân chuyển vốn lưu động Do đó, yêu cầu đặt ra đối với các nhà quản trị là phải xây dựng mức dự trữ phù hợp cho từng loại vật liệu để đảm bảo cho quá trình sản xuất không bị đình trệ, gián đoạn do việc cung cấp, thu mua không kịp thời hoặc gây ra tình trạng ứ đọng vốn do việc dự trữ quá nhiều so với nhu cầu sản xuất
- Khâu sử dụng: Phải tuân thủ việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm trên cơ sở
định mức và dự toán chi phí vật liệu nhằm hạ thấp mức tiêu hao vật liệu, hạn chế hao hụt, mất mát trong quá trình thi công Muốn vậy công ty cần tổ chức tốt việc ghi chép, phản ánh tình hình xuất dùng và sử dụng vật liệu cho từng đối tượng sử dụng như các công trình hay từng hạng mục công trình
Bên cạnh đó DN có thể quy định các hình thức thưởng phạt rõ ràng đối với những người liên quan tới quá trình quản lý và sử dụng NVL Từ đó đề cao ý thức, trách nhiệm của mỗi cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp
1.1.3 Nhiệm vụ của kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp xây lắp.
Để thực hiện tốt chức năng là công cụ quản lý kinh tế của kế toán và xuất phát từ vị trí, vai trò, yêu cầu quản lý nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp xây lắp thì kế toán nguyên vật liệu phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Tổ chức đánh giá, phân loại vật liệu phù hợp với các nguyên tắc, yêu cầu quản lý thống nhất của Nhà nước và yêu cầu quản trị doanh nghiệp
Trang 7- Tổ chức chứng từ, tài khoản, sổ kế toán phù hợp với phương pháp kế toán hàng tồn kho và phương pháp kế toán chi tiết nguyên vật liệu của doanh nghiệp để ghi chép, phân loại tổng hợp số liệu về tình hình hiện có
và sự biến động của nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất kinh doanh, cung cấp số liệu kịp thời để tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
- Tham gia kiểm kê NVL, xử lý kết quả kiểm kê theo quyết định của cấp
có thẩm quyển nhằm đảm bảo sự chính xác, trung thực của thông tin kế toán
- Thực hiện việc phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch mua, dự trữ và sử dụng nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất kinh doanh
1.2 Phân loại, đánh giá nguyên liệu, vật liệu trong doanh nghiệp xây lắp.
1.2.1 Phân loại nguyên liệu, vật liệu.
NVL sử dụng trong doanh nghiệp bao gồm nhiều loại, có nội dung kinh tế, vai trò, mục đích sử dụng khác nhau Tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý trong mỗi doanh nghiệp mà có các cách phân loại khác nhau
1.2.1.1 Căn cứ vào nội dung, tính chất kinh tế của NVL
Theo cách phân loại này thì NVL được chia thành:
- Nguyên liệu, vật liệu chính: Là những loại nguyên liệu, vật liệu khi
tham gia vào quá trình sản xuất nó cấu thành thực thể vật chất của sản phẩm như: gạch, cát, đá, sỏi, xi măng, sắt, thép … Trong nguyên vật liệu chính bao gồm cả bán thành phẩm mua ngoài Đó là các chi tiết, bộ phận của sản phẩm
mà doanh nghiệp mua của các đơn vị khác để tiếp tục sản xuất chế biến thành sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp
- Vật liệu phụ: Là những loại vật liệu khi tham gia vào quá trình sản
xuất không cấu thành thực thể chính của sản phẩm mà nó có thể kết hợp với
Trang 8NVL chính làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dáng bề ngoài của sản phẩm hoặc tạo điều kiện cho quá trình chế tạo sản phẩm được thực hiện bình thường.
- Phụ tùng thay thế: là các chi tiết, bộ phận dùng để thay thế sửa chữa
máy móc, thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải …
- Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: Là những loại vật liệu và thiết bị
được sử dụng cho công việc xây dựng cơ bản bao gồm cả thiết bị cần lắp, công cụ, khí cụ và vật liệu thu hồi trong quá trình thanh lý tài sản cố định
- Vật liệu khác: Là những loại vật liệu không được xếp vào các loại trên
Các loại vật liệu này do quá trình sản xuất loại ra như các loại phế liệu, vật liệu thu hồi do thanh lý TSCĐ
Việc phân chia nguyên vật liệu thành các loại như trên giúp cho kế toán tổ chức các tài khoản tổng hợp, chi tiết để phản ánh tình hình hiện có và
sự biến động của các loại nguyên vật liệu đó trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp nhận biết rõ nội dung kinh tế và vai trò, chức năng của từng loại vật liệu trong quá trình sản xuất kinh doanh, từ đó có biện pháp thích hợp trong việc tổ chức quản lý và
sử dụng có hiệu quả các loại vật liệu
1.2.1.2 Căn cứ vào mục đích, nơi sử dụng NVL của doanh nghiệp
được chia thành:
- Nguyên vật liệu trực tiếp dùng cho sản xuất, chế tạo sản phẩm
- Nguyên vật liệu trực tiếp dùng cho các nhu cầu khác: Phục vụ quản lý ở các phân xưởng SX, đội SX, phục vụ bán hàng, quản lý doanh nghiệp…
1.2.1.3 Căn cứ vào nguồn nhập NVL của doanh nghiệp được chia thành:
- Nguyên vật liệu mua ngoài
- Nguyên vật liệu tự gia công chế biến
- Nguyên vật liệu thuê ngoài gia công chế biến
Trang 9- Nguyên vật liệu nhận vốn góp liên doanh …
Tuy nhiên để đảm bảo nhu cầu nguyên vật liệu cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tiến hành được thường xuyên, liên tục không bị gián đoạn và quản lý nguyên vật liệu một cách chặt chẽ cần phải nhận biết một cách cụ thể về số hiện có và tình hình biến động của từng thứ vật liệu được sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Bởi vậy các loại vật liệu cần phải được phân chia một cách chi tiết,
tỷ mỉ hơn theo tính năng lý, hóa, theo quy cách phẩm chất của vật liệu Việc phân chia vật liệu một cách chi tiết, tỷ mỷ trong các doanh nghiệp sản xuất được thực hiện trên cơ sở xây dựng và lập sổ danh điểm vật liệu, trong đó vật liệu được chia thành loại, nhóm, thứ và mỗi loại, nhóm, thứ được sử dụng một ký hiệu riêng gọi là số danh điểm vật liệu và được sử dụng thống nhất trong phạm vi doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho các bộ phận, đơn vị trong doanh nghiệp phối hợp chặt chẽ trong công tác quản lý vật liệu Mỗi loại vật liệu sử dụng một số trang trong sổ danh điểm vật liệu để ghi đủ các nhóm, thứ vật liệu thuộc loại vật liệu đó
1.2.2 Đánh giá nguyên liệu, vật liệu.
Nguyên, vật liệu thuộc nhóm hàng tồn kho của doanh nghiệp, do vậy
về nguyên tắc cũng phải tuân thủ theo các nguyên tắc đánh giá hàng tồn kho
Thứ nhất: NVL phải đánh giá theo giá gốc Giá gốc hay còn được gọi là trị
giá vốn thực tế của vật liệu, là toàn bộ các chi phí doanh nghiệp đã bỏ ra để
có được số nguyên vật liệu đó ở địa điểm và trạng thái hiện tại
Thứ hai: Nguyên tắc thận trọng: NVL được tính theo giá gốc nhưng trong
trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện đuợc thấp hơn giá gốc thì phải theo giá trị thuần có thể thực hiện được Giá trị thuần có thể thực hiện được là giá bán ước tính của NVL trong kỳ sản xuất, kinh doanh trừ đi chi phí ước tính
Trang 10cần thiết cho việc tiêu thụ chúng Nguyên tắc thận trọng được thể hiện ở việc trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho.
Thứ ba: Cần phải tuân thủ nguyên tắc nhất quán, kế toán chọn
phương pháp nào thì phải áp dụng phương pháp đó nhất quán trong suốt niên độ kế toán Doanh nghiệp có thể thay đổi phương pháp đã chọn nhưng phải đảm bảo phương pháp thay thế cho phép trình bày thông tin kế toán một cách trung thực, hợp lý hơn, đồng thời phải giải thích được sự thay đổi đó
1.2.2.1 Đánh giá nguyên liệu, vật liệu trong trường hợp nhập
kho.
Tùy theo từng nguồn nhập mà cấu thành giá thực tế của nguyên vật liệu có sự khác nhau, cụ thể:
- Đối với nguyên vật liệu mua ngoài:
+ Nếu nguyên vật liệu mua để dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ:
+
Thuế nhập khẩu (nếu có)
+
Chi phí trực tiếp phát sinh trong khâu mua
-Các khoản chiết khấu
TM, giảm giá
và trị giá hàng mua bị trả lại+ Nếu nguyên vật liệu mua để dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh không thuộc đối tượng nộp thuế GTGT hoặc nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp:
+
Thuế nhập khẩu và thuế GTGT hàng nhập khẩu
+
Chi phí trực tiếp phát sinh trong khâu thu mua
-Các khoản chiết khấu
TM, giảm giá và trị giá hàng mua trả lại
Trang 11- Đối với nguyên vật liệu do doanh nghiệp tự gia công chế biến:
Trị giá thực tế của nguyên
vật liệu gia công nhập kho
trong kỳ
=
Trị giá thực tế của vật liệu xuất gia công chế
+
Chi phí giao,nhận
+ Tiền công gia công
- Đối với nguyên vật liệu nhận góp vốn liên doanh: thì giá thực tế là giá do các bên tham gia liên doanh đánh giá
- Đối với nguyên vật liệu được cấp: trị giá vốn thực tế NVL nhập kho là giá ghi trên biên bản giao nhận cộng với chi phí phát sinh khi nhận
1.2.2.2 Đánh giá nguyên liệu, vật liệu trong trường hợp xuất kho.
Khi xuất kho nguyên vật liệu để sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp kế toán phải tính toán, xác định chính xác trị giá thực tế của nguyên vật liệu xuất cho các nhu cầu khác nhau nhằm xác định chính xác chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Để tính trị giá thực tế của nguyên vật liệu xuất kho có thể áp dụng một trong các phương pháp sau:
* Trường hợp doanh nghiệp sử dụng giá thực tế để hạch toán NVL:
- Phương pháp đơn giá bình quân giá quyền: Theo phương pháp này giá
thực tế của nguyên vật liệu xuất kho được tính trên cơ sở số lượng nguyên vật liệu xuất kho và đơn giá bình quân của nguyên vật liệu tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Đơn giá
bình = Trị giá thực tế NVL tồn đầu kỳ + Trị giá thực tế nguyên vật liệu nhập trong kỳ
Số lượng nguyên + Số lượng nguyên vật liệu nhập trong kỳ
Trang 12quân vật liệu tồn đầu kỳ
Trị giá thực tế của
nguyên vật liệu xuất
kho
= Số lượng nguyên vật liệu xuất kho X Đơn giá bình quân
+ Ưu điểm : dễ làm, dễ tính toán
+Nhược điểm: ++ Che đậy sự biến động về giá của vật tư trên thị
trường
+ + Công việc dồn vào cuối kỳ, ảnh hưởng tới việc ghi chép
- Phương pháp giá thực tế đích danh: Theo phương pháp này giá thực tế
nguyên vật liệu xuất kho được tính trên cơ sở số lượng nguyên vật liệu xuất kho và đơn giá thực tế nhập kho của chính lô nguyên vật liệu xuất kho đó Phương pháp này thường được áp dụng đối với những loại vật liệu đặc chủng, có giá trị cao, công thức tính:
+ Ưu điểm: + Trong trường hợp này nguyên tắc phù hợp giữa chi phí
và doanh thu được đảm bảo
+ Theo dõi chính xác về giá thực tế tình hình nhập, xuất của từng lô hàng giúp việc hạch toán kế toán kịp thời, chính xác
+ Nhược điểm: Sẽ khó theo dõi nếu như doanh nghiệp có nhiều chủng
loại NVL và công việc bảo quản NVL phức tạp
- Phương pháp giá thực tế nhập trước xuất trước: Theo phương
pháp này kế toán phải theo dõi được đơn giá thực tế và số lượng của từng lô hàng nhập kho Sau đó, khi xuất kho căn cứ vào số lượng xuất tính ra giá thực tế theo công thức:
Trang 13Khi nào xuất hết số lượng của lô hàng nhập trước thì nhân với đơn giá thực tế của lô hàng nhập tiếp sau Như vậy, theo phương pháp này giá thực
tế của nguyên vật liệu tồn kho cuối kỳ chính là giá thực tế của nguyên vật liệu nhập kho thuộc các lần mua sau cùng
+ Ưu điểm: Về cơ bản, phương pháp này cho kết quả tính toán phù
hợp với giá thực tế trên thị trường
+ Nhược điểm: Chi phí mang tính chất quả khứ, doanh thu mang tính
chất hiện tại
- Phương pháp giá thực tế nhập sau xuất trước: Theo phương pháp này kế
toán cũng phải theo dõi được đơn giá thực tế và số lượng của từng lô hàng nhập kho Sau đó khi xuất kho căn cứ vào số lượng xuất kho để tính trị giá thực tế của nguyên vật liệu xuất kho theo công thức:
X Đơn giá thực tế của lô hàng nhập sau cùngKhi nào hết số lượng của lô hàng nhập sau cùng thì nhân với đơn giá thực tế của lô hàng nhập trước lô hàng đó Như vậy theo phương pháp này giá thực tế của nguyên vật liệu tồn kho cuối kỳ chính là giá thực tế của nguyên vật liệu nhập kho thuộc các lần mua đầu kỳ
+ Nhược điểm: Giá trị của NVL tồn cuối kỳ được tính theo đơn giá
của những lần nhập đầu tiên trong kỳ nên không sát với tình hình thực tế
- Phương pháp hệ số giá :Trường hợp doanh nghiệp sử dụng giá hạch
toán (loại giá ổn định được sử dụng thống nhất trong phạm vi doanh nghiệp
và cả kỳ kế toán) để theo dõi chi tiết tình hình nhập xuất NVL hàng ngày, đến cuối kỳ kế toán phải điều chỉnh giá hạch toán theo giá thực tế đối với số
Trang 14nguyên vật liệu xuât dùng trong kỳ trên cơ sở hệ số giữa trị giá thực tế và trị giá hạch toán của NVL luân chuyển trong kỳ.
Công thức tính như sau:
+ Trị giá thực tế nguyên vật liệu nhập kho trong
kỳTrị giá hạch toán của NVL
tồn kho đầu kỳ
+ Trị giá hạch toán của NVL nhập kho trong kỳ
Tùy thuộc vào đặc điểm yêu cầu và trình độ quản lý của doanh nghiệp
mà hệ số giá vật liệu có thể được tính riêng cho từng thứ, nhóm hoặc toàn bộ nguyên vật liệu Mỗi một phương pháp tính giá NVL có nội dung, ưu nhược điểm và điều kiện áp dụng phù hợp nhất định Doanh nghiệp phải căn cứ vào đặc điểm hoạt động SXKD vào yêu cầu quản lý và trình độ của đội ngũ cán
bộ kế toán để lựa chọn và đăng ký một phương pháp tính phù hợp Phương pháp tính giá đã đăng ký phải được sử dụng nhất quán trong niên độ kế toán
1.3 Kế toán chi tiết nguyên liệu, vật liệu trong doanh nghiệp xây lắp.
Trang 15- Phiếu xuất kho – Mẫu 02-VT
- Biên bản kiểm nghiệm vật tư – Mẫu 03-VT
- Phiếu báo vât tư còn lại cuối kỳ - Mẫu 04-VT
- Biên bản kiểm kê vật tư – Mãu 05-VT
- Bảng kê mua hàng – Mẫu 06-VT
- Bảng phân bổ nguyên liệu, vật liệu, công cụ dụng cụ - Mẫu 07-VT
1.3.21Phương pháp kế toán chi tiết nguyên liệu, vật liệu.
Việc hạch toán chi tiết NVL phải được tiến hành đồng thời ở cả kho
và phòng kế toán trên cơ sở các chứng từ nhập xuất Các doanh nghiệp phải
tổ chức hệ thống chứng từ, mở các sổ kế toán chi tiết trên cơ sở lựa chọn, vận dụng phương pháp kế toán chi tiết NVL cho phù hợp nhằm tăng cường công tác quản lý NVL Cá doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong những phương pháp sau để kế toán chi tiết nguyên vật liệu
1.3.2.1 Phương pháp thẻ song song
* Nội dung phương pháp
- Nguyên tắc: ở kho chỉ ghi chép về mặt số lượng, còn ở phòng kế toán
ghi chép cả về số lượng và giá trị của từng loại vật liệu
- Trình tự ghi chép ở kho: Hàng ngày căn cứ vào chứng từ nhập, xuất vật
liệu, thủ kho ghi số lượng vật liệu thực nhập, thực xuất vào thẻ hoặc sổ kho
có liên quan Thủ kho phải thường xuyên đối chiếu số tồn trên thẻ kho với số tồn vật liệu thực tế tại kho Hàng ngày hoặc định kỳ sau khi ghi thẻ kho, thủ kho phải chuyển toàn bộ chứng từ nhập, xuất kho vật liệu về phòng kế toán
- Trình tự ghi chép tại phòng kế toán: Kế toán mở thẻ hoặc sổ chi tiết vật
tư cho từng loại vật liệu tương ứng với thẻ kho của từng kho để theo dõi cả
về số lượng và giá trị Hàng ngày hoặc định kỳ khi nhận được các chứng từ nhập, xuất kho vật tư của thủ kho chuyển lên, kế toán phải kiểm tra từng
Trang 16chứng từ, ghi đơn giá, tính thành tiền rồi ghi vào thẻ hoặc sổ chi tiết NVL liên quan.
Cuối tháng, kế toán cộng thẻ hoặc sổ tính ra tổng số nhập, xuất và tồn kho của từng loại vật liệu rồi đối chiếu với thẻ kho của thủ kho đồng thời lập báo cáo tổng hợp nhập, xuất, tồn kho về giá trị để đối chiếu với sổ kế toán tổng hợp
* Ưu điểm : Đơn giản, dễ làm, dễ kiểm tra, dễ đối chiếu.
* Nhược điểm : Khối lượng ghi chép nhiều, trùng lắp chỉ tiêu số lượng
giữa kho với bộ phận kế toán
* Điều kiện áp dụng : Phương pháp này áp dụng cho các doanh
nghiệp ít chủng loại NVL, tình hình nhập xuất diễn ra không thường xuyên
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ kế toán chi tiết vật liệu theo PP ghi thẻ song song
* Ghi chú: Ghi hàng ngày
Ghi cuối thángĐối chiếu kiểm tra
1.3.2.2 Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển
* Nội dung phương pháp
- Tại kho: Thủ kho theo dõi từng NVL trên thẻ kho.
- Tại phòng kế toán: Không mở sổ chi tiết NVL để theo dõi hạch toán hằng
ngày mà sử dụng sổ đối chiếu luân chuyển để ghi chép tình hình nhập, xuất, tồn kho của từng NVL Nhưng mỗi tháng chỉ ghi một lần vào cuối tháng,
Phiếu nhập
kho
Thẻ kho
Thẻ hoặc
sổ chi tiết vật tư
Bảng tổng hợp nhập – xuất – tồn kho vật tưPhiếu xuất
kho
Kế toán tổng hợp
Trang 17mỗi loại NVL chỉ được phản ánh trên một dòng trên cơ sở tổng hợp chứng
từ nhập xuất phát sinh
Cuối tháng, đối chiếu với chỉ tiêu số lượng trên thẻ kho, chỉ tiêu giá trị trên sổ kế toán tổng hợp
* Ưu điểm : Giảm bớt khối lượng ghi chép của kế toán so với phương
pháp thẻ song song, tiết kiệm chi phí sổ sách
* Nhược điểm : Công việc dồn vào cuối tháng, ảnh hưởng tới tính kịp
thời của thông tin
* Điều kiện áp dụng : áp dụng cho các doanh nghiệp có ít chủng loại
NVL, tình hình nhập xuất diễn ra không thường xuyên
Sơ đồ 1.2 : Kế toán chi tiết vật liệu theo phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển
1.3.2.3 Phương pháp sổ số dư.
Phương pháp sổ số dư là phương pháp có khá nhiều điểm khác biệt so với các phương pháp khác, thể hiện sự tiến bộ vượt bậc trong công tác kế toán chi tiết vật liệu
*Nội dung:
-Tại kho: Mở các thẻ kho để ghi chép, phản ánh số hiện có và tình hình
biến động của NVL trên cơ sở các chứng từ gốc.Cuối tháng thủ kho căn cứ vào số tồn của NVL để ghi vào sổ số dư Sổ số dư do phòng kế toán lập và
Bảng kê nhập
Kế toán tổng hợp
Trang 18gửi xuống cho thủ kho trước ngày cuối tháng để thủ kho ghi vào sổ Ghi xong, thủ kho gửi lên phòng kế toán để kiểm tra.
- Tại phòng kế toán: Không mở sổ chi tiết cho từng loại NVL mà chỉ mở
sổ theo dõi theo từng nhóm NVL
Thực hiện phương pháp này, định kỳ ngắn hạn, nhân viên kế toán NVL phải xuống kho theo dõi, kiểm tra việc ghi chép nghiệp vụ trên các thẻ kho và tính số dư hiện có của NVL này trên thẻ kho Cuối tháng, sau khi kiểm tra lần cuối, kế toán kê số dư NVL cả về số lượng lẫn giá trị để hạch toán vào bảng kê số dư để đối chiếu với sổ chi tiết kế toán
* Ưu điểm : Giảm bớt khối lượng công việc ghi chép của kế toán.
* Nhược điểm: Việc đối chiếu giữa kế toán với thủ kho khó khăn,
phức tạp hơn
* Áp dụng: Áp dụng cho doanh nghiệp sử dụng giá hạch toán để ghi
sổ, thích hợp với những doanh nghiệp thực hiện kế toán thủ công
Sơ đồ 1.3 : Sơ đồ kế toán chi tiết vật liệu theo phương pháp sổ số dư.
Sổ số dưPhiếu nhập kho
Trang 19: Ghi hàng ngày hoặc định kỳ
: Ghi cuối tháng, quý : Đối chiếu cuối tháng, cuối quý
.41 Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu trong doanh nghiệp xây lắp.
1.4.1 Theo phương pháp kê khai thường xuyên.
*Nội dung.
Hạch toán tổng hợp NVL theo phương pháp kê KKTX là phương pháp theo dõi thường xuyên, liên tục sự biến động nhập, xuất, tồn vật liệu trên sổ kế toán Sử dụng phương pháp này có thể tính được trị giá vật tư nhập, xuất, tồn tại bất kỳ thời điểm nào trên sổ tổng hợp Trong phương pháp này, tài khoản NVL được phản ánh theo đúng nội dung tài khoản tài sản Phương pháp này thường được áp dụng ở các doanh nghiệp có giá trị nguyên vật liệu lớn
* Tài khoản sử dụng.
Tài khoản 152 "Nguyên vật liệu"
Tài khoản này dùng để theo dõi giá trị hiện có, biến động tăng giảm của các loại nguyên vật liệu theo giá thực tế
Kết cấu TK 152:
-Bên Nợ:
+ Giá thực tế của nguyên vật liệu nhập kho do mua ngoài, tự chế, thuê ngoài gia công chế biến, nhận góp vốn liên doanh, được cấp hoặc nhập từ nguồn khác
+ Trị giá nguyên vật liệu thừa phát hiện khi kiểm kê
-Bên Có:
+ Giá thực tế nguyên vật liệu xuất kho dùng cho sản xuất, xuất bán, thuê ngoài gia công chế biến hoặc góp vốn liên doanh
Trang 20+ Trị giá NVL được giảm giá, CKTM hoặc trả lại người bán.
+ Trị giá nguyên vật liệu thiếu hụt phát hiện khi kiểm kê
-Dư Nợ:
+ Giá thực tế nguyên vật liệu tồn kho
Tài khoản 152 có thể mở chi tiết theo từng loại NVL tuỳ theo yêu cầu quản
lý của doanh nghiệp Chi tiết theo công dụng có thể chia thành 5 tài khoản cấp 2:
Tài khoản 151 "Hàng mua đi đường"
Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị các loại NVL mà doanh nghiệp đã mua, đã chấp nhận thanh toán với người bán nhưng cuối kỳ chưa về nhập kho
+ Giá trị nguyên vật liệu đi đường chưa về nhập kho
Ngoài ra, hạch toán tổng hợp NVL theo phương pháp KKTX còn sử dụng 1
số tài khoản liên quan khác như tài khoản 111, 112, 133, 141, 331, 515
* Phương pháp hạch toán:
Trang 21Hạch toán tổng hợp nguyên liệu, vật liệu theo sơ đồ dưới đây:
Chú giải sơ đồ:
- (1a) : Vật liệu và hoá đơn cùng về : Căn cứ vào hoá đơn, phiếu nhập kho
và các chứng từ liên quan kế toán ghi:
Nợ TK 152: Giá thực tế
Nợ TK 1331: Thuế GTGT được khấu trừ
Có TK 111, 112, 331, 141, 311 tổng thanh toán
- (1b) : Vật tư về trước, hoá đơn về sau : Khi vật tư về làm thủ tục nhập
kho, lưu phiếu nhập vào tập hồ sơ hàng chưa có hoá đơn
TK
Trang 22- (1b) : Vật tư về trước, hoá đơn về sau : Khi vật tư về làm thủ tục nhập
kho, lưu phiếu nhập vào tập hồ sơ hàng chưa có hoá đơn
TK
Trang 23- 1c) : Hoá đơn về trước, vật tư về sau:
Khi hoá đơn về lưu hoá đơn vào tập hồ sơ hàng đang đi đường.+ Nếu trong kỳ vật tư về, hạch toán giống trường hợp (1a)
+ Cuối kỳ vật tư chưa về, kế toán ghi:
(4b)
(4c)
(5b)(1c)
(5a)
Trang 24Nợ TK 133: Thuế GTGT được khấu trừ
- (2) : Trong cả 3 trường hợp trên, nếu được chiết khấu thanh toán
được hưởng kế toán ghi:
Nợ TK 111, 112, 331
Có TK 515
- (3) : Trong cả 3 trường hợp trên, nếu được chiết khấu thương mại,
giảm giá hoặc trả lại vật tư cho người bán kế toán ghi:
Nợ TK 111, 112, 331
Có TK 152
Có TK 133
- (4a,b,c,d,e,f) : Các trường hợp tăng nguyên vật liệu do các nguyên
nhân khác, kế toán ghi:
Nợ TK 152: nguyên vật liệu tăng
Có TK 411: được cấp hoặc nhận vốn góp liên doanh
Có TK 711: được viện trợ, biếu tặng
Có TK 154: thuê ngoài gccb hoặc tự sản xuất đã hoàn thành
Có TK 154, 711: thu hồi phế liệu trong SX, thanh lý TSCĐ
Có TK 154: sử dụng còn thừa nhập lại kho
Có TK 1388: nhập vật tư từ cho vay, mượn
Có TK 128, 222: nhận lại vốn góp liên doanh
Có TK 3381: kiểm kê thừa
Có TK 412: đánh giá tăng nguyên vật liệu
Trang 25- (5a) : Xuất nguyên vật liệu sử dụng cho các bộ phận:
Nợ TK 621, 627641, 642 Theo giá
Có TK 152 trị xuất
- (5b) : Xuất góp liên doanh:
Giá trị vốn góp do hội đồng liên doanh đánh giá, chênh lệch giữa giá trị vốn góp và giá trị ghi sổ được phản ánh trên tài khoản chênh lệch đánh giá tài sản:
Nợ TK 154: thuê ngoài gia công chế biến
Nợ TK 1388, 136: cho vay, cho mượn
Nợ TK 411: trả lại vốn góp liên doanh
Nợ TK 4312: viện trợ, biếu tặng
Nợ TK 412: đánh giá giảm nguyên vật liệu
Có TK 152: nguyên vật liệu giảm
- (5e) : Xuất vật liệu bán:
Trang 26- (5f) : Kiểm kê thiếu nguyên vật liệu:
Phương pháp kiểm kê định kỳ là phương pháp căn cứ vào kết quả kiểm
kê thực tế để phản ánh giá trị hàng tồn kho cuối kỳ trên sổ kế toán tổng hợp
và từ đó tính ra trị giá vật tư, hàng hoá đã xuất
Trị giá vật tư
xuất kho =
Trị giá vật tư tồn đầu kỳ +
Tổng giá vật tư mua vào trong kỳ -
Trị giá vật tư tồn cuối kỳ Theo phương pháp này, mọi biến động về vật tư không được theo dõi, phản ánh trên tài khoản 152, giá trị vật tư mua vào được phản ánh trên tài
khoản "Mua hàng" Phương pháp này thường được áp dụng ở những doanh
nghiệp có nhiều chủng loại vật tư, giá trị thấp và được xuất thường xuyên
* Tài khoản sử dụng:
Tài khoản 611 "Mua hàng":
Tài khoản này dùng để phản ánh giá thực tế của số vật liệu mua vào, xuất trong kỳ Kết cấu TK 611:
-Bên Nợ:
+ Kết chuyển trị giá vật tư tồn đầu kỳ
+ Trị giá vật tư nhập trong kỳ
Trang 27-Bên Có:
+Kết chuyển trị giá vật tư tồn cuối kỳ
+Kết chuyển trị giá vật tư xuất trong kỳ
Tài khoản 611 cuối kỳ không có số dư, chi tiết thành 2 tài khoản cấp 2: -TK 6111 "Mua nguyên vật liệu"
-TK 6112 "Mua hàng hoá"
Tài khoản : 151 "Hàng mua đi đường"
-Bên Nợ:
+ Giá trị vật tư tồn, vật tư đi đường đầu kỳ
+ Giá trị vật tư tồn, vật tư đi đường cuối kỳ
Trang 28- (2a,b) : Trong kỳ, phản ánh giá trị vật tư tăng:
(6) (4)
(5)
Trang 29Nợ TK 151, 152
Có TK 611
- (5,6) : Sau khi có đầy đủ các bút toán trên, kế toán tính ra được giá trị
vật liệu xuất dùng trong kỳ và ghi:
Nợ TK 631
Nợ TK 128, 222
Có TK 611
2.2 Sổ Kế toán áp dụng.
Sổ kế toán dùng để ghi chép, hệ thống và lưu giữ toàn bộ các nghiệp
vụ kinh tế, tài chính đã phát sinh theo nội dung kinh tế và theo trình tự thời gian có liên quan đến doanh nghiệp
Doanh nghiệp phải căn cứ vào quy mô, đặc điểm hoạt động SXKD, yêu cầu quản lý, trình độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán, điều kiện trang bị kỹ thuật tính toán, lựa chọn một hình thức sổ kế toán phù hợp, bao gồm 4 hình thức sau:
Trang 30là sổ NKC, theo trật tự thời gian phát sinh và theo nội dung kinh tế của nghiệp vụ đó Sau đó lấy số liệu trên các sổ Nhật ký để ghi Sổ Cái theo từng nghiệp vụ phát sinh.
Với hình thức NKC, kế toán NVL sử dụng các loại sổ chủ yếu sau:
- Sổ Nhật ký chung
- Sổ Nhật ký mua hàng
- Sổ Cái tài khoản 152
- Sổ chi tiết nguyên vật liệu
- Bảng kê nhập – xuất – tồn NVL (Bảng tổng hợp chi tiết NVL)
- Thẻ kho (Sổ kho)
Ta có trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức Nhật kí chung như sau:
♦ Hình thức kế toán Nhật ký – Sổ Cái(NK – SC)
Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán NK - SC: Các nghiệp vụ kinh
tế, tài chính phát sinh được kết hợp ghi chép theo trình tự thời gian và theo nội dung kinh tế (theo tài khoản kế toán) trên cùng một quyển sổ kế toán
Sổ cái
Chứng từ kế toán
Bảng tổng hợp chi tiết
Báo cáo tài chínhBảng cân đối
số phát sinh
Trang 31tổng hợp duy nhất là sổ NK - SC Căn cứ để ghi vào sổ NK - SC là các
chứng từ kế toán hoặc Bảng tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại
Với hình thức NK - SC, kế toán NVL sử dụng các loại sổ chủ yếu sau:
- Sổ Nhật ký – Sổ Cái
- Sổ chi tiết nguyên vật liệu
- Bảng kê nhập – xuất – tồn NVL (Bảng tổng hợp chi tiết nguyên vật
liệu)
- Thẻ kho (Sổ kho)
Ta có trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức Nhật kí – sổ cái như sau:
Ghi chú: Ghi hàng ngày
Ghi cuối thángĐối chiếu kiểm tra
♦ Hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ(CTGS)
Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ: Căn cứ trực
tiếp để ghi sổ kế toán tổng hợp là CTGS Việc ghi sổ kế toán tổng hợp bao
Bảng tổng hợp chi tiết
Sổ, thẻ
kế toán chi tiết
NHẬT KÍ SỔ CÁI
BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Trang 32- Ghi theo nội dung kinh tế ghi trên Sổ Cái.
Ta có trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức Chứng từ ghi sổ như sau:
Chứng từ ghi sổ do kế toán lập trên cơ sở từng chứng từ kế toán hoặc Bảng tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại, có cùng nội dung kinh tế CTGS được đánh số hiệu liên tục trong từng tháng hoặc trong cả năm (theo số thứ
tự trong Sổ đăng ký CTGS) và có chứng từ kế toán đính kèm, phải được kế toán trưởng duyệt trước khi ghi sổ kế toán
Với hình thức CTGS, kế toán NVL sử dụng các loại sổ chủ yếu sau:
- Sổ Đăng ký Chứng từ ghi sổ
- Sổ Cái tài khoản 152
- Sổ chi tiết nguyên vật liệu
- Bảng kê nhập – xuất – tồn NVL (Bảng tổng hợp chi tiết nguyên vật liệu)
Sổ quỹ
CHỨNG TỪ GHI SỔ
Sổ cái
Bảng tổng hợp kế toán chứng từ cùng loại
Bảng tổng hợp chi tiết
Sổ, thẻ
kế toán chi tiết
Trang 33- Thẻ kho (Sổ kho)
♦ Hình thức kế toán Nhật kí chứng từ( NKCT )
Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán NKCT:
- Tập hợp và hệ thống hóa các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo bên
Có của các tài khoản kết hợp với việc phân tích các nghiệp vụ kinh tế
đó theo các tài khoản đối ứng Nợ
- Kết hợp chặt chẽ việc ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo trình tự thời gian với việc hệ thống hóa các NV theo nội dung kinh tế(theo tài khoản) Kết hợp rộng rãi với việc hạch toán tổng hợp với hạch toán chi tiết trên cùng một sổ kế toán và trong cùng một quá trình ghi chép
- Sử dụng các mẫu sổ in sẵn các quan hệ đối ứng tài khoản, chỉ tiêu quản lý kinh tế, tài chính và lập báo cáo tài chính
Ta có trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức Nhật kí chứng từ như sau:
Ghi chú: Ghi hàng ngày Đối chiếu kiểm tra:
Ghi cuối tháng
Chứng từ kế toán và các bảng phân bổ
Trang 342.1.1 Vài nét về quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần
xây dựng công trinh văn hoá thể thao và du lịch.
2.1.1.1 Tên công ty.
2.1.1.1.1 Tên Tiếng Việt : CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG CÔNG
TRÌNH
VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH;2.1.1.1.2 Tên giao dịch Quốc tế : CONSTRUTION CULTURE, SPORTS AND
TOURISM WORKS, JOINT STOCK
COMPANY;
2.1.1.1.3 Tên viết tắt: CST.,JSC.
2.1.1.2 Ngày thành lập Thành lập ngày 04 tháng 10 năm 2007 theo Giấy
phép đăng ký kinh doanh số 0103019825 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội cấp
Trang 352.1.1.5 Thông tin liên hệ:
Số điện thoại:(04) 22.106.905; Fax:(04) 37.930.900;
Email: CST_JSC@yahoo.com.
2.1.1.6 Đại diện theo Pháp luật của Công ty
- Tổng giám đốc : Ông : NGUYỄN SỸ CHƯ
- Nghề nghiệp: Kỹ sư xây dựng
- Tốt nghiệp: Khoa Công trình hàng không - Trường đại học Hàng không dân dụng KIEV ( Liên Xô cũ )
- Điện thoại : 0913.22.73.74
2.1.1.7 Tài khoản: Số 21510000380594 tại Ngân hàng Đầu tư và phát
triển Việt Nam, Chi nhánh Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
2.1.1.8 Mã số thuế: 0102381812 tại Chi cục Thuế Cầu Giấy – Hà Nội.
Công ty CP Xây dựng công trình Văn hoá Thể thao và Du lịch là doanh nghiệp được thành lập theo giấy đăng ký kinh doanh số: 0103019825, ngày 04 tháng 10 năm 2007, do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội cấp Công ty là thành viên chính thức của Hội Di sản Văn hoá Việt Nam theo Quyết định số 06/QĐ-HDSVHVN, ngày 19 tháng 05 năm 2009 của Chủ tịch Hội Di sản Văn hoá Việt Nam
Công ty hoạt động với tổng số vốn điều lệ của là 5.000.000.000 đồng ( năm tỷ đồng ) Tình hình Tài chính Công ty lành mạnh, có uy tín cao với các đối tác, có khả năng huy động vốn, đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh Công ty không có nợ quá hạn trong thời gian qua, kê khai và nộp thuế đầy đủ cho Nhà nước, đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho người lao động, nhân viên Công ty
Bộ máy lãnh đạo giàu năng lực, kinh nghiệm quản lý là tập thể Cán bộ Công nhân viên, kiến trúc sư, kỹ sư xây dựng, cử nhân kinh tế, nghệ nhân điêu khắc có trình độ chuyên môn và có kinh nghiệm trong lĩnh vực xây dựng
Trang 36cùng với một hệ thống trang thiết bị máy móc, phương tiện hiện đại Chỉ sau hai năm hoạt động Công ty đã có chỗ đứng vững chắc trong ngành Văn hoá, được bạn bè biết đến như một địa chỉ tin cậy.
Đội ngũ Cán bộ Công nhân viên thi công các công trình là các nghệ nhân, công nhân đã từng tham gia thi công các hạng mục công trình Đặc biệt là các công trình Tu bổ, tôn tạo và phục hồi di tích lịch sử văn hoá
Bộ phận tư vấn - kiểm định trực tiếp chỉ đạo công tác tư vấn, lập dự án thiết kế và tổ chức thi công các công trình xây dựng
Cơ chế hoạt động công ty được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu và rút kinh nghiệm các công ty Cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước và công
ty Cổ phần thành viên sáng lập
2 21 Đặc điểm tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh và đặc điểm sản
xuất kinh doanh tại Công ty.
2.1.2.1 Đặc điểm tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh tại Công ty.
*SƠ ĐỒ BỘ MÁY TỔ CHỨC QUẢN LÝ CÔNG TY
- Công ty tổ chức bộ máy theo hình thức tập trung, thống nhất từ trên
xuống dưới Bộ máy quản lý được tổ chức hợp lý, phù hợp với trình độ của mỗi người, hoạt động độc lập nhưng có mối quan hệ giữa các bộ phận, từ đó làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả,trách nhiệm làm việc của mỗi cá nhân cao
- Hội đồng quản trị: Là cơ quan quản lý Công ty, có toàn quyền nhân danh Công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến hoạt động của Công ty
- Tổng Giám Đốc : là người đại diện theo Pháp luật của Công ty do
Hội đồng quản trị bổ nhiệm, được sự ủy quyền, đủ quyền hạn cần thiết để thi hành các quyết định của Hội đồng quản trị, là người điều hành mọi hoạt động của Công ty và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị Thực hiện
Trang 37quyền hạn và nhiệm vụ của mình phù hợp với điều lệ Công ty, các nội quy, quy chế nội bộ của Công ty trên cơ sở tuân thủ Pháp luật.
- Phó Tổng Giám Đốc : chịu trách nhiệm thay Giám đốc khi Giám đốc đi vắng, sau đó báo cáo công việc lại cho Giám đốc Nhận một phần việc do Tổng Giám đốc phân công chịu trách nhiệm về phần việc đó, ví dụ như: phụ trách công tác hành chính quản trị, chịu trách nhiệm về đời sống vật chất của cán bộ, công nhân viên trong công ty, trợ giúp giám đốc trong khâu khoa học, kỹ thuật
ĐƠN VỊ DỊCH
VỤ VĂN HOÁ TT
VÀ DL
HỘI ĐỒNG QUẢN
TRỊ
TỔNG GIÁM ĐỐC
TỔ CHUYÊN
GIA TƯ VẤN
CÁC PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC
XƯỞNG GIA CÔNG NỘI NGOẠI THẤT
ĐƠN
VỊ KINH DOAN
H VLXD
Trang 38Bộ máy lãnh đạo gồm :
- Ông Nguyễn sỹ Chư : Tổng Giám Đốc
- Ông Đào Sỹ Quang : Phó Tổng Giám Đốc
2.1.2.2 Đặc điểm sản xuất kinh doanh tại Công ty.
Theo giấy đăng ký kinh doanh số: 0103019825, ngày 04 tháng 10 năm
2007, do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội cấp,công ty kinh doanh những nghành nghề sau :
- Các công trình Tu bổ, tôn tạo và phục hồi di tích lịch sử văn hoá
- Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp
- Tham gia tư vấn thiết kế các công trình xây dựng
* Đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty
Các công trình của Công ty được tiến hành gồm cả đấu thầu và chỉ định thầu Sau khi hợp đồng được kí kết, công ty thành lập ban chỉ huy công trường giao nhiệm vụ cho các phòng ban chức năng: phải lập kế hoạch sản xuất cụ thể, các phương án đảm bảo cung cấp vật tư, máy móc thiết bị thi công, tổ chức thi công hợp lý, đảm bảo tiến độ cũng như chất lượng của hợp đồng kinh tế đã kí kết với chủ đầu tư
Việc quản lý vật tư công ty chủ yếu giao cho phòng Kinh tế kỹ thuật theo dõi tình hình mua vật tư cho đến khi bàn giao công trình cho chủ đầu tư( bên A) Máy móc thi công chủ yếu là của công ty, ngoài ra công ty còn thuê để đảm bảo quá trình thi công kịp tiến độ theo kế hoạch hợp đồng đã kí kết, do phòng Quản lý kỷ thuật chịu trách nhiệm quản lý, vận hành trong thời gian làm ở công trường.Chất lượng công trình do bên A quy định Trong quá trình thi công , nếu có sự thay đổi phải bàn bạc với bên A và được
Trang 39bên A cho phép bằng văn bản nên tiến độ thi công và chất lượng công trình luôn được đảm bảo.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, bằng sự nỗ lực của bản thân, cộng với sự quan tâm của các cơ quan chức năng Nhà nước, Công ty Cổ phần Xây công trình Văn hóa thể thao và Du lịch đã không ngừng phát triển, mở rộng phạm vi hoạt động, tạo được uy tín với khách hàng
2.1.3 Đặc điểm tổ chức công tác kế toán ở Công ty Cổ phần Xây dựng
công trinh văn hóa Thể thao và Du lịch.
2.1.3.1 Tổ chức bộ máy kế toán.
Bộ phận kế toán của công ty gồm có 1 kế toán trưởng và 6 kế toán viên Kế toán trưởng làm nhiệm vụ điều hành và hướng dẫn các kế toán viên thực hiện công việc kế toán theo đúng chính sách và chủ trương tài chính của công ty Mỗi kế toán viên được phân chia từng công việc kế toán cụ thể
và có nhiệm vụ thực hiên tốt phần việc của mình đồng thời có trách nhiệm
hổ trợ cho đồng nghiệp hoàn thành tốt công việc
- Kế toán trưởng : Phụ trách chung và điều hành toàn bộ công tác tài chính
- kế toán của đơn vị, chịu trách nhiệm trước ban giám đốc và nhà nước về quản lý và sử dụng các loại lao động, vật tư, tiền vốn trong sản xuất kinh
KẾ TOÁN
THANH
TOÁN
KẾ TOÁN TSCĐ
KẾ TOÁN THUẾ
KẾ TOÁN NGÂN HÀNG
KẾ TOÁN TỔNG HỢP
THỦ QUỸ
KẾ TOÁN TRƯỞNG