Tính cấp thiết của đề tài Du lịch sinh thái DLST được xem như là một hướng đi mới, một xu thếphát triển mới và chiếm được sự quan tâm của xã hội, bởi đó là loại hình du lịchthiên nhiên c
Trang 1NGUYỄN THỊ NGUYỆT
“ĐÁNH GIÁ GIÁ TRỊ CẢNH QUAN VÀ
GIÁ TRỊ PHI SỬ DỤNG CỦA KHU DU LỊCH SINH THÁI SUỐI MỠ - HUYỆN LỤC NAM - TỈNH BẮC GIANG”
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Thái Nguyên - 2014
Trang 2NGUYỄN THỊ NGUYỆT
“ĐÁNH GIÁ GIÁ TRỊ CẢNH QUAN VÀ
GIÁ TRỊ PHI SỬ DỤNG CỦA KHU DU LỊCH SINH THÁI SUỐI MỠ - HUYỆN LỤC NAM - TỈNH BẮC GIANG”
Chuyên ngành : Khoa học Môi trường
CHỮ KÝ GIÁO VIÊN
HƯỚNG DẪN
Thái Nguyên – 2014
Trang 3Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô đã giảngdạy tại các Khoa của Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, những người
đã truyền đạt cho tôi những kiến thức hữu ích làm cơ sở cho tôi thực hiện tốtluận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn GS.TS Nguy ễn Thế Đặng đã tận tình
hướng dẫn cho tôi trong thời gian thực hiện luận văn Mặc dù trong quátrình thực hiện luận văn có
giai đoạn không được thuận lợi nhưng những gì thầy đã hướng dẫn, chỉ bảo
đã cho tôi nhiều kinh nghiệm trong thời gian thực hiện đề tài
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các cán cộ, công nhân viên trongBan Quản lý khu DLST Suối Mỡ đã tận tình giúp đỡ trong việc tham gia trảlời phiếu phỏng vấn, cũng như góp ý về những ý kiến chuyên môn
Sau cùng tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình đã luôn tạo điềukiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học cũng như thực hiện luận văn Dothời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luậnvăn còn nhiều thiếu, rất mong nhận được ý kiến góp ý của Thầy/Cô và cácanh chị học viên
Học viên thực hiện luận văn
Nguyễn Thị Nguyệt
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bốtrong bất kỳ công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõnguồn gốc
Học viên thực hiện Luận văn
Nguyễn Thị Nguyệt
Trang 5BNN-PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
BTTN Bảo tồn thiên nhiên
CVM Định giá ngẫu nhiên
VR Tỷ lệ du khách mỗi vùng
VSMT Vệ sinh môi trường
WTP Sự bằng lòng chi trả
Trang 6TÊN HÌNH TRANGHình 1.1: Sơ đồ tổng giá trị kinh tế của Khu DLST 13
Hình 3.1: Sơ đồ vị trí Khu DLST Suối Mỡ 30Hình 3.2: Sơ đồ cơ cấu tổ chức Ban quản lý Khu DLST Suối Mỡ 41Hình 3.3: Biểu đồ đường cầu giải trí 54Hình 3.4: Biều đồ thể hiện các hoạt động chính của du khách 57Hình 3.5: Biều đồ thể hiện một số điểm du khách chưa 57
Trang 7TÊN BẢNG TRANGBảng 3.1: Thảm thực vật rừng hiện trạng sử dụng đất khu Suối Mỡ 38
Bảng 3.3: Thành phần loài động vật có xương sống trên cạn 40Bảng 3.4: Lượng khách và số phí thu được trong giai đoạn 2009 – 2013 43Bảng 3.5: Số công dọn VSMT và số cây trồng được của các năm 44Bảng 3.6: Tỷ lệ du khách theo vùng xuất phát 48Bảng 3.7: Phương tiện du khách sử dụng đến khu DLST Suối Mỡ 49Bảng 3.8: Chi phí đi lại của du khách 50Bảng 3.9: Tổng hợp chi phí của du khách theo các vùng 51Bảng 3.10: Kết quả ước lượng hệ số của hàm cầu 53Bảng 3.11: Tỷ lệ du khách sẵn sàng chi trả cho bảo tồn 54Bảng 3.12: Mức chi trả trung bình cho bảo tồn của du khách 55Bảng 3.13: Đặc điểm kinh tế - xã hội của du khách 55Bảng 3.14: Số lượng du khách trong mỗi nhóm 56Bảng 3.15: Mô tả các biến của mô hình 58Bảng 3.16: Hệ số ước lượng trong phân tích các yếu tố tác động đến WTP 59
Trang 8MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nguyên cứu của đề tài 2
2.1 Mục tiêu tổng quát 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Ý nghĩa của đề tài 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Chương 1:TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số vấn đề cơ bản về Du lịch sinh thái 4
1.1.1 Khái niệm về Du lịch sinh thái 4
1.1.2 Đặc trưng của DLST 5
1.2 Xác định giá trị của DLST 8
1.2.1 Sự cần thiết định giá giá trị của DLST 8
1.2.2 Tổng giá trị kinh tế của một khu Du lịch sinh thái 9
1.3 Tình hình và những nghiên cứu về DLST trên Thế giới và ở Việt Nam 14
1.3.1 Tình hình và những nghiên cứu về DLST trên Thế giới 14
1.3.2 Tình hình và những nghiên cứu về DLST ở Việt Nam 16
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 21
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 21
2.2 Nội dung nghiên cứu 21
2.2.1 Khái quát về Khu DLST Suối Mỡ 21
2.2.2 Đánh giá kết quả triển khai Khu DLST Suối Mỡ giai đoạn 2009 - 201321 2.2.3 Xác định giá trị cảnh quan của Khu DLST Suối Mỡ 21
2.2.4 Xác định giá trị phi sử dụng của Khu DLST Suối Mỡ 21
Trang 92.3 Phương pháp nghiên cứu 22
2.3.1 Phương pháp điều tra, phỏng vấn 22
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 22
2.3.3 Phương pháp chi phí du lịch (TCM - Travel Cost Method) 22
2.3.3.1 Mô hình lý thuyết hàm chi phí du lịch 23
2.3.3.2 Phương pháp tiếp cận chi phí du lịch 24
2.3.4 Phương pháp định giá ngẫu nhiên (Contingent Valuation Method - CVM) 26
2.3.4.1 Mô hình lý thuyết về định giá ngẫu nhiên 27
2.3.4.2.Các bước tiến hành định giá ngẫu nhiên 28
2.3.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 29
Chương 3: KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 30
3.1 Khái quát về Khu DLST Suối Mỡ 30
3.1.1 Vị trí địa lý 30
3.1.2 Địa hình, địa mạo 30
3.1.3 Khí hậu thủy văn 31
3.1.4 Địa chất đất đai 31
3.1.5 Dân số, lao động, việc làm 32
3.1.6 Sản xuất nông – lâm nghiệp 33
3.2 Đánh giá kết quả triển khai Khu DLST Suối Mỡ giai đoạn 2009 - 2013 33
3.2.1 Thực trạng phát triển du lịch tại Khu DLST Suối Mỡ 33
3.2.1.1 Tiềm năng du lịch sinh thái Suối Mỡ 33
3.2.1.2 Đa dạng sinh học 37
3.2.1.3 Cơ sở vật chất 42
3.2.1.4 Tình hình phát triển du lịch tại Khu DLST Suối Mỡ giai đoạn 2009-2013 42
Trang 103.2.2.2 Tác động tiêu cực 44
3.2.3 Tác động của du lịch lên hệ sinh thái xã hội - nhân văn 45
3.2.3.1 Tác động tích cực 45
3.2.3.2 Tác động tiêu cực 46
3.3 Xác định giá trị cảnh quan của Khu DLST Suối Mỡ 47
3.3.1 Phân vùng khách du lịch 47
3.3.2 Xác định chi phí du lịch 49
3.3.3 Xây dựng hàm cầu 52
3.4 Xác định giá trị phi sử dụng của Khu DLST Suối Mỡ 54
3.4.1 Xác định sự bằng lòng chi trả 54
3.4.2 Đề xuất mức phí vào cổng của Khu du lịch sinh thái Suối Mỡ 55
3.4.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội của du khách 55
3.4.4 Đánh giá chất lượng dịch vụ du lịch, sự hài lòng của du khách 56
3.4.5 Sử dụng mô hình kinh tế lượng phân tích các yếu tố tác động đến WTP58 3.5.1 Định hướng phát triển DLST Suối Mỡ 61
3.5.2 Giải phát phát triển DLST Suối Mỡ 62
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 65
1 Kết luận 65
2 Đề nghị 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch sinh thái (DLST) được xem như là một hướng đi mới, một xu thếphát triển mới và chiếm được sự quan tâm của xã hội, bởi đó là loại hình du lịchthiên nhiên có trách nhiệm hỗ trợ các mục tiêu bảo tồn tự nhiên, các giá trị văn hóabản địa, phát triển cộng đồng mà vẫn bảo đảm nguồn lợi kinh tế Du lịch sinh tháiphát triển nhằm thoả mãn nhu cầu ngày một tăng của khách du lịch, của cộng đồng.Nhu cầu này liên quan chặt chẽ đến sự phát triển không ngừng của xã hội, đảm bảo
về tổng thể một tương lai phát triển lâu dài của hệ sinh thái, với tư cách như là mộtngành kinh tế Bên cạnh xu thế phát triển du lịch sinh thái do nhu cầu khách quan,
xu thế này còn không nằm ngoài xu thế chung về phát triển xã hội của loài ngườikhi các giá trị tài nguyên ngày càng bị suy thoái, khai thác cạn kiệt
Việt Nam là một đất nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nằmhoàn toàn trong vòng đai nhiệt đới của nửa bán cầu Bắc, thiên về chí tuyến hơn là
phía xích đạo Vị trí đó đã tạo nên một nền nhiệt độ cao, độ ẩm không khí cao, mưa
nhiều Việt Nam có đường bờ biển dài hơn 3.000 km, lưng dựa vào dãy Trường
Sơn Chính các điều kiện đó đã mang lại cho Việt Nam một hệ động thực vật vôcùng phong phú, đa dạng và độc đáo Kết hợp vào đó có rất nhiều nét văn hoá dân
tộc đặc sắc, đậm đà Những yếu tố đó đã tạo nên cho Việt Nam một lợi thế to lớntrong việc phát triển loại hình du lịch sinh thái Cùng với việc nỗ lực bảo tồn, khaithác phát huy các giá trị tài nguyên thiên nhiên và văn hoá phục vụ phát triển kinh
tế thông qua du lịch sinh thái là một xu thế tất yếu Với tư cách là một ngành kinh tếmũi nhọn - Du lịch trong đó có du lịnh sinh thái ngày càng khẳng định vị thế củamình đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Du lịch sinh thái ở Việt Namcũng đó có những đóng góp lớn cho sự phát triển cộng đồng, bảo vệ tài nguyên môi
trường Nhờ phát triển du lịch sinh thái mà đồng bào một số dân tộc, cư dân sinh
sống trong vùng đệm các vườn quốc gia, khu bảo tồn có được việc làm, nâng caomức sống, các lễ hội, tập tục, ngành nghề thủ công được bảo tồn và phát triển
Trong những năm gần đây các hiện tượng hiệu ứng nhà kính, ELNino… liêntục xảy ra và theo báo cáo của đài khí tượng thủy văn thì tình hình môi trường nói
Trang 12chung đang là vấn đề toàn cầu quan tâm Nền kinh tế thế giới nói chung và Việt
Nam nói riêng trong những năm qua đang trên đà phát triển nhanh Việc phát triển
du lịch phải gắn với bảo vệ môi trường, phát triển theo hướng bền vững Bên cạnh
đó thì môi trường cuộc sống của con người đặc biệt là tại các thành phố lớn ngày
càng trở lên ngột ngạt do đó theo quy luật tâm lý, con người có nhu cầu tìm vềnhững nơi có không khí trong lành và yên tĩnh để nghỉ ngơi
Xuất phát từ thực tiễn trên, được sự nhất trí của Ban giám hiệu Nhà trường
và Phòng Quản lý đào tạo Sau đại học - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên,
dưới sự hướng dẫn của thầy giáo GS.TS Nguyễn Thế Đặng, chúng tôi tiến hành
thực hiện đề tài “Đánh giá giá trị cảnh quan và giá trị phi sử dụng của Khu Du lịch
sinh thái Su ối Mỡ, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang”.
2 Mục tiêu nguyên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá được giá trị cảnh quan và giá trị phi sử dụng của Khu Du lịch sinh
thái Suối Mỡ, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, từ đó đề xuất một số giải phápnhằm kết hợp hài hoà giữa hoạt động du lịch và hoạt động bảo tồn
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Xây dựng hàm cầu và xác định giá trị cảnh quan của Khu DLST Suối Mỡ
- Đánh giá chất lượng dịch vụ du lịch, sự hài lòng của du khách của Khu dulịch sinh thái Suối Mỡ
- Đánh giá sự bằng lòng chi trả (WTP) của du khách cho hoạt động bảo tồn
và đề xuất mức phí vào cổng của Khu du lịch sinh thái Suối Mỡ
- Đề xuất một số giải pháp nhằm kết hợp hài hoà giữa hoạt động du lịch vàhoạt động bảo tồn
3 Ý nghĩa của đề tài
3.1 Ý ngh ĩa khoa học
- Đánh giá giá trị cảnh quan và giá trị phi sử dụng của Khu Du lịch sinh tháiSuối Mỡ, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
Trang 13- Đề xuất mức phí vào cổng của Khu du lịch sinh thái Suối Mỡ
- Đề xuất một số giải pháp nhằm kết hợp hài hoà giữa hoạt động du lịch vàhoạt động bảo tồn
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số vấn đề cơ bản về Du lịch sinh thái
1.1.1 Khái ni ệm về Du lịch sinh thái
Du lịch sinh thái là loại hình du lịch có nguồn gốc từ du lịch thiên nhiên, gắnliền giữa môi trường tự nhiên với cộng đồng để phát triển bền vững Trong suốtnhững thập kỉ gần đây, mối lo ngại của công chúng về môi trường ngày càng tăng lênthì cũng là lúc DLST được quan tâm tới nhiều hơn Đặc biệt, sau hội nghị thượng
đỉnh về môi trường tổ chức tại Thụy Điển năm 1972, nhưng nó chỉ thực sự được
nghiên cứu vào thập kỉ 80 của thế kỷ XX DLST được Hector Cebalos Lascurain một nhà nghiên cứu tiên phong về loại hình du lịch này đưa ra định nghĩa đầu tiên
-vào năm 1987: “DLST là điểm du lịch đến những khu vực tự nhiên còn ít bị thay đổi,
với những mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giớihoang dã và những giá trị văn hóa được khám phá”[20]
Theo Megan Epler Wood (1991): “DLST là du lịch đến các khu vực còntương đối hoang sơ với mục đích tìm hiểu về lịch sử môi trường và văn hóa màkhông làm thay đổi sự toàn vẹn của các HST Đồng thời tạo những cơ hội về kinh tế
để ủng hộ việc bảo tồn tự nhiên và mang lại lợi ích cho người dân địa phương”[20]
Theo Allen (1993): “DLST được phân biệt với các loại hình du lịch thiên
nhiên khác về mức độ giáo dục cao với môi trường và sinh thái, thông qua những
hướng dẫn viên có nghiệp vụ lành nghề DLST tạo mối quan hệ giữa con người với
thiên nhiên hoang dã cùng với ý thức được giáo dục để biến bản thân du khách thànhnhững người đi đầu trong công tác động bảo vệ môi trường Phát triển DLST sẽ giảmthiểu tác động của khách du lịch đến văn hóa và môi trường, đảm bảo cho địa
phương được hưởng nguồn lợi tài nguyên thiên nhiên chính cho du lịch mang lại và
chú trọng đến những đóng góp tài nguyên thiên nhiên chính cho việc bảo tồn thiên
nhiên”[20]
Định nghĩa của hiệp hội DLST quốc tế: “DLST là việc đi lại có trách nhiệm
tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải thiện phúc lợi cho
người dân địa phương”
Trang 15* Tại Việt Nam
DLST mới được nghiên cứu ở Việt Nam vào giữa thập kỷ 90 của thế kỉ XX
Năm 1995, dự án thí điểm đầu tiên nằm trong khuôn khổ hợp tác Quốc tế về nghiên
cứu, lập quy hoạch cho những cơ hội phát triển du lịch thám hiểm thiên nhiên ở ViệtNam giữa ta và các nhà chuyên môn New Zealand
Khái niệm về DLST ở Việt Nam được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau vàcòn nhiều điểm chưa thống nhất, nhiều cuộc hội thảo chuyên đề được tổ chức với sựtham gia của các nhà nghiên cứu trong và ngoài ngành đã đưa ra nhiều khái niệmkhác nhau về DLST Trong hội thảo Quốc gia về “Xây dựng chiến lược quốc gia vềphát triển DLST ở Việt Nam” năm 1999, đi đến thống nhất về quan niệm DLST như
sau: “DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo
dục và môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sựtham gia tích cực của cộng đồng địa phương”[17]
1.1.2 Đặc trưng của DLST
Phát triển du lịch nói chung và DLST nói riêng đều thực hiện dựa trên cơ sởkhai thác và sử dụng tiềm năng về du lịch tự nhiên và du lịch nhân văn kèm theo cơ sở
hạ tầng và dịch vụ Những sản phẩm du lịch được hình thành từ các tiềm năng về tài
nguyên đem lại lợi ích cho xã hội [1] Vì vậy DLST vừa mang những đặc trưng
chung của du lịch lại vừa mang đặc trưng riêng của mình:
* Tính đa ngành: đối tượng được khai thác để phục vụ du lịch nói chung
và DLST nói riêng, đồng thời thu nhập của xã hội từ du lịch mang lại nguồn thu chonhiều ngành kinh tế khác thông qua sản phẩm du lịch dịch vụ cung cấp cho khách dulịch như điện nước, nông sản, hàng hóa
* Tính đa thành phần: được thể hiện ở sự đa dạng của các bên tham gia vàoDLST, trong đó có cả khách du lịch, những người phục vụ trong ngành du lịch, cộngđồng địa phương, các tổ chức cá nhân và tổ chức phi chính phủ…
* Tính đa mục tiêu: DLST mang lại nhiều lợi ích về nhiều khía cạnh như bảo tồn
tự nhiên, cảnh quan lịch sử - văn hóa, nâng cao chất lượng cuộc sống của khách dulịch và người tham gia hoạt động du lịch, mở rộng giao lưu văn hóa, kinh tế, nâng cao
ý thức trách nhiệm của mọi thành viên trong xã hội
Trang 16* Tính liên vùng: giữa các tuyến điểm du lịch với một quần thể các điểm
du lịch trong phạm vi một khu vực, một quốc gia hay giữa các quốc gia
* Tính mùa vụ: mọi hoạt động du lịch nói chung đều mang tính mùa vụ, làm cho
cường độ hoạt động du lịch tập trung cao vào một thời điểm nào đó trong năm, đặc
biệt là du lịch biển, giải trí cuối tuần hoặc thể thao theo mùa Tính mùa vụ hình thành
do nhiều yếu tố vừa tác động riêng rẽ vừa tác động đồng thời
* Tính chi phí: phụ thuộc vào mục đích đi du lịch của du khách đó là đi du lịch
để hưởng thụ sản phẩm du lịch chứ không phải đi du lịch để kiếm tiền
* Tính xã hội: thu hút được sự tham gia của đại bộ phận trong xã hội vàohoạt động du lịch một cách trực tiếp hay gián tiếp
Theo Dowling, sự khác biệt giữa DLST với các loại hình du lịch khác là ở 5
đặc trưng sau:
- Khi DLST phát triển trên địa bàn phong phú về tự nhiên và văn hóa, đối
tượng của DLST là những khu vực hấp dẫn về tự nhiên và văn hóa bản địa Đặc
biệt, những khu tự nhiên còn tương đối hoang sơ, ít bị tác động Vì vậy hoạt độngDLST thích hợp với các khu bảo tồn tự nhiên, VQG
- Giáo dục cao về môi trường: DLST giúp con người tiếp cận gần gũi hơn vớicác vùng tự nhiên, các khu bảo tồn, nơi có giá trị cao về ĐDSH Giáo dục môi trườngtrong DLST có tác dụng làm thay đổi thái độ của du khách, cộng đồng địa phương
và ngành du lịch đối với giá trị bảo tồn Giáo dục môi trường trong DLST còn đượccoi là công cụ quản lý hữu hiệu tạo lên sự bền vững cho các khu bảo tồn tự nhiên Do
đó, DLST là chìa khóa cân bằng giữa sự phát triển du lịch với bảo vệ môi trường khi
mà hoạt động du lịch ngày càng gây áp lực lớn tới môi trường
- Đảm bảo tính bền vững về sinh thái và hỗ trợ bảo tồn: DLST phát triển
trên môi trường phong phú về tự nhiên nên hình thức và mức độ sử dụng cho các hoạtđộng du lịch phải được duy trì và quản lý cho tính bền vững của HST và ngành du
lịch Đặc trưng này thể hiện ở quy mô nhóm khách tham quan thường có số lượngnhỏ, yêu cầu sử dụng tiện nghi thấp Các hoạt động trong DLST thường gây tác động
ít đến môi trường và khi DLST hình thành đã nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ
các nguồn tài nguyên, du khách sẵn sàng chi trả cho việc bảo vệ môi trường, thúc
Trang 17đẩy hoạt động bảo tồn và đảm bảo sự phát triển bền vững.
- Cung cấp kinh nghiệm du lịch với chất lượng cao cho du khách: Nâng cao hiểubiết và kinh nghiệm du lịch cho du khách, đó là sự tồn tại của ngành du lịch đặc biệt
là DLST Vì vậy các dịch vụ du lịch trong DLST tập trung vào để nâng cao nhậnthức và kinh nghiệm du lịch hơn là dịch vụ cho nhu cầu tiện nghi
- Khuyến khích cộng đồng địa phương tham gia và hưởng lợi ích từ hoạt
động du lịch DLST cải thiện đời sống, phát triển thêm lợi ích cho cộng đồng địaphương trên cơ sở về kiến thức, kinh nghiệm thực tế để người dân có khả năng tham gia
vào việc quản lý, vận hành dịch vụ DLST Đây cũng chính là cách để người dân trởthành những người hỗ trợ bảo tồn tích cực bởi họ chính là những người chủ sở hữucác nguồn tài nguyên tại địa phương Khi đã thu hút được sự quan tâm của người dân
địa phương và trao cho họ những quyền lợi sẽ giúp cho các nhà quản lý trong công
tác bảo vệ tài nguyên du lịch Bên cạnh đó DLST sẽ tạo cơ hội việc làm cho ngườidân cũng như các sản phẩm của địa phương phục vụ du lịch Giải quyết được vấn đềviệc làm cũng chính là giải quyết được sức ép của cộng đồng địa phương lên môi
trường, giảm dần việc lệ thuộc quá mức vào khai thác tự nhiên đồng thời nhận thức về
giá trị của môi trường được nâng cao
1.1.3 Các nguyên t ắc cơ bản của hoạt động DLST
* Có hoạt động diễn giải nhằm nâng cao hiểu biết về môi trường qua đó tạo ýthức tham gia vào các hoạt động bảo tồn, giảm thiểu các tác động tiêu cực[1]
Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của hoạt động DLST đảm bảo sự
cân bằng giữa phát triển du lịch và bảo vệ môi trường, tạo ra sự khác biệt nổi bậtgiữa DLST với các loại hình du lịch dựa vào tự nhiên khác Khi tham gia DLST, du
khách được cung cấp những kiến thức, kinh nghiệm và thông tin đầy đủ nhằm nâng
cao sự tôn trọng của du khách với môi trường tự nhiên Từ đó du khách không chỉ
được hiểu biết về giá trị của môi trường tự nhiên mà còn hiểu biết về văn hóa bản địa
Với những hiểu biết đó, thái độ cư xử của du khách sẽ thay đổi, được thể hiệnbằng những nỗ lực tích cực hơn trong hoạt động bảo tồn và phát triển những giá trị
tự nhiên, sinh thái và văn hóa khu vực
* Bảo vệ môi trường và duy trì HST
Trang 18DLST là mục tiêu hàng đầu của hoạt động du lịch, bởi sự bảo tồn của DLSTgắn liền với môi trường tự nhiên và các HST điển hình Sự xuống cấp của môi trường
tự nhiên, sự suy thoái các HST đồng nghĩa với sự đi xuống của DLST Với nguyêntắc này, mọi hoạt động DLST sẽ phải được quản lý chặt chẽ để giảm thiểu tác độngtới môi trường, một phần thu nhập từ hoạt động DLST sẽ được dùng để đầu tưthực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường và duy trì sự phát triển các HST
* Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng
Các giá trị văn hóa bản địa là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời các giátrị môi trường của HST ở một không gian cụ thể Sự xuống cấp hoặc thay đổi tập tục,sinh hoạt văn hóa truyền thống của cộng đồng địa phương, dưới tác động nào đó sẽmất đi sự cân bằng sinh thái tự nhiên vốn có của khu vực Vì vậy, hậu quả của quá trình
làm thay đổi HST sẽ tác động trực tiếp đến DLST Việc tôn trọng, bảo vệ và phát
huy bản sắc văn hóa cộng đồng địa phương có ý nghĩa quan trọng và là quá trìnhkhông thể thiếu trong hoạt động của DLST
* Tạo cơ hội việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương
Đây vừa là nguyên tắc vừa là mục tiêu hướng tới của DLST, bởi phần lớn các
hoạt động du lịch khác đều ít mang lại lợi ích cho người dân địa phương, điềunày dẫn tới sự bất bình đẳng trong xã hội Tuy nhiên, DLST lại đặc biệt quan tâm tớiviệc huy động tối đa sự tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động DLST,cùng chia sẻ lợi nhuận thu được nhằm cải thiện đời sống của người dân nơi đó Cộng
đồng địa phương là những người am hiểu các điều kiện cũng như tài nguyên tại khu
vực đó nên họ có thể là những hướng dẫn viên, người cung cấp các dịch vụ cho
DLST, bán hàng lưu niệm cho khách, người tuyên truyền và thực hiện công tác bảo
tồn…Hơn nữa khi người dân tham gia công tác quy hoạch, quản lý DLST, họ sẽ
đóng góp nhiều ý kiến bổ ích cho những người làm du lịch Ngược lại, nếu không có
sự ủng hộ của người dân thì công tác bảo tồn sẽ không có hiệu quả
1.2 Xác định giá trị của DLST
1.2.1 S ự cần thiết định giá giá trị của DLST
Định giá giá trị của một DLST hay khu bảo tồn là công việc khó khăn song
có ý nghĩa quan trọng và đã được thực hiện tại nhiều quốc gia trên thế giới Đó là
Trang 19việc sử dụng các công cụ kỹ thuật nhằm lượng giá giá trị bằng tiền của các tài sản
môi trường là các DLST làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách về khai thác, sử
dụng và quản lý DLST[6]
Ở Việt Nam, việc định giá giá trị tài sản môi trường của một DLST hay khu
bảo tồn thiên nhiên còn mới mẻ song nếu thực hiện được sẽ có ý nghĩa như sau:
Thứ nhất, Nhà nước đang thực hiện đầu tư rất lớn bằng ngân sách cho hoạt
động bảo tồn các hệ sinh thái cảnh quan DLST song lợi ích thu được mới chỉ được
nhìn nhận định tính Lượng giá giá trị của DLST hay khu bảo tồn thiên nhiên sẽgiúp nhìn nhận lợi ích từ công tác bảo tồn đầy đủ hơn, cụ thể hơn
Thứ hai, định giá giá trị DLST giúp tránh gây thiệt hại tới vốn tài nguyên
thiên nhiên quan trọng, chẳng hạn tính đa dạng sinh học, sự tồn tại của các loài quýhiếm… và cảnh báo những dự án có tác động tới DLST
Thứ ba, trong một số trường hợp việc lượng giá giá trị bằng tiền của tài sản
môi trường là cơ sở để Nhà nước cân nhắc khi đưa ra một quyết định ảnh hưởngđến vốn tự nhiên; là cơ sở để Nhà nước xác định mức đền bù hoặc bồi thường khi
cá nhân, tổ chức gây tổn hại đến tài sản tự nhiên
Thứ tư, khi tài sản môi trường được định giá tức giá trị của chúng được thừa nhận
gồm cả giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng từ đó nâng cao nhận thức về môi trường củacộng đồng và đưa ra những chỉ dẫn trong quá trình ra quyết định kinh tế của Khu DLST
1.2.2 T ổng giá trị kinh tế của một khu Du lịch sinh thái
Khu Du lịch sinh thái là một tài sản môi trường nên tổng giá trị kinh tế củamột Khu DLST về nguyên tắc có thể xem xét thông qua các thành phần giá trị củamột tài sản môi trường[5]
Các nhà kinh tế học đã rất thành công khi phân loại giá trị kinh tế của một tàisản môi trường Mặc dù thuật ngữ có thể chưa được thống nhất hoàn toàn, nhưng
phương pháp luận này đặt cơ sở cho việc giải thích về sự hình thành của giá trị trên
cơ sở sự tương tác giữa chủ thể con người - người định ra giá trị và khách thể - vậtđược đánh giá Về tổng quan, để đo lường tổng giá trị kinh tế của một tài sản môitrường nói chung và một Khu DLST nói riêng, các nhà kinh tế học bắt đầu bằng
việc phân biệt giữa giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng.
Trang 20Giá tr ị sử dụng (giá trị cảnh quan) là những lợi ích thu được từ việc sử dụng
nguồn tài nguyên trên thực tế Đôi khi cũng có thể hiểu giá trị sử dụng là giá trị các
cá nhân gắn với việc tiêu dùng một cách trực tiếp hay gián tiếp các dịch vụ donguồn tài nguyên cung cấp Ví dụ, đối với một Khu DLST hay một khu rừng, con
người có thể thu được lợi ích từ gỗ làm nhà, củi đốt; dùng cây cỏ làm thuốc; đi dạo
trong rừng, ngắm nhìn các loài động thực vật hoặc chiêm ngưỡng cảnh đẹp
Giá trị sử dụng hình thành từ việc thực sự sử dụng tài sản môi trường, trênthực tế nó bao gồm:
Giá trị sử dụng trực tiếp là các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ trực tiếp cung
cấp mà chúng ta có thể tính được giá cả và khối lượng trên thị trường
Một quan điểm khác cho rằng giá trị sử dụng trực tiếp là các lợi ích nhận
được từ việc sử dụng trực tiếp tài sản và có thể được chia thành hai loại là sử dụng
tiêu hao và không tiêu hao Chẳng hạn, giá trị sử dụng trực tiếp của rừng gồm giá trị
sử dụng tiêu hao như sản xuất gỗ, thực phẩm và các lâm sản ngoài gỗ khác; giá trị
sử dụng không tiêu hao bao gồm các hoạt động giải trí và các hình thái du lịch thậmchí chỉ là xem hình ảnh phóng sự trên tivi
Giá trị sử dụng gián tiếp là những giá trị chủ yếu dựa trên chức năng của hệ
sinh thái, có ý nghĩa về mặt sinh thái và môi trường Nói cách khác đây là các chức
năng cơ bản của môi trường gián tiếp hỗ trợ cho hoạt động kinh tế của con người
Chẳng hạn, khả năng chống gió bão, khả năng hấp thụ cacbon là giá trị sử dụng giántiếp của rừng
Giá trị tuỳ chọn là lượng mà mỗi cá nhân sẵn sàng chi trả để bảo tồn nguồn
lực hoặc một phần nguồn lực để sử dụng cho tương lai Đây là giá trị do nhận thức,lựa chọn của con người đặt ra trong hệ sinh thái Giá trị tuỳ chọn không có tínhthống nhất chung và cũng phải được tính về mặt tiền tệ theo tính chất lựa chọn của
nó Tuy nhiên, trong một số trường hợp ranh giới giữa giá trị tuỳ chọn và giá trịkhông sử dụng là không rõ ràng
Giá tr ị phi sử dụng còn gọi là giá trị không sử dụng hoặc giá trị chưa sử dụng
và thường trừu tượng hơn giá trị sử dụng
Trang 21Giá trị phi sử dụng là thành phần giá trị của một tài sản môi trường thu đượckhông phải do việc tiêu dùng một cách trực tiếp hay gián tiếp các hàng hóa dịch vụ
do tài sản môi trường cung cấp Nó thể hiện các giá trị phi thị trường nằm trong bảnchất của sự vật, không liên quan đến việc sử dụng trên thực tế, hoặc thậm chí việcchọn lựa sử dụng tài sản này Thay vào đó các giá trị này được coi như những yếu tốphản ánh sự lựa chọn của con người, sự lựa chọn có kể đến cả sự quan tâm đồng cảm
và trân trọng đối với quyền lợi hoặc sự tồn tại của các sinh vật không phải là con
người Các giá trị này bao hàm cả nhận thức về giá trị tồn tại của các giống loài khác
hoặc của cả quần thể hệ sinh thái Ví dụ, một cá nhân có thể cảm thấy hài lòng khibiết Khu DLST Suối Mỡ tồn tại, các loài đặc hữu vẫn được bảo vệ mặc dù họ chưatới đó bao giờ, và chắc chắn cũng không tới đó trong tương lai
Giá trị phi sử dụng bao gồm các thành phần:
Giá trị để lại (Bequest value) là thành phần giá trị thu được từ sự mong
muốn bảo tồn và duy trì nguồn tài nguyên cho lợi ích của các thế hệ hiện tại và
tương lai Chẳng hạn, người dân sống tại vùng cát Quảng Bình hiểu rằng cuộc sống
của họ và con cháu họ trong tương lai phụ thuộc rất nhiều vào rừng phòng hộ chắncát bay Họ sẵn sàng đóng góp tiền bạc và công sức để duy trì rừng vì lợi ích của họ
và con cháu họ Trong trường hợp này, mức sẵn sàng đóng góp của họ được xem làgiá trị để lại, giá trị lưu truyền cho thế hệ sau
Giá trị tồn tại (Existence value) là giá trị của tài sản môi trường có được từ
nhận thức rằng tài sản đó còn tồn tại Xét về tổng thể, xã hội cũng nhận được các lợiích từ hàng hoá môi trường ngoài sự hữu dụng liên quan tới việc sử dụng trực tiếphay gián tiếp Sự tiêu dùng không có một hàng hoá cụ thể nhưng rõ ràng các cánhân cảm thấy hài lòng khi biết một nguồn tài nguyên nào đó vẫn còn tồn tại Rấtkhó giải thích tại sao xã hội lại đánh giá các lợi ích này Tuy nhiên, chúng ta biếtrằng xã hội nói chung sẵn lòng chi trả để bảo tồn các tài sản này Trong các trườnghợp như vậy lợi ích cho xã hội đơn giản từ việc biết rằng các tài sản này đang tồntại và đang được bảo vệ Thành phần này của tổng giá trị được biết đến như giá trịtồn tại
Trang 22Như vậy, giá trị tồn tại xuất phát từ nhận thức của con người về tài nguyên
và môi trường mà người ta cho rằng sự tồn tại của một cá thể hay một giống loàinào đó có ý nghĩa về mặt kinh tế không chỉ trước mắt mà còn cả lâu dài buộc người
ta phải duy trì giống loài đó bằng mọi giá Trong việc tính toán giá trị này thì việcxác lập tiền tệ là khó khăn nhưng sự xác lập nhận thức về mặt giá trị rất dễ dàng
Về nguyên tắc các giá trị tồn tại là một động cơ quan trọng của nhiều nỗ lựcbảo tồn và cũng là cơ sở ban hành chính sách môi trường Một ví dụ thực tế là Đạoluật về bảo vệ và bảo tồn các loài chim và các giống loài cây đang bị đe dọa tuyệtchủng được áp dụng tại nhiều nước Đạo luật của Mỹ năm 1973 về các loài đang bịnguy hiểm là một điển hình về sự thừa nhận của Mỹ về giá trị tồn tại Đạo luật đãchính thức lên tiếng bảo vệ tính đa dạng sinh học của trái đất Kết quả quan trọngcủa nó là hình thành một danh sách chính thức về các sinh vật đang có nguy cơtuyệt chủng, bất kể chúng có giá trị sử dụng trực tiếp hay gián tiếp đối với con
người Ngoài ra, một bằng chứng xác thực khác là sự sẵn lòng chi trả của xã hội cho
hoạt động của các tổ chức bảo vệ môi trường mà chương trình hành động của họ tậptrung vào việc bảo tồn các loài động thực vật
Một nghiên cứu khá sớm khác về giá trị tồn tại của Krutulla (1967) cho rằng
“Khi đề cập đến một kỳ quan lộng lẫy hoặc một hệ sinh thái yếu ớt và duy nhất thì
việc bảo tồn và duy trì sự sẵn có là một phần quan trọng trong thu nhập thực củanhiều cá nhân” Điều này có nghĩa việc bảo tồn các giá trị của môi trường là mongmuốn của nhiều người không vì mục đích tiêu dùng của họ mà có thể là vì mục đíchtiêu dùng của người khác hoặc giữ gìn cho thế hệ tương lai
Tiêu dùng của người khác nói đến ý niệm rằng các cá nhân đang đánh giámột hàng hoá công cộng vì lợi ích nó mang lại cho người khác cho dù bản thânnhững người đó có biết hay không Điều này cho thấy những lợi ích nhận được cótính phụ thuộc lẫn nhau Một cá nhân có thể nhận được lợi ích từ sự nhận thức rằngnhững người khác đang được hưởng lợi từ hàng hoá đó Còn giữ gìn cho thế hệ
tương lai phát sinh từ ý thức phải bảo vệ môi trường cho các thế hệ tương lai, từ sự
công nhận giá trị tồn tại của tài nguyên môi trường
Trang 23Một cách tổng quát, tổng giá trị kinh tế được hình thành từ giá trị sử dụngtrực tiếp và giá trị sử dụng gián tiếp được minh họa bằng công thức và sơ đồsau[19]:
TEV = UV + NUV hay TEV = (DUV + IUV + OV) + ( BV + EV)
Trong đó:
DUV: Giá trị sử dụng trực tiếp
IUV: Giá trị sử dụng gián tiếp
OV: Giá trị lựa chọnBV: Giá trị để lại (giá trị lưu truyền)EV: Giá trị tồn tại
Hình 1.1: Sơ đồ tổng giá trị kinh tế của Khu DLST
(Nguồn: Giá trị của tài sản môi trường, Munasinghe, 1992)
Giá trị SD
trực tiếp
Giá trị SDgián tiếp
Giá trịlựa chọn
Giá trị
để lại
Giá trịtồn tại
Lợi ích trực tiếp
và gián tiếp của thế hệ tương lai
Lợi ích từ mong muốn bảo tồn cho thế hệ sau
Lợi ích từ việc biết rằng các giá trị vẫn tồn tại
- Chống gió bão
- Đa dạng sinh học
- Sự sống của các loài
Trang 241.3 Tình hình và những nghiên cứu về DLST trên Thế giới và ở Việt Nam
1.3.1 Tình hình và nh ững nghiên cứu về DLST trên Thế giới
Trong những năm qua, du lịch sinh thái đã và đang phát triển nhanh chóng ởnhiều quốc gia trên thế giới và ngày càng thu hút được sự quan tâm rộng rãi của các tầnglớp xã hội, đặc biệt đối với những người có nhu cầu tham quan du lịch và nghỉ ngơi
Ngoài ý nghĩa góp phần bảo tồn tự nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học và văn hóacộng đồng; sự phát triển du lịch sinh thái đã và đang mang lại những nguồn lợi kinh tế tolớn, tạo cơ hội tăng thêm việc làm và nâng cao thu nhập cho quốc gia cũng như cộng
đồng người dân các địa phương, nhất là người dân ở các vùng sâu, vùng xa - nơi có các
khu bảo tồn tự nhiên và các cảnh quan hấp dẫn Ngoài ra, du lịch sinh thái còn góp phầnvào việc nâng cao dân trí và sức khỏe cộng đồng thông qua các hoạt động giáo dục môi
trường, văn hóa lịch sử và nghỉ ngơi giải trí Chính vì vậy ở nhiều nước trên thế giới và
trong khu vực, bên cạnh các lợi ích về kinh tế, du lịch sinh thái còn được xem như mộtgiải pháp hữu hiệu để bảo vệ môi trường sinh thái thông qua quá trình làm giảm sức épkhai thác nguồn lợi tự nhiên phục vụ nhu cầu của khách du lịch, của người dân địa
phương khi tham gia vào các hoạt động du lịch
Ngày nay sự hiểu biết về du lịch sinh thái đã phần nào được cải thiện, thực
sự đã có một thời gian dài du lịch sinh thái là chủ đề nóng của các hội thảo về chiến
lược và chính sách bảo tồn và phát triển các vùng sinh thái quan trọng của các quốc
gia và thế giới Thực sự đã có nhiều nhà khoa học danh tiếng tiên phong nghiên cứulĩnh vực này, điển hình như:
Hector Ceballos-Lascurain- một nhà nghiên cứu tiên phong về du lịch sinh
thái (DLST), định nghĩa DLST lần đầu tiên vào năm 1987 như sau: "Du lịch sinh
thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên ít bị ô nhiễm hoặc ít bị xáo trộn vớinhững mục tiêu đặc biệt: nghiên cứu, trân trọng và thưởng ngoạn phong cảnh vàgiới động – thực vật hoang dã, cũng như những biểu thị văn hoá (cả quá khứ và hiệntại) được khám phá trong những khu vực này”[19]
Năm 1994 nước Úc đã đưa ra khái niệm “DLST là Du lịch dựa vào thiênnhiên, có liên quan đến sự giáo dục và diễn giải về môi trường thiên nhiên được
quản lý bền vững về mặt sinh thái”
Trang 25Theo Hiệp hội DLST Hoa Kỳ, năm 1998 “DLST là du lịch có mục đích vớicác khu tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa và lịch sử tự nhiên của môi trường,không làm biến đổi tình trạng của hệ sinh thái, đồng thời ta có cơ hội để phát triểnkinh tế, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi ích tài chính cho cộng đồng địaphương”.
Trên thế giới, đặc biệt là tại các nước phát triển như Thuỵ Điển, Nhật Bản,Mỹ… các KBT được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa bảo tồn và phát triển dulịch, nhiều loại hình du lịch được hình thành như leo núi, thăm động vật hoang dãtrong xe bảo vệ, theo dõi cuộc sống của các loài linh trưởng, ngắm nhìn các loại
động thực vật biển…Gần đây, một số nước Châu Phi cũng rất chú trọng phát triển
loại hình du lịch này, ở một số nước như Uganda, Nigeria… việc phát triển du lịch
sinh thái được đưa vào trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước
Với nền văn hóa đa dạng và độc đáo, trong các thập niên trước đây,Indonesia chủ yếu chỉ phát triển du lịch dựa vào loại hình du lịch văn hóa Du lịchsinh thái bắt đầu được coi trọng tại Indonesia từ năm 1995 Để tăng cường cácphong trào DLST ở Indonesia, tại Hội thảo quốc gia lần thứ hai về DLST được tổchức tại Bali (7/1996) đã thông qua việc thành lập Hiệp hội Du lịch sinh thái
Indonesia (Masyarakat Ekowisata Indonesia), viết tắt là MEI Phải nói thêm
rằng: Indonesia cũng phải đối đầu với các vấn đề về việc phát triển DLST khôngbền vững như tàn phá môi trường và hệ sinh thái trong một thời gian dài
Từ năm 1996, các cuộc thảo luận, hội thảo về DLST ở Indonesia đã tăng
lên Việc này đã khuyến khích MEI thực hiện cuộc họp đầu tiên vào năm 1997 tạiFlores, năm 1998 tại Tana Toraja, Sulawesi Selatan Các tổ chức như: Tổng cụcBảo vệ Thiên nhiên và Bảo tồn, Bộ Lâm nghiệp và trồng rừng, Bộ Du lịch và Nghệ
thuật, các ban phát triển ở các địa phương, MEI cũng như các tổ chức Phi chính phủ
đã và đang tham gia vào việc thiết lập các nguyên tắc cho sự phát triển của DLST ở
Trang 26đề tài để suy ngẫm mà đã trở thành một thực tế trên toàn cầu Ở rất nhiều nước trên
thế giới, vấn đề phát triển du lịch sinh thái rất được chính phủ quan tâm, thườngxuất hiện trên các bản tin chính hay các quảng cáo thương mại công cộng Du lịch
sinh thái đã mang lại nhiều lợi ích cụ thể trong lĩnh vực bảo tồn và phát triển bền
vững Ở Costa Rica và Venezuela, một số chủ trang trại chăn nuôi đã bảo vệ nhiềudiện tích rừng nhiệt đới quan trọng, nhờ đó họ đã biến những nơi đó thành điểm dulịch sinh thái hoạt động tốt, giúp bảo vệ các hệ sinh thái tự nhiên đồng thời tạo ra
công ăn việc làm mới cho dân địa phương Ecuador sử dụng khoản thu nhập từ du
lịch sinh thái tại đảo Galápagó để giúp duy trì toàn bộ mạng lưới vườn quốc gia TạiNam Phi, du lịch sinh thái trở thành một biện pháp hiệu quả để nâng cao mức sốngcủa người da đen ở nông thôn, những người da đen này ngày càng tham gia nhiềuvào các hoạt động du lịch sinh thái Chính phủ Ba lan cũng tích cực khuyến khích
du lịch sinh thái và gần đây đã thiết lập một số vùng Thiên nhiên và Du lịch củaquốc gia để tăng cường công tác bảo vệ thiên nhiên và phát triển du lịch quốc gia.Tại Úc vµ Newzeland, phần lớn các hoạt động du lịch đều có thể xếp vào hạng dulịch sinh thái Ðây là ngành công nghiệp được xếp hạng cao trong nền kinh tế của
các nước
1.3.2 Tình hình và nh ững nghiên cứu về DLST ở Việt Nam
Từ năm 1983, khái niệm DLST đã đến với Việt Nam, là loại hình khai thác
đa hệ sinh thái tự nhiên gồm: Đa hệ sinh thái động vật, thực vật, hệ sinh thái nhânvăn, của núi của rừng của hồ, của biển của đồng bằng, của các vùng lãnh thổ.Chúng ta xác định nhiều rừng cấm đó là những vùng di sản thiên nhiên của quốc
gia, chứa đầy tiềm năng cho du lịch sinh thái Chúng ta cũng đã xác định nhiều khu
để khai thác du lịch sinh thái: vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), hồ Ba Bể (Bắc Cạn),động Phong Nha (Quảng Bình), sông Đanhim, sông Khang Klet (Lâm Đồng), đảo
Yến (Khánh Hòa) v.v có khu vực phát triển theo mục tiêu kinh doanh Nhưng dù ở
đâu, khu vực nào, loại hệ sinh thái gì cũng phải có chung mục tiêu phát triển đểtrường tồn, như vậy, khai thác cần phải đi đôi với tái tạo, bảo tồn và phát triển, cónhư vậy DLST mới có tương lai Ngày nay, người ta không chỉ khai thác hình thức
DLST tự nhiên mà còn tái tạo “tự nhiên” để hình thành DLST, tất nhiên hình thức
Trang 27này chỉ phục vụ công tác kinh doanh là chính, và nó thường xảy ra ở các vùng gần
đô thị, gần các khu trung tâm văn hóa kinh tế của vùng, gần các khu dân cư mới tậptrung mà nơi đó có nhu cầu phát triển Ví dụ: Hà Nội gần đây người ta đã cho
nghiên cứu một số vùng nông thôn gần thành phố, vùng bán sơn địa có rừng, có đồi,
có đồng bằng, vùng có sẵn một số hệ sinh thái thực vật, động vật để tạo lập các khunghỉ ngơi du lịch mang tính sinh thái
Nhận thức rõ vai trò của du lịch sinh thái đối với sự phát triển của ngành du lịchnói riêng và bảo vệ tài nguyên, môi trường đảm bảo cho sự nghiệp phát triển bền vữngkinh tế - xã hội của đất nước nói chung, vào tháng 9/1999, Tổng cục Du lịch Việt Nam
đã phối hợp với Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) và ủy ban Kinh tế - Xã hội
Châu á Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức Hội thảo quốc tế về xây dựng khung chiến
lược phát triển du lịch sinh thái làm cơ sở cho việc xây dựng chiến lược phát triển du lịch
Việt Nam cũng như đẩy mạnh hợp tác phát triển hoạt động du lịch sinh thái của ViệtNam với các nước trong khu vực và quốc tế Tại Hội thảo này, các chuyên gia và các nhàquản lý du lịch Việt Nam cùng phối hợp với chuyên gia quốc tế đã xây dựng định nghĩa
du lịch sinh thái như sau: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào tự nhiên và vănhóa, có giáo dục môi trường, đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, có sựtham gia tích cực của cộng đồng địa phương” Đây là cơ sở lý luận khá quan trọng tạotiền đề cho việc tổ chức triển khai các hoạt động thực tiễn đẩy mạnh phát triển loại hình
du lịch sinh thái trong thời gian tiếp theo Cùng với việc xây dựng định nghĩa về du lịchsinh thái; những nguyên tắc, những yêu cầu cơ bản của hoạt động du lịch sinh thái cũng
được thảo luận và đưa ra tại hội thảo này
Để đẩy mạnh phát triển du lịch sinh thái Việt Nam theo định hướng chiến lược
phát triển du lịch đã được Chính Phủ phê duyệt, căn cứ vào sự phân bố về mặt khônggian của các vùng sinh thái đặc thù với sự có mặt của các loài sinh vật đặc hữu, cũng như
căn cứ vào các điều kiện về kinh tế - xã hội, cơ sở hạ tầng , trong tương lai định hướng
tổ chức không gian cho hoạt động du lịch sinh thái ở Việt Nam có thể theo các hướngsau:
- Vùng núi và ven biển Đông Bắc: bao gồm các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, BắcKạn, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Hải Phòng Các giá trị du lịch sinh thái ở khu vực này
Trang 28là hệ sinh thái trên núi đá vôi, hệ sinh thái đất ngập nước, hệ sinh thái san hô Tiêu biểu
là khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Sơn, Hữu Liên, Lạng Sơn; vườn quốc gia Ba Bể, BắcKạn; hồ Núi Cốc, Thái Nguyên; vườn quốc gia Bái Tử Long, Quảng Ninh; vườn quốcgia Cát Bà, Hải Phòng; hệ sinh thái san hô ở khu vực Hạ Long và Cát Bà Các loại hình
du lịch sinh thái có thể tổ chức được bao gồm tham quan nghiên cứu các hệ sinh thái đặcthù, du lịch mạo hiểm, du lịch lặn biển
- Vùng núi Tây Bắc, Hoàng Liên Sơn: không gian hoạt động du lịch sinh thái ởvùng này chủ yếu bao gồm phần phía Tây của 2 tỉnh Lào Cai và Lai Châu với vùng sinhthái núi cao Sapa - Fan Xi Păng có nhiều loài sinh vật ôn đới và vườn quốc gia Hoàng
Liên nơi có tới 38 loài động vật thuộc loài quý hiếm cần được bảo vệ Các loại hình du
lịch sinh thái có thể tổ chức được ở khu vực này bao gồm: tham quan nghiên cứu các hệsinh thái vùng núi cao, du lịch mạo hiểm
- Vùng đồng bằng sông Hồng: với không gian chủ yếu thuộc các tỉnh Hà Tây,Vĩnh Phúc, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình Trên phạm vi không gian vùng du lịch
sinh thái này có 4 vườn quốc gia là Ba Vì, Tam Đảo, Xuân Thủy và Cúc Phương Căn cứvào các đặc điểm sinh thái tự nhiên và điều kiện có liên quan hoạt động du lịch sinh thái
ở vùng này chủ yếu là tham quan nghiên cứu các hệ sinh thái đặc thù kết hợp với thắng
cảnh và du lịch văn hóa
- Vùng Bắc Trung Bộ: bao gồm Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình vàkhu vực Đông Nam Thừa Thiên - Huế, phần phía Tây Đà Nẵng và Quảng Nam Địa bàn
này được đánh giá có tính đa dạng sinh học cao với nhiều vườn quốc gia (Bến En, Pù
Mát, Vũ Quang, Phong Nha Kẻ Bàng, Bạch Mã) là những khu rừng nguyên sinh rộnglớn Đây cũng là vùng mà trong thời gian qua đã phát hiện 3 loài thú mới là Sao la, Manglớn và Voọc Hà Tĩnh Ngoài tính đa dạng sinh học, ở vùng này còn có Vườn quốc giaPhong Nha - Kẻ Bàng với động Phong Nha được công nhận là di sản thế giới Chính vìvậy tiềm năng du lịch sinh thái ở vùng này là rất lớn Các loại hình du lịch sinh thái cóthể tổ chức được ở khu vực này bao gồm: tham quan nghiên cứu các hệ sinh thái, du lịchmạo hiểm, du lịch lặn biển
- Vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên: bao gồm phần phía Tây của TâyNguyên, một phần phía Bắc Lâm Đồng xuống đến Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình
Trang 29Thuận Các hệ sinh thái điển hình của vùng bao gồm hệ sinh thái rừng khộp mà tiêu biểu
ở Yok Đon, hệ sinh thái đất ngập nước ở Hồ Lắc, hệ sinh thái vùng núi cao ở Ngọc Linh,
Bidoup - Núi Bà, hệ sinh thái san hô ở Nha Trang, hệ sinh thái cát ở Mũi Né Đây làvùng tập trung nhiều hệ sinh thái điển hình và cũng là nơi được thế giới công nhận có
tính đa dạng sinh học cao, là nơi duy nhất ở Việt Nam và các nước Đông Nam Á có đủ 4
loài bò xám và bò sừng xoắn và cũng là nơi còn có nhiều loài chim, thú, bò sát, cá, cácloài thực vật thuộc diện quý hiếm, đặc hữu ở Việt Nam và trên thế giới Các loại hình dulịch sinh thái có thể tổ chức được ở khu vực này bao gồm: tham quan nghiên cứu các hệsinh thái, du lịch mạo hiểm, du lịch lặn biển
- Vùng Đông Nam Bộ: không gian chủ yếu bao gồm khu vực vườn quốc gia Cát
Tiên (Lâm Đồng, Bình Phước, Đồng Nai), vườn quốc gia Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu),
khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ (Thành phố Hồ Chí Minh) Tính đa dạng sinh học củavùng này cũng được đánh giá là khá cao với nhiều hệ sinh thái điển hình, trong đó đángchú ý là các hệ sinh thái ở Cát Tiên với loài tê giác Giava Các loại hình du lịch sinh tháichủ yếu có thể tổ chức được ở vùng này bao gồm: tham quan nghiên cứu các hệ sinh thái
điển hình, du lịch mạo hiểm
- Vùng đồng bằng sông Mê Kông: với 2 hệ sinh thái điển hình là đất ngập nước
và rừng ngập mặn, không gian hoạt động du lịch sinh thái ở vùng này chủ yếu tập trung
ở các tỉnh dọc sông Mekông và các tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang Rừng ngập
mặn Cà Mau; Tràm Chim Đồng Tháp - nơi bảo tồn loài sếu cổ trụi; các vườn quốc gia U
Minh Thượng, Phú Quốc là những nơi có giá trị đặc biệt cho hoạt động du lịch sinh thái
Ngoài ra, các miệt vườn, đặc biệt trên các cù lao dọc sông Tiền, sông Hậu là những
điểm du lịch sinh thái hấp dẫn của vùng Tính độc đáo của hoạt động du lịch nói chung,
du lịch sinh thái nói riêng ở vùng đồng bằng sông Mekông là du lịch sông nước, miệt
vườn
Tóm lại, du lịch sinh thái là hoạt động du lịch mới phát triển một vài thập kỷ gần
đây và đang trở thành một xu hướng tích cực để đảm bảo sự phát triển du lịch bền vững
gắn liền với việc bảo tồn thiên nhiên và môi trường, các giá trị nhân văn giàu bản sắc vănhóa của mọi dân tộc, thông qua việc giáo dục nhận thức của xã hội, của cộng đồng ViệtNam là một nước có điều kiện và tiềm năng phát triển du lịch sinh thái với những ưu thế
Trang 30của thiên nhiên nhiệt đới ẩm, địa hình, cảnh quan đa dạng với nhiều hệ sinh thái điểnhình khác nhau từ vùng núi cao nguyên đến vùng đồng bằng ven biển và hải đảo Trênnhững khu vực cảnh quan này là địa bàn cư trú của hàng chục các dân tộc thiểu số trongcộng đồng các dân tộc Việt Nam với những phong tục tập quán, nền văn nghệ dân gian
đặc sắc
Để đảm bảo sự phát triển bền vững của du lịch nói riêng và công cuộc phát triển
kinh tế xã hội của nước ta nói chung, du lịch sinh thái là loại hình cần được đẩy mạnhphát triển trên cơ sở khai thác hợp lý các thế mạnh tiềm năng của tài nguyên du lịch Việt
Nam Để đẩy mạnh phát triển du lịch sinh thái đòi hỏi phải có sự chỉ đạo, phối kết hợpđồng bộ thể hiện ở 3 lĩnh vực chủ yếu: chủ trương đường lối chính sách của Nhà nước,
sự quản lý điều hành của chính quyền các cấp và sự tham gia của cộng đồng dân cư địa
phương
Trong tương lai không xa, với sự nỗ lực phấn đấu của toàn ngành dưới sự đạo
của Tổng cục Du lịch theo định hướng mà Đảng và Nhà nước đã chỉ rõ, chắc chắn dulịch sinh thái sẽ là tiền đề để phát triển du lịch bền vững, góp phần đáng kể vào sự nghiệpphát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Trang 31Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đánh giá giá trị cảnh quan và giá trị chưa sử dụng của Khu du lịch sinh thái
Suối Mỡ dựa trên lý thuyết của kinh tế học môi trường
2.1.2 Ph ạm vi nghiên cứu
- Khu du lịch sinh thái Suối Mỡ, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Khái quát v ề Khu DLST Suối Mỡ
- Vị trí địa lý
- Địa hình, địa mạo
- Khí hậu thủy văn
- Địa chất đất đai
- Đa dạng sinh học
- Dân số, lao động, việc làm
- Sản xuất nông – lâm nghiệp
- Thực trạng phát triển du lịch tại Khu DLST Suối Mỡ
- Tác động của du lịch sinh thái lên các yếu tố sinh thái tự nhiên
- Tác động của du lịch lên hệ sinh thái xã hội - nhân văn
2.2.3 Xác định giá trị cảnh quan của Khu DLST Suối Mỡ
- Đề xuất mức phí vào cổng của Khu du lịch sinh thái Suối Mỡ
- Đặc điểm kinh tế - xã hội của du khách
- Đánh giá chất lượng dịch vụ du lịch, sự hài lòng của du khách
Trang 32- Sử dụng mô hình kinh tế lượng phân tích các yếu tố tác động đến WTP
2.2.5 Đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm kết hợp hài hoà giữa hoạt động du lịch và hoạt động bảo tồn
- Định hướng
- Giải pháp
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp điều tra, phỏng vấn
+ Phạm vi điều tra: Các du khách tại Khu DLST Suối Mỡ, huyện LụcNam, tỉnh Bắc Giang
+ Đối tượng phỏng vấn: Du khách tại Khu DLST Suối Mỡ, huyện Lục
Nam, tỉnh Bắc Giang
+ Phương thức điều tra:
1 Gửi phiếu điều tra tới du khách để du khách tự trả lời theo phiếu điều tra(phụ lục 01) Số lượng 100 phiếu
2 Phỏng vấn trực tiếp du khách bằng phiếu điều tra (phụ lục 01): Hình thức
này được tác giả sử dụng chủ yếu nhằm giải thích cho du khách mục đích ý nghĩa
của bảng hỏi và thu thập thêm các thông tin khác mà du khách muốn chia sẻ Hơnthế, với hình thức này người thực hiện phỏng vấn có thể trực tiếp giải thích cho đối
tượng phỏng vấn những câu hỏi mà họ chưa rõ nên kết quả cuộc phỏng vấn có thểđáng tin cậy Số lượng 200 phiếu
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu
Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp như: Điều kiện tự nhiên, kinh
tế - xã hội nguồn từ các báo cáo thống kê về Kinh tế - xã hội của Ban quản lý KhuDLST Suối Mỡ và UB nhân dân các cấp, các sở, phòng, ban khác…
2.3.3 Phương pháp chi phí du lịch (TCM - Travel Cost Method)
Phương pháp chi phí du lịch là phương pháp được dùng để đánh giá giá trị
kinh tế của các hệ sinh thái cảnh quan, các Khu DLST sử dụng cho mục đích giảitrí Đây là một phương pháp về sự lựa chọn ngầm, có thể dùng để ước lượng đườngcầu đối với các địa điểm giải trí và từ đó đánh giá giá trị các cảnh quan này Giả thiết
cơ bản của phương pháp TCM rất đơn giản đó là chi phí bỏ ra để đến một địa điểm
Trang 33tham quan phản ánh giá trị của địa điểm giải trí đó Vì vậy, chúng ta sẽ phỏng vấnkhách tham quan xem họ từ đâu đến, họ phải bỏ bao nhiêu chi phí cho chuyến đi…
Từ những câu trả lời của du khách, chúng ta có thể tính toán chi phí du hành của họ
và liên hệ với số lần tham quan trong một năm Thông qua phương pháp này, cácnhà phân tích có thể tìm được mối quan hệ hàm số giữa giá một lần tham quan
Cơ sở lý thuyết phương pháp TCM dựa trên giả định chi phí về thời gian và
chi phí cho chuyến đi của du khách sẽ đại diện cho giá trị của địa điểm giải trí Do
đó, từ sự bằng lòng chi trả của du khách cho chuyến đi và số lượt tham quan của du
khách có thể xây dựng đường cầu thể hiện mối quan hệ giữa số lượt tham quan và
chi phí tham quan Sau đó, giá trị cảnh quan của địa điểm nghiên cứu được đánh giánhư là tổng lợi ích của du khách và được đo bằng phần diện tích dưới đường cầu
Như vậy, TCM đánh giá giá trị các hàng hoá môi trường không có giá thịtrường thông qua hành vi tiêu dùng có liên quan tới thị trường Đặc biệt, các chi phí
phải bỏ ra để được tiêu dùng các dịch vụ môi trường sẽ được xem như là sự thay thếcho giá của các dịch vụ đó Các chi phí này bao gồm chi phí đi lại, chi phí vào cửa,các chi phí khác tại địa điểm giải trí và các chi phí cơ hội về thời gian mà du khách
đã bỏ ra để có được chuyến đi đến địa điểm giải trí
2.3.3.1 Mô hình lý thuyết hàm chi phí du lịch
Một cách tổng quát, chi phí du lịch của du khách i tới địa điểm giải trí j(TCij) phụ thuộc vào một số biến:
TCij= TC(DCij, Tij, Fi) (1)
i = 1…n, j = 1… m
Trong đó:
DCij là chi phí về khoảng cách Chi phí này phụ thuộc vào độ dài quãng
đường tới điểm du lịch và phụ thuộc vào chi phí cho mỗi km đi lại
Tijlà chi phí thời gian Chi phí này phụ thuộc vào thời gian để tới được điểm
du lịch và giá trị về thời gian của mỗi cá nhân
Filà phí vào cửa của địa điểm j
Trang 34Giả sử Vi là số lượt tham quan của du khách i tới địa điểm j, khi đó Vi làbiến phụ thuộc vào chi phí của chuyến đi (TCij) và một số biến thể hiện đặc điểm xãhội của du khách Hàm biểu thị số lượt tham quan của du khách như sau:
Vi = a + b.TCij+ c INCi+ d EDUi+ e AGEi+ f SEXi
Trong đó:
Vilà số lượt viếng thăm địa điểm j của du khách i
TCij: Chi phí của một lần viếng thăm địa điểm j
INCi: Thu nhập của du khách i
EDUi: Trình độ học vấn của cá nhân i
AGEi: Độ tuổi của du khách i
SEXi: Giới tính của du khách i
Hệ số a, b, c, d, e, f lần lượt là các hệ số cần được ước lượng
Sau khi ước lượng được các hệ số tiếp tục xây dựng đường cầu mô tả mối
quan hệ giữa số lượt tham quan và chi phí tham quan Phần diện tích nằm dưới
đường cầu sẽ thể hiện giá trị cảnh quan của địa điểm giải trí
2.3.3.2 Phương pháp tiếp cận chi phí du lịch
Để lượng giá giá trị cảnh quan thông qua chi phí du lịch bằng phương pháp
này cần thực hiện 7 bước:
Bước 1: Phân chia khu vực xung quanh địa điểm du lịch được nghiên cứu thành
các vùng du lịch cơ bản Các vùng này có thể được phân chia theo các đường tròn đồngtâm kể từ điểm du lịch nhưng cũng có thể phân chia theo khu vực hành chính có cùng
đặc điểm nào đó Thông thường, số liệu về dân số thu thập theo địa giới hành chính dễdàng hơn thu thập theo các đường tròn đồng tâm Số lượng các vùng có thể tương đối
lớn tùy theo đặc thù của địa điểm nghiên cứu
Bước 2: Thu thập thông tin về số lượng du khách tới từ các vùng khác nhau và
tổng số chuyến tham quan tới điểm du lịch ở thời điểm trước năm nghiên cứu Thôngtin về lượng khách có thể thu thập từ số liệu thứ cấp tại địa điểm nghiên cứu hoặc thuthập từ các công ty lữ hành
Bước 3: Tính tỷ lệ du khách (VR - Visitation Rate) đến thăm điểm du lịch trên
1000 dân mỗi vùng Tỷ lệ du khách đến thăm điểm du lịch được xác định bằng cách
Trang 35lấy tổng số du khách đến điểm giải trí trong năm của mỗi vùng chia cho tổng dân sốcủa vùng đó tính theo đơn vị nghìn người.
Bước 4: Ước lượng khoảng cách trung bình và thời gian di chuyển từ các vùng
tới điểm du lịch Giả định ở vùng 0 (vùng kề cận điểm du lịch) khoảng cách và thời
gian đi lại trung bình bằng 0 Khoảng cách trung bình và thời gian đi lại sẽ tăng dần
theo khoảng cách địa lý
Sau khi ước lượng được khoảng cách trung bình và thời gian đi lại, người
nghiên cứu xác định toàn bộ chi phí đi lại Chi phí đi lại có thể xác định dựa trên thôngtin về loại phương tiện sử dụng và mức chi phí trên mỗi km hoặc trên mỗi giờ
Với chi phí cơ hội về thời gian dành cho chuyến đi thường có nhiều phức tạp
hơn Cách đơn giản nhất để ước tính chi phí thời gian là xác định chi phí thời gian dựa
trên mức lương theo ngày
Bước 5: Sử dụng phân tích hồi quy để tìm ra mối liên hệ giữa tỷ lệ du khách với chi
phí du lịch và một số biến xã hội quan trọng khác Hàm mô tả mối quan hệ này sẽ có dạng:
Vzj= V(TCzj, Sz) (*)
Trong đó: Vzj là tỷ lệ du khách từ vùng Z tới địa điểm j
TCzjlà chi phí du lịch của du khách vùng Z tới địa điểm j
Szlà các biến kinh tế - xã hội của du khách vùng Z
Bước 6: Xây dựng đường cầu du lịch cho địa điểm nghiên cứu trên cơ sở kết
quả của phân tích hồi quy Mức chi phí du lịch sẽ tăng lên cho đến khi số lần viếng
thăm của khách giảm xuống bằng 0, nói cách khác có ít hơn một khách sẵn sàng bỏ ra
mức phí đó để được vào thăm khu du lịch Điểm đầu của đường cầu là số lượng du
khách đến với điểm giải trí trong trường hợp chi phí du lịch bằng 0 Các điểm khác trênđường cầu được xác định bằng số lượng du khách ứng với từng mức chi phí khác nhau.Điều này được thể hiện bởi mô hình sau đây:
Trang 36Chi phí
Hình 2.1: Đường cầu du lịch
Trong mô hình trên, lượng khách đến từ vùng 0 (vùng kề cận điểm du lịch)
là V0 Từ hàm quan hệ giữa chi phí du lịch và lượng khách có thể xác định các điểmcòn lại trên đường cầu Chẳng hạn, tại mức phí du lịch P1, lượng khách sẽ giảm từ
V0 xuống V1, nếu mức phí tăng lên mức P2thì số lượng khách sẽ giảm xuống mức
V2 Những tổ hợp chi phí - lượng khách là các dự đoán dựa trên quan hệ giữa chiphí du lịch với lượng khách du lịch Giả thuyết quan trọng nhất ở đây là khi chi phí
du lịch được xác định trong biểu thức (*) tăng lên thì số lượng khách tới thăm khu
du lịch giảm đi
Bước 7: Ước lượng giá trị cảnh quan của điểm nghiên cứu thông qua tính
thặng dư tiêu dùng đối với du khách hoặc xác định phần diện tích nằm phía dưới
đường cầu
2.3.4 Phương pháp định giá ngẫu nhiên (Contingent Valuation Method - CVM)
Phương pháp định giá ngẫu nhiên là phương pháp xác định giá trị kinh tế của
các hàng hóa và dịch vụ không mua bán trên thị trường Phương pháp này sử dụngbảng hỏi phỏng vấn để xác định giá trị của hàng hóa dịch vụ không trao đổi và do
đó không có giá trên thị trường (Theo Katherine Bolt – Estimating the Cost of
Trang 37người sẽ được hỏi rằng họ sẵn sàng trả bao nhiêu tiền cho sự cải thiện môi trườngđến một mức nào đó hoặc họ sẽ chấp nhận mức bao nhiêu cho đền bù những thiệt
hại môi trường Tổng mức sẵn lòng chi trả (WTP) hoặc bằng lòng chấp nhận(WTA) chính là giá trị của tài sản môi trường
2.3.4.1 Mô hình lý thuyết về định giá ngẫu nhiên
Các nghiên cứu đánh giá giá trị phi sử dụng của một Khu DLST từ trước đến
nay đều xuất phát từ khái niệm phúc lợi trong kinh tế học Giả định rằng các cá
nhân hay hộ gia đình đều tìm cách tối đa hóa độ thỏa dụng khi thu nhập không thay
đổi bằng cách lựa chọn hàng hóa cá nhân và hàng hóa công cộng Nếu coi bảo tồn
Khu DLST là một hàng hóa công cộng thì sự bằng lòng chi trả của các cá nhân làmột hàm của chi phí bảo tồn, giá của các hàng hóa thay thế, thu nhập và sở thích
Trong đó sở thích tiêu dùng lại phụ thuộc vào các biến số xã hội như độ tuổi, giới
tính, trình độ học vấn, nhận thức môi trường của các cá nhân
Một cuộc thăm dò được tiến hành có thể thấy rằng cá nhân i sẵn sàng trả X $cho hoạt động bảo tồn Khu DLST nếu như độ thỏa dụng của họ trong trường hợpbảo tồn cao hơn độ thỏa dụng trong trường hợp không bảo tồn Tức là:
U(0, Y; S) ≤ U(1, Y - X; S)
Trong đó:
0: Trường hợp không bảo tồn Khu DLST
1: Trường hợp có bảo tồn Khu DLST
Y: Thu nhập của cá nhân
X: Mức sẵn lòng chi trả
S: Biến số xã hội có ảnh hưởng đến sự bằng lòng chi trả
Mặt khác, sự lựa chọn tiêu dùng một hàng hóa là thể hiện sự bằng lòng chitrả (WTP) của cá nhân cho hàng hóa đó Đến lượt nó, WTP của một cá nhân lại chịu
ảnh hưởng bởi nhiều các yếu tố khác Các yếu tố này bao gồm các đặc điểm về kinh
tế xã hội của người được phỏng vấn như thu nhập (w), độ tuổi (a), trình độ học vấn(e), và các biến đo lường “số lượng” của tài nguyên được định giá
Nói cách khác, WTP có thể được biểu diễn bằng hàm số thể hiện quan hệcủa các biến như sau:
Trang 38WTP = f(wi, ai, ei, q)
Trong đó: i: Chỉ số của quan sát hay người được điều tra,
WTP: Mức độ sẵn lòng chi trả,
wi: Thu nhập của cá nhân I,
ai: Tuổi của cá nhân i,
ei: Trình độ học vấn của cá nhân i,
q: Số lượng của tài nguyên được định giá
Hồi qui WTP theo các biến nêu trên sẽ xem xét được ảnh hưởng của các yếu
tố tới WTP
2.3.4.2.Các bước tiến hành định giá ngẫu nhiên
Một nghiên cứu sử dụng CVM có sáu bước:
Bước 1: Thiết lập thị trường giả định
Đây là bước quan trọng có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả thu thập được sau
này Nội dung của thiết lập thị trường giả định gồm:
- Mô tả các dịch vụ được định giá
- Các tình huống giả định mà trong đó dịch vụ được cung cấp cho người trảlời phỏng vấn
- Làm rõ công cụ trả giá: Có các cách thức trả giá như thuế, phí, từ thiện…
Bước 2: Thu nhận các giá được trả
- Sau khi đã tiến hành xây dựng thị trường giả định, người nghiên cứu thựchiện cuộc khảo sát bằng cách phỏng vấn gặp trực tiếp
- Mục đích của cuộc khảo sát là xác định mức sẵn lòng chi trả lớn nhất của
đối tượng cho những cải thiện chất lượng môi trường Để thu thập thông tin về
WTP bằng câu hỏi: Bạn sẵn lòng trả bao nhiêu cho hàng hóa này hoặc mức giá củahàng hóa này nên là bao nhiêu?
Bước 3: Tính WTP/WTA trung bình
Tính số trung bình và số trung vị của giá được trả và loại bỏ các trả giá mangtính chống đối
Bước 4: Ước tính các Đường Trả giá (Đường biểu diễn WTP/WTA)
Trang 39Mục đích bước này là khảo sát các yếu tố ảnh hưởng tới WTP/WTA Vì vậy,
WTP/WTA được coi là biến phụ thuộc và chúng ta cần xác định hàm hồi quy đối
với một loạt các biến độc lập như thu nhập, giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn
Bước 5: Tổng gộp dữ liệu
Tổng gộp dữ liệu nhằm xác định tổng mức sẵn lòng chi trả hoặc sẵn lòngchấp nhận của toàn bộ các cá nhân tại địa điểm nghiên cứu cho hàng hóa dịch vụ
môi trường Để tổng gộp dữ liệu có thể thực hiện theo một trong hai cách:
1 Nếu mẫu mang tính đại diện, có thể nhân WTP/WTA trung bình của mẫucho tổng số dân là một ước lượng điểm tốt cho tổng giá trị
2 Nếu mẫu phản ánh thiên lệch tổng thể là dân số liên quan, cần thực hiện
các điều chỉnh bằng các kỹ thuật của kinh tế lượng
Bước 6: Đánh giá cuộc khảo sát CVM đã tiến hành
Để đánh giá cuộc khảo sát CVM đã tiến hành cần trả lời các câu hỏi: Cuộc
khảo sát có nhiều trả giá mang tính chống đối không? So với các kết quả nghiên cứukhác, các mức giá được trả giá có phù hợp không? Trong trường hợp này có thể làmcác kiểm định để xác định độ tin cậy của các câu trả lời
2.3.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
- Các số liệu được điều tra thu thập sẽ được xử lý trên word và exel
- Sử dụng phần mềm kinh tế lượng Eview 7.0
Trang 40Chương 3 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 3.1 Khái quát về Khu DLST Suối Mỡ
3.1.1 Vị trí địa lý
Hình 3.1: Sơ đồ vị trí Khu DLST Suối Mỡ
Khu rừng bảo vệ cảnh quan Suối Mỡ nằm về phía Tây Nam của huyện Lục
Nam và trong địa giới hành chính của xã Nghĩa Phương thuộc huyện Lục Nam, tỉnh
Bắc Giang, cách trung tâm huyện khoảng 5km, cách thành phố Bắc Giang 40kmtheo quốc lộ 31 và đường tỉnh lộ 293 về phía Đông, cách thủ đô Hà Nội khoảng80km về phía Đông Bắc Tọa độ địa lý: từ 21º13’36” đến 21º16’18” Vĩ độ Bắc; từ
106º21’24” đến 106º09’24” Kinh độ Đông Phía Bắc giáp: xã Trường Giang huyện
Lục Nam và xã Phượng Sơn huyện Lục Ngạn Phía Tây giáp: xã Huyền Sơn và thịtrấn Lục Nam Phía Nam giáp: xã Hoàng Hoa Thám, huyện Chí Linh, tỉnh Hải
Hương Phía Đông giáp: xã Vô Tranh, huyện Lục Nam
3.1.2 Địa hình, địa mạo
Đặc điểm địa hình khu vực nằm trong vùng đồi núi thấp, là một trong 3 dạngđịa hình của huyện Lục Nam, thuộc tiểu vùng miền núi của tỉnh Bắc Giang; địa hình
thấp dần từ Nam xuống Bắc, bị chia cắt mạnh, độ dốc phổ biến từ 25÷35º
Khu vực được bao quanh bởi dãy đồi và núi thấp (có đỉnh núi Huyền Đinhcao 621m) hình cánh cung, với chiều dài khoảng 5km và rộng khoảng 2,5km, ởgiữa là hồ Hố Chuối, Suối Mỡ (có năm bậc thác mẹ con từ đền Thượng xuống đền
Khu DLST Suối Mỡ