1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận quản trị kinh doanh VÀNG ĐEN” CỦA NHÂN LOẠI

26 665 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 463,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đến lượt nó, chi phí này phụ thuộc vào sản lượng của các nước xuất khẩu dầu mỏ lớn trên thếgiới, nhất là 11 quốc gia trong khối OPEC: Algeria, Indonesia, Iran, Iraq, Kuwait, Libya,Nigeri

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

KHOA TÀI CHÍNH NHÀ NƯỚC



Đề tài : “VÀNG ĐEN” CỦA NHÂN LOẠI

TP,Hồ Chí Minh tháng 10/2008

Trang 2

II – CÁC TRUNG TÂM DẦU MỎ TRÊN THẾ GIỚI : 3

III – TỔ CHỨC VÀ CÁC NƯỚC XK DẦU LỚN TRÊN THẾ GIỚI 5

1.1 Giai đoạn hậu chiến tranh thế giới (1947 – 1971) 13

Trang 3

Dầu mỏ là một trong những nhiên liệu quan trọng nhất của xã hội hiện đạidùng để sản xuất điện và cũng là nhiên liệu của tất cả các phương tiện giao thôngvận tải Hơn nữa, dầu cũng được sử dụng trong công nghiệp hóa dầu để sản xuất

các chất dẻo (plastic) và nhiều sản phẩm khác Vì thế dầu thường được ví như là

"vàng đen”

Dầu mỏ được coi là động lực phát triển và song hành cùng thế giới trêncon đường tiến tới văn minh, song nó cũng là nguyên nhân gây ra biết bao biếnđộng chính trị Những cuộc tranh giành quyền lực, chết chóc đau thương cũng cóxuất phát điểm từ nguồn vàng đen này

Nền kinh tế toàn cầu đang ngày càng phụ thuộc vào năng lượng như hiệnnay thì dầu mỏ giữ vai trò quan trọng hàng đầu Giá dầu tác động và ảnh hưởngtới sự phát triển nền kinh tế toàn cầu và hầu như mọi ngành công nghiệp đều phụthuộc rất lớn vào nguồn tài nguyên quý giá này

I - GIỚI THIỆU VỀ DẦU MỎ :

1 Định nghĩa:

Dầu mỏ là một hỗn hợp hóa chất hữu cơ ở thể lỏng đậm đặc, phần lớn là những hợp

chất của hyđrocacbon

2 Quá trình hình thành dầu mỏ :

Có nhiều lý thuyết giải thích việc hình thành dầu mỏ

Theo lý thuyết tổng hợp sinh học được nhiều nhà khoa học đồng ý, dầu mỏ phát sinh từnhững xác chết của các sinh vật ở đáy biển, hay từ các thực vật bị chôn trong đất Khi thiếu khíôxy, bị đè nén dưới áp suất và ở nhiệt độ cao các chất hữu cơ trong các sinh vật này đượcchuyển hóa thành các hợp chất tạo nên dầu Dầu tích tụ trong các lớp đất đá xốp, do nhẹ hơnnước nên dầu di chuyển dần dần lên trên cho đến khi gặp phải các lớp đất đá không thẩm thấuthì tích tụ lại ở đấy và tạo thành một mỏ dầu

Cuối thế kỷ 19 nhà hóa học người Nga Dmitri Ivanovich Mendeleev đã đưa ra lý thuyết

vô cơ giải thích sự hình thành của dầu mỏ Theo lý thuyết này dầu mỏ phát sinh từ phản ứnghóa học giữa cacbua kim loại với nước tại nhiệt độ cao ở sâu trong lòng trái đất tạo thành cáchiđrocacbon và sau đó bị đẩy lên trên Các vi sinh vật sống trong lòng đất qua hàng tỷ năm đãchuyển chúng thành các hỗn hợp hiđrôcacbon khác nhau Lý thuyết này là một đề tài gây nhiềutranh cãi trong giới khoa học, tạo thành trường phái Nga - Ukraina trong việc giải thích nguồngốc dầu mỏ

Lý thuyết thứ ba, được giải thích trong nguyệt san khoa học Scientific American vào

năm 2003, cho rằng các hợp chất hyđrocacbon được tạo ra bởi những phản ứng hạt nhân tronglòng Trái Đất

3 Lịch sử :

Do nhẹ hơn nước nên dầu xuất hiện lộ thiên ở nhiều nơi, vì thế loài người đã tìm thấydầu hằng ngàn năm trước Công Nguyên Thời đó dầu thường được sử dụng trong chiến tranh.Còn rất nhiều dấu tích của việc khai thác dầu mỏ được tìm thấy ở Trung Quốc khi dân cư bảnđịa khai thác dầu mỏ để sử dụng trong việc sản xuất muối ăn như các ống dẫn dầu bằng tre

Trang 4

được tìm thấy có niên đại vào khoảng thế kỷ 4 Khi đó người ta sử dụng dầu mỏ để đốt làm bayhơi nước biển trong các ruộng muối.

Mãi đến thế kỷ 19 người ta mới bắt đầu khai thác dầu theo mô hình công nghiệp, xuấtphát từ việc tìm kiếm một chất đốt cho đèn vì dầu cá voi quá đắt tiền chỉ những người giàu mới

có khả năng dùng trong khi nến làm bằng mỡ thì lại có mùi khó ngửi Vì thế giữa thế kỷ thứ 19một số nhà khoa học đã phát triển nhiều phương pháp để khai thác dầu một cách thương mại.Năm 1852 một nhà bác sĩ và địa chất người Canada tên là Abraham Gessner đã đăng ký mộtbằng sáng chế sản xuất một chất đốt rẻ tiền và đốt tương đối sạch Năm 1855 nhà hóa họcngười Mỹ Benjamin Silliman đề nghị dùng axit sunfuric làm sạch dầu mỏ dùng để làm chấtđốt

Người ta cũng bắt đầu đi tìm những mỏ dầu lớn Những cuộc khoan dầu đầu tiên đượctiến hành trong thời gian từ 1857 đến 1859 Lần khoan dầu đầu tiên có lẽ diễn ra ở Wietze,Đức, nhưng cuộc khoan dầu được toàn thế giới biết đến là của Edwin L Drake vào ngày 27tháng 8 năm 1859 ở Oil Creek, Pennsylvania Drake khoan dầu theo lời yêu cầu của nhà côngnghiệp người Mỹ George H Bissel và đã tìm thấy mỏ dầu lớn đầu tiên chỉ ở độ sâu 21,2 m

4 Thành phần : Các thành phần hóa học của dầu mỏ được chia tách bằng phương

pháp chưng cất phân đoạn Các sản phẩm thu được từ việc lọc dầu có thể kể đến là dầu hỏa,

benzen, xăng, sáp parafin, nhựa đường v.v

Một cách chính xác thì dầu mỏ là hỗn hợp của các hiđrôcacbon, là hợp chất của hiđrô

và cacbon

Trong điều kiện thông thường, bốn alkan nhẹ nhất — CH4 (mêtan), C2H6 (êtan), C3H8

(prôpan) và C4H10 (butan) — ở dạng khí, sôi ở nhiệt độ -161.6°C, -88.6°C, -42°C, và -0.5°Ctương ứng (-258.9°, -127.5°, -43.6°, và +31.1°F)

Các chuỗi trong khoảng C5-7 là các sản phẩm dầu mỏ nhẹ, dễ bay hơi Chúng được sửdụng làm dung môi, chất làm sạch bề mặt và các sản phẩm làm khô nhanh khác Các chuỗi từ

C6H14 đến C12H26 bị pha trộn lẫn với nhau được sử dụng trong đời sống với tên gọi là xăng Dầu

hỏa là hỗn hợp của các chuỗi từ C10 đến C15, tiếp theo là dầu điêzen/dầu sưởi (C10 đến C20) vàcác nhiên liệu nặng hơn được sử dụng cho động cơ tàu thủy Tất cả các sản phẩm từ dầu mỏnày trong điều kiện nhiệt độ phòng là chất lỏng

Các dầu bôi trơn và mỡ (dầu nhờn) (kể cả Vadơlin®) nằm trong khoảng từ C16 đến C20.Các chuỗi trên C20 tạo thành các chất rắn, bắt đầu là sáp parafin, sau đó là hắc ín vànhựa đường bitum

Khoảng nhiệt độ sôi của các sản phẩm dầu mỏ trong chưng cất phân đoạn trong điều kiện

áp suất khí quyển tính theo độ C là:

• Xăng ête: 40-70°C (được sử dụng như là dung môi)

• Xăng nhẹ: 60-100°C (nhiên liệu cho ô tô)

• Xăng nặng: 100-150°C (nhiên liệu cho ô tô)

• Dầu hỏa nhẹ: 120-150°C (nhiên liệu và dung môi trong gia đình)

• Dầu hỏa: 150-300°C (nhiên liệu )

• Dầu điêzen: 250-350°C (nhiên liệu cho động cơ điêzen/dầu sưởi)

• Dầu bôi trơn: > 300°C (dầu bôi trơn động cơ)

• Các thành phần khác: hắc ín, nhựa đường, các nhiên liệu khác

Trang 5

 Chi phí khai thác dầu thô: 59%

Tất nhiên, tỷ lệ này không cố định cho mọi lúc mọi nơi, nhưng đó là bốn yếu tố cơ bản cấuthành chi phí sản xuất xăng

a Chiếm tỷ trọng lớn nhất trong giá thành xăng là chi phí sản xuất và cung ứng dầu thô.

Đến lượt nó, chi phí này phụ thuộc vào sản lượng của các nước xuất khẩu dầu mỏ lớn trên thếgiới, nhất là 11 quốc gia trong khối OPEC: Algeria, Indonesia, Iran, Iraq, Kuwait, Libya,Nigeria, Qatar, Ảrập Xêut, Các Tiểu Vương quốc Ảrập Thống nhất, và Venezuela

11 nước này cung ứng 40% sản lượng dầu thô và nắm giữ hai phần ba dự trữ dầu thô của thếgiới Ở vị thế đó, mọi sự điều chỉnh sản lượng của họ đều có ảnh hưởng quyết định đến giá dầuthô thế giới

Ngoài OPEC, một số quốc gia khác cũng có vai trò ảnh hưởng đến lượng cung ứng dầuthô của thế giới, như Mỹ, Mexico, Canada, Nga và Trung Quốc

Sản lượng dầu thô thay đổi tùy thuộc vào quyết định chủ quan của các nước xuất khẩu lớn vàvào năng lực sản xuất của họ

b Chi phí lọc dầu chiếm một tỷ lệ nhỏ trong giá thành xăng Được hút lên từ lòng đất,

dầu thô còn cần phải qua quá trình xử lý để có thể trở thành vô số sản phẩm tiêu dùng, thànhphẩm của dầu: dầu hỏa, dầu nhờn, xăng, ga…

Người ta phân loại dầu thô thành loại ngọt, nhẹ và loại chua, nặng Dầu thô loại ngọt, nhẹ dễlọc hơn, chi phí thấp hơn, hiện nay đang cạn kiệt dần Còn dầu thô loại chua, nặng thì trữ lượngcòn nhiều, do việc lọc khó hơn và tốn kém hơn Nhiều nhà máy lọc dầu trên thế giới hiện chưa

đủ khả năng xử lý dầu thô loại chua, nặng

Nếu trên thị trường, vào một thời điểm nào đó, lượng cung ứng dầu thô tuy nhiều nhưng chủyếu là dầu loại chua, nặng, thì như vậy giá dầu quốc tế vẫn có thể ở mức cao do thiếu hàng

c Dầu thô sau khi khoan hút sẽ được vận chuyển tới nhà máy lọc, rồi từ nhà máy lọc, các chế phẩm sẽ được xuất tới hệ thống phân phối Chi phí vận chuyển, phân phối, cũng như chi phí vận hành của công ty sản xuất, đều được tính vào giá thành sản phẩm Theo lẽ thông

thường thì trạm xăng nào nằm gần nhà máy lọc dầu, giá xăng tại đó sẽ thấp hơn nhờ đượchưởng chi phí vận chuyển thấp hơn

d Thuế cũng chiếm một tỷ lệ cao trong các yếu tố cấu thành giá xăng Ở VN, mặt hàng

xăng khi đến tay người tiêu dùng đã phải chịu VAT khi nhập khẩu và VAT khi bán hàng, cũngnhư một khoản phí gọi là phí xăng dầu Thuế nhập khẩu được miễn (thuế suất bằng 0%)

Ở Mỹ, tỷ lệ thuế trên giá thành xăng này là 20% Ở Anh, con số có lúc lên tới trên 70%.Giá xăng ở châu Âu, cụ thể tại một số nước như Anh, Nauy, cao hơn ở Mỹ, do mặt hàng nàychịu mức thuế cao hơn

Tại Mỹ, vào cùng một thời điểm, giá xăng có thể khác nhau tùy từng bang Nguyênnhân lớn nhất là do các bang áp dụng biểu thuế xăng khác nhau Có bang bắt buộc nhà sản xuấtxăng phải đáp ứng những tiêu chuẩn khắt khe về đảm bảo vệ sinh môi trường, vì thế mà đẩy

Trang 6

giá xăng lên cao hơn Bên cạnh đó, giá được các công ty kinh doanh xăng dầu tư nhân tự điềuchỉnh để cạnh tranh với nhau trên thị trường.

II - CÁC TRUNG TÂM DẦU MỎ TRÊN THẾ GIỚI :

Theo thống kê của các tổ chức nghiên cứu năng lượng thế giới, trữ lượng dầu được xácminh của toàn thế giới (số liệu năm 2005) nằm trong khoảng từ 2.050 đến 2.390 tỷ thùng,tương đương từ 270 đến 323 tỷ tấn Trong số đó, cho đến giờ chúng ta đã sử dụng khoảng 45đến 70% Trữ lượng dầu mỏ tìm thấy và có khả năng khai thác mang lại hiệu quả kinh tế với kỹthuật hiện tại đã tăng lên trong những năm gần đây và đạt mức cao nhất vào năm 2003 Người

ta dự đoán rằng trữ lượng dầu mỏ sẽ đủ dùng cho 50 năm nữa.Các nước ở vùng Trung Đôngchiếm khoảng một nửa trữ lượng dầu xác minh của thế giới, riêng Ảrập Xêut chiếm một phầntư

Châu Phi chiếm 8% dự trữ dầu mỏ toàn cầu Hiện châu Phi đóng góp tới 12% sản lượngdầu mỏ của thế giới và dự tính đến năm 2010 châu lục này sẽ cung cấp 30% nhu cầu

Trên bản đồ tài nguyên thế giới, rõ ràng Trung Đông là kho dầu mỏ lớn nhất Theo tínhtoán của Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA), các nước ở vùng này thường xuyên cung cấp 43%tổng lượng dầu mỏ chung cho toàn thế giới Xếp thứ 2 sau Trung Đông là khu vực Trung á vàvùng biển Ca-xpi (chưa thăm dò hết) Theo các cơ quan chuyên ngành, người ta xếp Ả-rập Xê-

út là quốc gia dầu mỏ đứng đầu thế giới Phần lớn các nước là thành viên của Tổ chức xuấtkhẩu dầu mỏ (OPEC) nằm ở Trung Đông Nga là quốc gia thứ 2 về xuất khẩu dầu mỏ nhưng lạixếp số 1 thế giới về khai thác khí đốt (báo chí Nga cho biết, năm 2007 Nga khai thác được 492triệu tấn dầu và 650,76 tỉ mét khối khí) Giới chuyên môn dự đoán trong một tương lai không

xa, khoảng năm 2015 đến 2020, Nga sẽ chiếm vị trí số 1 về dầu mỏ với sản lượng khai thácmỗi năm từ 550 triệu tấn đến 600 triệu tấn Ngoài ra, ở các khu vực khác cũng có những nước

có tiềm năng lớn về khai thác dầu mỏ như Ni-giê-ri-a, An-giê-ri (châu Phi), Bra-xin, ê-la (Mỹ La-tinh), v.v

Vê-nê-xu-* 10 NƯỚC CÓ TRỮ LƯỢNG DẦU LỚN NHẤT THẾ GIỚI :

1 Arập Saudi ( trữ lượng dầu mỏ : 266,75 tỷ thùng): Vương quốc Ả Rập Saudi còn

gọi là Ả Rập Xê Út, là quốc gia lớn nhất trên bán đảo Ả Rập Quốc gia này có biên giới vớiJordan về phía bắc, với Iraq về phía bắc và tây bắc, với Kuwait, Qatar, Bahrain và Các TiểuVương quốc Ả Rập Thống nhất về phía đông, với Oman về phía nam và đông nam, với Yemen

về phía nam, còn Vịnh Ba Tư nằm về phía đông bắc và Biển Đỏ nằm về Tây Ả Rập Saudithường được gọi là "xứ của hai nhà thờ Hồi giáo thiêng liêng" vì hai thành phố thiêng liêngnhất của Hồi giáo, Mecca và Medina, nằm trong quốc gia này

2 Canada ( trữ lượng dầu mỏ : 178,59 tỷ thùng) : Canada (phiên âm tiếng Việt:

Ca-na-đa; Hán-Việt: Gia Nã Đại), là quốc gia lớn thứ hai trên thế giới, sau Liên bang Nga, và nằm

ở cực bắc của Bắc Mỹ Lãnh thổ Canada trải dài từ Đại Tây Dương ở phía đông sang Thái BìnhDương ở phía tây, và giáp Bắc Băng Dương ở phía bắc

Về phía nam, Canada giáp với Hoa Kỳ bằng một biên giới không bảo vệ dài nhất thế giới Phíatây bắc của Canada giáp với tiểu bang Alaska của Hoa Kỳ Đông bắc của Canada có đảoGreenland (thuộc Đan Mạch) Ở bờ biển phía đông có quần đảo Saint-Pierre và Miquelon(thuộc Pháp)

3 Iran (trữ lượng dầu mỏ : 138,4 tỷ thùng) : Cộng hòa Hồi giáo Iran, gọi đơn giản là

Iran, là một quốc gia ở Trung Đông, phía tây nam của châu Á Trước 1935, tên của nước này là

Ba Tư

Iran giáp với Armenia, Azerbaijan, và Turkmenistan về phía bắc, Pakistan vàAfghanistan về phía đông, Thổ Nhĩ Kỳ và Iraq về phía tây Nó cũng giáp biển Caspia về phía

Trang 7

Bắc Vịnh Ba Tư (thuộc Iran) là vùng vành đai nông của Ấn Độ Dương nằm giữa Bán đảo ẢRập và vùng tây nam Iran.

4 Iraq (trữ lượng dầu mỏ : 115 tỷ thùng) : Cộng hoà Iraq là một quốc gia ở miền

Trung Đông, ở phía tây nam của châu Á Nước này giáp với Ả Rập Saudi, Kuwait về phía nam,Thổ Nhĩ Kỳ về phía bắc, Syria về phía tây bắc, Jordan về phía tây, và Iran về phía đông Nướcnày đang trong tình trạng bất ổn sau khi Hoa Kỳ tấn công Iraq và chiếm đóng vào năm 2003

5 Kuwait (trữ lượng dầu mỏ : 104 tỷ thùng) : Kuwait là một quốc gia tại Trung

Đông.Nằm trên bờ Vịnh Péc-xích(Persia), giáp với Arập-Xêút ở phía nam và với Irắc ở hướngTây và hướng Bắc Tên nước được rút ra từ trong tiếng Ả Rập có nghĩa là "Pháo đài được xâydựng gần nước" Dân số gần 3.1 triệu người và diện tích lên đến 17.818 km²

6 Các tiểu vương quốc Ảrập thống nhất (UAE) (trữ lượng dầu mỏ : 97,8 tỷ thùng).

Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất (cũng gọi là Emirates hay UAE, viết tắt tiếngAnh của United Arab Emirates) là một nước ở vùng Trung Đông nằm ở phía đông nam Bánđảo Ả Rập tại Tây Nam Á trên Vịnh Péc xích, gồm bảy tiểu vương quốc: Abu Dhabi, Ajmān,Dubai, Fujairah, Ras al-Khaimah, Sharjah và Umm al-Qaiwain

Trước năm 1971, các nước này được gọi là Các quốc gia ngừng bắn hay Oman ngừngbắn, có liên quan tới một sự ngừng bắn ở thế kỷ 19 giữa Vương quốc Liên hiệp Anh và BắcIreland và một số sheikh Ả Rập

7 Venezuela (trữ lượng dầu mỏ : 87,3 tỷ thùng) : Venezuelalà một quốc gia thuộc

khu vực Nam Mỹ Venezuela tiếp giáp với Guyana về phía đông, với Brazil về phía nam,Colombia về phía tây và biển Caribbean về phía bắc

Venezuela là một trong những quốc gia có tốc độ đô thị hóa cao nhất Mỹ Latinh Đaphần dân cư Venezuela tập trung sinh sống tại những thành phố lớn phía bắc Caracas là thủ đô

và đồng thời cũng là thành phố lớn nhất Venezuela

8 Nga (trữ lượng dầu mỏ : 80 tỷ thùng) : Nga hay Liên Bang Nga là quốc gia rộng

nhất thế giới trải dài từ miền đông châu Âu, qua trên phía bắc châu Á, sang đến bờ Thái BìnhDương

9 Libya ( trữ lượng dầu mỏ : 41,46 tỷ thùng) : Libya là một quốc gia tại Bắc Phi.

Nước này có biên giới giáp với Địa Trung Hải ở phía bắc, Ai Cập ở phía đông, Sudan ở phíađông nam, Tchad và Niger ở phía nam, Algérie và Tunisia ở phía tây

Với diện tích hơi lớn hơn bang Alaska, Libya là nước lớn thứ tư ở châu Phi và thứ 17trên thế giới Thủ đô của Libya là thành phố Tripoli, với 1,7 triệu trong tổng số 5,8 triệu dân cảnước Ba khu vực truyền thống của quốc gia này là Tripolitania, Fezzan và Cyrenaica

Libya có mức thu nhập kinh tế quốc dân trên đầu người cao nhất Bắc Phi, cũng như làmột trong những nước có mức GDP trên đầu người cao ở châu Phi dù nước này có tổng diệntích 1,8 triệu kilômét vuông, 90% trong đó là sa mạc

10 Nigeria ( trữ lượng dầu mỏ : 36,2 tỷ thùng) : Nigeria, tên chính thức là Cộng hòa

Liên bang Nigeria (tiếng Anh: Federal Republic of Nigeria) là một quốc gia thuộc khu vực TâyPhi đồng thời cũng là nước đông dân nhất tại châu Phi và đông dân thứ 9 trên thế giới

III - CÁC NƯỚC VÀ TỔ CHỨC XUẤT KHẨU DẦU LỚN NHẤT TRÊN THẾ GIỚI :

1 OPEC : Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa, trong tiếng Anh viết tắt là OPEC

Trang 8

(viết tắt của Organization of Petroleum Exporting Countries).

OPEC là một tổ chức đa chính phủ được thành lập bởi các nước Iran, Iraq, Kuwait, ẢRập Saudi và Venezuela trong hội nghị tại Bagdad (từ 10 tháng 9 đến 14 tháng 9 năm 1960).Các thành viên Qatar (1961), Indonesia (1962), Libya (1962), Các Tiểu Vương quốc Ả RậpThống nhất (1967), Algérie (1969) và Nigeria (1971) lần lượt gia nhập tổ chức sau đó Ecuador(1973–1992) và Gabon (1975–1994) cũng từng là thành viên của OPEC Trong năm năm đầutiên trụ sở của OPEC đặt ở Genève, Thụy Sĩ, sau đấy chuyển về Wien, Áo từ tháng 9 1965

Các nước thành viên OPEC khai thác vào khoảng 40% tổng sản lượng dầu lửa thế giới

và nắm giữ khoảng ¾ trữ lượng dầu thế giới

Tổ chức OPEC có khả năng điều chỉnh hạn ngạch khai thác dầu lửa của các nước thànhviên và qua đó có khả năng khống chế giá dầu Hội nghị các bộ trưởng phụ trách năng lượng vàdầu mỏ thuộc tổ chức OPEC được tổ chức mỗi năm hai lần nhằm đánh giá thị trường dầu mỏ

và đề ra các biện pháp phù hợp để bảo đảm việc cung cấp dầu Bộ trưởng các nước thành viênthay nhau theo nguyên tắc xoay vòng làm chủ tịch của tổ chức hai năm một nhiệm kỳ

Thành viên tương lai

• Bolivia, Canada, Sudan và Syria đã được OPEC mời tham gia[2]

Trang 9

Các nước thành viên OPEC   Thành viên hiện tại   Cựu thành viên

1.2 Mục tiêu :

Mục tiêu chính thức được ghi vào hiệp định thành lập của OPEC là ổn định thị trườngdầu thô, bao gồm các chính sách khai thác dầu, ổn định giá dầu thế giới và ủng hộ về mặt chínhtrị cho các thành viên khi bị các biện pháp cưỡng chế vì các quyết định của OPEC Nhưng thật

ra nhiều biện pháp được đề ra lại có động cơ bắt nguồn từ quyền lợi quốc gia, thí dụ như trongcác cơn khủng hoảng dầu, OPEC chẳng những đã không tìm cách hạ giá dầu mà lại duy trìchính sách cao giá trong thời gian dài

Mục tiêu của OPEC thật ra là một chính sách dầu chung nhằm để giữ giá OPEC dựavào việc phân bổ hạn ngạch cho các thành viên để điều chỉnh lượng khai thác dầu, tạo ra khanhiếm hoặc dư dầu giả tạo nhằm thông qua đó có thể tăng, giảm hoặc giữ giá dầu ổn định Có

thể coi OPEC như là một liên minh độc quyền (cartel) luôn tìm cách giữ giá dầu ở mức có lợi

nhất co các thành viên

1.3 Các biện pháp theo thứ tự thời gian :

• 14 tháng 9 năm 1960: thành lập tổ chức theo đề xuất của Venezuela tại Baghdad

• 1965: Dời trụ sở về Wien Các thành viên thống nhất một chính sách khai thác chung đểbảo vệ giá

• 1970: Nâng giá dầu lên 30%, nâng thuế tối thiểu áp dụng cho các công ty khai thác dầulên 55% của lợi nhuận

• 1971: Nâng giá dầu sau khi thương lượng với các tập đoàn khai thác Tiến tới đạt tỷ lệquốc gia hóa 50% các tập đoàn

• 1973: Tăng giá dầu tăng từ 2,89 USD một thùng lên 11,65 USD Thời gian này đượcgọi là cuộc khủng hoảng dầu lần thứ nhất, OPEC khai thác 55% lượng dầu của thế giới

• 1974 đến 1978: tăng giá dầu 5-10% hầu như mỗi nửa năm một lần để chống lại việcUSD bị lạm phát

• 1979: Khủng hoảng dầu lần thứ hai Sau cuộc cách mạng Hồi giáo giá dầu từ 15,5 USDmột thùng được nâng lên 24 USD Libya, Algérie và Iraq thậm chí đòi đến 30 USD chomột thùng

Trang 10

• 1980: Đỉnh điểm chính sách cao giá của OPEC Lybia đòi 41 USD, Ả Rập Saudi 32USD và các nước thành viên còn lại 36 USD cho một thùng dầu.

• 1981: Lượng tiêu thụ dầu giảm do các nước công nghiệp lâm vào cuộc khủng hoảngkinh tế và bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng dầu lần thứ nhất, do giá dầu cao, nhiều nướctrên thế giới đầu tư vào các nguồn năng lượng khác Lượng tiêu thụ dầu thế giới giảm11% trong thời gian từ 1979 đến 1983, thị phần dầu của OPEC trên thị trường thế giớigiảm xuống còn 40%

• 1982: Quyết định giảm lượng sản xuất tuy được thông qua nhưng lại không được cácthành viên giữ đúng Thị phần của OPEC giảm xuống còn 33% và vào năm 1985 còn30% trên tổng số lượng khai thác dầu trên thế giới Lượng khai thác dầu giảm xuốngđến mức thấp kỷ lục là 17,34 triệu thùng một ngày

• 1983: Giảm giá dầu từ 34 USD xuống 29 USD một thùng Giảm hạn ngạch khai thác từ18,5 triệu xuống 16 triệu thùng một ngày

• 1986: Giá dầu rơi xuống đến dưới 10 USD một thùng do sản xuất thừa và do một sốnước trong OPEC giảm giá dầu

• 1990: Giá dầu được nâng lên trong tầm từ 18 đến 21 USD một thùng Nhờ vào chiếntranh vùng Vịnh giá dầu đạt đến mức đề ra

• 2000: Giá dầu đã dao động mạnh, vượt qua cả hai mức thấp và cao nhất trong lịch sử.Nếu trong quý I, chỉ với 9 USD người ta cũng có thể mua được một thùng dầu thì trongquý IV giá đã vượt trên 37 USD một thùng Các thành viên của OPEC đồng ý giữ giádầu ở mức 22-28 USD/thùng

• 2005: OPEC quyết định giữ nguyên lượng khai thác 27 triệu thùng Các thành viên đãnhất trí "tạm ngưng" không giữ giá dầu ở mức 22-28 USD/thùng

* BRAZIL TỪ CHỐI GIA NHẬP OPEC :

Chính phủ Brazil vừa chính thức thông báo đã từ chối lời mời của Iran gia nhập Tổchức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) Lời mời trên được Đại sứ Iran tại Brazil chuyển tới

Bộ trưởng Khoáng sản và Năng lượng Brazil Edison Lobao cách đây 2 tuần

Lý do được chính phủ Brazil đưa ra là vì thời điểm hiện nay chưa thích hợp để gia nhậpOPEC Trước đó, vào đầu năm, Brazil thông báo đã phát hiện 3 mỏ dầu lớn nằm tại lòng chảoSantos ở Đại Tây Dương với tổng trữ lượng ước tính lên tới 40 tỷ thùng Nếu kết quả kiểmnghiệm xác thực, tổng trữ lượng dầu mỏ của Brazil sẽ tương đương với các quốc gia thành viênOPEC như Nigeria hay thậm chí là Venezuela Hiện OPEC có 13 quốc gia thành viên, trong đóSaudi Arabia và Iran là những nước có trữ lượng dầu mỏ lớn nhất thế giới

2/ NGA :

Dầu mỏ chiếm 1/3 nguồn thu ngân sách,dứoi ¼ gdp cua Nga.Theo số liệu thống kê năm

2005 thì trữ lượng khí đốt của Nga đạt 2.048.110 tỷ feet khối, tức là chiếm 1/3 trữ lượng toàncầu còn trữ lượng dầu thô là 80 tỷ thùng, gấp đôi trữ lượng của Bắc Mỹ và tương đương với trữlượng toàn bộ châu Phi

Trước khi Liên Xô tan rã, sản lượng khai thác hàng năm của nước này đã vượt qua sảnlượng của Arập Xêut nhưng trong thập kỷ cuối của thế kỷ 20 ngành dầu khí Nga suy sụp thảmhại, sản lượng giảm đến 60% Trong các năm gần đây năng lực sản xuất đã được phục hồi vàhiện nay đạt khoảng 9 triệu thùng/ngày, đứng thứ hai trên thế giới

Để hiểu được những điểm mạnh và điểm yếu của ngành dầu khí Nga, xin nhắc lại rằngngành công nghiệp dầu khí Nga hiện nay được dựa trên một nền tảng vững chắc từ thời Liên

Trang 11

Xô cũ mà thời kỳ hoàng kim sản lượng đạt đến 12,4 triệu thùng/ngày vào năm 1989

Sản lượng dầu thô của Nga chiếm một tỷ lệ quan trọng trong thị trường thế giới nhưngviệc xuất khẩu khó khăn vì công tác vận chuyển đến nơi tiêu thụ không thuận tiện Do đó, Ngađang tích cực xây dựng các đường ống dẫn dầu đến các vùng bờ biển biên giới Nga để cungcấp cho thị trường Tây Âu, Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản

Riêng về khí đốt thì Nga là nhà cung cấp lớn nhất cho châu Âu nên đây là con át chủbài của Nga trong trò chơi chính trị để đối phó lại hành động của Mỹ và Tây Âu bóp nghẹt khuvực ảnh hưởng truyền thống của Nga khi họ liên tục tổ chức các cuộc “cách mạng màu da cam”

ở các nước trước đây thuộc Liên Xô cũ cũng như quân đội Mỹ- EU lẫn cánh tay NATO tiếpcận sâu vào khu vực Trung Á

Nga tăng xuất khẩu dầu mỏ sang các nước châu Á vào 2020

Tại cuộc gặp thường niên của Ủy ban Kinh tế - xã hội châu Á - Thái Bình Dương thuộcLiên Hiệp Quốc (diễn ra ở thủ đô Bangkok, Thái Lan), Nga tuyên bố sẽ tăng dầu mỏ xuất khẩusang các nước châu Á, từ mức 3% hiện nay lên mức 30% vào năm 2020

Theo đánh giá của Nga, châu Á - Thái Bình Dương với tiềm năng mạnh về tài nguyên,con người, công nghiệp và tài chính, sẽ là một trong những đầu máy chính của nền kinh tế thếgiới

Nga, nước sở hữu một trong những nguồn năng lượng - nhiên liệu lớn nhất thế giới,hiện tham gia tích cực thị trường năng lượng thế giới Trong thời gian làm chủ tịch nhóm cácnước công nghiệp phát triển (G-8), Nga đã đề xuất bảo đảm an toàn năng lượng toàn cầu nhưmột trong những vấn đề quan trọng của nền chính trị thế giới

Nga chủ trương đáp ứng an toàn nguồn cung dầu mỏ cho nền kinh tế thế giới, phát triểncác thị trường năng lượng khu vực trên cơ sở tính tới lợi ích hợp pháp của các nước xuất khẩucũng như các nước nhập khẩu năng lượng

Để đáp ứng nhu cầu dầu mỏ của khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Nga đang xúc tiến

dự án xây dựng đường ống dẫn dầu Đông Siberia - Thái Bình Dương nhằm mở hướng xuấtkhẩu mới tới các nước châu Á - Thái Bình Dương

Lần đầu tiên quĩ tiền để dành từ dầu mỏ của Nauy đạt 1 nghìn tỷ NOK, (tương đương ~156.2 tỷ USD, ~ 2,5 nghìn nghìn tỷ VND) Với dân số 4,6 triệu, trung bình mỗi người có 36nghìn đô-la

* BRAZIL CÓ THỂ LÀ CƯỜNG QUỐC DẦU MỎ MỚI :

Ông Guido Mantega - Bộ trưởng Bộ Tài chính Brazil cho rằng, tại vùng biển Brazil cómột vài mỏ dầu lớn, có thể mang lại cho ngân khố Quốc gia này từ 200 - 500 tỷ USD Điều này

đã được chứng thực bằng việc quốc gia này liên tục phát hiện ra nhiều mỏ dầu lớn tại vùng biểnthuộc lãnh thổ của mình

Trang 12

Chỉ trong vòng vài năm qua Brazil đã liên tục phát hiện thêm những mỏ dầu mới Gầnđây nhất, hồi đầu tháng 8/2008, Công ty dầu mỏ Petrobras của Chính phủ Brazil cũng thôngbáo mới phát hiện mỏ dầu nhẹ ởkhu vực nước sâu tại vùng lòng chảo Santos, ngoài khơi bangRio de Janeiro.Mỏ dầu mới này nằm cách bờ biển ngoài khơi bang Rio de Janeiro 230km, ở độsâu cách mặt nước khoảng 2,2km Hiện chưa rõ trữ lượng của mỏ mới do việc khoan thăm dòvẫn chưa hoàn tất Tuy nhiên, mỏ mới là một phần của một lô tương tự, nơi năm 2007Petrobras đã phát hiện mỏ cực sâu Tupi có trữ lượng tới 8 tỷ thùng dầu nhẹ Một mỏ dầu kháccũng năm gần với mỏ Tupi mới được phát hiện hồi tháng 4 vừa qua là mỏ Carioca, nằm ở phíatây nam bờ biển Brazil, với trữ lượng dự đoán có thể xếp thứ 3 thế giới Nếu trữ lượng của ba

mỏ dầu mới nhất được phát hiện ở Brazil là mỏ dầu ở vùng lòng chảo Santos, Carioca và Tupiđúng như ước đoán thì quốc gia châu Mỹ này có thể sẽ trở thành một trong những nhà xuấtkhẩu dầu mỏ hàng đầu thế giới, vượt qua của Mỹ và Nigeria Chỉ tính riêng mỏ Carioca với trữlượng ước tính tới 33 tỷ thùng dầu đã vượt qua trữ lượng dầu mỏ của Mỹ (21 tỷ thùng) và gầnbằng Nigeria (36 tỷ thùng)

Như vậy, 6 thành công liên tiếp trong việc thăm dò khai thác dầu mỏ của Brazil có thểđưa quốc gia này trở thành cường quốc dầu mỏ thế giới Với việc giá năng lượng tăng chóngmặt, các quốc gia có trữ lượng dầu có thể thu lại một nguồn tài chính khổng lồ từ việc cung cấpdầu mỏ Hiện nay, Brazil đang lên kế hoạch chi tiêu khoản tiền thu được từ các mỏ dầu Tiết

lộ trước báo giới, ông Guido Mantega cho biết vài tháng tới Chính phủ sẽ có những quyết địnhnên dùng số tiền này ra sao, một phần tài chính thu về từ xuất khẩu dầu mỏ sẽ tiếp tục được đầu

tư ra nước ngoài, nhằm giảm bớt những ảnh hưởng “tiêu cực” của kinh tế Thế giới thời gianqua vào nền kinh tế quốc nội Brazil Những phần còn lại của lợi nhuận thu về này sẽ đượcChính phủ đầu tư vào các lĩnh vực như y tế, giáo dục, và trả nợ nước ngoài,… thiết lập các tổchức tiền tệ ở nước ngoài nhằm tăng cường tích lũy ngoại hối

Theo đánh giá của Bộ Năng lượng Mỹ, Brazil là nhà sản xuất dầu mỏ lớn thứ 13 thếgiới năm 2006 và nếu mỏ mới được đưa vào khai thác, Brazil có thể trở thành một nhà xuấtkhẩu dầu mỏ chủ chốt trên thế giới

* INDONESIA LÀM ĐƠN RÚT KHỎI OPEC

Tổng thống Indonesia, Susilo Bambang Yudhoyono đã phát biểu trên truyền hình, nướcnày đang xem xét về khả năng nước này sẽ rút khỏi tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ(OPEC)

Không còn đủ khả năng để xuất khẩu dầu là lý do để Indonesia rút khỏi OPEC

“Các giếng dầu của quốc gia đang dần cạn kiệt”, ông Bambang Yudhoyono nói.Indonesia phải tập trung phát triển sản phẩm nội địa Mức tiêu thụ dầu trong nước và thế giớigia tăng, trong khi sản lượng của Indonesia đã rơi xuống dưới 1 triệu thùng mỗi ngày

Đất nước 235 triệu dân này là quốc gia duy nhất ở Đông Nam Á gia nhập OPEC Từmột nước xuất khẩu, nước này gần đây đã phải nhập khẩu dầu mỏ bởi sự suy yếu trong lĩnh vựcđầu tư cho thăm dò và khai thác dầu mỏ kéo dài hàng thập kỷ Theo ông Yudhoyono, việc cóthể gia tăng sản lượng dầu phải mất ít nhất từ một đến ba năm

Theo Bộ trưởng năng lượng và khoáng sản Purnomo Yusgiantoro, phải đến năm sau

2009, việc Indonesia rút khỏi OPEC mới có thể được chấp thuận, vì nước này đã thanh toán hếtcác khoản phí và thuế khác cho đến hết năm 2008

Chính phủ nước này phải cân nhắc có nên tăng giá nhiên liệu trong nước lên 30% đểtránh thâm hụt nguồn dự trữ quốc gia giữa lúc giá dầu trên thế giới đang ở mức kỷ lục như hiệnnay (vượt qua 120 USD mỗi thùng)

Trang 13

Indonesia phải hỗ trợ dầu diezel, dầu lửa, xăng cho hàng triệu người nghèo trong nướctrong vài năm Tại thời điểm nhạy cảm, giá cả và mức tiêu dùng tăng cao có thể dẫn đến bạoloạn.

Về giá dầu thế giới, ông Yudhoyono nhận định, trong tuần này giá dầu tại nhiều nơitrên thế giới có thể sẽ tăng 20-30%

OPEC là một tổ chức liên chính phủ gồm 13 quốc gia, được thành lập vào năm 1960với các thành viên ban đầu là Iraq, Kuwait, Saudi Arabia và Venezuela Indonesia gia nhập tổchức này vào năm 1962 Đây không phải là lần đầu tiên Indonesia phải xem xét lại việc làthành viên của OPEC

IV - CÁC NƯỚC NHẬP KHẨU DẦU LỚN TRÊN THẾ GIỚI :

1 MỸ:

Sự phụ thuộc vào dầu mỏ nhập khẩu của Mỹ đã tăng liên tục kể từ năm 1972 Năm đó,sản lượng dầu khai thác trong nước đạt đỉnh điểm 11,6 triệu thùng/ngày Hiện nay, sản lượngnày tiếp tục giảm bởi các giếng dầu cũ đã bị cạn kiệt Tổng khối lượng tiêu thụ dầu mỏ của Mỹvẫn “phi nước kiệu”, đã từng đạt mức gần 30 triệu thùng/ngày vào năm 2007 Do đó, lượng dầu

mỏ phải nhập khẩu của Mỹ sẽ ngày một lớn và sẽ đạt 20 triệu thùng/ngày vào năm 2025, chiếm69% nhu cầu tiêu thụ Điều nghiêm trọng hơn là phần lớn lượng dầu mỏ Mỹ phải nhập khẩu từcác nước thù địch và các nước bị chiến tranh tàn phá trong thế giới đang phát triển, chứ khôngphải từ các nước hữu nghị và ổn định chính trị như Ca-na-đa hay Na-uy Kết quả là, đang có sựdịch chuyển trung tâm của ngành dầu khí trên thế giới từ bắc bán cầu sang các nước đang pháttriển của nam bán cầu, những nước thường có những bất ổn về chính trị, bị tàn phá bởi cáccuộc xung đột tôn giáo và sắc tộc Ngoài những mâu thuẫn đối kháng có nguồn gốc lịch sửtồn tại ở các nước này, bản thân ngành công nghiệp khai thác dầu mỏ còn chịu thêm những tácđộng gây bất ổn khác Đó là sự bất mãn trước sự phân chia lợi nhuận không công bằng từ dầu

mỏ và với chính sách đàn áp của chính phủ, các lực lượng đối lập giờ đây không còn sự lựachọn nào khác ngoài việc tiến hành nổi loạn vũ trang hoặc khủng bố Nhiều nhà sản xuất dầu

mỏ mới nổi lên lại ở các nước đang phát triển trước đây từng là thuộc địa và luôn nung nấu hậnthù sâu sắc đối với Mỹ Vì dầu mỏ được xem như động lực thúc đẩy sự dính líu của Mỹ vàocác khu vực này, nên các tập đoàn dầu khí khổng lồ của Mỹ vốn là hiện thân sức mạnh Mỹ vàmọi thứ liên quan đến dầu mỏ như các đường ống dẫn, các giếng khoan, các nhà máy lọc dầu,các giàn khoan v.v bị những người nổi loạn coi là những mục tiêu thích hợp để tấn công.Chiến tranh I-rắc là thí dụ điển hình về cuộc chiến tranh nhằm giành giật dầu mỏ, không khác

gì giành giật cuộc sống Cuộc chiến này đang diễn ra quyết liệt không chỉ ở khu vực Trung CậnĐông mà hiện đang lan toả sang khu vực châu Á và châu Phi

Ngày đăng: 05/06/2015, 15:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w