1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những bất cập và giải pháp hoàn thiện chế độ phân cấp quản lí ngân sách nhà nươớc ở iệt nam trong điều k

52 486 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những bất cập và giải pháp hoàn thiện chế độ phân cấp quản lý ngân sách nhà nước ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản lý ngân sách nhà nước
Thể loại bài báo cáo
Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 252 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những bất cập và giải pháp hoàn thiện chế độ phân cấp quản lí ngân sách nhà nươớc ở iệt nam trong điều k

Trang 1

hoá-Sau bốn năm thực hiện luật Ngân sách Nhà nước, thực tiễn đã khẳng địnhvai trò của luật trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội Hoạt động Ngânsách Nhà nước dần được quan tâm không chỉ từ phía các cơ quan quản lý Nhànước mà còn từ phía người dân và các doanh nghiệp Bên cạnh đó, cũng dựatrên cơ sở phản hồi từ phía người dân và doanh nghiệp, luật đã bộc lộ nhiều bấtcập không chỉ giữa văn bản và thực tế áp dụng mà cả những bất cập trong côngtác chỉ đạo điều hành Một trong những nguyên nhân dẫn đến những bất cập trên

là việc quyết định phân chia nguồn thu, nhiệm vụ chi tiêu cho các cấp ngân sách

và phân giao nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cơ quan trong bộ máy quản lý Nhànước vẫn còn tồn tại nhiều nhược điểm cần xem xét lại

Để góp phần tiếp tục hoàn chỉnh hơn nữa luật Ngân sách Nhà nước nóichung và chế độ phân cấp quản lý ngân sách nói riêng, tác giả chọn đề tài:

“Những bất cập và giải pháp hoàn thiện chế độ phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước ở Việt nam trong điều kiện hiện nay” Từ đó muốn thông qua thực

tiễn để làm sáng tỏ những cái được và chưa được của chế độ phân cấp quản lý cả

về phương diện pháp lý (các văn bản liên quan đến Ngân sách Nhà nước) và

Trang 2

công tác chỉ đạo điều hành, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện luật,đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong thời kỳ đổi mới, phát huy tối đahiệu quả của Ngân sách Nhà nước trong việc điều chỉnh nền kinh tế theo nhữngmục tiêu đã đặt ra.

Bố cục của bài báo cáo gồm 3 chương :

Chương I : Hệ thống Ngân sách Nhà nước và phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước

Chương II : Phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước và thực trạng phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Chương III : Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế độ phân cấp quản

lý Ngân sách Nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Trang 3

1 Bản chất của Ngân sách Nhà nước

Trong tiến trình lịch sử, Ngân sách Nhà nước (NSNN) với tư cách là mộtphạm trù kinh tế đã ra đời và tồn tại từ lâu Là một công cụ Tài chính quan trọngcủa Nhà nước, NSNN xuất hiện dựa trên cơ sở hai tiền đề khách quan là tiền đềNhà nước và tiền đề kinh tế hàng hoá- tiền tệ

Trong lịch sử loài người, Nhà nước xuất hiện là kết quả của cuộc đấutranh giai cấp trong xã hội Nhà nước ra đời tất yếu kéo theo nhu cầu tập trungnguồn lực tài chính vào trong tay Nhà nước để làm phương tiện vật chất trangtrải cho các chi phí nuôi sống bộ máy Nhà nước và thực hiện các chức năng kinh

tế, xã hội của Nhà nước Bằng quyền lực của mình, Nhà nước tham gia vào quátrình phân phối tổng sản phẩm xã hội Trong điều kiện kinh tế hàng hoá- tiền tệ,các hình thức tiền tệ trong phân phối như: thuế bằng tiền, vay nợ…được Nhànước sử dụng để tạo lập quỹ tền tệ riêng có NSNN Như vậy, NSNN là ngânsách của Nhà nước, hay Nhà nước là chủ thể của ngân sách đó

NSNN là khái niệm quen thuộc theo nghĩa rộng mà bất kỳ người dân nàocũng biết được, song lại có rất nhiều định nghĩa khác nhau về NSNN:

Theo quan điểm của Nga: NSNN là bảng thống kê các khoản thu và chibằng tiền của Nhà nước trong một giai đoạn nhất định

Một cách hiểu tương tự, người Pháp cho rằng: NSNN là toàn bộ tài liệu

kế toán mô tả và trình bày các khoản thu và kinh phí của Nhà nước trong mộtnăm

Trang 4

Có thể thấy rằng các quan điểm trên đều cho thấy biểu hiện bên ngoài củaNSNN và mối quan hệ mật thiết giữa Nhà nước và NSNN.

Trong hệ thống tài chính, NSNN là khâu chủ đạo, đóng vai trò hết sứcquan trọng trong việc duy trì sự tồn tại của bộ máy quyền lực Nhà nước TạiViệt nam, định nghĩa về NSNN được nêu rõ trong luật NSNN (20/3/1996):

NSNN là toàn bộ các khoản thu và chi của Nhà nước trong dự toán đã được

cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.(Điều1-

luật NSNN)

Trong thực tiễn, hoạt động NSNN là hoạt động thu (tạo lập) và chi tiêu(sử dụng) quỹ tiền tệ của Nhà nước, làm cho nguồn tài chính vận động giữa mộtbên là các chủ thể kinh tế, xã hội trong quá trình phân phối tổng sản phẩm quốcdân dưới hình thức giá trị và một bên là Nhà nước Đó chính là bản chất kinh tếcủa NSNN Đứng sau các hoạt động thu, chi là mối quan hệ kinh tế giữa Nhànước và các chủ thể kinh tế, xã hội Nói cách khác, NSNN phản ánh mối quan

hệ kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể trong phân phối tổng sản phẩm xã hội,thông qua việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, chuyển dịchmột bộ phận thu nhập bằng tiền của các chủ thể đó thành thu nhập của Nhà nước

và Nhà nước chuyển dịch thu nhập đó đến các chủ thể được thực hiện để thựchiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước

2 Vai trò của Ngân sách Nhà nước trong nền kinh tế thị trường

2.1 Đặc điểm của cơ chế kinh tế thị trường

Mọi hệ thống kinh tế đều được tổ chức theo cách này hay cách khác đểhuy động tối đa các nguồn lực của xã hội và sử dụng có hiệu quả nguồn lực đónhằm sản xuất ra các hàng hoá và dịch vụ thoả mãn nhu cầu của xã hiội Việcsản xuất ra những loại hàng hoá gì, được tiến hành theo phương pháp nào là tốtnhất, việc phân phối hàng hoá được sản xuất ra đáp ứng tốt cho nhu cầu của xãhội, đó là vấn đề cơ bản của tổ chức kinh tế, xã hội Lực lượng nào quyết địnhnhững vấn đề cơ bản đó? Trong nền kinh tế mà người ta gọi là Kinh tế chỉ huy,

Trang 5

các vấn đề cơ bản đó được cơ quan của Nhà nước quyết định Còn trong nềnkinh tế mà vấn đề cơ bản của nó do thị trường quyết định được gọi là Kinh tế thịtrường.

Trong nền kinh tế hàng hoá có một loạt những quy luật kinh tế vốn có của

nó hoạt động như: quy luật giá trị, quy luật cung- cầu, quy luật cạnh tranh, quyluật lưu thông tiền tệ…và lợi nhuận là động lực cơ bản của sự vân động đó Cácquy luật biểu hiện sự tác động của mình thông qua thị trường Nhờ sự vân độngcủa hệ thống giá cả thị trường mà diễn ra sự thích ứng tự phát giữa khối lượng

và cơ cấu của sản xuất với khối lượng và cơ cấu nhu cầu của xã hội

Có thể hiểu cơ chế thị trường là cơ chế tự điều tiết kinh tế hàng hoá do sựtác động của các quy luật kinh tế, cơ chế đó giải quyết ba vấn đề cơ bản của tổchức kinh tế là sản xuất cái gì, như thế nào và cho ai Cơ chế thi trường bao gồmcác nhân tố cơ bản là cung cầu và giả cả thị trường Thực tế khó đánh giá đầy đủ

ưu điểm và khuyết tật của cơ chế thị trường Nhìn chung nó có các ưu điểm cơbản sau:

* Cơ chế thị trường kích thích hoạt động của các chủ thể kinh tế và tạođIều kiện thuận lợi cho sự hoạt động tự do của họ Do đó làm cho nền kinh tếphát triển năng động, phát huy được các nguồn lực của xã hội vào phát triểnkinh tế

* Cạnh tranh buộc nhà sản xuất phải hao phí lao động cá biệt đến mứcthấp nhất có thể được bằng cách áp dụng kỹ thuật và công nghệ mới vào sảnxuất, nhờ đó mà thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, nâng cao năng suất laođộng, nâng cao chất lượng và số lượng hàng hoá

* Sự tác động của cơ chế thị trường đưa đến sự thích ứng tự phát giữakhối lượng và cơ câú sản xuất với khối lượng và cơ cấu nhu cầu xã hội, nhờ đó

có thể thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và sản xuất về hàng ngàn, hàngvạn loại sản phẩm khác nhau

* Trong cơ chế thị trường tồn tại sự đa dạng của các thị trường Bên cạnhthị trường hàng hoá đã xuất hiện từ lâu là các thị trường về vốn, lao động…

Trang 6

phục vụ cho sản xuất kết hợp với hệ thống giá cả linh hoạt vận động theo quan

hệ cung cầu của hàng hoá, dịch vụ

Lịch sử phát triển của sản xuất xã hội dã chứng minh rằng cơ chế thịtrường là cơ chế điều tiết nền kinh tế hàng hoá đạt hiệu quả kinh tế cao Song,

cơ chế thị trường không phải là hiện thân của sự hoàn hảo mà chứa đựng trong

Có những mục tiêu xã hội mà dù cơ chế thị trường hoạt động tốt cũngkhông thể đạt được Sự tác động của cơ chế thị trường dẫn đến sự phân hoágiàu, nghèo, tác động xấu đến đạo đức và tình người

Với một loạt các khuyết tật trên, ngày nay, trên thực tế không tồn tại cơchế thị trường thuần tuý, mà thường có sự can thiệp của Nhà nước, khi đó nềnkinh tế gọi là Nền kinh tế hỗn hợp

2.2 Vai trò của Ngân sách Nhà nước trong cơ chế thị trường

Tất cả những khiếm khuyết của cơ chế thị trường đòi hỏi có sự can thiệpcủa Nhà nước là tất yếu, là một nhu cầu khách quan nhằm khôi phục lai nhữngcân đối và mở đường cho sức sản xuất phát triển

Trong cơ chế điều chỉnh của Nhà nước, bên trong kết cấu của nó, ngoàiviệc tổ chức một cách khoa học, thì những công cụ tài chính, tiền tệ, kế hoạch,luật pháp được coi là những công cụ điều chỉnh cơ bản và quan trọng

NSNN là một trong những công cụ hữu hiệu để Nhà nước đIều chỉnh vĩ

mô nền kinh tế, xã hội Mục tiêu của NSNN không phải để Nhà nước đạt đượclợi nhuận như các doanh nghiệp và cũng không phải để bảo vệ vị trí của mình

Trang 7

trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường NSNN ngoài việc duy trì sự tồn tạicủa bộ máy Nhà nước còn phải xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội để tạo ramôi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động.

NSNN được sử dụng như là công cụ tác động vào cơ cấu kinh tế nhằmđảm bảo cân đối hợp lý của cơ cấu kinh tế và sự ổn định của chu kỳ kinh doanh.Trước xu thế phát triển mất cân đối của các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế,thông qua quỹ ngân sách, Chính phủ có thể áp dụng các chính sách ưu đãi, đầu

tư vào các lĩnh vực mà tư nhân không muốn đầu tư vì hiệu quả đầu tư thấp; hoặcqua các chính sách thuế bằng việc đánh thuế vào những hàng hoá, dịch vụ của tưnhân có khả năng thao túng trên thị trường; đồng thời, áp dụng mức thuế suất ưuđãi đối với những hàng hoá mà Chính phủ khuyến dụng Nhờ đó mà có thể đảmbảo sự cân đối, công bằng trong nền kinh tế

Giá cả trên thị trường biến động dựa vào quy luật cung cầu của hàng hoá,dịch vụ NSNN cũng được sử dụng như là công cụ đảm bảo sự ổn định giá cảcủa thị trường Chẳng hạn, khi Chính phủ muốn bảo hộ cho những người có thunhập thấp, Chính phủ sẽ đặt giá trần là mức giá cao nhất mà người bán đượcphép đưa ra và mức này thường là thấp hơn mức giá cân bằng trên thị trường,khi đó tất yếu sẽ dẫn đến sự thiếu hụt trên thị trường để duy trì hiệu lực của giátrần thì Chính phủ lại tiếp tục can thiệp bằng cách cung phần thiếu của hàng hoá,lượng hàng hoá này được lấy từ quỹ dự trữ của Nhà nước thuộc NSNN, tức làtrong khoản chi ngân sách phải có khoản dự phòng này Trái lại khi Chính phủmuốn bảo hộ cho người sản xuất, muốn hàng hoà của một ngành nào đó đượckhuyến khích thì sẽ đặt giá sàn là mức giá thầp nhất mà người bán được phépđưa ra và mức này thường lớn hơn giá cân bằng trên thị trường Điều này sẽ dẫnđến sự dư thừa hàng hoá trên thị trường và khi đó là sự can thiệp của Chính phủbằng cách mua hết lượng hàng thừa Khoản tiền sử dụng để thanh toán chongười bán cũng là từ NSNN

Một vai trò được coi là không kém phần quan trọng của NSNN là giảiquyết các vấn đề xã hội: bất công, ô nhiễm môi trường…Chẳng hạn trước vấn

Trang 8

đề công bằng xã hội Chống lại sự bất công là cần thiết cho một xã hội văn minh

và ổn định, Chính phủ thường sử dụng các biện pháp tác động tới thu nhập đểthiết lập lai sự công bằng xã hội Điều chỉnh thu nhập của các nhóm dân cư khácnhau bằng cách trợ cấp thu nhập cho những người có thu nhập thấp hoặc hoàntoàn không có thu nhập Một cách khác, Chính phủ có thể sử dụng biện pháp tácđộng gián tiếp đến thu nhập bằng cách tạo khả năng tạo thu nhập cao hơn dựavào năng lực của bản thân theo đánh giá thì đây là biện pháp tích cực nhất, đồngthời làm tăng thu nhập quốc dân; nói cách khác, nó làm cho một số người dângiàu lên mà không ai nghèo đi; hoặc qua chính sách thuế thu nhập, sử dụng mứcthuế suất cao đối với người có thu nhập cao và ngược lại

Như vậy, vai trò của NSNN là rất lớn Vấn đề đặt ra là việc tổ chức quy

mô, cơ cấu và quản lý NSNN như thế nào để phát huy được vai trò của nó

II HỆ THỐNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

Luật NSNN ra đời là sự phản ánh pháp lý cơ chế quản lý NSNN ở nước

ta, thể chế hoá những chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng từ Đại hội VI,VII, VIII, là công cụ pháp lý để quản lý NSNN có hiệu lực và hiệu quả, gópphần hoàn thiện hệ thống pháp luật tài chính Hệ thống NSNN và phân cấp quản

lý NSNN là nội dung cốt lõi trong mối quan hệ giữa ngân sách trung ương vàngân sách địa phương đã được phản ánh rõ ràng trong luật dựa trên quan điểmcủa Đảng và Nhà nước ta: tăng cường tính tập trung, thống nhất, tính liên tụccủa điều hành vĩ mô, lãnh đạo tập trung đi đôi với việc mở rộng trách nhiệm vàquyền hạn, phát huy tính chủ động, sáng tạo của địa phương đối với những vấn

đề mà các địa phương có khả năng xử lý có hiệu quả

Hệ thống NSNN được hiểu là tổng thể các cấp ngân sách có mối quan hệhữu cơ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu, chi của mỗi cấp ngânsách

Tại nước ta, tổ chức hệ thống NSNN gắn bó chặt chẽ với việc tổ chức bộmáy Nhà nước và vai trò, vị trí của bộ máy đó trong quá trình phát triển kinh tế

xã hội của đất nước theo Hiến pháp Mỗi cấp chính quyền có một cấp ngân sách

Trang 9

riêng cung cấp phương tiện vật chất cho cấp chính quyền đó thực hiện chứcnăng, nhiệm vụ của mình trên vùng lãnh thổ Việc hình thành hệ thống chínhquyền Nhà nước các cấp là một tất yếu khách quan nhằm thực hiện chức năng,nhiệm vụ của Nhà nước trên mọi vùng lãnh thổ của đất nước Chính sự ra đờicủa hệ thống chính quyền Nhà nước nhiều cấp đó là tiền đề cần thiết để tổ chức

hệ thống ngân sách nhà nước nhiều cấp

Cấp ngân sách được hình thành trên cơ sở cấp chính quyền Nhà nước, phùhợp với mô hình tổ chức hệ thống chính quyền Nhà nước ta hiện nay, hệ thốngngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương:

* Ngân sách trung ương phản ánh nhiệm vụ thu, chi theo ngành và giữvai trò chủ đạo trong hệ thống ngân sách nhà nước Nó bắt nguồn từ vị trí, vaitrò của chính quyền trung ương được Hiến pháp quy định đối với việc thực hiệncác nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước Ngân sách trung ương cấpphát kinh phí cho yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trungương (sự nghiệp văn hoá, sự nghiệp an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội,đầu tư phát triển…) Nó còn là trung tâm điều hoà hoạt động ngân sách của địaphương Trên thực tế, ngân sách trung ương là ngân sách của cả nước, tập trungđại bộ phận nguồn tài chính quốc gia và đảm bảo các nhiệm vụ chi tiêu có tínhchất huyết mạch của cả nước ngân sách trung ương bao gồm các đơn vị dự toáncủa cấp này, mỗi bộ, mỗi cơ quan trung ương là một đơn vị dự toán của ngânsách trung ương.Ngân sách trung ương bao gồm:

- Ngân sách cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung làngân sách cấp tỉnh)

Ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung làngân sách cấp huyện)

Ngân sách cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã)

* Ngân sách địa phương là tên chung để chỉ các cấp ngân sách của cáccấp chính quyền bên dưới phù hợp với địa giới hành chính các cấp Ngoài ngân

Trang 10

sách xã chưa có đơn vị dự toán, các cấp ngân sách khác đều bao gồm một số đơn

vị dự toán của cấp ấy hợp thành

+ Ngân sách cấp tỉnh phản ánh nhiệm vụ thu, chi theo lãnh thổ, đảm bảothực hiện các nhiệm vụ tổ chức quản lý toàn diện kinh tế, xã hội của chínhquyền cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương Chính quyền cấp tỉnh cầnchủ động, sáng tạo trong việc động viên khai thác các thế mạnh trên địa bàn tỉnh

để tăng nguồn thu, đảm bảo chi và thực hiện cân đối ngân sách cấp mình

+ Ngân sách cấp xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính cơ sở có tầmquan trọng đặc biệt và cũng có đặc thù riêng: nguồn thu được khai thác trực tiếptrên địa bàn và nhiệm vụ chi cũng được bố tríđể phục vụ cho mục đích trực tiếpcủa cộng đồng dân cư trong xã mà không thông qua một khâu trung gian nào.Ngân sách xã là cấp ngân sách cơ sở trong hệ thống NSNN, đảm bảo điều kiệntài chính để chính quyền xã chủ động khai thác các thế mạnh về đất đai, pháttriển kinh tế, xã hội, xây dựng nông thôn mới, thực hiện các chính sách xã hội,giữ gìn an ninh, trật tự trên địa bàn

Trong hệ thống ngân sách Nhà nước ta, ngân sách trung ương chi phốiphần lớn các khoản thu và chi quan trọng, còn ngân sách địa phương chỉ đượcgiao nhiệm vụ đảm nhận các khoản thu và chi có tính chất địa phương Quan hệgiữa các cấp ngân sách được thực hiện theo nguyên tắc sau:

Ngân sách trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa phương đượcphân định nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể.Thực hiện việc bổ sung từ ngânsách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để đảm bảo công bằng, phát triển cân đốigiữa các vùng, các địa phương Số bổ sung này là khoản thu của ngân sách cấpdưới.Trường hợp cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên uỷ quyền cho cơ quanquản lý Nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vị chi thuộc chức năng của mình,thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để thựchiện nhiệm vụ đó.Ngoài việc bổ sung nguồn thu và uỷ quyền thực hiện nhiệm vụchi, không được dùng ngân sách cấp này để chi cho nhiệm vụ của ngân sách cấpkhác trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ

Trang 11

NSNN được phân cấp quản lý giữa Chính phủ và các cấp chính quyền địaphương là tất yếu khách quan khi tổ chức hệ thống NSNN gồm nhiều cấp Điều

đó không chỉ bắt nguồn từ cơ chế kinh tế mà còn từ cơ chế phân cấp quản lý vềhành chính Mỗi cấp chính quyền đều có nhiệm vụ cần đảm bảo bằng nhữngnguồn tài chính nhất định mà các nhiệm vụ đó mỗi cấp đề xuất và bố chí chi tiêu

sẽ hiệu quả hơn là có sự áp đặt từ trên xuống Mặt khác, xét về yếu tố lịch sử vàthực tế hiện nay, trong khi Đảng và Nhà nước ta đang chống tư tưởng địaphương, cục bộ … vẫn cần có chính sách và biện pháp nhằm khuyến khíchchính quyền địa phương phát huy tính độc lập, tự chủ, tính chủ động, sáng tạocủa địa phương mình trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn Cómột số khoản thu như: tiền cho thuê mặt đất, mặt nước đối với doanh nghiệp,tiền cho thuê và tiền bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước, lệ phí trước bạ, thuế mônbài,…giao cho địa phương quản lý sẽ hiệu quả hơn

Phân cấp quản lý NSNN là cách tốt nhất để gắn các hoạt động của NSNNvới cac hoạt động kinh tế, xã hội một cách cụ thể và thực sự nhằm tập trung đấy

đủ và kịp thời, đúng chính sách, chế độ các nguồn tài chính quốc gia và phânphối sử dụng chúng công bằng, hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả cao, phục vụ cácmục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Phân cấp quản lýNSNN đúng đắn và hợp lý không chỉ đảm bảo phương tiện tài chính cho việc

Trang 12

duy trì và phát triển hoạt động của các cấp chính quyền ngân sách từ trungương đến điah phương mà còn tạo điều kiện phát huy được các lợi thế nhiềumặt của từng vùng, từng địa phương trong cả nước Nó cho phép quản lý và kếhoạch hoá NSNN được tốt hơn, điều chỉnh mối quan hệ giữa các cấp chínhquyền cũng như quan hệ giữa các cấp ngân sách được tốt hơn để phát huy vai trò

là công cụ điều chỉnh vĩ mô của NSNN Đồng thời, phân cấp quản lý NSNN còn

có tác động thúc đẩy phân cấp quản lý kinh tế, xã hội ngày càng hoàn thiện hơn

Tóm lại phân cấp ngân sách đúng đắn và hợp lý, tức là việc giải quyết mốiquan hệ giữa chính quyền Nhà nước trung ương và các cấp chính quyền địaphương trong việc xử lý các vấn đề hoạt động và điều hành NSNN đúng đắn vàhợp lý sẽ là một giải pháp quan trọng trong quản lý NSNN

2 Khái niệm và các nguyên tắc phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước

Phân cấp quản lý NSNN là việc giải quyết mối quan hệ giữa các cấpchính quyền Nhà nước về vấn đề liên quan đến việc quản lý và điều hànhNSNN

Để chế độ phân cấp quản lý mang lại kết quả tốt cần phải tuân thủ cácnguyên tắc sau đây:

Một là: phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế, xã hội của đất nước Phân

cấp quản lý kinh tế, xã hội là tiền đề, là điều kiện để thực hiện phân cấp quản lýNSNN Quán triệt nguyên tắc này tạo cơ sở cho việc giải quyết mối quan hệ vậtchất giữa các cấp chính quyền qua việc xác định rõ nguồn thu, nhiệm vụ chi củacác cấp Thực chất của nguyên tắc này là giải quyết mối quan hệ giữa nhiệm vụ

và quyền lợi, quyền lợi phải tương xứng với nhiệm vụ được giao Mặt khác,nguyên tắc này còn đảm bảo tính độc lập tương đối trong phân cấp quản lýNSNN ở nước ta

Hai là: ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, tập trung các nguồn lực

cơ bản để đảm bảo thực hiện các mục tiêu trọng yếu trên phạm vi cả nước Cơ

sở của nguyên tắc này xuất phát từ vị trí quan trọng của Nhà nước trung ương

Trang 13

trong quản lý kinh tế, xã hội của cả nước mà Hiến pháp đã quy định và từ tínhchất xã hội hoá của nguồn tài chính quốc gia.

Nguyên tắc này được thể hiện:

- Mọi chính sách, chế độ quản lý NSNN được ban hành thống nhất và dựachủ yếu trên cơ sở quản lý ngân sách trung ương

- Ngân sách trung ương chi phối và quản lý các khoản thu, chi lớn trongnền kinh tế và trong xã hội Điều đó có nghĩa là: các khoản thu chủ yếu có tỷtrọng lớn phải được tập trung vào ngân sách trung ương, các khoản chi có tácđộng đến quá trình phát triển kinh tế, xã hội của cả nước phải do ngân sáchtrung ương đảm nhiệm Ngân sách trung ương chi phối hoạt động của ngân sáchđịa phương, đảm bảo tính công bằng giữa các địa phương

Ba là: phân định rõ nhiệm vụ thu, chi giữa các cấp và ổn định tỷ lệ phần

trăm (%) phân chia các khoản thu, số bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngânsách cấp dưới được cố định từ 3 đến 5 năm Hàng năm, chỉ xem xét điều chỉnh

số bổ sung một phần khi có trượt giá và một phần theo tốc độ tăng trưởng kinh

tế Chế độ phân cấp xác định rõ khoản nào ngân sách địa phương được thu dongân sách địa phương thu, khoản nào ngân sách địa phương phải chi do ngânsách địa phương chi Không để tồn tại tình trạng nhập nhằng dẫn đến tư tưởngtrông chờ, ỷ lai hoặc lạm thu giữa ngân sách trung ương và ngân sách địaphương Có như vậy mới tạo điều kiện nâng cao tính chủ động cho các địaphương trong bố trí kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội Đồng thời là điều kiện đểxác định rõ trách nhiệm của địa phương và trung ương trong quản lý NSNN,tránh co kéo trong xây dựng kế hoạch như trước đây

Bốn là: đảm bảo công bằng trong phân cấp ngân sách Phân cấp ngân sách

phải căn cứ vào yêu cầu cân đối chung của cả nước, cố gắng hạn chế thấp nhất

sự chênh lệch về văn hoá, kinh tế, xã hội giữa các vùng lãnh thổ

3 Nội dung của phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước

Dựa trên cở quán triệt những nguyên tắc trên, nội dung của phân cấp quản

lý NSNN được quy định rõ trong chương II và III của luật NSNN bao gồm:

Trang 14

Nội dung thứ nhất là phân cấp các vấn đề liên quan đế quản lý, điều hànhNSNN từ trung ương đến địa phương trong việc ban hành, tổ chức thực hiện vàkiểm tra, giám sát về chế độ, chính sách.

Tiếp theo là phân cấp về các vấn đề liên quan đế nhiệm vụ quản lý và điềuhành NSNN trong việc ban hành hệ thống biểu mẫu, chứng từ về trình tự vàtrách nhiệm của các cấp chính quyền trong xây dựng dự toán ngân sách, quyếttoán ngân sách và tổ chức thực hiện kế hoạch NSNN

Cụ thể:

Quốc hội quyết định tổng số thu, tổng số chi, mức bội chi và các nguồn

bù đắp bội chi; phân tổ NSNN theo từng loại thu, từng lĩnh vực chi và theo cơcấu giữa chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển, chi trả nợ Quốc hội giao cho

Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định phương án phân bổ ngân sách trungương cho từng bộ, ngành và mức bổ sung từ ngân sách trung ương cho từngtỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Như vậy, Quốc hội quyết định những vấn

đề then chốt nhất về NSNN, đảm bảo cơ cấu thu, chi NSNN hợp lý và cân đốiNSNN tích cực, đồng thời giám sát việc phân bổ ngân sách trung ương và ngânsách của các địa phương

Uỷ ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ của

Quốc hội giao về quyết định phương án phân bổ ngân sách trung ương, giám sátviệc thi hành pháp luật về NSNN

Chính phủ trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ quốc hội các dự án luật,

pháp lệnh và các dự án khác về NSNN; ban hành các văn bản pháp quy vềNSNN; lập và trình Quốc hội dự toán và phân bổ NSNN, dự toán điều chỉnhNSNN trong trường hợp cần thiết; giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách cho từng

bộ, ngành; thống nhất quản lý NSNN đảm bảo sự phối hợp chăth chẽ giữa các

cơ quan quản lý ngành và địa phương trong việc thực hiện NSNN; tổ chức kiểmtra việc thực hiện NSNN; quy định nguyên tắc, phương pháp tính toán số bổsung nguồn thu từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới; quy định chế độquản lý quỹ dự phòng NSNN và quỹ dự trữ tài chính; kiểm tra nghị quyết của

Trang 15

Hội đồng nhân dân về dự toán và quyết toán NSNN; lập và trình Quốc hội quyếttoán NSNN và quyết toán các công trình cơ bản của Nhà nước.

Bộ tài chính chuẩn bị các dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác về

NSNN trình chính phủ; ban hành các văn bản pháp quy về NSNN theo thẩmquyền; chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện chức năng thống nhất quản

lý NSNN; hướng dẫn kiểm tra các bộ, cơ quan khác ở trung ương và địa phươngxây dựng dự toán NSNN hàng năm; đề xuất các biện pháp nhằm thực hiện chínhsách tăng thu, tiết kiệm chi NSNN; chủ trì phối hợp với các bộ, ngành trong việcxây dựng các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NSNN; thanh tra, kiểm tra tàichính với tất cả các tổ chức, các đơn vị hành chính, sự nghiệp và các đối tượngkhác có nghĩa vụ nộp ngân sách và xử dụng ngân sách; quản lý quỹ NSNN vàcác quỹ khác của Nhà nước; lập quyết toán NSNN trình Chính phủ

Bộ kế hoạch và đầu tư có nhiệm vụ trình Chính phủ dự án kế hoạch phát

triển kinh tế, xã hội của cả nước và cân đối chủ yếu của nền kinh tế quốc dân,trong đó có cân đối tài chính tiền tệ, vốn đầu tư xây dựng cơ bản làm cơ sở choviệc xây dựng kế hoạch tài chính, ngân sách; phối hợp với bộ tài chính lập dựtoán và phương án phân bổ NSNN trong lĩnh vực phụ trách; phối hợp với bộ tàichính và các bộ ngành hữu quan kiểm tra đánh giá hiệu quả của vốn đầu tư cáccông trình xây dựng cơ bản

Ngân hàng Nhà nước có nhiệm vụ phối hợp với bộ tài chímh trong việc

lập dự toán NSNN đối với kế hoạch và phương án vay để bù đắp bội chi NSNN;tạm ứng cho NSNN để xử lý thiếu hụt tạm thời quỹ NSNN theo quyết định củathủ tướng Chính phủ

Các bộ, ngành khác có nhiệm vụ phối hợp với bộ tài chính, UBND cấp

tỉnh để lập, phân bổ, quyết toán NSNN theo ngành, lĩnh vực phụ trách ; kiểm tratheo dõi tình hình thực hiện ngân sách thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách; báo cáotình hình thực hiện và kết quả sử dụng ngân sách thuộc ngành, lĩnh vực phụtrách; phối hợp với bộ tài chính xây dung định mức tiêu chuẩn chi NSNN thuộcngành, lĩnh vực phụ trách

Trang 16

Hội đồng nhân dân có quyền quyết định dự toán và phân bổ ngân sách

địa phương, phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương; quyết định các chủtrương, biện pháp để triển khai thực hiện ngân sách địa phương; quyết định điềuchỉnh dự toán ngân sách địa phương trong thời gian cần thiết; giám sát việc thựchiện ngân sách đã quyết định Riêng đối với HĐND cấp tỉnh, ngoài nhữngnhiệm vụ, quyền hạn nêu trên còn được quyền quyết định thu, chi lệ phí, phụthu và các khoản đóng góp của nhân dân theo quy định của pháp luật

Uỷ ban nhân dân lập dự toán và phương án phân bổ ngân sách địa

phương, dự toán điều chỉnh NSĐP trong trường hợp cần thiết trình HĐND cùngcấp quyết định và báo cáo cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp Kiểm tra nghịquyết của HĐND cấp dưới về dự toán ngân sách và quyết toán ngân sách Tổchức thực hiện NSĐP và báo cáo về NSNN theo quy định Riêng đối với cấptỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, UBND còn có nhiệm vụ lập và trìnhHĐND quyết định việc thu phí, lệ phí, phụ thu, huy động vốn trong nước chođầu tư xây dựng cơ bản thuộc địa phương quản lý

Như vậy, luật đã quy định tương đối rõ ràng về nhiệm vụ, quyền hạn củacác cơ quan, chính quyền Nhà nước trong lĩnh vực NSNN đặc biệt đối vớiHĐND và UBND các cấp đã có sự đổi mới theo hướng tăng tính tự chủ, sángtạo của địa phương trong việc phát huy tiềm năng hiện có, bồi dưỡng và tăng thucho ngân sách cấp mình, từ đó chủ động bố trí chi tiêu hợp lý, có hiệu quả theo

kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, phù hợp với quy hoạch tổngthể và chế độ thu, chi thống nhất của Nhà nước Điều này cơ bản cũng phù hợpvới phương hướng đổi mới chức năng, nhiệm vụ của HĐND và UBND đượcQuốc hội và Chính phủ đề ra trong kỳ hội nghị HĐND và UBND toàn quốc

Về các khoản thu NSNN:

Thu NSNN là số tiền mà nhà nước huy động vào NSNN và không bị ràngbuộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp Phần lớn các khoản thu này đều mangtính chất cưỡng bức Với đặc điểm đó, thu NSNN khác với các nguồn thu của

Trang 17

các chủ thể khác (doanh nghiệp, tư nhân…) vì nó gắn với quyền lực của nhànước.

Theo phân loại thống kê của liên hiệp quốc, thu NSNN gồm hai loại:

- Các khoản thu từ thuế, trong đó chia ra thuế trực thu và thuế gián thu

- Các khoản thu ngoài thuế như phí, lệ phí và các khoản thu từ hoạt độngkinh tế của Nhà nước và các khoản chuyển giao vào NSNN khác

Tại Việt nam, trước đây, việc phân chia nội dung thu của các cấp ngânsách dựa vào cơ sở kinh tế của chính quyền tức là những tổ chức kinh tế dotrung ương quản lý thì nguồn thu của các tổ chức này tập trung vào ngân sáchtrung ương, các tỏ chức kinh tế do địa phương quản lý thì sẽ ghi thu vào ngânsách địa phương Điều này đã dẫn đến tình trạng xây dựng chồng chéo các cơ sởkinh tế của trung ương và địa phương, tranh giành nguồn nguyên vật liệu, thịtrường tiêu thụ sản phẩm Mặt khác, nó không gắn trách nhiệm của các cấpchính quyền địa phương trong việc quan tâm tới những tổ chức kinh tế do trungương quản lý ở địa phương Do vậy, để khắc phục những nhược điểm trên, chế

độ phân cấp được điều chỉnh theo hướng thay đổi tỷ lệ ghi thu vào ngân sáchtrung ương và ngân sách địa phương nhưng do vẫn dựa trên cơ sở cũ nên nguồnthu vẫn không được đảm bảo

Hiện nay, theo luật NSNN sửa đổi, việc phân chia nội dung thu NSNNkhông dựa vào tính chất sở hữu, tổ chức của cơ sở kinh tế mà theo cơ chế:

* Mỗi cấp ngân sách đều có các khoản thu được hưởng 100% Như vậy,

có thể giúp chính quyền địa phương chủ động bố trí cân đối ngân sách cấp mình

* Các khoản thu được phân chia theo tỷ lệ điều tiết giữa các cấp ngânsách

Trước đây, tỷ lệ điều tiết này được xác định bởi công thức:

X= [(Q- T): K]*100

Trong đó: X :là tỷ lệ điều tiết các khoản thu

T :là tổng số chi theo nhiệm vụ được giao

Q :là tổng số thu cố định

Trang 18

K :là thuế doanh thu và thuế nông nghiệp.

Công thức trên bị đánh giá là thiếu cơ sở khoa học, không chính xác vềmặt toán học và kinh tế dẫn đến bất công bằng giữa nhiều địa phương, số tỉnh có

tỷ lệ điều tiết tính ra vượt quá 100% là quá lớn nên ngân sách nhiều địa phươngbội thu, trong khi đó ngân sách TƯ bội chi

Hiện nay, luật quy đinh:

* Tỷ lệ phần trăm phân chia các khoản thu giữa ngân sách trung ương vàngân sách từng tỉnh do Chính phủ quyết định và nó được áp dụng chung đối vớitất cả các khoản thu được phân chia và được xác định riêng cho từng tỉnh

Các khoản thu được phân chia gồm:

Thuế giá trị gia tăng không kể thuế giá trị gia tăng thu từ hàng hoá nhậpkhẩu và thu từ hoạt động xổ số kiến thiết

Thuế thu nhập doanh nghiệp không kể thuế thu nhập doanh nghiệp củacác đơn vị hạch toán toàn ngành và thuế thu nhập doanh nghiệp thu từ hoạt động

xổ số kiến thiết

Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao

Thuế chuyển thu nhập ra nước ngoài của các tổ chức, cá nhân nước ngoài

có vốn đầu tư tại Việt nam

Thu sử dụng vốn ngân sách của các doanh nghiệp nhà nước không kể thu

sử dụng vốn ngân sách từ hoạt động xổ số kiến thiết

Việc xác định tỷ lệ phần trăm phân chia được thực hiện như sau:

Trang 19

- Tổng số các khoản thu được phân chia giữa NSTƯ và ngân sách tỉnh làD.

Nếu A-(B+C)< D thì tỷ lệ phần trăm phân chia được tính theo công thức:

Tỷ lệ phần trăm = [(A-B)+C]: D * 100%

Nếu A-(B+C) > D thì tỷ lệ phần trăm chỉ được tính bằng 100% và phầnchênh lệch sẽ thực hiện cấp bổ sung

Nếu A-(B+C) =D thì tỷ lệ phần trăm là 100% và tỉnh tự cân đối

* Tỷ lệ phần trăm phân chia các khoản thu giữa ngân sách các cấp chínhquyền địa phương do UBND tỉnh quy định

Các khoản thu phân chia:

- Thuế chuyển quyền sử dụng đất

- Thuế nhà, đất

- Tiền sử dụng đất

- Thuế sử dụng đất nông nghiệp

- Thuế tài nguyên

- Lệ phí trước bạ

- Thuế tiêu thụ đặc biệt hàng sản xuất trong nước thu vào các mặt hàngbài lá, hành mã, vàng mã và các dịch vụ kinh doanh vũ trường, mát xa, karaôkê,kinh doanh gôn, bán thẻ hội viên và vé chơi gôn, trò chơi bằng các máy giắc pót,kinh doanh vé đặt cược đua ngựa, đua xe

PHÂN ĐỊNH NGUỒN THU GIỮA NSTƯ VÀ NGÂN SÁCH TỈNH

2.thuế xuất, nhập khẩu3.thuế tiêu thụ đặc biệt(trừ một số mặt hàng,dịch vụ)

1.tiền cho thuê đất2.tiền cho thuê và bán nhà thuộc sở hữuNhà nước

3.lệ phí trước bạ4.thu từ hoạt động xổ số kiến thiết5.viên trợ không hoàn lai của nước ngoài

Trang 20

nghiệp của đơn vị hạchtoán toàn nghành

5.thu từ dầu khí6.thu nhập từ vốn gópcủa nhà nước, tiền thuhồi vốn của nhà nước

từ các cơ sở kinh tế7.các khoản do Chínhphủ vay, viện trợkhông hoàn lại củaChính phủ các nước8.các khoản phí, lệ phítheo quy định

9.thu kết dư NSTƯ10.các khoản thu khác

6.các khoản phí, lệ phí theo quy định7.các khoản đóng góp tự nguỵện của cánhân, tổ chức trong và ngoài nước

8.thu kết dư NSĐP9.thu bổ sung từ NSTƯ10.các khoản thu khác theo quy định

2.thuế thu nhập doanh nghiệp (trừ các đơn vị hạch toán toàn ngành

và hoạt động xổ số kiến thiết)3.thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao4.thuế chuyển thu nhập ra nước ngoài

5.thu từ sử dụng vốn ngân sách của các DNNN

5.thuế tiêu thụ đặc biệt với hàng sản xuát trng nước thu vào vàng

mã, kinh doanh vũ trường, mát xa,…

tỷ lệ phân chia do UBND tỉnh quy định

Trang 21

Về các khoản chi NSNN

Chi NSNN là số tiền mà Nhà nước chi từ quỹ ngân sách để thực hiện chứcnăng và nhiệm vụ của mình Có nhiều cách để xác định cơ cấu chi NSNN.Chẳng hạn, để thấy rõ hơn vai trò của NSNN đối với phát triển các ngành kinh

tế đất nước, đặc biệt là các ngành mũi nhọn thì cơ cấu chi NSNN được phântheo ngành kinh tế quốc dân (ngành công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, giaothông vận tải, thương mại, dịch vụ…) Nếu để đảm bảo cho Quốc hội có thểthấy rõ ngay nhuồn ngân sách phân bổ cho mỗi cơ quan Nhà nước, chi ngânsách Nhà nước được phân loại theo tổ chức của cơ quan Nhà nước (theo từng

bộ, cơ quan Nhà nước Trung ương, cơ quan Nhà nước địa phương…) Nếu đểđáp ứng yêu cầu kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước đối với việc lập dự toán,quyết định dự toán, thực hiện phân cấp và quản lý, sử dụng kinh phí NSNN chotừng mục đích và từng đối tượng cụ thể, người ta phân loại theo mục đích sửdụng cuối cùng: chi lương, phụ cấp lương, chi mua sắm hàng hoá, dịch vụ…Nóichung, mỗi cách phân loại đều có mục đích và ý nghĩa riêng, chúng có nét chung

là cho biết một cách toàn diện ảnh hưởng ngắn hạn hoặc dài hạn của việc chitiêu quốc gia vào phát triển kinh tế, thấy rõ mục đích kinh tế, xã hội mà Chínhphủ đang theo đuổi

Theo luật NSNN, nội dung chi NSNN được phân loại theo tổ chức kinh

tế, từ ngân sách trung ương đến ngân sách các cấp địa phương đều có các khoảnchi cơ bản giống nhau:

Trang 22

Chi thường xuyên: là những khoản chi hết sức cần thiết và không thể trì

hoãn, phải thực hiện thường xuyên hàng tháng, hàng năm để duy trì sự tồn tạicủa bộ máy Nhà nước

Chi đầu tư, phát triển: là những khoản chi để hình thành tài sản cố định

như mua sắm tài sản cố định, đầu tư xây dựng các công trình kinh tế mũi nhọn,xây dung cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội, xây dựng nhà cửa, đầu tư vào các độngsản tài chính, sửa chữa lớn tài sản cố định, chi trả nợ gốc tiền vay… nhữngkhoản chi này gắn với việc điều chỉnh vĩ mô của Nhà nước, tạo môi trường vàđiều kiện cho các TPKT hoạt động và phát triển

Sự khác nhau cơ bản giữa hai nhóm chỉ tiêu trên thể hiện ở chỗ: chithường xuyên có tính chất tiêu hao trực tiếp, còn chi đầu tư phát triển có tínhchất thu hồi trong những điều kiện nhất định

Theo thứ tự ưu tiên thì chi thường xuyên được ưu tiên trước hết, sau đómới đến chi đầu tư phát triển Thứ tự ưu tiên này cũng chỉ có ý nghĩa tương đối

vì nếu cứ ưu tiên chi thường xuyên dễ dẫn đến phá vỡ cơ cấu kinh tế, và nếu cứ

ưu tiên chi đầu tư phát triển dễ đẫn đến làm tăng thâm hụt NSNN

Cả ngân sách trung ương và ngân sách địa phương đều có hai khoản chitrên, tuy nhiên, giữa chúng cũng có sự khác nhau về quy mô, phạm vi của cáckhoản chi Chi đầu tư phát triển của ngân sách trung ương là những khoản chi cóquy mô lớn, có tác dụng đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân, các khoản chi nàynhìn chung là khó xác định chủ đầu tư và các công trình phúc lợi công cộng.Còn các khoản chi của ngân sách địa phương chỉ đầu tư cho những công trình,mục tiêu được thực hiện trong phạm vi địa phương đó Ngoài ra, có một sốkhoản chi thuộc đặc thù chức năng của ngân sách trung ương thì ngân sách trungương đảm nhiệm: trả nợ vay, chi an ninh quốc phòng, chi về ngoại giao…

Về số bổ sung từ nhân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới:

Gồm hai loại:

Trang 23

* Số bổ sung để cân đối ngân sách gồm số bổ sung ổn định trong suốt thời

kỳ nhất định và số bổ sung tăng thêm hàng năm một phần theo tỷ lệ trượt giá vàmột phần theo tốc độ tăng trưởng kinh tế

* Số bổ sung theo mục tiêu

Có thể nói, với những nội dung trên, hệ thống NSNN và chế độ phân cấp

và quản lý NSNN đã bước đầu tạo cơ sở, điều kiện, hành lang pháp lý cho côngtác quản lý, điều hành hoạt động NSNN có hiệu lực và có hiệu quả, theo nhữngchuẩn mực nhất định, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của NSNN trong cơ chếkinh tế mới ở nước

sở không có khảnăng thu hồi vốn dotrung ương quản lý

Các xí nghiệp trong

và ngoài nước dotrung ương quản lý

Hầu hết NSTƯ đảmnhận chi trả nợ nướcngaòi

Trang 24

Duy trì bảo vệ đêđiều trung ươngDuy tu, tu bổ cácđường giao thông,các công trình kiếnthiết do trung ươngquản lý.

Một số công trìnhquan trọng như xoá

mù chữ, giáo dụcmiền núi…

Các trường đại học

đa ngànhMột số trường PTTHkhu vực

Các cơ sở y tế chữabệnh trung ươngNghiên cứu khoahọc cơ bản

Các sự nghiệp vănhoá quần chúng do

Toàn bộ bộ máy Nhà nước củađịa phương

Bảo vệ đê điều, hỗ trợ làm thuỷlợi, thuỷ nông

Sửa chữa các đường giao thôngđịa phương

Chi toàn bộ các trường tự tiểu họctrở lên, kể cả mẫu giáo

Các trường trung học, dạy nghề

Cơ sở chữa và khám bệnh do địaphương quản lý

Nghiên cứu ứng dụng

Các sự nghiệp văn hoá quầnchúng do địa phương quản lýDân quân du kích và tuyển quânCác tổ chức thuộc địa phươngTuỳ thuộc vào phân bổ củaNSTƯ

Trang 25

7.Chi văn hoá thông

Các tổ chức thuộctrung ương

Tuỳ thuộc khả năngcủa NSTƯ

II THỰC TRẠNG PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Phân cấp ngân sách là phân định trách nhiệm và quyền hạn, nghĩa vụ vàlợi ích giữa các cơ quan chính quyền Nhà nước các cấp trong hệ thống NSNN.Tại Việt nam, kể từ sau khi có luật NSNN, cơ chế phân cấp đã có sự thay đổimột cách căn bản, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho chính quyền địa phương trongviệc chủ động khai thác nguồn thu và bố trí chi tiêu

Với sự thống nhất từ trên xuống về các khái niệm, nội dung, nguyên tắcquản lý, hệ thống NSNN đã đồng nhất cách hiểu, tư duy trong quá trình vậnhành trong thực tế Nét mới là ổn định nguồn thu và nhiệm vụ chi của mỗi cấpchính quyền theo luật (chỉ thay đổi khi Quốc hội sửa luật), khắc phục được tínhkhông ổn định trong phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi Trước đây, về thu,hầu như năm nào Chính phủ cũng điều chỉnh nguồn thu, tỷ lệ điều tiết một sốkhoản thu giữa trung ương và địa phương Việc điều chỉnh này chủ yếu bằngquyết định, chỉ thị (các văn bản dưới luật) của thủ tướng Chính phủ nên hiệu lựcpháp lý không cao Có những nguồn thu, năm thì để lại cho địa phương, năm thìthu về trung ương (thuế xuất, nhập khẩu tiểu ngạch, thu cấp quyền sử dụng

Trang 26

khó khăn thường xuyên và đột xuất cho cán bộ trung ương; chi cho bộ máy củaViện kiểm sát nhân dân; quản lý công tác định canh, định cư và xây dựng vùngkinh tế mới, đo đạc và quản lý ruộng đất…có năm được xác định là nhiệm vụcủa trung ương, có năm lại là của địa phương).

Luật đã khẳng định nguyên tắc: ngân sách cấp trên nắm giữ các nguồn thuchủ yếu và đảm nhận các nhiệm vụ chi quan trọng hơn cấp dưới, các nguồn thucủa ngân sách cấp dưới không đủ đáp ứng nhu cầu chi thì được cấp bổ sung vàkhông được sử dụng ngân sách cấp nàt để chi cho nhiệm vụ của ngân sách cấpkhác Do đó, xét về định tính, tuy cả ngân sách trung ương và ngân sách địaphương (tỉnh) đều có mười khoản thu 100% nhưng ngân sách trung ương nắmgiữ các nguồn thu quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu thu của cảnước Thực tiễn trong mấy năm gần đây, tỷ trọng của ngân sách trung ươngchiếm khoảng 70% tỷ trọng chung của NSNN(năm 1999, quyết toán thu ngânsách trung ương là 58918 tỷ đồng và ngân sách địa phương thu là 19571 tỷ), chủyếu là thu từ các xí nghiệp quốc doanh, các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài(đặc biệt là lĩnh vực dầu khí) từ thuế xuất, nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt hàngnhập khẩu, thuế GTGT hàng nhập khẩu và thu từ viện trợ không hoàn lại Từchỗ tập trung các nguồn thu chủ yếu vào ngân sách trung ương nên các nhiệm

vụ chi của nó cũng khá nặng nề (năm 1999, tổng chi ngân sách trung ương quyếttoán là 52206 tỷ đồng và ngân sách địa phương là 38766 tỷ đồng) chủ yếu là chiđầu tư phát triển (xây dựng cơ bản, hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp nhà nước, cácchương trình quốc gia), chi trả nợ, viện trợ, chi thường xuyên(quốc phòng, anninh, lương hưu, bảo đảm xã hội…)

Từ khi đưa luật NSNN vào thực tiễn, nhiều địa phương đã ý thức đượctrách nhiệm phải đảm bảo nguồn thu gắn với tăng trưởng và phát triển kinh tế ởđịa phương thì mới có thể đảm nhận tốt nhiều nhiệm vị chi Đồng thời, nhậnthức được, khi đời sống của đại đa số nhân dân ở địa phương khá lên thì ngânsách địa phương mới đảm bảo được hầu hết các nhiệm vụ chi về giáo dục, y tế,văn hoá, xã hội…Do đó, các khoản thu của ngân sách địa phương nhìn chung

Ngày đăng: 09/04/2013, 16:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w